Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Giờ Đức văn

Nước Đức sau Thế chiến II. Siggi Jepsen nhắm mắt, sông Elbe ngoài cửa sổ chảy không ngừng, bồng bềnh băng. Những tàu kéo chầm chậm xô dạt sóng nước, đẩy băng xanh chồm qua bờ cát tới bãi lau sậy, để chúng được lãng quên ở đó. Còn trong phòng biệt giam của cù lao cải tạo trẻ vị thành niên, Siggi đối mặt  trang vở trắng đang chờ bài luận Đức Văn " Niềm vui nghĩa vụ" mà cậu đã không viết nổi chữ nào trong 2 giờ trên lớp. Dòng sông ký ức ngổn ngang của cậu lúc này buộc phải rã băng, ngược về nguồn, để tái hiện câu chuyện khởi sự năm 1943... Xuất bản năm 1968, Giờ Đức văn của Siegfried Lenz, biểu hiện mối xung đột giữa nhiệm vụ với lương tâm, đạo đức dưới hình thức kỳ quái và rối rắm trong câu chuyện đầy sức thuyết phục, được Library Journal đánh giá là một trong những tiểu thuyết sâu sắc nhất, di dỏm, cay đắng, say sưa nhất, khiến người đọc phải suy tư nhiều nhất của văn chương Đức đương đại. Sau một thời gian ngắn, cuốn sách được đưa vào nhà trường phổ thông, trở thành một trong những tác phẩm văn học kinh điển được đọc, mổ xẻ, phân tích rộng và sâu nhất ở CHLB Đức. Từ thập niên 1970, số ấn bản Giờ Đức văn, riêng tại Đức, đã vượt trên 1 triệu bản. *** “Giờ Đức văn”: Giới hạn của nghĩa vụ byZét Nguyễn  28/10/2019 Tháng 4 năm 2019, bà Angela Merkel cho gỡ bỏ hai bức tranh của Emil Nolde, một họa sĩ nổi tiếng người Đức thuộc trường phái biểu hiện khỏi phòng làm việc của mình trong phủ thủ tướng Đức. Cơn cớ cho sự việc mà báo chí đã tốn bút mực mổ xẻ nguyên do nằm ở chỗ: Emil Nolde là một nghệ sĩ huyền thoại dưới thời phát xít Đức, có các tác phẩm từng bị quy là nghệ thuật suy đồi, từng bị nhận lệnh cấm vẽ; song ông cũng chính là một nhân vật tích cực bài Do thái và ủng hộ Hitler. 51 năm trước, vào năm 1968, một tác phẩm mà đến thời điểm này đã đồng loạt độc giả, nhà phê bình lẫn nghiên cứu, coi là kinh điển của văn chương hậu chiến Đức, ra đời: “Giờ Đức văn” của Siegfried Lenz. Kể về một họa sĩ thuộc trường phái biểu hiện bị cấm vẽ, cuốn tiểu thuyết này nhanh chóng trở thành một trong hiện tượng văn chương thành công vang dội nhất ở Đức, được đưa vào đọc và dạy trong nhà trường, đã bán được hàng triệu bản, được dịch ra hàng chục thứ tiếng. Và không lấy gì làm ngạc nhiên, rất nhiều độc giả đã ngộ nhận rằng hình mẫu cho nhân vật người họa sĩ trong “Giờ Đức văn” chính là Nolde. Nhưng đọc “Giờ Đức văn”, với một sự gán ghép thô thiển đến như vậy, là một cách đọc hạn chế vội vàng gạt bỏ hết những chiều sâu tâm lý và hành vi mà người kể chuyện bậc thầy Siegfried Lenz đã đạt được để thực thi nghĩa vụ của mình trong văn chương, cái nghĩa vụ mà như một nhà phê bình đã nhận xét, là giúp người Đức “trả những món nợ khổng lồ mà người Đức cùng với Führer của họ đã đặt lên vai mình.” Hơn tất cả, “Giờ Đức văn” là một chiêm nghiệm nhức nhối đầy nhân văn về đạo đức và triết học, về gia đình và ký ức, về những tổn thương tâm lý để lại những sự méo mó rất khó lý giải. “Giờ Đức văn” do Siggi Jepsen, người kể chuyện ngôi thứ nhất, một chàng trai 21 tuổi ngồi trong phòng biệt giam trên cù lao cải tạo trẻ vị thành niên, thuật lại một quãng đời ngắn ngủi vào năm cậu 10 tuổi. Năm 1943, ở một vùng quê xa xăm, người bố cảnh sát Jens Ole Jepsen của cậu đã được trên giao cho một nhiệm vụ: thực thi lệnh cấm vẽ lên người hàng xóm là ông họa sĩ nổi tiếng thế giới Max Nansen. Vốn là bạn thân với nhau, ông Nansen còn từng cứu mạng ông Jepsen, nhưng giờ đây mệnh lệnh đã ban thì ông Jepsen phải chấp hành. Ông Jepsen, bất chấp gian khổ, mưa sa, gió quất, dèm pha từ hàng xóm, bất chấp cả tình bằng hữu, thực thi và thực thi bằng được cái lệnh cấm vẽ ấy, bởi đơn giản đó là nghĩa vụ. Ông Jepsen tận tụy và mẫn cán, huy động cả con trai là Siggi để làm gián điệp, để giúp tịch thu, thiêu hủy cả tranh đang lẫn đã vẽ của ông Nansen. Dùng ngôn từ tinh xảo để vẽ lại không chỉ các bức tranh mà còn cả một vùng thôn quê hẻo lánh, dùng ký ức để phục dựng lại chi tiết, đối thoại, cảnh huống, hành động, Siggi lần lại từng mẩu hồi ức, để bày ra trong những năm tưởng chừng không lấy gì làm biến động, ở cái vùng đất hẻo lánh ở cực Bắc bang Schleswig-Holstein giáp với Đan Mạch, nơi cái tên Hitler chưa bao giờ được nhắc đến, nơi Thế chiến thứ 2 cơ hồ vắng mặt, nơi người dân sinh hoạt trong cái nếp thường nhật an bình không gì có thể phá vỡ được. Ở nơi ấy, bi kịch đã rơi xuống đầu Siggi, ông họa sĩ, chị gái Siggi, anh trai Siggi, và còn nhiều hơn nữa. Thuật lại một câu chuyện tưởng chừng giản dị, song “Giờ Đức văn” lại đặt ra hàng loạt những câu hỏi nhức nhối. Vậy rốt cục, ông bố cảnh sát của Siggi là người đáng ngợi khen vì đã thực hiện nghĩa vụ của mình một cách nghiêm túc và nghiêm ngặt? Hay ông đáng bị phê phán vì đã mù quáng tuân theo nghĩa vụ mà không một lần chất vấn ý nghĩa của nó? Liệu ông có nhân danh nghĩa vụ mà lao theo cám dỗ của bản thân? Càng đến cuối, “Giờ Đức văn” càng lộ rõ cho độc giả thấy sự yếu đuối không dám phản kháng của ông Jepsen: sự cứng đầu đến ám ảnh để biến những ham muốn cá nhân trở thành nghĩa vụ. Ông Jepsen đã trở thành nạn nhân của chính nghĩa vụ. Trong một cuộc phỏng vấn, Lenz đã tâm sự rằng, với ông, không có hình thức nào phù hợp cho việc truyền tải trải nghiệm của con người bằng tự sự, và rằng, “Gần như mọi nhà văn, ở một nghĩa nào đó, viết để phô bày chính bản thân mình.”  Vậy, Lenz phô bày gì của chính mình, nếu không phải là một cam kết mãnh liệt của văn chương vào tâm thức của con người. Không khoan nhượng, “Giờ Đức văn” mổ xẻ và phơi bày cả một ám ảnh lớn lao về vai trò và trách nhiệm của dân tộc Đức để cho chủ nghĩa phát xít trỗi dậy, thống trị và reo giắc bao tàn khốc. “Giờ Đức văn” có lẽ vì thế thuộc về một dòng văn chương hậu chiến đầy suy tưởng và soi xét, như một sự “xét lại,” như một sự thức tỉnh mà rạch ròi nhìn vào quá khứ tội lỗi của mình. Đúng như nhận xét của Marcel Reich-Ranicki, nhà phê bình xuất sắc được gọi là giáo hoàng văn học Đức, “Giờ Đức Văn” có “cái mà Lenz miêu tả là mục đích của văn chương. Đó chính là nỗ lực để vạch trần thế giới để rồi không một ai còn cảm thấy vô tội hay thản nhiên được nữa. Cả một thế hệ đã nổi lên trong cái bài học vĩ đại về tinh thần Đức và sự ngớ ngẩn của người Đức.”  Người bẻ ghi để những con tàu chở tù nhân đi về phía trại tập trung, người lính bảo vệ khóa chặt cửa để người Do thái không trốn thoát được khỏi phòng hơi ngạt, hay người cảnh sát tuân thủ nghiêm ngặt lệnh cấm vẽ áp lên một ông họa sĩ hàng xóm, là những những chủ đề cứ trở đi trở lại trong văn chương hậu chiến của Đức. Hơn ai hết, Lenz ý thức được vai trò của nghĩa vụ, nguyên tắc của việc phải thực thi nghĩa vụ, niềm vui trong việc hoàn thành nghĩa vụ, vả cả những hạn chế của nghĩa vụ. Đó chính là khi con người sa vào cái bẫy của sự phục tùng đầy phi nhân. Zét Nguyễn (Bài đã đăng trên TTCT *** Tác Giả (17/3/1926 - 7/10/2014) Siegfried Lenz sinh tại Lyck, thành phố nhỏ thuộc Đông Phổ. Ông tốt nghiệp đại học Triết học, Anh văn và Lịch sử văn học Đức tại Hamburg sau Thế chiến II, là biên tập viên báo Thế giới một thời gian ngắn (1950-1951) rồi trở thành nhà văn tự do sống tại Hamburg. Khởi đầu nghiệp văn chương, Siegfried Lenz đã được sánh tầm với các nhà văn lớn của Đức như Heinrich Böll, Günter Grass hay Martin Walser. Lenz đã được trao các giải thưởng: Peace Prize of the German Book Trade (1988), The Goethe Prize of Frankfurt am Main (2000), Italian International Nonino Prize (2010). Trước khi qua đời, ông đã kịp khởi xướng Siegfried Lenz Prize - một trong các giải thưởng văn chương danh giá nhất của Đức cho “các nhà văn quốc tế được ghi nhận trong hoạt động văn chương sáng tạo theo tinh thần Siegfried Lenz”. Siegfried Lenz để lại 14 tiểu thuyết, 120 truyện ngắn, nhiều truyện vừa và kịch bản sân khấu. Số lượng ấn bản sách của ông bằng tiếng Đức và 35 thứ tiếng khác đến nay đã ngót nghét 30 triệu bản và vẫn đang tăng lên. *** BÀI LUẬN Họ phạt tôi, bắt viết bằng xong bài luận. Lão Joswig đích thân dẫn tôi về phòng giam kiên cố, gõ gõ tay lên lớp lưới chăng trước cửa sổ, xoa xoa tấm đệm rơm; sau đó, viên giám thị chúng tôi vẫn có cảm tình nhất ấy ngó nghiêng xem xét kỹ cả chiếc tủ sắt lẫn hốc tường bí mật của tôi lâu nay vẫn nằm khuất sau chiếc gương soi. Chẳng nói, chẳng rằng, hậm hà hậm hực, lão ta xem xét hết cái bàn đến chiếc ghế đẩu chằng chịt vết khía, vết rạch, tò mò soi mói chỗ thoát nước trong chậu rửa, thậm chí, còn gõ gõ ngón tay như dò hỏi bậu cửa sổ, săm soi lò sưởi xem có gì khác thường không, rồi, xong xuôi đâu đấy, lão ta mới đến bên tôi, thong thả sờ nắn người tôi từ vai đến đùi để cầm chắc tôi không mang vật gì có hại trong túi áo túi quần. Sau rốt, với vẻ đầy trách móc, lão đặt quyển vở lên bàn tôi, vở tập làm văn - trên bìa vở có dán miếng nhãn màu xám ghi rõ: vỏ tập làm văn của Siggi Jepsen - rồi không nói không rằng đi ra cửa, với vẻ mặt đầy thất vọng, của một kẻ nhân từ bị xúc phạm; bởi vì lão Joswig - viên giám thị chúng tôi vẫn có cảm tình nhất đó - chịu đựng các hình phạt thỉnh thoảng chúng tôi phải chịu như thế này còn khổ sở hơn, lâu hơn và cũng thấm thía hơn cả chính chúng tôi nữa kia. Lão ta để lộ cho tôi biết nỗi buồn phiền của lão không bằng lời, mà bằng cái cách lão khóa cửa. Lão loay hoay nhét chìa khóa vào ổ, hờ hững, bối rối và lưỡng lự trước khi quay vòng đầu tiên, rồi vặn ngược trở lại, khiến ổ khóa kêu cạch cạch, rồi, như thể đã vượt qua phút do dự, lão ta hằm hằm quay luôn hai vòng liên tiếp. Vâng, không phải ai khác, mà chính lão Karl Joswig, người đàn ông có vẻ ẻo lả và nhút nhát ấy, đã khóa tôi trong phòng giam để viết cho xong bài luận. Ngồi thế này đã gần hết ngày mà tôi vẫn không sao bắt đầu viết cho được: nhìn qua cửa sổ ra ngoài, thấy sông Elbe đang chảy, dòng sông chảy xuyên qua bóng gương mặt tôi mờ mờ phản chiếu trên kính cửa sổ; tôi cố nhắm mắt lại, nước sông vẫn không ngừng chảy, mặt sông phủ đầy các tảng băng phơn phớt màu xanh da trời đang bồng bềnh trôi. Tôi cứ phải dõi theo mãi những chiếc tàu kéo; chúng từ từ chạy, mũi tàu xắn lên mặt băng những đường ngoằn ngoèo xám ngoét, cứ phải nhìn dòng nước mang theo các tảng băng trôi lổn nhổn, dồn những khối băng chồm lên bãi cát của chúng tôi, ken két xô đẩy chúng lên đến bãi lau sậy khô rồi để quên chúng ở đấy. Tôi miễn cưỡng dõi theo đám quạ đen; bọn chúng như thể hẹn hò nhau ở đây trước khi tạt về Stade không bằng. Chúng bay lẻ tẻ từ Wedel sang, từ Finkenwerder hay Hahnöfer-Sand tới, nhóm thành bầy đông nghịt trên đảo chúng tôi, rủ nhau cất cánh vút lên cao rồi lượn đi lượn lại, chờ ngọn gió thuận chiều sẽ hất chúng về phía Stade. Rặng liễu khẳng khiu, phủ lớp băng mỏng và đầy sương muối làm tôi để ý; hàng rào dây thép sơn trắng, khu xưởng, các biển cảnh báo cắm ở bãi cát, những luống đất đông cứng trong vườn rau mà ra năm chúng tôi sẽ phải tự gieo trồng và chăm bón theo hướng dẫn của giám thị: tất tật những thứ ấy, thậm chí cả mặt trời, ánh nắng như đang chiếu qua một lớp kính mờ, hắt bóng dài nghiêng nghiêng, đều làm tôi sao nhãng. Thỉnh thoảng tôi cứ vừa định bắt tay vào chuyện viết lách thì ánh mắt tôi như thể lại vô tình bắt vào bệ cầu tàu nổi méo mó, xây xước, neo bằng dây xích, cùng chiếc xuồng gắn máy rộng bè bè và sáng loáng đồng thau từ Hamburg vừa đến neo vào đó - chiếc xuồng mỗi tuần, thì cứ nói ang áng thế, thả chừng một ngàn hai trăm nhà tâm lý học xuống đảo, đám chuyên viên tâm lý học quan tâm đến mức bệnh hoạn tới đám vị thành niên khó dạy bảo như chúng tôi. Tôi không rời mắt nhìn theo họ lần bước trên lối đi gồ ghề qua bãi cát, trước khi họ được đưa vào ngôi nhà màu xanh của Ban Giám đốc, cử hành lễ nghi chào hỏi như thường lệ; ở đó chắc thể nào họ cũng được nhắc nhở phải thận trọng và kín đáo khi tiến hành nghiên cứu, trước khi họ hối hả chen nhau ra ngoài, tràn ra khắp đảo chúng tôi, rồi làm bộ rất vô tình, theo nhau sán vào bắt chuyện với bọn bạn bè tôi: thằng Pelle Kastner, thằng Eddi Sillus hay thằng Kurtchen Nickel nóng tính chẳng hạn. Có lẽ, họ quan tâm đến bọn chúng tôi như thế là vì, theo số liệu Ban Giám đốc đã thống kê, gần tám chục phần trăm những ai từng qua cải huấn trên đảo đây đều không tái phạm nữa. Nếu lão Joswig không khóa trái tôi vào phòng giam đây để viết cho bằng xong bài luận, thì bây giờ hẳn họ cũng đang bám theo tôi, dùng kính lúp khoa học của họ soi xét cuộc đời tôi và sẽ bóp đầu, xoa trán, cố vẽ cho bằng được một bức tranh về tôi. Nhưng tôi phải viết bù hai giờ Đức văn, phải nộp bài luận mà cả lão Tiến sĩ Korbjuhn gầy gò và rụt rè lẫn ông giám đốc Himpel của chúng tôi đang trông ngóng. Trên cù lao Hahnöfer-Sand cạnh đây - cũng nằm trên sông Elbe, hơi chếch về phía Twielenfleth Wischhafen, và cũng là nơi giam giữ và cải tạo tụi vị thành niên khó dạy giống như trên cù lao chúng tôi - chắc chuyện sẽ không thể như thế này. Mặc dù hai cù lao này rất giống nhau, mặc dù cả hai đều bị bao quanh bởi thứ nước loang váng dầu như nhau, mặc dù cả hai cù lao cùng chứng kiến những con tàu như nhau chạy qua, được cùng một đám hải âu ghé đậu, song trên cù lao Hahnöfer-Sand không có lão Tiến sĩ Korbjuhn, không có giờ Đức văn, không có những đề luận ghê gớm đến mức, tôi thề không nói ngoa chút nào, làm đa số bọn chúng tôi phải đau đớn về thể xác như thế này. Bởi vậy, nhiều đứa trong bọn chúng tôi mong được cải tạo trên cù lao Hahnöfer-Sand hơn, nơi tàu viễn dương trên đường ra biển chạy qua trước và cũng là nơi ngọn lửa phần phật ồn ào trên ống khói nhà máy lọc dầu luôn luôn vẫy chào từng người một ấy. Mời các bạn đón đọc Giờ Đức văn của tác giả Siegfried Lenz & Hoàng Đăng Lãnh (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Công Tước của riêng em
Tên eBook: Công tước của riêng em (full prc, pdf, epub)   Tác giả: Eloisa James Thể loại: Cổ đại, Tiểu thuyết, Lãng mạn, Văn học phương Tây   Dịch giả: Mai Trang   Kích thước: 14.5 x 20.5 cm   Số trang: 540   Ngày xuất bản: 29 - 4 – 2014   Giá bìa: 119.000 ₫   Công ty phát hành: Bách Việt   Nhà xuất bản: NXB Văn Học   Nguồn sách: tititidi   Chụp pic: kararoxbee   Type phamsam98: 1-7  darknessflower98: 8-13  nguyenkienphuc: 14-19  huyentsai: 20-26  NalyLe: 27-hết   Beta: kimkhanh3597   Tạo prc: Dâu Lê Nguồn: luv-ebook.com   Ebook: Đào Tiểu Vũ eBook - www.dtv-ebook.com   Giới thiệu “Anh muốn trở thành tất cả những gì em mong đợi. Nếu em không muốn một công tước thì anh sẽ không làm công tước nữa.” Là công tước thì phải chọn vợ một cách khôn ngoan... Leopold Dautry, công tước Villiers khét tiếng phóng đãng, phải cưới gấp và phải cưới một đám cao quý - nhưng những lựa chọn của anh thì…, trời đất, khá ít ỏi. Con gái của công tước Montague, Eleanor, một cô gái xinh đẹp và thông minh. Nhưng chính cô lại tự vùi mình trong một dáng hình “lạc điệu”, lỗi mốt và quá già so với bản thân kể từ sau khi thất bại trong cuộc tình mà cô đã yêu bằng tất cả trái tim. Sau thất bại của trái tim, với một lần “lỡ miệng”, cả giới quý tộc Luân Đôn đều biết tiểu thư Eleanor sẽ không cưới một ai có địa vị thấp hơn một công tước và… Cho đến tận bốn năm sau, công tước Villiers xuất hiện. Anh cần một người mẹ cho những đứa con hoang của mình, còn cô cần một người chồng là công tước. Họ bắt đầu có một giao ước… Giằng xé giữa lý trí và đam mê, giữa trí tuệ và óc tưởng tượng, sự hấp dẫn ẩn giấu trong Eleanor dần dần khiến Villiers nhận ra mình sắp sửa phá vỡ mọi giao ước. Nhưng phải đến sau khi anh có mặt trong một vụ thách đấu mà một trong hai bên sẽ phải chết, đấu tranh vì danh dự của người phụ nữ anh yêu, thì rốt cục Villiers mới nhận ra rằng điều nguy hiểm nhất có thể không phải ở trong khu vực thách đấu... Mà ở trong phòng ngủ. Và con tim.  Vốn là một công tước thuộc dòng dõi quý tộc ở London, ngài Villiers chẳng thể nào chấp nhận cưới một người không có địa vị cao quý. Bởi vậy, khi bắt buộc phải cưới gấp, chàng mới nhận ra rằng những đám mà anh có thể lựa chọn là khá...hiếm. Nàng là con gái của công tước Montague, xinh đẹp, thông minh, nhưng sau thất bại trong cuộc tình đầu tiên, nàng tự giấu mình trong dáng hình "lạc điệu", lỗi mốt và quá già so với bản thân. Cùng với tuyên ngôn "Chỉ lấy ai có địa vị là công tước" nàng đã tự ghi tên mình vào danh sách ế chồng. Bốn năm sau, công tước Villiers xuất hiện, anh cần một người mẹ cho những đứa con hoang của mình, còn cô cần một người chồng là công tước. Và giữa họ hình thành một giao ước.   “Eleanor chưa từng gặp công tước Villiers, nhưng cô không nghi ngờ gì là lúc này mình đang đối mặt với anh ta. Anh ta giống hệt như mô tả, với quai hàm và gò má vừa hung tàn vừa đẹp đẽ… Nếu Gideon trông giống hoàng tử trong truyện cổ tích thì Villiers sẽ là gã bất lương mệt mỏi, cay độc tìm cách chiếm ngai vàng.” Cô liếc sang bên. Anh đang cầm một cái túi bằng cotton, hẳn là chứa đầy vụn bánh mỳ. Việc đó tương đối thú vị. Anh Ormston, Leopold Dautry, hay công tước Villiers, có vẻ không giống mẫu đàn ông thường mang theo bánh mỳ mà cô hình dung. Họ ngồi xuống cạnh nhau và ném bánh mỳ cho bầy thiên nga trong im lặng hoàn toàn. Có bảy con cả thảy, gồm một cặp cha mẹ và năm con thiên nga nhỏ. Cặp cha mẹ chúi cái cổ dài xuống, đẩy đàn con ra để nuốt bánh mỳ. “Vậy vì sao anh lại giả trang thành Ormston?”, một lúc sau cô hỏi. “Đó không chỉ là giả trang. Anh muốn trở thành tất cả những gì em mong đợi. Nếu em không muốn một công tước thì anh sẽ không làm công tước nữa.”  Tác giả Eloisa James tên thật là Mary Bly, sinh năm 1962 tại Minnesota, Hoa Kỳ, là con gái của nhà thơ Robert Bly và nhà văn Garol Bly. Các tác phẩm của bà được dịch ra chín thứ tiếng, đặc biệt được yêu thích tại Hà Lan và Tây Ban Nha, cũng như thường xuyên lọt vào danh sách các cuốn tiểu thuyết bán chạy nhất do tạp chí New York Times và USAToday bình chọn. Mời các bạn đón đọc Công tước của riêng em của tác giả Eloisa James.
Người Thứ Mười
Tên eBook: Người thứ mười (full prc, pdf, epub) Tác giả: Graham Greene Thể loại: Tâm lý xã hội, Tiểu thuyết, Văn học Anh Nguyên tác: The Tenth Man Nhà xuất bản: Đồng Nai Năm xuất bản: 11/1988 Số trang: 127 Khổ: 13 x 19 cm Đánh máy: Nguyễn Phương Thảo, Nguyễn Thị Phương, Thanh Tuyền  Kiểm tra: Quang Vinh Tạo prc: Thảo Đoàn Nguồn: BookaholicClub.com Ebook: Đào Tiểu Vũ eBook - www.dtv-ebook.com Giới thiệu: Graham Henry Greene (2 tháng 10, 1904 – 3 tháng 4, 1991) là tiểu thuyết gia người Anh. Ông sinh tại Berkhamsted, Hertfordshire, Anh quốc, là con của một hiệu trưởng, và theo học Đại học Oxford. Ông làm việc cho tờ báo London Times trong giai đoạn 1926-1929 rồi hành nghề ký giả tự do. Năm 1935, ông nhận chân điểm phim cho tờ Spectator, và đến in 1940 nhận chân chủ bút văn học. Trong thời gian 1942-1943, ông phục vụ Bộ Ngoại giao Anh ở miền đông châu Phi. Sau Thế chiến thứ Hai (1939-1945), ông đi đến nhiều nơi. Graham Greene khởi đầu sự nghiệp văn chương với những sách thuộc loại "giải trí" vì thuộc thể loại hành động, như truyện gián điệp. Dần dà, ông mới chuyển qua thể loại "tiểu thuyết," nổi tiếng nhất là The quiet American (Người Mỹ trầm lặng - 1955), gần đây được dựng thành phim hợp tác với điện ảnh Việt Nam. Ông cũng viết một kịch bản dành riêng cho phim truyện, và một số tác phẩm cho trẻ em. Graham Greene có xu hướng viết về những đấu tranh tâm linh trong một thế giới đang mục rữa. Tác phẩm của ông có đặc tính đi vào chi tiết sống động, và lấy bối cảnh đa dạng ở nhiều nơi (Mexico, châu Phi, Haiti, Việt Nam), miêu tả nhiều nhân vật sống dưới những áp lực khác nhau về xã hội, chính trị hoặc tâm lý. Tác phẩm cuối cùng, A world of my own: A dream diary (1994), được viết trong những tháng cuối cùng trong cuộc đời của tác giả, có tính nửa hư cấu nửa tự thuật dựa trên 800 trang tác giả ghi lại qua 24 năm. Mời các bạn đón đọc Người thứ mười của tác giả Graham Greene.
Trăng Du Đãng
Tên eBook: Trăng du đãng (Hồi ký con gái một gangster) full prc, pdf, epub Tác giả: Shoko Tendo Thể loại: Tiểu thuyết, Hồi ký, Văn học Nhật bản Nguyên tác: ヤクザな月 (Yakuza Moon: The True Story of a Gangster's Daughter ) Người dịch: Nguyễn Bảo Trang Công ty phát hành: Phương Đông Nhà xuất bản: NXB Phụ Nữ Trọng lượng vận chuyển: 240g Kích thước: 13 x 20.5 Số trang: 232 Ngày xuất bản: 31-03-2010 Giá bìa: 40.000₫  Type+Tạo prc: thanhbt   Nguồn: tve-4u.org   Ebook: Đào Tiểu Vũ eBook - www.dtv-ebook.com Giới thiệu:  Trăng Du Đãng là hồi ký về cuộc đời có thật, đầy bi kịch của nhân vật Shoko Tendo, cũng chính là tác giả cuốn sách. Shoko Tendo là con gái một gangster Nhật. Từ một cô bé yếu đuối quen sống trong vòng tay yêu thương che chở của mẹ, thích làm bạn với chó, mèo, cá vàng, hoa anh đào... cô nhanh chóng trở thành tội phạm tuổi vị thành niên khi mới 12 tuổi và mắc vào ma túy, tình dục rồi dính líu với hàng loạt những người đàn ông đã lập gia đình.  Có kẻ đầu độc cô bằng thuốc phiện, ma túy với mục đích khiến cô trở thành nô lệ tình dục. Có kẻ gặp vấn đề về thần kinh, sau khi đánh đập cô đến máu hộc ra và kẹt tại khoang cổ khiến cô không thở được lại ôm ấp, xin lỗi như một đứa trẻ vừa phạm lỗi với mẹ. Có kẻ bao bọc che chở cho cô nhưng rốt cuộc, cô cũng chỉ là nhân tình của những người đàn ông đó.  Cho đến một ngày, bố mẹ Shoko đều chết, cô cố gắng để quay lại cuộc sống bình thường - khi gặp một người đàn ông - một tay anh chị yakuza làm việc nghiêm túc để hướng tới một cuộc sống tự chủ. Shoko thức tỉnh và xây dựng cuộc đời mới với người đàn ông này.   “Cuốn sách được ca ngợi với những đánh giá nghiêm khắc và trân trọng nhất, [Tendo] bị những người đàn ông xăm mình đánh đập và chửi mắng, những người thường xuyên tới viếng thăm gia đình cô. Đáp lại, cô gia nhập một băng đảng, hút ma túy và trở thành người tình của một tên gangster. Nhưng cô đã kịp thay đổi cuộc sống trước khi bị đánh đập và sốc ma túy đến chết.” - Recuters  “Tendo? Như một phần của xã hội Nhật Bản, mà phần lớn “đồng bào” của cô không còn tồn tại nữa. Câu chuyện của cô? Như tạo nên tia sáng cho một góc tối tăm, một góc nhỏ chưa từng được tìm hiểu của xã hội Nhật Bản”. - The Guardian  “Những xúc cảm phức tạp và chân thành, cuốn sách đáng để đọc cho những ai muốn tìm hiểu kỹ hơn và muốn có hiểu biết cá nhân mình về một phần xã hội Nhật Bản” - Publishers Weekly Mời các bạn đón đọc Trăng Du Đãng của tác giả Shoko Tendo.
Vương Quốc Những Kẻ Lạ Mặt
Tên eBook: Vương Quốc Những Kẻ Lạ Mặt (full prc, pdf, epub) Tác giả: Zoë Ferraris  Thể loại: Tiểu thuyết, Trinh thám, Hình sự, Văn học phương Tây Công ty phát hành: Văn Việt Nhà xuất bản: NXB Hội Nhà Văn Trọng lượng vận chuyển (gram): 650 Kích thước: 16 x 24 cm Số trang: 370 Ngày xuất bản: 09-2012 Hình thức: Bìa Mềm Giá bìa: 95.000 ₫ Ebook: Đào Tiểu Vũ eBook - www.dtv-ebook.com Giới thiệu: Vương Quốc Những Kẻ Lạ Mặt cạnh tranh với Stieg Larsson (tác giả Cô gái có hình xăm rồng - tải eBook) từ một góc độ không ngờ. Tàn bạo nhưng lôi cuốn, xâm chiếm bởi những khoảnh khắc của lòng từ bi và sự can đảm, cuốn tiểu thuyết Vương Quốc Những Kẻ Lạ Mặt đưa đẩy chúng ta đến với sự tàn ác và sức nóng của mảnh đất của những mạng che mặt Ả-rập Xê-út. Một khách du lịch Bedouin phát hiện ra xác chết bị cắt xén của một phụ nữ bị chôn vùi trong cồn cát ven biển. Mặc dù sa mạc có thể vùi lấp được nhiều thứ, nhưng nó đã không thể che giấu được cơ thể của 18 người phụ nữ khác xung quanh xác chết tìm thấy. Mười chín phụ nữ - đã chết. Ả-rập Xê-út tuyên bố không có giết người hàng loạt trong lịch sử, nhưng các bộ xương đã minh chứng cho sự tồn tại của một kẻ giết người hàng loạt đã và đang ẩn dật tại Jeddah suốt hơn một thập kỉ. Tuy nhiên, thanh tra trưởng Ibrahim Zahrani, lại bị phân tâm bởi một bí mật cá nhân. Tình nhân của ông đột nhiên biến mất, nhưng ông không thể trình báo việc mất tích của cô, bởi vì việc ngoại tình sẽ bị trừng phạt bằng cái chết. Không còn con đường nào khác, Ibrahim đã giao phó trường hợp này cho Katya, một trong số ít phụ nữ trong lực lượng của ông. Bị lôi kéo vào cả hai cuộc điều tra, Katya đã phải vô cùng thận trọng để giấu kín bí mật cho riêng mình. Miêu tả cuộc sống của người phụ nữ trong một trong những nền văn hóa khép kín nhất trên thế giới, tác giả từng đoạt giải thưởng Los Angeles Times Award và American Library Associatio Alex Award - Zoë Ferraris - đã dệt một câu chuyện gay cấn, hồi hộp, đi sâu vào những góc tối nhất của thế giới ngầm Ả-rập Xê-út. Một số nhận xét về Vương Quốc Những Kẻ Lạ Mặt: “Ferraris đã lấy trực tiếp kiến thức về cuộc sống hôn nhân của mình tại Ả-Rập Xê-út và kĩ năng viết giàu trí tưởng tượng để mở ra một thế giới khép kín và cho phép người đọc bước vào bằng ý chí...” – The Huffington Post “ Cạnh tranh với Stieg Larsson (tác giả Cô gái có hình xăm rồng) từ một góc độ không ngờ” – The Times “Thoáng thấy sự quyến rũ nhưng bi thương đằng sau mạng che mặt của những phụ nữ hồi giáo Ả-Rập Xê-Út” – USA Today “Nhờ đôi mắt quan sát tinh tường của Ferraris, chúng ta có thể thấy được sự cô lập của cả đàn ông và phụ nữ trong chính nền văn hóa của họ và sự khắt khe trong hình phạt mà họ phải hứng chịu nếu phá vỡ những quy tắc” - The Oprah Magazine Đôi nét về tác giả: Zoë Ferraris đã chuyển đến Ả Rập Xê-út như là một hệ quả của cuộc Chiến tranh vùng Vịnh lần thứ nhất (1991) để sống cùng với chồng và gia đình chồng là những người Bedouin gốc Palestine - Ả-rập Xê-út. Hiện tại cô đang sống tại San Francisco. Năm 2006, cô hoàn thành bằng thạc sĩ về Nghệ thuật tại đại học Columbia. Cuốn tiểu thuyết đầu tay của bà là Finding Nouf (Đi tìm Nouf) và tiếp đó là City of Veils (Thành phố của những mạng che mặt)được xuất bản trên 30 quốc gia. Cuốn sách thứ 3, Kingdom of strangers - Vương quốc những kẻ lạ mặt, ra mắt vào tháng 6 năm 2012, bản dịch tiếng Việt sẽ được Nhà xuất bản Hội nhà văn và Công ty Cổ phần sách Văn Việt ấn hành tháng 9 năm 2012. Mời các bạn đón đọc Vương quốc những kẻ lạ mặt của tác giả Zoë Ferraris.