Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Cọp Trắng - Aravind Adiga

NHỮNG LỜI KHEN NGỢI DÀNH CHO CỌP TRẮNG “Lôi cuốn, giận dữ, và hài hước thâm sâu, Cọp Trắng là một chuyến đi gây ngạc nhiên vào một Ấn Độ mới. Aravind Adiga là một tài năng cần theo dõi.” - Mohsin Hamid, tác giả The reluctant fundamentalist “Dữ dội và vui nhộn... Một tiểu thuyết châm biếm không thể sắc bén hơn.” - Michael Upchurch, The Seattle Times “Sự trui rèn của Adiga với tư cách một nhà báo đã đem lại cho ngòi bút của anh tính tức thời của tin thời sự, nhưng chính cách kể chuyện giàu chi tiết của anh mới là điều cuốn hút độc giả... Cọp Trắng gợi nhớ đến những kiệt tác về sự phản kháng và sự đàn áp (khiến nghĩ đến cả Rừng rậm lẫn Con của đất mẹ) [và] chứa đựng những đoạn văn đẹp sửng sốt... Một quyển sách cân bằng giữa hư cấu và thuần túy quan sát.” - Lee Thomas, San Francisco Chronicle “Có quá nhiều điều để giới thiệu trong quyển sách này, một câu chuyện ẩn dụ hay ho về xã hội đang biến đổi của Ấn Độ.” - The Guardian “Khiêm tốn và dễ đọc một cách lôi cuốn... tiểu thuyết đầu tay đầy thuận lợi của Aravind Adiga ngay tức khắc cho cái nhìn hấp dẫn bên dưới bề nổi của một “phép màu” kinh tế Ấn Độ, một câu chuyện tâm lý làm đứng tim về một vụ giết người được tính toán trước và hậu quả của nó, và một câu chuyện ẩn dụ được diễn đạt một cách tỉ mỉ về sự hủy diệt mang tính sáng tạo đang thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa.” - The New York Sun “[Một] chuyện kể làm sững sờ... Một tiểu thuyết Ấn Độ làm nổ tung những cách diễn đạt cũ - những bài tụng ca trang trí, hương nghệ tây - kết hợp với lối diễn đạt [và] một chuyến đi li kì qua một cường quốc toàn cầu... Đắm chìm trong thế giới của Balram - và phong cách diễn đạt tuyệt vời của anh ta - những trang sách như tự lần giở. Mang trong mình tính khí ngang tàng, mỉa mai, ranh mãnh, và nhiều lúc tức cười, Balram gợi nhớ đến những diễn giả bất tận trú ngụ trong các tác phẩm của tiểu thuyết gia vĩ đại người Czech Bohumil Hrabal. Sáng tạo ra một nhân vật như thế là kì công không nhỏ đối với một tiểu thuyết gia đầu tay.” - David Mattin, The Independent (London) “Một chuyến tham quan hay ho và giàu trí tưởng tượng về... một mặt của Ấn Độ không thường được khắc họa trong tiểu thuyết... Với việc không sa đà vào chủ nghĩa dị lãm nông cạn hoặc những căng thẳng gia đình Nam Á, Cọp Trắng tự tìm lối đi đến thành công nhiều mặt: đó vừa là một câu chuyện hình sự hiện hữu đầy cuốn hút, vừa là bản tường trình về sự bất công của xã hội.”- Scott Indrisek, Time Out New York “Hóm hỉnh, hài hước thâm thúy.” - The Star-Ledger (Newark, N.J.) “Châm biếm mạnh mẽ... Adiga, chào đời ở Ấn Độ năm 1974, đã viết một cách hết sức sinh động về một nền văn hóa suy đồi... Một tác phẩm đầu tay không đi theo khuôn phép... với văn phong đầy sức sống.” - Kirkus Reviews “Thuốc giải độc hoàn hảo cho một Ấn Độ mê muội.” - Publishers Weekly “Tuy giọng điệu ban đầu của quyển sách gợi nhớ đến sự bất công trong Một sự cân bằng tốt đẹp của Rohinton Mistry, nhưng sẽ hợp lí hơn khi so sánh với chuyện kể của Frederick Doughlas về quá trình đập tan chế độ nô lệ... Cảnh giết người đỉnh điểm là một cảnh cực kì căng thẳng, và sự tiến hóa của Balram từ một cậu bé nhà quê dễ thương đến một tên sát nhân máu lạnh thật hấp dẫn và đáng tin. Đáng ngạc nhiên hơn nữa là giọng văn tường thuật lại hiệu nghiệm khi được viết trong một lá thư gửi thủ tướng Trung Quốc, người chuẩn bị đến thăm Bangalore, Ấn Độ. Đề xuất cho tất cả các thư viện.” - Library Journal “Một sự đả kích mạnh mẽ về Ấn Độ nông thôn đương đại.” - The BBC World Service “Bằng sự hóm hỉnh và hiểu biết sâu sắc, tiểu thuyết đầu tay lôi cuốn, sắc như dao cạo của Aravind Adiga khám phá thực trạng [Ấn Độ]...[và] Adiga đào sâu mọi ngóc ngách hài hước thâm thúy của nó. Giọng điệu của Halwai - ranh mãnh, chua cay, nhạo báng, tự mỉa mai và không hề ảo tưởng - vừa lôi cuốn vừa thuyết phục, và là một trong những thành công lớn của quyển sách. Adiga có con mắt và cái tai nhạy bén... Adiga đã khẩn trương giải quyết một chủ đề phức tạp và khẩn thiết. Tác phẩm của anh là một tiểu thuyết có mặt đúng lúc.” - Soumya Bhattacharya, The Independent (London) “Đã xuất hiện sự cuống cuồng náo nhiệt ở các nhà xuất bản khi tiểu thuyết đầu tay của Adiga, Cọp Trắng, được đấu giá tại Hội chợ sách London mùa xuân năm ngoái. Không khó để nhận ra tại sao. Không giống gần như bất kì quyển tiểu thuyết nào khác về Ấn Độ mà bạn đọc được trong những năm gần đây, tác phẩm lôi cuốn này giới thiệu bức chân dung trọc lốc, cáu bẳn, không tô son trát phấn của một đất nước nhìn từ đáy lên; chẳng có một thoảng hương nghệ tây hay một làn sari phất phơ trong gió. Bản thân Balram là một nhân vật thú vị, người mà lý do giết người trở nên hoàn toàn dễ hiểu vào đoạn kết, nhưng ấn tượng hơn cả là thực tế cuộc sống Ấn Độ mà Adiga bóc trần: sự tham nhũng, hệ thống giai cấp, sự đồi bại đê tiện trắng trợn. Ủy ban du lịch Ấn Độ sẽ không hài lòng, nhưng bạn sẽ đọc nó và trong nháy mắt thấy mình bị mê mẩn ngay lập tức.” - Andrew Holgate, The Sunday Times (London) “Một cái nhìn thực tế, nhiều lúc hài hước thâm thúy đối với vấn đề giai cấp ở Ấn Độ đương đại... Mặc cho cách hành xử vô liêm sỉ và những sự kết án kì thị, Balram bằng cách nào đó vẫn chiếm được cảm tình độc giả. Có lẽ đó chính là vì cách hành xử vô liêm sỉ của anh ta.” - Daniel Menaker, Titlepage.tv “Một câu chuyện cuốn hút mang chút hơi hướm Dostoevsky, [và] một bức tranh sinh động không mấy dễ chịu về cuộc sống của những nền văn hóa khác nhau trời vực tạo nên Ấn Độ hiện đại... Giọng kể của Balram lôi cuốn và sự quan sát của anh ta mới thật sâu sắc, được đệm bằng sự hóm hỉnh mỉa mai pha lẫn chút ưu buồn... Quyển tiểu thuyết căng thẳng, gây hoang mang này sẽ khiến nhiều độc giả phương Tây mở mang tầm mắt.” - BookPage “Nhạy cảm... Balram là một gã điên thực sự quyến rũ... Một cái nhìn thú vị bên dưới bề nổi của phép màu kinh tế Ấn Độ, bạn sẽ không bao giờ còn nghĩ đến “sự phá hủy sáng tạo” như trước đây nữa.” - Scott Medintz, Fast Company “Thỉnh thoảng mới xảy ra, tiếng nói đơn lẻ ấy phá tan sự phức điệu của một Ấn Độ Tưởng Tượng. Một tiếng nói thách thức sự thông thái cố hữu của trường ẩn dụ Ấn Độ và đem đến những trang sách tăng dần một dấu vết mới về sự trông đợi... Cọp Trắng là tiểu thuyết ra đời trong cái tích tắc đen tối ấy. Là một tác phẩm đầu tay, nó đánh dấu sự xuất hiện của một người kể chuyện luôn tìm cách cân bằng giữa hiện thực xã hội về chốn tồi tàn anh ta chọn làm nhà với chủ nghĩa nhân văn của những kẻ bị ruồng bỏ... Adiga - cựu phóng viên Time đến từ Delhi hiện đang sống tại Mumbai - chính là người kể chuyện đang đạp ga ở cần số bốn.” - S. Prasannarajan, India Today “Mạnh như điện giật.” - The Economic Times (Ấn Độ) “Một trong những tác phẩm chỉ trích xã hội sâu sắc nhất từng được viết về tầng lớp trung lưu Ấn Độ mới... Người đọc sẽ chú ý giọng kể đặc sắc, đậm sắc thái phức tạp của hiện thực nghiệt ngã. Nó đồng thời còn chuyển tải sự khúm núm dường như muôn thuở trong ngôn ngữ người nghèo thôn quê lẫn tiềm năng về một sự lật đổ tiên liệu. Nó phát đi thứ ngôn ngữ của tầng lớp nhà giàu mới, sự hoang đàng lố bịch và thị hiếu lòe loẹt của họ, nhưng vẫn thể hiện một cách nhẹ nhàng đầy hiểu biết... Thể loại viết mà Ấn Độ mới cần nhưng chưa có đủ.” - Nakul Krishna, The New Statesment (Anh) “Một chân dung thông minh và tàn nhẫn của Ấn Độ trong thời kì xây dựng - bất kể tỏa sáng hay nổi lên, nhưng cuối cùng vẫn luôn là chìm xuống - được thể hiện bằng sự hài hước thâm thúy tương thích với sự kiệm lời của tác giả... Sức mạnh thực sự của quyển sách này đến từ việc nó thiếu vắng cảm xúc ủy mị, và từ chủ nghĩa hiện thực mà nó truyền tải.” - The Indian Express “Nực cười, phức tạp... Văn phong tự nhiên và khôi hài đến nỗi quyển sách cũng bị cuốn theo, châm biếm sâu sắc, vừa đủ trêu ngươi... Adiga đưa bạn vào trong bộ não của Balram để bạn từ từ yêu mến anh ta, và khi anh ta cư xử không tốt bạn lại đau khổ, lo lắng và vã mồ hôi. Bạn sẽ không bao giờ quên được cảnh giết người - và những người nghèo bị kẹt trên xe buýt với tôi cũng sẽ không quên. Đây là một trong những tiểu thuyết đầu tay xuất sắc nhất trong nhiều năm gần đây [và] một tiểu thuyết chính trị nhức nhối thể hiện bằng niềm khoái cảm trào phúng hoàn hảo về mặt ngữ nghĩa, một yến tiệc tinh thần phức tạp sẽ khiến bạn bật cười và nghĩ ngợi rất lâu sau khi nó kết thúc.” - Nick DiMartino, Shelf Awareness “Văn học có truyền thống về những kẻ tâm thần đáng cảm thông. Balram Halwai, nhân vật chính trong tiểu thuyết đầu tay ấn tượng của Aravind Adiga, cần phải được kết nạp vào danh sách những kẻ nổi tiếng ấy.” - Financial Times “Một tiểu thuyết diễn tiến nhanh, khôi hài... Adiga thể hiện một tài năng thực thụ không gượng ép... Cọp Trắng khiến chúng ta nghĩ đến nhiều Ấn Độ và nhiều sự kì vọng lẫn thất vọng mà chúng đem lại, nhưng gói gọn trong khuôn khổ một quyển tiểu thuyết hấp dẫn. Đây là một khúc dạo đầu ấn tượng.” - Business Standard (New Delhi, Ấn Độ) “Aravind Adiga đã tạo ra một nhân vật hiểm độc, tự hủy hoại mình, một kẻ mà, bên cạnh tính khôi hài, là phương tiện cho sự quan sát sắc bén về văn hóa và điểm yếu của những kẻ tư sản và những kẻ vô sản ở tiểu lục địa.” - The Age (Melbourne, Úc) “Xuất sắc... [Một] tác phẩm cuốn hút khiến người đọc không thể dừng lại.” - The Straits Times (Singapore) “Hoài nghi, thâm thúy, hài hước và cực kì khốc liệt... Cọp Trắng là một quyển truyện mượt mà mở ra lối đi tắt đến một Ấn Độ hiện đại nhìn từ phía Tối.” - The Statesman (Ấn Độ) “Khuấy động... Người kể chuyện của chúng ta tình cờ... đủ nhân tính để được yêu mến. Adiga trêu ngươi độc giả của mình... còn chúng ta thì bị câu chuyện cuốn lấy.” - The New Zealand Herald “Cực kì chân thực... Một tác phẩm được thừa nhận nồng nhiệt [diễn ra] trên con đường của sự phát triển và sự suy đồi.” - Vikram Johri, St. Petersburg Times (Florida) “Giọng điệu hoài nghi, hân hoan của Balram thâu tóm Ấn Độ hiện đại: chẳng có trữ tình hoài niệm gì ở đây cả, chỉ có hiện thực ngồn ngộn.”- Kate Saunders, The Times (London) “Một tác phẩm khôi hài thâm thúy [và] gấp gáp... Adiga xây dựng tiểu thuyết của mình quanh những người nghèo tưởng tượng, nơi mà sự khôi hài là vũ khí và tội ác là một tên gọi khác của sự khởi nghiệp.” - Arthur J. Pais, India Abroad “Bức tranh [Adiga] vẽ về một Ấn Độ hiện đại, bị giai cấp chi phối và di chuyển theo hướng đi lên, đem lại nhiều thông tin bổ ích, đôi khi thật đáng sợ và trên hết, hài hước một cách thâm thúy.” - The Advertiser (Úc) “Hóm hỉnh và gấp gáp... Cọp Trắng là một lựa chọn thay thế cực kì tinh tế cho vô vàn tiểu thuyết Ấn Độ mang âm hưởng bi kịch [và] là một sự tiếp cận sát sườn mâu thuẫn giai cấp trong đời sống Ấn Độ đương đại, một vở kịch châm biếm dưới hình thức tiểu thuyết viết thư... Một tiểu thuyết mang nhiều tiếng cười thâm thúy... mà chúng ta có thể chia sẻ, đến một mức độ nào đó, và ngược lại rùng mình khi mường tượng những tiếng cười ấy.” - Randy Boyagoda, National Post (Canada) “Điều khiến quyển sách này khác biệt chính là lối giới thiệu không hề lãng mạn về Ấn Độ hiện đại... Nhân vật kể chuyện châm biếm, dễ mến một cách kì lạ của Aravind Adiga đã dọn ra cho người đọc sự tàn nhẫn, hủ hóa và suy đồi của những ngôi làng ở bóng tối rất xa Bangalore náo nhiệt.” - Sarah Vecere, “Hot summer reads,” The Roanoke Times (Virginia) “[Balram] là một màn trình diễn đậm sắc thái trong một quyển sách vừa cực kì tinh tế vừa vô cùng mạnh mẽ. Ấn Độ chưa bao giờ nguyên sơ như thế trong quyển sách đầu tay đáng nhớ này, và hiếm khi bị chỉ trích với một sự giận dữ ấn tượng, xác đáng nhường ấy.” - bn.com “Adiga có con mắt biết quan sát và trí tưởng tượng sâu sắc đến nỗi đã dùng nó để biến Balram trở nên sống động như một nhà bình luận mỉa mai, triết lý về một Ấn Độ đang biến đổi.” -South China Morning Post “Có một Nàng thơ mới thủ thỉ câu chuyện toàn cầu: da nâu, cáu giận, vui vẻ, học hành nửa vời, nhà quê lên tỉnh, vô thần, nhổ trầu, rèn giũa câu chữ - và trong trường hợp của Aravind Adiga, nàng đến từ một thị xã có tên gọi Laxmangarh. Đây chính là tiếng nói chân thực của Thế giới thứ ba, tiếng nói mà bạn chưa từng nghe đến. Adiga là một Gorky toàn cầu, một Kipling hiện đại đã trưởng thành, và trưởng thành bạo liệt. Tương lai tiểu thuyết nằm chính ở đây.” - John Burdett, tác giả Bangkok 8. “Giữa những ảo tưởng to tát về một Ấn Độ “mới nổi”, Aravind Adiga đã tìm thấy đề tài mà Gorgol hẳn sẽ ganh tị. Với giọng điệu hài hước cay độc tinh tế, không khoan nhượng, Cọp Trắng mổ xẻ lòng tham khôn lường của giới nhà giàu; nó đồng thời kích động, với sự chính xác và khoan thai kinh ngạc, cuộc đấu tranh không thể tuyệt vọng hơn của những kẻ cùng khổ.” -Pankaj Mishra, tác giả Những cám dỗ của phương Tây “Cọp Trắng của Aravind Adiga là một trong những quyển sách mạnh mẽ nhất mà tôi từng đọc trong nhiều thập niên qua. Nói không ngoa. Tiểu thuyết đầu tay này giáng trúng tôi như một cú đá vào đầu - giống như hiệu ứng mà Con của đất mẹ của Richard Wright và Người vô hình của Ralph Ellison đã tạo ra vậy. Nhưng Cọp Trắng không nói về giai cấp hay chủng tộc ở Ấn Độ. Nó nói về sự bất công kinh tế to lớn giữa người nghèo và tầng lớp thượng lưu giàu có. Người kể chuyện là một doanh nhân Ấn Độ thuật lại chi tiết quá trình vươn lên đỉnh cao quyền lực. Ấn Độ của anh ta là một khu rừng thối nát tàn nhẫn của Darwin, nơi mà chỉ có kẻ ác mới sống sót. Hãy hình dung anh ta giống như Vito Corleone thời trẻ trong Bố già không chịu trở thành con rối, nhưng lược đi tình cảm ướt át. Đây là một tiểu thuyết tuyệt vời và đầy giận dữ về sự bất công và quyền lực.” - USA Today “Tàn nhẫn và xuất sắc mãnh liệt... Điều Adiga vạch trần cũng là sự thật không thể lay chuyển: không một chi tiết nào trong tiểu thuyết này nghe có vẻ giả tạo hoặc gây cảm giác bịa đặt.Cọp Trắng là một tác phẩm lột trần, thẳng tay lột bỏ lớp vỏ bọc của “Ấn Độ đang nổi lên” để phơi bày quả tim mục nát của nó. Việc tác giả điều chỉnh để mưu kế thâm độc dần trở thành ý tưởng chủ đạo về cuối truyện cho thấy Adiga còn có thể tiến xa hơn nữa. Chúng ta sẵn sàng theo chân anh ấy.” - Neel Mukhrjee, The Sunday Telegraph (London) *** Sự kiện tiểu thuyết Cọp Trắng đoạt giải thưởng văn học Man Booker 2008 đã làm xôn xao văn đàn thế giới lúc bấy giờ. Bởi trong các đề cử chung khảo, tác phẩm đầu tay này của Aravind Adiga, một nhà báo Ấn Độ 33 tuổi, không được xem là ứng viên nặng ký. Cọp Trắng kể về quá trình lập nghiệp của Balram Halwai, con trai người phu xe đến từ một làng quê nghèo khổ ở Ấn Độ, trình bày dưới hình thức một lá thư viết trong bảy đêm gửi thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo. Đó là câu chuyện của cậu bé bị buộc phải nghỉ học để đi làm ở quán trà, rồi trở thành tài xế cho con trai một địa chủ và sau đó thành một doanh nhân thành đạt tại Bangalore. Hành trình của Balram dẫn dắt người đọc đi qua hai Ấn Độ, một Ấn Độ của Ánh sáng, và một Ấn Độ của Bóng tối. Một bên là thế giới của những người thuộc giai cấp thượng lưu, sống trong những căn hộ cao cấp và giải trí bằng những thú tiêu khiển xa xỉ. Bên kia là thế giới của những kẻ bần cùng bị khước từ các điều kiện sống cơ bản nhất. Balram lớn lên từ Ấn Độ của Bóng tối, nhưng không cam tâm sống cuộc đời nghèo khổ để rồi cuối đời thổ huyết mà chết như bố mình. Kẻ được một viên thanh tra giáo dục đặt cho biệt danh “Cọp trắng” đã chứng tỏ mình xứng đáng với tên gọi của “loài vật trong rừng mà mỗi thế hệ chỉ có một con”. Con cọp trắng Balram tinh ranh quỷ quái không trừ một thủ đoạn nào, kể cả giết người, để chạm đến và leo lên vầng hào quang Ánh sáng. Ấn Độ qua giọng kể của Balram là một xã hội trần trụi đầy rẫy bất công. Ở đó, hệ thống giai cấp đã tạo ra chiếc “Chuồng gà” giam hãm những người thấp cổ bé miệng hết đời này qua đời khác. Ở đó, luật pháp bị thay thế bởi những luật lệ nhuốm mùi tiền. Và điều gì sẽ xảy ra khi một ngày, kẻ trong “Chuồng gà” như Balram phá cũi sổ lồng? Đó chính là điều tác giả Aravind Adiga lo sợ. “Tôi ngày càng tin rằng hệ thống chủ-tớ, viên đá tảng của đời sống trung lưu ở Ấn Độ, đang lung lay, và sự đổ vỡ ấy sẽ dẫn đến nguy cơ gia tăng tội ác và sự thiếu ổn định. Tiểu thuyết này là chân dung một xã hội bên bờ vực của bất ổn.” Chủ tịch hội đồng giám khảo giải thưởng văn học Man Booker, ông Michael Portillo, có lẽ hơi quá lời khi đánh giá Cọp Trắng là “một tiểu thuyết hoàn hảo trên nhiều phương diện”. Song những tiếp nhận tích cực của độc giả khẳng định, Cọp Trắng xứng đáng với giải thưởng vì câu chuyện gai góc hấp dẫn khiến người đọc khó lòng bỏ sách xuống cho đến trang cuối cùng, chứ không phải vì sự quan tâm ngày càng tăng của giải thưởng phương Tây đối với các nền kinh tế mới nổi, trong đó có Ấn Độ! Mời các bạn đón đọc ​Cọp Trắng của tác giả Aravind Adiga.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Sông
Sông là tiểu thuyết đầu tay của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư với sự đổi mới toàn diện của chính cô. Đẹp. Đáo để. Trần tục và hư ảo. Truyện kết thúc bằng dấu chấm hỏi về số phận một con người  - Không hề do dự, cô đã đẩy mầm ý tưởng vừa nhú lên sang tay người đọc, để họ nuôi dưỡng chúng, bằng trải nghiệm qua việc đọc cuốn sách này. Sông là tiểu thuyết đầu tay của Nguyễn Ngọc Tư. Sau những truyện ngắn (Cánh đồng bất tận, Gió lẻ, Ngọn đèn không tắt…) đã làm xôn xao tâm trạng của biết bao người đọc suốt một thời gian dài, Sông được xem là một sự đổi thay toàn diện của chính tác giả. Có người đã nhận xét về Sông ngắn gọn như thế này: Đẹp. Đáo để. Trần tục và hư ảo. Trước khi diễn ra sự kiện này, khi được hỏi: “Phải phá vỡ những gì vốn có của riêng chị để truy vấn chính mình, để tìm kiếm một hiện thực sâu hơn, chân thực hơn trong đời sống con người?”, Nguyễn Ngọc Tư đã trả lời thật chân thành: “Quả đến ngày đến tháng thì đổi vị, chứ sao có thể xanh mãi, chua mãi trên cành…” Vậy, Nguyễn Ngọc Tư đã “đổi vị” như thế nào trong Sông? Để giúp bạn đọc có những cảm nhận đầu tiên trước khi tìm được câu trả lời trong sự tiếp cận đầy đủ với cuốn tiểu thuyết đầu tay của Nguyễn Ngọc Tư *** Nguyễn Ngọc Tư viết nhiều, đến mức người đọc luôn có cảm giác chị ăn ngủ trong không khí văn chương. Dường như mọi con đường chị đi qua, sẽ có lúc nào đó hiện lên trong văn chị, mọi con người chị gặp sẽ có một ngày bước vào truyện của chị. Kiểu như nhân vật Mười - người đàn bà không chịu tự mình tỏa sáng mà cứ phải lệ thuộc vào tình yêu của Cao Bồi. Nhân vật nữ mà kiểu gì tác giả cũng sẽ bị càm ràm, cho dù người viết có chục lần dự định cho chị tách khỏi tình yêu của đời mình, cũng sẽ chục lần không thực hiện được, bởi vì Mười sẽ không làm như thế. Và chỉ cần đôi chữ bóng gió viết rằng Mười đã mỏi mòn, nhân vật cũng sẽ lập tức phản ứng, tỉnh rụi bảo: “Đâu có”. “Tui không nghĩ nhân vật của tui có bóng dáng của tui, mà rất nhiều người hơi biết tui một chút đều nói văn tui với người… trớt quớt” - Nguyễn Ngọc Tư tự sự. Chị cho biết: “Văn của tui hoàn toàn chẳng có trải nghiệm gì của cá nhân mình trong đó, chẳng hạn như khi viết về cảm giác lòng tự trọng bị thương tổn của một người đàn ông phải chịu nhục trước bạn gái mình, tui hình dung ra thôi”. *** Ba lô vẫn còn nguyên những vật dụng của chuyến đi trước. Áo mưa. Túi ni lông bọc máy ảnh, điện thoại. Đèn pin. Thuốc chống muỗi và tinh dầu chống vắt, đỉa. Quẹt gas. Trong lúc lục lọi cậu tìm được hai bàn chải đánh răng, thấy tan nát một chút. Giày thể thao có đế dày chống gai cũng không cần mua mới. Đi nhà sách tìm bản đồ giấy được cập nhật mới nhất, tiện tay cậu lấy mấy cuốn sách thiền, hy vọng học được cách quên. Mai Triều nói cũng nên tìm bạn đồng hành. Thêm một người cùng đi thì sẽ bớt khó khăn, cô độc. Cũng phải có người quay về để kể lại người kia chết kiểu nào chớ, ông nói, Ba lô vẫn còn nguyên những vật dụng của chuyến đi trước. Áo mưa. Túi ni lông bọc máy ảnh, điện thoại. Đèn pin. Thuốc chống muỗi và tinh dầu chống vắt, đỉa. Quẹt gas. Trong lúc lục lọi cậu tìm được hai bàn chải đánh răng, thấy tan nát một chút. Giày thể thao có đế dày chống gai cũng không cần mua mới. Đi nhà sách tìm bản đồ giấy được cập nhật mới nhất, tiện tay cậu lấy mấy cuốn sách thiền, hy vọng học được cách quên. Mai Triều nói cũng nên tìm bạn đồng hành. Thêm một người cùng đi thì sẽ bớt khó khăn, cô độc. Cũng phải có người quay về để kể lại người kia chết kiểu nào chớ, ông nói, hay ông hoàng Bảo Đại; Nguyễn Thị Anh hay Huyền Trân công chúa cũng đều đã tắm trên sông này. Thông tin trong Đại Từ Điển Bách Khoa cũng chẳng nhiều nhặn hơn những gì cậu đã biết. Cậu rao trên mạng tìm bạn lặn lội sông Di, có mười bảy hồi đáp. Cuộc hẹn thứ nhất ở quán Gió mười hai người tới. Khi nhũn nhặn nói với ba cô gái có mặt ở đó rằng chuyến đi này không phù hợp với phụ nữ, cậu có chút ân hận đã quên thông tin ngay từ đầu. Một cô gái tóc xù nhuộm trắng xen đỏ như tô mì khô lẫn mấy cọng giá đổ quạu, sao không nói sớm cho người ta biết. Cô còn quăng phẹp câu hỏi trước khi xốc túi xách bỏ đi. - Anh dám chắc trong số họ không một ai là đàn bà? Ai biết đâu. Ở đời luôn có những câu hỏi không thể trả lời, dù không phải quá khó. Chỉ biết vỗ tay tiễn cô đi. Đuổi bằng vỗ tay là học lóm ở các đại hội văn nghệ. Cuộc hẹn cuối cùng cũng ở Gió chỉ còn hai lò dò tới. Một người tên Thuần, biệt danh là Bối, cao lêu đêu, áo thun rộng kẻ chữ “Biển của tao trời đất của tao” , như vừa tan một cuộc biểu tình đòi biển đảo về, quần kaki lửng ống rộng nhiều dây nhợ khiến cậu nhớ tới cái rổ đan dở, đi cùng đôi kính và tai nghe trắng. Vết hằn ở chỗ nút tai của Bối làm cậu ngờ lúc tắm và làm tình anh ta cũng không rời chúng. Khi đang nói, Bối hay ngừng lại giữa câu, mặt lơ mơ như một giai điệu nào đó chợt rót vào người. Người kia là Xu, không biết đó là tên hay biệt danh, người đen trũi lầm lì, mi mắt dài và rợp che lấp cả ánh mắt sâu hút hay nhìn bâng quơ đâu đâu, tóc hớt đinh một phân đều nắng soi tận da đầu. Vẻ kiệm lời chín chắn của Xu ngay lập tức thuyết phục cậu, nhất là khi biết anh ta tham gia điều hành một diễn đàn phượt nổi tiếng, cộng đồng nhiếp ảnh anhdep.com anh ta cũng chung tay chăm sóc. Nhưng cậu cũng cần có Bối góp nói cho vẳng lên tiếng người trong suốt cuộc đi. Cậu vặt vẹo chính mình suốt buổi gặp, để rồi quả quyết rằng Bối nhận được cái gật đầu không phải vì anh ta thích màu hồng, và hay xoay cái ly nước cam vắt ốm ròm như một nàng vũ nữ đang nhón trên những đầu ngón chân. Không phải cậu quan tâm chuyện ngón tay út Bối hay cong tớn lên, như một dấu hiệu của đồng-loại. Bối chụp ảnh giỏi, vậy thôi. Sách cậu hẳn sẽ cần khá nhiều ảnh. Mời các bạn đón đọc Sông của tác giả Nguyễn Ngọc Tư.
Sư Tử
Sư tử (nguyên bản tiếng Pháp: Le Lion), tác phẩm của nhà văn người Pháp Joseph Kessel, là câu chuyện về một cô gái và chú sư tử của cô. Patricia có một tài năng hiếm có: trò chuyện với thú vật, và cô bé nghĩ mình có thể điều khiển mọi thứ. Cô bé nổi tiếng với cả thú vật và con người. Câu chuyện được thuật lại thông qua một người đàn ông Pháp trong chuyến viếng thăm Kenya. Câu chuyện xoay quanh tình bạn giữa Patricia và chú sư tử King, được Patricia nuôi từ khi mới sinh ra. Ouriounga, một thiếu niên người Maasai mong muốn kết hôn với Patricia đã quyết định thể hiện mình bằng cách giết sư tử, như tục lệ ở bộ tộc cậu. Tuy nhiên, chú sư tử mà cậu chọn giết lại là King. Cha của Patricia đã bắn King để bảo vệ Ouriounga khỏi cái chết. Cái nhìn lý tưởng của Patricia về thảo nguyên châu Phi tan vỡ, cô bé đầu hàng trước yêu cầu của mọi người và rời đi cùng với người kể chuyện, đi học tại một trường nội trú ở Nairobi. Irene và Louis Kamp đã chuyển thể cuốn tiểu thuyết thành kịch bản cho bộ phim cùng tên năm 1962, với sự tham gia của William Holden, Trevor Howard, Capucine, và Pamela Franklin. *** Joseph Kessel sinh ra ở Clara, Achentina, ngày 10-02-1898. Cha ông là người Nga gốc Do Thái chạy trốn sự truy nã của Sa hoàng, sang Pháp học ngành Y. Nước Pháp trở thành Tổ quốc tinh thần của gia đình Kessel từ đấy. Bác sĩ Kessel tình nguyện đi làm thầy thuốc cho một khu di dân nông nghiệp Do Thái ở Achentina, và Joseph Kessel ra đời ở Tân Thế Giới.   Khi gia đình trở về Pari, Joseph chuẩn bị thi cử nhân văn khoa trong khi vẫn mơ ước trở thành một diễn viên hài kịch. Nhưng một dịp tốt đã đến, cho phép ông làm việc tại tòa báo Journal des débats, tờ báo hàng ngày có uy tín nhất ở Pari. Ở tòa báo, người ta vẫn còn thấy chiếc ghế bành của Chateaubriand để đó.   Thế rồi chiến tranh xảy ra, và vừa đúng lúc mười tám tuổi, ông bỏ hẳn sân khấu và tạm thời bỏ nghề báo để làm phi công. Chính trong nghề này mà ông tìm thấy nguồn cảm hứng cho tiểu thuyết Phi đoàn. Nhà phê bình Henry Clouard cho rằng Kessel là người đầu tiên viết mảng văn học về hàng không.   Năm 1919, Kessel tình nguyện sung vào quân đội viễn chinh của Pháp sang Siberi. Ông đã kể lại chuyến đi ấy trong tiểu thuyết Thời hoang dã. Ông trở về qua Trung Quốc, Ấn Độ và khép lại vòng đi thế giới đầu tiên.   Sau đó, ông luôn luôn ở vị trí hàng đầu thuận lợi cho việc quan sát thời sự. Ông tham gia cuộc nổi dậy của Ái Nhĩ Lan chống lại nước Anh. Ông được chứng kiến những bước đầu của chủ nghĩa phục quốc Do Thái. Hai mươi năm sau, ông nhận được giấy nhập cảnh vào nước Ixraen non trẻ, tờ visa mang số 1. Ông đi theo những người buôn nô lệ cuối cùng trên biển Đỏ cùng với Henri de Monfreid. Ông được thấy những bước đầu của bưu điện Hàng không cùng với Mermoz và Sain Exupery. Ở nước Đức đang thời biến động, ông gặp “người đàn ông mặc áo đen xoàng xĩnh, chẳng có vẻ gì lịch sự, chẳng có vẻ gì quyền thế, chẳng có chút gì ưa nhìn, của một người đàn ông nào đó, vẻ buồn buồn và khá tầm thường”. Người đó là Hitler.   Sau cuộc chiến năm 40 mà ông bắt đầu trong một trung đoàn công binh và kết thúc ở vị trí một phi công của nước Pháp tự do, Joseph Kessel lại trở về nghề văn và nghề báo. Ông được bầu và Viện Hàn Lâm Pháp tháng 11 năm 1962. Ông mất năm 1979.   Joseph Kessel là tác giả của hơn hai mươi tiểu thuyết và truyện như: Phi đoàn, Những trái tim trong trắng, Sư tử, Tiểu đoàn trên không, Đoàn quân bóng tối, Chợ nô lệ, Người đàn bà đi qua quán cà phê…  *** Tôi dâng tặng tiểu thuyết này tới cơ quan quản trị các Vườn quốc gia Kênya đã có công bảo tồn sự sống hoang dã miền đông Phi châu cho các thế hệ tới, để ca ngợi lòng tận tụy nhiệt thành của những con người gánh vác trách nhiệm các khu bảo tồn đó, đặc biệt để ca ngợi bạn tôi, ông giám đốc Tabêrê, trong ngôi nhà anh tôi đã phác họa xong chủ đề câu chuyện này.   Các sự kiện trong câu chuyện diễn ra tại bảo tồn Ambôlêsi. Hẳn là mỗi khu vườn quốc gia đều có một vị giám đốc. Thế nhưng tính các vị giám đốc trong cuốn sách này cũng như tính các bà vợ và cô con gái ông lại hoàn toàn do tác giả tạo ra. Là các nhân vật tiểu thuyết, các tính cách đó chẳng có chút gì chung với gia đình Tabêrê cả. Dẫu sao tôi cũng ngỏ lời cám ơn anh vì anh đã chia sẽ với tôi những kinh nghiệm lâu đời và hiếm hoi của anh về các giống thú hoang. Không được anh giúp sức, cuốn sách này hẳn đã không thể nào ra đời. *** Phải chăng nó đã vành mi mắt tôi để coi thử trong đó có gì? Tôi không thể đoán chắc điều đó. Khi thức giấc, rõ ràng tôi đã thấy như là có một ngọn bút lông mềm và nhám dạo dọc khuôn mặt mình, thế nhưng khi tỉnh dậy hẳn thì tôi lại thấy nó đang ngồi rất ngoan ở ngang tầm cái gối và nhìn tôi chăm chú.   Tầm vóc nó không lớn hơn một sọ dừa. Bộ lông mọc ngắn của nó có màu vỏ dứa khô. Với bộ lông như thế từ đầu ngón chân tới đỉnh hộp sọ, trông nó như thể mặc lông dệt. Riêng cái mặt lại phủ bằng một thứ mặt nạ satanh đen, xuyên qua đó long lanh hai giọt nước: đôi con mắt.   Trời chưa rạng hẳn, nhưng cây đèn bão đêm qua tôi quên tắt vì mệt cũng đủ sáng để tôi nhìn thấy rành rành trên nền tường vôi trắng vị sứ giả bất ngờ đó của bình minh.   Vài giờ sau, sự hiện diện của nó hẳn sẽ là chuyện bình thường đối với tôi. Nó có cả bầy sống trên những cây cao xung quanh gian lều; nhiều gia đình đông đủ giỡn chơi trên cùng một cành cây. Nhưng bữa qua, lúc chiều sẩm tối mới tới đây, người kiệt lực. Vì vậy, vào lúc này, tôi đã nín thở mà nhìn con khỉ tí xíu ngồi rất gần mặt tôi.   Cả nó cũng không nhúc nhích. Cả đôi giọt nước bên trong cái mặt nạ satanh đen cũng bất động.   Trong đôi mắt nhìn ấy không thấy sợ sệt, nghi kỵ và cả tò mò nữa. Tôi chỉ là đối tượng cho một sự xem xét nghiêm túc, vô tư.   Thế rồi cái đầu dệt lông ấy, to bằng nắm tay trẻ nhỏ ở tuổi còn nằm trong nôi, bỗng ngoẹo về bên trái. Đôi mắt khôn ngoan lộ ra một vẻ buồn rầu, thương hại. Nhưng đó là buồn thương cho tôi.   Tưởng chừng đôi mắt ấy mong muốn cho tôi những chuyện tốt lành, muốn đem cho tôi một lời khuyên. Nhưng lời khuyên gì vậy?   Lúc đó hẳn tôi đã có một cử động vô ý. Thế là cái nắm tròn màu ngà ngà vàng đó nhảy vụt lên, bay từ bàn này sang ghế kia cho tới khung cửa sổ để ngỏ, và tan biến đi trong sương mù buổi sáng.   Quần áo đi rừng của tôi từ đêm qua vứt đó vẫn y nguyên dưới đất cạnh chân giường, gần cây đèn bão.   Tôi lấy mặc vào và đi ra ngoài hiên.   Bữa chiều qua, mặc dù trời tối mù mịt, tôi nhớ rằng có để ý thấy những bụi gai lớn bao quanh gian lều mình ở, và trước lều là một cánh rừng thưa mênh mông chạy dài hút trong màn đêm bí ẩn. Nhưng lúc này sương mù đã che kín hết. Vật chuẩn duy nhất cho tôi chỉ còn ngay trước mặt tôi, nối với trời cao trên nóc thế giới, cái bàn khổng lồ chứa tuyết vĩnh cửu quanh đỉnh núi Kilimanjarô.   Một tiếng động giống như có ai lăn vội những con xúc xắc đã khiến tôi ngoảnh nhìn về những bậc cầu thang gỗ thô dẫn tới hàng hiên. Một con linh dương thong thả, ung dung leo lên các bậc tam cấp.   Một con linh dương thực sự, nhưng rất nhỏ xinh, tai nó không chấm đầu gối tôi, sừng giống như những lá thông, và vó chỉ to bằng móng tay.   Con vật kỳ diệu chui từ sương mù ra ấy chỉ dừng lại khi gặp mắt cá chân tôi và nó ngẩng mõm lên với tôi. Tôi khom xuống hết sức thận trọng và chìa bàn tay về phía cái đầu gọt giũa hết sức đẹp đẽ, hết sức tinh tế. Con linh dương nhỏ không cựa quậy. Tôi sờ vào hai cánh mũi nó, ve vuốt chúng.   Nó để mặc tôi, mắt nó nhìn chăm chú vào mắt tôi. Và trong vẻ trìu mến câm lặng của đôi mắt ấy tôi thấy có điều gì đó cũng hệt như khóe nhìn đến là buồn và đến là khôn ngoan của chú khỉ con. Cả lần này nữa, tôi cũng không đủ khả năng để hiểu.   Dường như muốn tạ lỗi vì không nói được, con linh dương liếm các ngón tay tôi. Rồi nói khẽ khàng gỡ mồm khỏi tay tôi. Sau đó, vó chân nó lại tạo ra trên bậc thang gỗ tiếng những quân xúc xắc lăn đi. Nó đi khuất.   Tôi chỉ còn có một mình.   Nhưng trải qua mấy giây lát ấy, bình minh nhiệt đới vốn ngắn ngủi lạ lùng đã nhường chỗ cho rạng đông.   Từ trong lòng bóng tối, ánh sáng đột ngột vọt ra, lộng lẫy, sáng lóa, rạng rỡ. Tất cả bừng lên, long lanh, lấp lánh.   Những mũi tên hồng xuyên qua tuyết trên đỉnh Kilimanjarô.   Khối sương mù dày đặc bị sức nóng mặt trời đào bới, phá phách, hút đi, đã tản ra thành những màng mỏng, thành cột, thành cuộn, thành đường xoắn, thành những khối, những giải, những sợi, và thành vô vàn hạt nhỏ tựa như bột kim cương.   Cỏ lúc thường, khô cứng và màu vàng, lúc này trông mềm ra và lộng lẫy sương mai.   Trên những cây mọc rải quanh lều tôi ở, ngọn cây có những chùm gai lúc này đã được chuốt bóng lại, chim đang hót và khỉ đang kêu choe chóe.   Và đằng trước hàng hiên, khói sương dần dần tan biến để mở ra một khoảng ngắt xanh càng vô cùng khoáng đãng và bí ẩn, và tít sâu trong đó vẫn còn những đám mây nho nhỏ mới tụ đang chập chờn bay và đến lượt chúng cũng lại bốc đi nốt.   Tấm màn này vén lên tiếp tấm màn kia, trái đất mở màn diễn những trò ban ngày và của muôn loài.   Sau hết, ở cuối cánh rừng thưa, nơi vẫn còn bám lại một dải sương mờ nhẹ như lông tơ, thấy có bóng nước long lanh.   Hồ? Ao? Hay đầm nước lầy? Không phải loại nào cả, mà chỉ là một vùng nước rộng. Bên dưới hẳn là có những mạch nước ngầm yếu ớt và nước không đủ sức lan xa hơn nữa, chỉ run rẩy lăn tăn giữa những đám cỏ cao, giữa những lau sậy và những bụi cây rậm rạp.   Những con thú tụ tập bên đầm nước.   Trong chuyến viễn du tôi vừa thực hiện tại vùng Đông Châu Phi, dọc theo các con đường lớn và đường mòn - Kivu, Tanganyika, Uganda, Kenya - tôi đã thấy nhiều con thú đó. Những bầy thú bị tiếng xe ầm ầm xua đuổi tan tác, những bóng hình thoăn thoắt, hốt hoảng, rồi biến mất.   Đôi khi tôi cũng có dịp rình trong giây lát một con thú hoang, việc đó chỉ thực hiện được từ rất xa hoặc kín đáo, có thể nói là xem trộm cũng được.   Tôi đã chiêm ngưỡng những tư thế của những sinh mệnh tự do và thuần khiết ở chốn rừng rậm khô khan với một tình cảm đặc biệt pha lẫn thèm khát, hào hứng, ước ao và thất vọng. Dường như được gặp lại một thiên đường tôi từng mơ ước, từng quen biết từ thuở nào không còn nhớ nổi. Tôi đã kề ngưỡng cửa thiên đường ấy mà không thể vượt qua.   Hết gặp gỡ này sang gặp gỡ khác, tôi chợt thấy có nhu cầu - hẳn là một nhu cầu - trẻ con nhưng ngày càng thúc bách - được thấy mình nhập vào cõi hồn nhiên trong trắng của những buổi đầu đã rất xa xưa của thế giới.   Vì thế, trước khi trở lại châu Âu, tôi đã quyết định ghé qua một trong những Vườn hoàng gia xứ Kênya, những khu bảo tồn có những luật lệ cực kỳ khắt khe chở các thú hoang được sống trong tất cả các hình thái đời sống của chúng.   Và giờ đây, chúng kia rồi.   Mời các bạn đón đọc Sư Tử của tác giả Joseph Kessel.
Brésil Đỏ
Các cuộc chinh phục Brazil của người Pháp là một trong những sự kiện kì lạ nhất và ít được biết đến nhất của thời kỳ Phục hưng.   Brésil đỏ kể câu chuyện của hai đứa trẻ, Just và Colombe, bị ép tham gia chuyến thám hiểm để làm thông dịch viên với các bộ tộc da đỏ. Mọi thứ trong cuộc phiêu lưu này đều quá mức. Khung cảnh: vịnh Rio hoang dã vẫn còn các khu rừng rậm và các bộ lạc da đỏ ăn thịt người. Các nhân vật – trước tiên là hiệp sĩ Villegagenon, người đứng đầu cuộc thám hiểm, hoài cổ về các cuộc thập tự chinh, chì đắm trong nền văn hóa cổ xưa, tiền thân của D'Artagnan hay Cyrano. Các sự kiện: vụ xử kín kịch tính của Pháp miền nhiệt đới là sự lặp lại cuộc chiến tranh tôn giáo mười năm trước.   Đầy ắp những chân dung, phong cảnh, hành động, Brésil đỏ, được viết bằng một ngôn ngữ mỉa mai kiểu Voltaire, có dạng của một cuốn tiểu thuyết giáo dục và tình yêu. Nhưng sâu xa hơn, thông qua việc số phận và những lựa chọn của Just và Colombe, cuốn sách này đưa ra hai quan niệm đối lập về con người và thiên nhiên. Một mặt, nền văn minh châu Âu, thích chinh phục và toàn cầu, muốn giải phóng và gây chết chóc. Mặt khác, thế giới của người da đỏ, với những cảm xúc nhục dục, ý nghĩa của sự hòa hợp và cái thiêng liêng, tiếng gọi thường trực của hạnh phúc...   Well Leon dịch *** JEAN-CHRISTOPHE RUFIN sinh ngày 28 tháng 6 năm 1952.   Khi thi đậu vào Trường Đại học Y khoa, chắc hẳn Jean-Christophe Rufin không nghĩ rằng ông sẽ thành đạt bằng nghề viết lách, chứ không phải bằng con dao mổ. Ngày 6.11.2001 Rufin đã đăng quang lần thứ hai trên văn đàn Pháp. Tác phẩm “Rouge Bresil” (Brazil Đỏ) đoạt giải Goncourt – giải thưởng văn học cao quý nhất nước Pháp.   Rufin còn là một nhà hoạt động xã hội lớn. Ông đã từng giữ chức Phó Chủ tịch Hiệp hội Bác sĩ không biên giới – tổ chức đoạt giải Nobel Hoà bình năm 1999. Tại vòng bỏ phiếu thứ 10 của giải Goncourt năm nay, Rufin đã chiến thắng nhờ hơn đúng có một phiếu. “Tôi đã khóc như một đứa trẻ khi hay tin này. Tôi đã thuyết phục mình rằng tôi sẽ không đoạt được giải này” – bác sĩ Rufin thổ lộ với kênh truyền hình LCI.   Địa điểm hội đồng giám khảo Goncourt gặp hàng năm để chọn tác phẩm trao giải “lãng mạn theo đúng kiểu Pháp” – đó là nhà hàng Drouant ở Paris. Giá trị vật chất của Goncourt chẳng nhiều nhặn gì – chỉ vẻn vẹn khoảng 7USD, song nó vẫn được coi là giải thưởng văn học danh giá nhất nước Pháp, bởi thu hút được sự chú ý lớn của báo chí và khiến tác giả ngay lập tức trở thành người nổi tiếng, còn tác phẩm được phát hành với số lượng vô cùng lớn.   “Rouge Bresil” là cuốn tiểu thuyết lịch sử thuật lại cuộc chinh phục của Pháp ở Brazil thời kỳ Phục hưng qua con mắt của hai đứa trẻ đi tìm cha mẹ mình. Just, cậu con trai sau trở thành quan chức trong bộ máy thực dân, còn Colombe, cô con gái lại đứng về phía những người da đỏ. Cô là đường dây độc đáo dẫn người đọc đi qua thế giới của người da đỏ mà giờ đây không còn tồn tại nữa. “Đây là loại tiểu thuyết sinh thái học, nếu ta có thể gọi được như vậy. Đó là sự đối đầu giữa hai khái niệm khác nhau về thiên nhiên” – Rufin nhận xét.   Rufin bắt đầu cầm bút năm 1997 và ngay lập tức ông đoạt giải Goncourt cho tác phẩm đầu tay “L’Abyssin” (Người Abyssinia), Abyssinia là tên gọi cũ của Ethiopia. Hai năm sau với tác phẩm “Les Causes perdues” (Những mục tiêu bị đánh mất) kể về những sự mập mờ trong các hoạt động cứu trợ nhân đạo, Rufin đã đoạt một giải thưởng văn học khác. Ngao du nhiều nơi theo các hoạt động của tổ chức Bác sĩ Không biên giới, Rufin đã đưa vào tác phẩm của mình những vùng đất liên quan đến lịch sử nước Pháp.   “Người Abyssinia” đưa người đọc trở về năm 1699, khi Vua Louis XIV cử đại sứ đến yết kiến Negus, Quốc vương Abyssinia với hy vọng sẽ lôi kéo được đất nước này vào quỹ đạo chính trị và tôn giáo của Pháp. Jean-Baptiste Poncet, chàng dược sĩ trẻ chuyên bào chế thuốc cho các tổng trấn ở Cairo được Lãnh sự Pháp chọn dẫn đầu phái đoàn này. Họ đã vượt qua sa mạc Ai Cập và vùng núi hiểm trở của Abyssinia để đến cung điện của Negus, sau đó trở về Versailles, rồi lại quay trở lại. Trên đường đi chàng đã phải lòng con gái viên lãnh sự, chữa chứng bệnh kỳ dị về da cho Negus và tiếp kiến Vua Louis tại Pháp.   Trong phần hai của cuốn tiểu thuyết có tên gọi “The Siege of Isfahan” (Vòng vây ở Isfahan), Rufin đưa Jean-Baptiste Poncet đến những vùng đất huyền bí như Ba Tư, Nga trong bối cảnh 20 năm sau đó. Ngoài mối quan hệ với Vua Louis XIV, Poncet còn trở thành bạn của Quốc vương Ba Tư Shah và Sa hoàng Peter Đại đế. Trong một chuyến đi ở Trung Đông, vợ và con gái ông rơi vào vòng vây của quân đội Afghanistan và trở thành vật mặc cả của Quốc vương Mahmud. Bên cạnh sự hiểu biết uyên bác về Trung Đông và Nga, Rufin đã tiếp tục hoàn thiện phong cách viết lôi cuốn, huyền ảo với bố cục vô cùng chặt chẽ.   Nguồn: Lao Động, 10.11.2001  *** - Kính thưa Đức Ông, Ngài thử tưởng tượng một người nhìn thấy vạc nước sôi sùng sục sắp luộc chín mình, thì sẽ có cảm giác thế nào.   Nói rồi, người thủy thủ đưa mắt u sầu nhìn đống than hồng.   Người Anh điêng nhổm người lên, kêu:   - Nói bậy! Nói bậy!   - Sao, bậy ư? Dễ các người không ăn thịt đồng loại chắc? Hay mày cho cách thịt người như thế là chưa đúng, hở thằng khốn?   Rồi người thủy thủ lại quay sang thưa với viên sĩ quan:   - Thưa Ngài, đúng là không phải người Brésil nào cũng làm như cách bọn bắt được tôi đã làm. Một số bọn chúng còn “hun sống”, tóm lại là chúng quay chín anh. Mày chịu chưa, hở thằng khốn?   Anh thủy thủ, với sức lực yếu ớt nhưng ngoan cố của một người say, túm lấy áo người Anh điêng kéo vào sát cái mũi bóng loáng của mình. Hai bên gầm ghè nhau vài giây, mắt làm ra vẻ gườm gườm. Rồi anh thủy thủ bỗng buông tay, và hai người phá lên cười ha hả, bắt tay nhau rối rít. Tháp chuông lớn nhà thờ Rouen điểm tám tiếng, và tất cả các xà rầm trong quán rượu đối diện với công trình kiến trúc lâu đời ấy lại rung lên theo mỗi tiếng ngân.   Viên sĩ quan, người gày khẳng và mặt xương xẩu, trông có vẻ ảo não. Cuộc hội ngộ giữa hai người chẳng làm ông xúc động. Ông đang sốt ruột vì có việc phải lo. Đã giữa năm 1555 rồi, nếu để qua tháng sáu thì gió sẽ không thuận. Ông đập tay lên bàn, nói giọng hầm hừ như đe dọa ai:   - Ai cũng biết, bờ biển nơi ta sẽ đổ bộ là rất nguy hiểm. Nhưng ý ta đã quyết: tám ngày nữa, chúng ta sẽ nhổ neo để đi thiết lập một nước Pháp mới ở Brésil.   Anh thủy thủ và anh thổ dân da đỏ nhấp nhổm trong chiếc ghế đẩu ba chân. Chỉ mới nghe thấy từ Brésil, một niềm hứng khởi chưa hoàn toàn quên lãng và những hình ảnh khó có thể tả bằng lời lại đã thoáng hiện trong ký ức và tạo cho nét mặt họ một vẻ mỉa mai chua chát có lẽ chỉ là do trí tưởng tượng. Viên sĩ quan lạnh lùng nói tiếp:   - Chúng tôi không còn nhiều thời giờ nữa. Hai người nói xem, có đồng ý đi cùng đoàn viễn chinh của ta để làm thông dịch với bọn thổ dân hay không?   Thích thú vì được chiêu đãi bia, anh thủy thủ tìm cách kéo dài cuộc gặp mặt. Anh thì thầm, giọng lè nhè:   - Thưa Đức Ông, tôi đã thưa với ngài rồi: cứ đến đấy, ngài sẽ kiếm được khối thông dịch. Đã ba đời nay, những người Noócmăng chúng tôi đều đã tới đấy để kiếm thứ gỗ đỏ rất quý tạo ra màu đặc biệt riêng cho vải nhuộm của anh em nhà Gobelins. Bọn Bồ Đào Nha thật trâng tráo, dám nói chúng là người đầu tiên khám phá miền đất ấy! Thật ra chúng tôi đã làm ăn ở đó trước chúng nhiều.   Không ai nói gì, anh ta lại hăng hái:   - Ngài chỉ cần cặp bờ ai hôm là sẽ có hàng chục tên từ các làng gần đó kéo đến, sẵn sàng làm thông dịch cho ngài.   Viên sĩ quan tỏ vẻ mệt mỏi:   - Ta đã nói rồi, hiệp sĩ Villegagnon, là người cầm đầu đoàn viễn chinh, không muốn có điều gì bất trắc. Đoàn sẽ mang đủ mọi thứ cần thiết đến đấy lập cơ sở vững chắc. Chúng ta muốn có thông dịch của riêng mình, không phụ thuộc ai hết.   Mọi người trong quán đều chú ý đến đôi bạn không xứng hợp với nhau chút nào, một người da đỏ và một thủy thủ gầy nhẳng. Anh này đánh bạo hỏi:   - Ngài đã nói ngày nào đi, thế là rõ. Nhưng bao giờ về, Ngài cũng phải cho biết chứ.   - Không bao giờ về. Đi đây là đi lập một tỉnh mới cho Đức vua. Ai đi cùng chúng ta sẽ ở lại đấy mãi mãi. Chúng tôi sẽ cung cấp cho họ đủ mọi thứ cần thiết, song không ai được nói đến chữ về. Họ là người của nước Pháp, thì ở đó chính là nước Pháp rồi.   - Ngài đã đến đó bao giờ chưa? anh thủy thủ nheo mắt tinh quái.   - Chưa – viên sĩ quan lườm một cái dài. Nhưng ta đã từng phiêu bạt ở nhiều nước phương đông.   Anh thủy thủ đứng dậy, cả người chỉ còn lại một chút thịt dán sát vào khung xương mà cuộc sống bôn ba chưa lấy đi hết, lấy vẻ nghiêm trang tuyên bố:   - Tôi cũng từng đi biển sang phương đông. Mùi gì! Ở đấy như ở nhà mình. Châu Mỹ, thì khác. Tôi đã đi bốn lần, thật tồi tệ. Vẫn là cái xứ Brésil mà ngài nói định lập một nước Pháp mới ở đó. Đã trải đủ thứ: nào sốt rét, nào mọi ăn thịt người, may mà tôi thoát khỏi tay bọn chúng. Và bây giờ còn có lũ chó đểu Bồ Đào Nha, chúng mà chặn được thuyền ta ngoài khơi thì chúng chặt chân tay ta không thương tiếc. Ngài nghĩ tôi lấy đâu ra nghị lực để chịu đựng tất cả khổ ải ấy?   Anh vung tay, đưa một vại bia lên miệng, rồi nói như để chặn trước:   - Giầu sang ư, xin đừng nói tới! Vàng, vẹt, gỗ quý chỉ vỗ béo bọn chủ tàu, chúng ngồi nhà mà vơ hết. Còn thủy thủ mạt hạng chúng tôi thì ngài xem: may còn cái xác… Không, thưa ngài, ý nghĩa duy nhất khiến chúng tôi cố chịu đựng mọi hiểm nguy ấy – nói đến đây, anh ta lén nhìn người bạn da đỏ, cứ như thể anh chàng khốn khổ này là nguyên nhân gây ra những khó khăn nguy hiểm cho mình ở châu Mỹ ấy – là hy vọng chờ ngày trở về.   Anh thủy thủ nắm chặt hai tay đặt lên bàn, nói thật hùng hồn và dứt khoát phần kết luận:   - Rất tiếc làm ngài không vừa lòng, song thà nói ngay còn hơn, tôi không đi đâu.   Viên sĩ quan ngồi cắn môi. Phải lúc khác, ông đã giọt cho tên thủy thủ hỗn láo này một trận. Nhưng nếu làm thế, e rằng những người tự do khác trong đoàn sẽ chuồn hết. Còn lại người Anh điêng. Đến lúc này, anh ta mới hiểu, nhưng quá muộn, lời khước từ thứ nhất mà anh bạn thủy thủ vừa đưa ra đã đẩy anh vào tình thế phải hứng chịu cơn thịnh nộ dữ dội như thế nào. Ai nấy đều chú mục nhìn vào anh.   Trời cuối xuân bắt đầu nóng, anh vẫn mặc áo cài hết cúc lên tận cổ và bó chặt hai cổ tay. Cẩn thận vậy không phải để làm dáng hay do nhu cầu gì, mà bắt nguồn từ sự lo lắng âm thầm: không biết được cởi cúc đến đâu là phải phép. Trong mấy tháng bị đưa sang Pháp, anh chàng khốn khổ đã mấy lần bị hố về cách ăn mặc, cứ thản nhiên để lộ những bộ phận thân thể kín đáo nhất, với mục đích rất vô hại là muốn cho chúng được mát mẻ. Người ta đã riễu cợt anh nhiều lần về chuyện này.   Những ai bao dung lẽ ra nên thông cảm với anh. Bị đối phương bắt sống trong các trận chiến nơi rừng rậm Brésil, anh được các thủy thủ Pháp – trong đó có anh bạn đang ngồi cạnh anh – mua lại. Với mục đích bày tỏ lòng tôn kính đối với Đức Vua Henri II, Ngài đã báo trước là sắp tới sẽ đến ngự giá xuống Noóc-man-đi, một số nhà buôn ở địa phương đã gửi anh ta về Pháp cùng với khoảng năm mươi đồng hương khác. Vừa mới xuống tàu ở Rouen, người ta đã bảo anh nhẩy múa trước nhà vua và hoàng hậu, trên người chỉ đúng có túm lông che đậy, y như lúc anh bị bắt. Từng ở trần như vậy trước nhà vua nên sau đó, anh không hiểu rõ lắm, tại sao người ta lại bảo anh che đậy trước mặt dân thường người Pháp.   Mời các bạn đón đọc Brésil Đỏ của tác giả Jean-Christophe Rufin.
Cảng Xu Đăng
Nhà văn Pháp Olivier Rolin sinh năm 1947, từng nghiên cứu Triết học và Ngôn ngữ. Ông cũng là một người say mê địa lý, tàu thuyền và ham thích du lịch. Năm 1994, ông đoạt giải Prix Fémina với tác phẩm Cảng Xu đăng *** ‘Cảng Xuđăng là hải cảng duy nhất của Xuđăng có khả năng tiếp nhận tàu lớn có độ dài tới 277 m và độ mớn nước là 11,3 m đối với tàu chở dầu, và 10,5 m đối với các tàu khác. […] Từ tháng 7 tới tháng 9, các cơn gió mạnh và bất ngờ thổi từ giữa hướng đông nam và tây, có thể đạt tới cấp 8 Bôpho. Các cơn gió từ hướng tây nam, được gọi là bão cát, đem theo cát và bụi; khi ấy tầm nhìn xa bị giảm xuống dưới 100 m; nhiệt độ có thể lên tới 52oC. Trong thời gian này, những chiếc tàu nào chưa kịp cập bờ thì phải tìm một chỗ kín nào trong vịnh chứ không nên thả neo đứng chết ướt giữa trời’.   Chỉ dẫn hàng hải, bờ tây Biển Đỏ   Des Jaza’ir ở Ras Kasar  *** Chính ở cảng Xuđăng tôi đã biết được tin về cái chết của A. Những chuyện ngẫu nhiên của bưu điện ở đất nước này đã làm cho tin tức về bạn tôi đến khá chậm sau khi bạn tôi đã qua đời. Một viên chức ăn mặc rất rách rưới, bộ mặt bị biến dạng bởi bệnh hủi, mang một khẩu súng ổ quay lớn màu đen, bao súng buộc vào thắt lưng bằng một chiếc roi da trâu bện, đưa cho tôi bức thư vào lúc xế chiều. Bộ mặt sứt môi của ông ta, với đôi tai mào gà, làm cho ông ta lúc nào cũng như đang cười nhăn nhở. Người ta có thể tưởng như cơ thể ông ta được tạc bằng gỗ trong một vũ điệu của tử thần. Giống như hầu hết những người còn sống sót trong thành phố, nhiệm vụ chính của ông ta vả chăng là tống tiền và ám sát. Tôi không biết làm thế nào mà ông ta kiếm được phong bì. Có thể là ông ta đã ăn cắp của chính tử thần.   Tôi run run ngồi viết những dòng này. Tôi viết trên tờ giấy xấu của một quyển vở mua ở Khartoum, vào một ngày mà một đội cảnh sát đã triệu tập tôi ra đồn vì một chuyện phiền nhiễu liên miên nào đó với những lời đe dọa làm cho nặng nề thêm, những dòng chữ thoát khỏi sự kiểm soát của bàn tay tôi, chúng chạy ngoằn ngoèo không theo đúng đường đi thường ngày của chúng. Mồ hôi trên trán tôi nhỏ xuống giấy thành những vệt trong suốt làm cho mực bị nhòe thành những đốm sao, lan ra như một dây thần kinh bị xé nát, sau đó làm thành những đám mây phớt xanh mỏng mảnh. Liệu tôi có đọc lại được điều mình viết không, tôi cũng không biết nữa. Theo một cách nào đó thì tôi viết ra những dòng này là để tiếp tục tồn tại. Tôi nghĩ là tôi chẳng có lý do nào khác để viết cả. Tôi nói, tôi viết điều đó, và tôi chẳng biết gì về điều đó cả: Liệu ta có thể biết được gì?   Mặt trời đỏ ối và cũng run rẩy như bàn tay tôi đang lặn xuống trên cái cơ thể to lớn cũng đang run rẩy của châu Phi. Một đám sương mù phản chiếu ánh nắng rạng rỡ đang che mờ những mái nhà bằng tôn và bằng gạch nén, với những bể nước dựng lên tua tủa, của hải cảng Xuđăng. Những ngọn tháp nhỏ này, nổi bật lên trong ánh hoàng hôn màu tím, làm cho thành phố trong buổi xế chiều trông giống như một doanh trại của quân La Mã mà đế quốc La Mã suy tàn đã bỏ quên trên bờ Biển Đỏ, hoặc giống như một nhà trừng giới có các tháp canh bao quanh. Tôi uống một cốc rượu anizet mua lậu, rất độc được chở tới trên một trong những con tàu chở hàng hiếm hoi của Hi Lạp từ lâu đã chạy qua trước con đê chắn sóng phủ đầy cát bồi của hải cảng ngay dưới mái hiên nhà tôi: tôi đang bị nỗi buồn phiền vò xé. Tôi phải thú nhận rằng thoạt đầu cái bức thư này – bức thư mà thông qua nó có một cái gì đó của đời tôi đã kết thúc – là một cách giải trí của tôi.   A. và tôi đã quen nhau khoảng hai mươi nhăm năm trước đây. Khi ấy chúng tôi đã chia sẻ với nhau những ước mơ lớn lao và mơ hồ. Ý nghĩ về một sự biến đổi thế giới hòa lẫn với lòng mong muốn một cuộc sống phiêu lưu. Tôi sẽ không bao giờ coi thường cái thời ấy, và tôi cũng không đồng tình với những ai chế nhạo nó. Cùng với nhiều sự việc nghiêm trọng và nhậy cảm mà sau đó chúng tôi đã được biết, thì chúng tôi lại không biết thế nào là sự sợ hãi, nỗi ghen tuông, sự hèn nhát.   Chúng tôi không tin vào Chúa, cũng không tin vào một con quỷ nào đó có những nỗi thăng trầm một cách nực cười theo kiểu tư sản. Chúng tôi là những kẻ cực kỳ táo bạo và hiền lành. Điều đó cũng quá đủ để chúng tôi không ruồng bỏ thời tuổi trẻ của chúng tôi. Rồi cái thời ấy cũng phải chấm dứt. Sự trì trệ của thế giới đã thắng, sức trai trẻ của chúng tôi đối lập lại nó đã bị cạn kiệt, và, như ở thời xa xưa, thuật thần bí lại biến thành chính trị, các khán giả vỗ tay hoan nghênh trước một kết cục đã trở nên rõ ràng của trận đấu. Tôi tin chắc rằng lần cuối cùng tôi gặp A. là một ngày mùa thu. Lúc đó chúng tôi cùng uống bia với nhau tại một quầy rượu bia ở cầu Cardinet. Giá thổi làm cho những chiếc lá khô ép sát xuống những vũng nước đen trông như những bàn tay vấy máu. Có lẽ là chúng tôi đã khóc. Về sau, anh ấy đã chọn nghề văn, còn tôi chọn nghề hàng hải. Tôi cho rằng đối với cả hai chúng tôi, có lẽ những nghề này không phản bội hoàn toàn những giấc mơ bay bổng mà từ lâu chúng tôi hằng ấp ủ. Đúng thế. Đây là một sự lựa chọn sai lầm, vì đó là những nghề không có tương lai. Người ta không thể tiến cao lên được bằng những nghề này.   Sau những năm tháng làm nghề vận chuyển những chuyến hàng thối thiu dọc theo bãi biển Châu Phi, mặt trái của sức khỏe đã quật ngã tôi. Thế là tôi nằm lại ở cảng Xuđăng, nơi đây, một loạt sự kiện ngẫu nhiên thoạt tiên đã trao cho tôi nhiệm vụ harbour master[1]. Khi hải cảng này có thể nói là bị biến mất, như thể bị nhận chìm trong cơn bão biển chung của đất nước, thì từ nay trở đi nhiệm vụ của tôi chỉ còn mang ý nghĩa tượng trưng, vả lại bọn cướp biển cũng không chịu công nhận chức vụ của tôi, đó là bọn sẵn sàng cướp bóc những tàu thuyền nào tình cờ qua đây, ngoài ra tôi còn phải kiêm nhiệm thêm chức vụ lãnh sự danh dự của nước cộng hòa Madagaxca, một chức vụ cũng không hề cồng kềnh hơn khoản thu nhập ít ỏi của tôi có được không phải nhờ vào các khoản thuế mà thực ra tôi cũng chẳng thu, và cũng không dựa vào tiền lương mà từ lâu tôi cũng không còn nhớ tới nó nữa, mà dựa vào những chuyện buôn lậu vặt vãnh mà lòng hám của của những kẻ tống tiền đã để lại cho cái nghề khiêm tốn của tôi: một chút rượu ở một đất nước mà ở đó nó bị cấm, một vài người đói khát với đôi mắt thâm đen, với nước da tím tái, được tôi sai xuống những con thuyền chạy bằng dầu mazút để ra khơi chuyển mấy bó lá cây thuốc khát[2] lên các tàu buôn quốc tế. Tóm lại chỉ là những việc lặt vặt, nhưng tôi chỉ cần có thế. Cái cuộc sống như cỏ cây mà càng ngày tôi càng thu mình vào ấy từ lâu đã tránh cho tôi khỏi mắc vào cảnh túng quẫn về nhu cầu cuộc sống. Tôi là một người dễ chịu đựng, người khác có lẽ họ đã đòi hỏi nhiều hơn.   Mặc dù đọc nhiều, nhưng tôi chẳng bao giờ hiểu được văn học là mấy: ít nhất đó là quan niệm của tôi. Các cuốn sách của A., tôi cũng có vài quyển của anh ấy, tỏ ra khó đọc và gây bất an. Tôi không biết nói tại sao, nhưng chúng gợi cho tôi hình ảnh về cảnh bầu trời giông bão nằm chắn ngang chân trời, ngược với chiều gió mùa, trông như những cánh rừng rậm bị cầy xới bởi những tia phản xạ màu đồng, màu đỏ tía và màu xanh lam. Tôi tưởng như nhìn thấy ở đây vẻ chán ngán và nỗi buồn những cái mà chung quy lại cuộc sống xã hội đã không ngừng đánh thức dậy trong chúng ta, tôi nhìn thấy một sự bất lực nào đó trong việc làm cho chúng ta quen thuộc với những lễ nghi u mê của cuộc sống, cũng như thấy một sự luyến tiếc một thời có triển vọng về một tương lai rộng lớn. Trong khi luồng ánh nắng mặt trời, có khả năng nung chẩy như một chiếc mỏ hàn những đống đổ nát của đêm tối, đang thiêu cháy những dụng cụ làm việc và làm nheo mắt người trực ban, thì thỉnh thoảng tôi nghĩ rằng cái vẫn tiếp tục gắn bó chúng tôi từ lâu và một cách bí ẩn chính là trạng thái hay sợ bóng sợ vía của chúng tôi, cái đã ngăn không để cho lứa tuổi chín chắn của chúng tôi hoàn toàn trở thành giai đoạn phủ nhận thời tuổi trẻ, bất chấp tất cả những hiện tượng bên ngoài. Tôi không biết là liệu mình đã hiểu đúng sách của anh ấy chưa, không biết liệu anh ấy có thích mình hiểu như vậy không. Tôi không tin là sách vở, kể cả sách của anh ấy lẫn sách vở nói chung, lại có thể chứa đựng một chuyện gì đó đáng giá hơn sự phủ nhận bất an ấy.   Tác giả của bức thư cho tôi biết bà là người giúp việc, làm việc cho anh A. vài giờ mỗi tuần. Bà đã tìm thấy địa chỉ của tôi trên một chiếc phong bì nằm lẫn trong đống giấy tờ lộn xộn. Vì thấy phong bì để mở nên bà nghĩ là mình được phép tìm hiểu xem bên trong có gì. Nhưng trong phòng bì chẳng có gì ngoài một tờ giấy trắng vẻn vẹn chỉ có dòng chữ: “Bạn thân mến”. Bức thư bỏ dở này được viết từ hôm trước ngày mất của A.: lối diễn đạt ngắn gọn của nó đã làm cho nó mất sức nặng, theo một cách nào đó thì hoàn cảnh mà anh ấy rơi vào để rồi sau đó lại từ bỏ anh ấy là cái đã hoàn trả cho anh ấy lối diễn đạt như vậy. Người viết thư cho tôi nói rằng “Bạn ông đã tạ thế vào một ngày thứ hai”. Bà không nói “chết” mà nói “tạ thế”, như những người bình dân và những viên chức nhà tang lễ thường nói. Bà còn viết tắt chữ này là “t.th.” như người ta thường thấy ở một số bia mộ nông thôn. Bà nói thêm là gần đây mọi việc tỏ ra không ổn. Thái độ ân cần của bà tỏ ra tử tế và cảm động. Tôi đoán chắc là ít nhất bà cũng phải có thiện cảm với A. Bà để địa chỉ lại cho tôi, đó là phố Grange aux Belles. Tôi quyết định trở về Pháp để mong tái lập lại nội dung bức thư đã bị vĩnh viễn mất đi. Cuộc sống hàng ngày vô công rồi nghề làm cho tôi rỗi rãi, thêm vào đó tôi cũng còn có một nghĩa vụ tình bạn. Tình cờ có một con tàu đang chuẩn bị rời cảng Xuđăng để đi Alếchxandrơ, Tripôli và Mácxây, thế là tôi xách túi xuống tàu.   Mời các bạn đón đọc Cảng Xu Đăng của tác giả Olivier Rolin.