Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Đi Tìm Sylvie Lee

Đi tìm Sylvie Lee - cuốn sách đầy bất ngờ với những bí mật, sự lừa dối và những khúc quanh không thể lường trước. Đó là câu chuyện về mối quan hệ phức tạp giữa ba người phụ nữ, hai chị em và mẹ của họ trong một gia đình nhập cư gốc Trung Quốc, và khám phá những gì xảy ra khi con gái lớn của người chị biến mất, một loạt bí mật gia đình xuất hiện. Sylvie, cô con gái lớn, xinh đẹp, tài giỏi, thành đạt của gia tộc Lee, bay tới Hà Lan trong một chuyến viếng thăm cuối cùng với người bà đang hấp hối của mình và rồi biến mất. Chuyện gì đã xảy ra với Sylvie? Amy cùng cha mẹ cô đang quẫn trí và tuyệt vọng tìm câu trả lời. Sợ hãi nhưng vẫn quyết tâm, Amy bay đến Hà Lan, nơi cuối cùng Sylvie được nhìn thấy. Nhưng thay vì những câu trả lời đơn giản, cô phát hiện ra một thứ có giá trị hơn nhiều: sự thật. Sylvie, cô gái vàng, giữ bí mật đau đớn. . . những bí mật mà cô không thể tưởng tượng. Sylvie, cô con gái lớn, xinh đẹp, tài giỏi, thành đạt của gia tộc Lee, bay tới Hà Lan trong một chuyến viếng thăm cuối cùng với người bà đang hấp hối của mình và rồi biến mất. Chuyện gì đã xảy ra với Sylvie? Amy cùng cha mẹ cô đang quẫn trí và tuyệt vọng tìm câu trả lời. Sợ hãi nhưng vẫn quyết tâm, Amy bay đến Hà Lan, nơi cuối cùng Sylvie được nhìn thấy. Nhưng thay vì những câu trả lời đơn giản, cô phát hiện ra một thứ có giá trị hơn nhiều: sự thật. Sylvie, cô gái vàng, giữ bí mật đau đớn. . . những bí mật mà cô không thể tưởng tượng. Về tác giả:  Jean Kwok là một cây bút của tờ New York Times và là tác giả có sách bán chạy nhất trên thế giới với tác phẩm Girl in Translation và Mambo in Chinatown. Cô được vinh danh với rất nhiều giải thưởng trong lĩnh vực viết lách. Cô đã nhận bằng cử nhân trường Đại học Havard và hoàn thành bằng Thạc sĩ Nghệ thuật lĩnh vực tiểu thuyết tại Đại học Columbia. Jean Kwok hiện sống tại Hà Lan. *** Amy Thứ hai, ngày 2 tháng 5 Tôi đang đứng bên bậu cửa sổ trong căn hộ nhỏ của chúng tôi trên phố Queens, nhìn bố và mẹ tất tả đi làm. Nửa khuất sau tấm rèm cũ rách mà mẹ tự khâu, tôi thấy họ đi cạnh nhau trên đường đến ga tàu điện. Ở lối vào, họ dừng lại và nhìn nhau một lúc. Những lúc như này, tôi thường nín thở, để đợi bố chạm vào gò má mẹ, hoặc chờ mẹ bật khóc, hoặc mong một trong hai người sẽ đưa ra dấu hiệu nào đó về mối quan hệ thật sự của họ. Thay vào đó, mẹ ngượng nghịu giơ tay vẫy, để lộ cánh tay gầy gò dưới nếp gấp của chiếc khăn choàng đen, còn bố thì xộc thật nhanh vào cửa nhà ga đang mở khi giao thông buổi sáng gầm rú trên con phố bận rộn. Sau đó, mẹ cúi đầu và tiếp tục cuốc bộ đến tiệm giặt ủi địa phương nơi bà làm việc. Tôi thở dài và rời khỏi cửa sổ. Tôi cần làm điều gì đó có ích hơn. Tại sao tôi lại cứ theo dõi bố mẹ? Bởi tôi đã lớn tồng ngồng nhưng vẫn ru rú trong nhà và vô công rỗi việc. Nếu sơ sảy, tôi rồi cũng sẽ như mẹ. Rụt rè, cam chịu, bán mình vào công việc chẳng đồng dư. Thế nhưng, tôi lại bắt gặp một ý niệm khác về bố và mẹ sau ngần ấy thời gian. Sự say sưa trên khuôn mặt mẹ khi bà đọc tiểu thuyết ngôn tình Trung Quốc trong đêm, thể loại mà bố coi thường. Cách mà bố cố với lấy khuỷu tay mẹ khi ông đi phía sau, rồi ông chợt nhận ra, và rụt tay lại. Tôi ngang qua tủ quần áo trong phòng ngủ của mình, và dừng mắt nơi tấm áp phích treo trên tường - gần như khuất sau mớ giấy tờ lộn xộn và đống giặt ủi. Đó là một câu nói của Willa Cather mà tôi luôn yêu thích: “Trái tim của một người luôn là một khu rừng tối, bất luận nó kề cận với chủ nhân như thế nào”. Tôi không chắc mình có tin vào xúc cảm nhưng những lời của bà ấy thì không bao giờ làm tôi thất vọng. Căn hộ chật chội của chúng tôi vẫn còn phảng phất hương trầm mẹ thắp sáng nay trên bàn thờ bà ngoại. Bà mất ở Amsterdam một tuần trước. Bà sống ở đó với gia đình Tan, gồm có chị họ của mẹ, dì Helena; chồng của dì, dượng Willem; và cậu con trai Lukas, ba mươi ba tuổi, bằng tuổi chị gái tôi, Sylvie. Tôi chưa gặp bà bao giờ nhưng nỗi đau buồn mà mẹ mang như một con thác đổ dồn lên lòng tôi đến ngập lụt. Quầng mắt mẹ tấy đỏ và buốt rát. Mấy đêm rồi, trong khi bố trốn trong phòng ngủ, tôi nắm chặt lấy tay mẹ khi bà nằm co ro trên ghế sofa, nén tiếng khóc, cố ngăn dòng lệ ào chảy bằng một miếng khăn giấy cũ nhàu. Hôm nay tôi cũng mặc đồ đen, vì mẹ, trong khi bố vẫn ăn vận như thường ngày. Không phải là ông không quan tâm. Chỉ là ông không thể để chúng tôi nhìn thấy cảm xúc ấy. Chị Sylvie sống cùng bà và gia đình dì Helena tại Hà Lan trong suốt chín năm đầu đời và chị vừa bay trở lại đó vào một tháng trước, ngay khi nghe tin bà ốm. Chị cũng đang quản lý một dự án tư vấn cho công ty của mình tại đó. Chị Sylvie rực rỡ, lớn hơn tôi bảy tuổi, đã kéo theo cuộc sống hào nhoáng ở châu Âu về tới căn hộ sặc mùi bắp cải của chúng tôi ở phố Queens khi tôi chỉ mới hai tuổi. Thường sẽ có một sự phân chia đều giữa các chị em gái về sự xinh đẹp và thông minh, nhưng trong gia đình tôi, cả hai phẩm chất ấy đều thuộc về chị. Và tôi, chỉ là một cái bóng, suy cho cùng, chỉ là một âm vọng nhạt nhẽo. Nếu tôi không yêu chị Sylvie rất nhiều, thì tôi hẳn sẽ rất ghét chị ấy. Làm thế nào mà một sinh vật xuất sắc như Sylvie lại được sinh ra từ những người trần tục như mẹ và bố? Cứ mỗi khi tôi học với bất kì giáo viên nào từng dạy chị Sylvie, họ đều thốt lên rằng, “Ah, em là em gái của Sylvie Lee đây mà” với đầy ắp những mong đợi. Và tôi sẽ dõi chờ khi những hy vọng cao ngút ấy của họ bỗng chốc biến thành sự hoang mang trước vẻ chậm chạp và đần độn mà tôi thể hiện. Tiếp đó họ sẽ thất vọng, và cuối cùng, là sự thờ ơ. Sylvie từng theo học tại Đại học Princeton, nhận bằng Cử nhân Kỹ thuật Hóa từ Viện Công nghệ Massachusetts, đi làm một vài năm, sau đó trở lại trường học để lấy tiếp bằng Thạc sĩ Quản trị Kinh doanh từ Harvard. Bây giờ chị ấy là một chuyên gia tư vấn quản lý, một công việc mà tôi không bao giờ hiểu được dù cho chị có cố giải thích bao nhiêu lần. Cũng như tôi, Sylvie rất mê đồ ngọt, nhưng khác hẳn với tôi, chị ấy không bao giờ lên cân. Tôi đã từng trố mắt nhìn chị ăn lần lượt hết từng cái bánh trứng mà chẳng hề ảnh hưởng gì đến vòng eo thanh thoát, như thể nội lực mãnh liệt bên trong chị sẽ đốt cháy đám calo kia, tiêu hủy hết mọi thứ mà chị ấy nạp vào. Sylvie từng bị nhược thị khi còn nhỏ và đeo miếng che mắt trong nhiều năm. Giờ thì thứ duy nhất không hoàn hảo trên khuôn mặt đáng yêu của chị ấy là mắt phải có phần lác nhẹ khi chị ấy mệt mỏi. Hầu hết mọi người đều không nhận thấy, nhưng đôi khi tôi cũng tự an ủi mình với khiếm khuyết nhỏ này của Sylvie - Thấy chưa, chị ấy cũng không hẳn đã hoàn hảo. Tôi tiến đến hộc tủ gồ ghề, nơi tôi đã cẩn thận bọc và giấu một chùm lô quất nhỏ màu cam. Nếu tôi để chúng trên mặt bếp bằng nhựa vinyl và để bố bắt gặp một con ốc sên yếu ớt ẩn mình giữa những quả mọng này, bố chắc sẽ giết nó. Bố làm việc trong một chợ cá ở khu phố Tàu. Ông buộc phải trở nên vô cảm với cái chết - trước những con cá nằm ngoi ngóp trên mặt thớt gỗ cho đến khi ông kết liễu chúng bằng con dao pha trên tay mình. Con ốc nhỏ với lớp vỏ trong mờ vẫn còn lóp ngóp bò trên một trong những quả lô quất và trông nó có vẻ ổn. Bất cứ điều gì đủ mạnh để tồn tại trên hành trình gian nan từ Trung Quốc thì xứng đáng có cơ hội để sống tiếp. Tôi lấy một cái túi nhựa đã qua sử dụng, nhẹ nhàng bỏ quả lô quất và con ốc sên vào đó, rồi bước đến cửa. Tôi giũ nhẹ chiếc áo khoác mỏng và cầm lấy ví cùng điện thoại. Trước khi bước ra ngoài, tôi tháo cặp kính dày cộm màu tím và nhét chúng vào túi áo. Tôi cũng chẳng buồn đeo kính áp tròng. Sự hợm hĩnh và biếng nhác hòa vào cuộc sống trong thế giới mờ ảo của tôi gần như mọi lúc. Tôi lê bước qua vài tòa nhà tiến đến công viên nhỏ gần đó. Vẫn còn sớm, nên một số cửa hàng vẫn đóng cửa im lìm, và tôi rùng mình khi một làn gió lạnh buốt quét xuống vỉa hè bê tông. Một mùi hôi thối xộc lên từ nhựa đường quẩn quanh, dọc khắp các tòa nhà trống hoắc như hù dọa tôi. Một người mẹ đang kéo một đứa trẻ nhỏ bẩn thỉu đằng sau vội ngoảnh mặt khi đi ngang qua tôi. Không ai nhìn vào mắt ai nơi đông người, quạnh quẽ và tẻ nhạt này - không ai cả, ngoại trừ những kẻ đang cố gây sự. Lúc này, một nhóm người đang lang thang trước ô cửa sổ vỡ ở cửa hàng với tấm biển to oạch về thứ gì đó giảm giá năm mươi phần trăm. Không hơn không kém, họ chỉ như những vệt đen trong tầm nhìn hạn chế của tôi khi rú lên sau lưng tôi, “Nỉ-hào cô em! Có thể cho anh gửi cái“trứng cuốn” vào “miếng chả” của cô em không?” rồi phá lên bằng một tràng cười khản đặc. Họ phải nói mấy lời đần độn này mỗi ngày sao? Miễn là họ vẫn giữ khoảng cách, sự mờ ảo trong tầm nhìn khiến tôi thoải mái như trong một cái kén. Khi gần như mù, tôi có thể vờ như mình cũng bị cũng điếc. Một ngày nào đó, tôi sẽ tiếp tục chương trình học của mình tại Đại học Thành phố New York và hoàn thành chứng chỉ giảng dạy để tôi có thể thoát khỏi nơi này. Tôi sẽ rời xa cả mẹ và bố. Việc tôi đã bỏ học năm ngoái cũng chẳng đáng lo ngại. Tôi có thể làm được. Tôi đã có bằng cử nhân tiếng Anh. Tôi gần tới đích rồi. Tôi có thể thấy chính mình đang đứng trước một lớp học đầy những đứa trẻ. Chúng đang lắng nghe, cười vui trước những câu chuyện cười tôi kể, đôi mắt mở to trước sự rực rỡ của văn học mà chúng đang đọc, và tôi sẽ không bỏ sót bất cứ một từ nào. Tỉnh lại đi, Amy. Tất cả những gì mày có thể làm bây giờ là một vị cứu tinh ốc sên, đó cũng không hẳn là một biến chuyển tồi đâu. Sylvie và tôi đều theo đạo Phật, và một số ý niệm, như tất cả những gì trân quý trong cuộc sống, vẫn ở lại với chúng tôi. Khi còn nhỏ, chúng tôi thường rượt đuổi nhau quanh căn hộ với lưới bắt bướm, cố bắt ruồi và rồi lại thả chúng ra. Thế nhưng, như được chứng thực bởi bố và những-sinh-vật-biển- khác, tôn giáo chỉ tồn tại cho đến khi ta giáp mặt với sự khắc nghiệt của cuộc sống thường nhật. Công viên vẫn đang hồi sinh sau mùa đông khắc nghiệt và tôi vật vã tìm cho mình một vị trí đẹp rợp lá. Tôi rón rén gập người giữ con ốc giữa ngón trỏ và ngón cái khi điện thoại di động đổ chuông. Tôi nhảy lên và suýt thả rơi con ốc. Tôi đặt nó xuống, xoay xở để kéo điện thoại ra khỏi áo khoác, và nheo mắt để đọc số. Tôi vừa định trả lời thì người gọi đã cúp máy. Dãy số rất dài, bắt đầu với 31+. Tôi đã nhìn thấy đầu số này trước đây trên điện thoại của Sylvie. Là một người từ Hà Lan - có lẽ là anh họ xa của tôi, Lukas, bởi anh ấy không bao giờ gọi cho tôi. Anh ấy hay nói chuyện với chị Sylvie. Tôi dò thử phí cuộc gọi cho Lukas ở Amsterdam rồi lưỡng lự. Hy vọng anh ấy sẽ gọi lại. Tôi đi thẳng tới một tiệm đĩa. Tôi thích la cà ở một trong những chốt phát nhạc của họ nhưng hầu như chẳng mua thứ gì. Bụng tôi thắt lại khi nghĩ đến núi tiền vay sinh viên, chất chồng theo từng tấm bằng. Nhiều năm luẩn quẩn, cố gắng xác định những gì tôi muốn làm với cuộc đời mình trước khi quyết định chọn việc đi dạy - nhưng rồi, tật nói lắp lại trở lại khi tôi đứng trước nhóm thực tập. Dù tôi gần như đã bỏ được, nhưng nỗi sợ hãi về việc nói lắp đã chứng minh rằng nó luôn mạnh mẽ như nó vốn có: tất cả những khuôn mặt trống rỗng đó, sự hoảng loạn như một cái chăn dày khiến tôi nghẹt thở. Đôi lúc, tôi nghĩ, lẽ ra tôi nên an phận là một kẻ nhập cư thất học như mẹ và bố. Vài con chim non rời tổ và vút cao, như chị Sylvie, những con khác thì bối rối, và run rẩy, rồi rơi bổ xuống đất. Cuối cùng, tôi không thể đối diện với các bạn cùng lớp và giáo viên của mình nữa. Và chị Sylvie, tất nhiên, là người bảo lãnh cho tôi khi các khoản vay của tôi vượt quá thời gian gia hạn. Chị ấy đã thanh toán mà không nói một lời. Chị Sylvie, khá giả, ít nhất là so với tôi, nhưng chị ấy không giàu đến mức có thể gánh vác thêm một khoản chi phí mà không cảm thấy hề hấn gì. Chị và chồng chị, anh Jim, thậm chí còn đang nặng vai khoản vay sinh viên hơn cả tôi, anh Jim thì không kiếm được nhiều tiền từ công việc tư vấn hướng nghiệp tại một trường công lập ở Brooklyn. Mặc dù có tiền thừa kế, nhưng bố mẹ của anh cho rằng người trẻ nên tự kiếm tiền, thế nên anh ấy sẽ không nhận được một xu nào cho đến khi họ mất, ngoại trừ món quà khôi hài mà họ đã cho anh khi cưới chị Sylvie. Còn tôi, thay vì phụ giúp bố và mẹ, những người đã làm lụng vất vả nhiều năm trời, thì tôi lại đang sống trong căn hộ của họ và ăn bám họ hằng ngày. Tôi hiện tại vẫn lông bông, mặc dù khả năng đánh máy của tôi rất nhanh - cũng là kỹ năng duy nhất mà tôi có, nhưng công việc thì khan hiếm. Do kinh tế mà thôi, tôi phân bua với tất cả, nhưng tất nhiên là tôi rõ hơn ai hết, bởi chỉ có tôi mới hiểu rõ nhất về mình. Chị Sylvie nói rằng tôi không có đủ tiềm năng, tôi bực dọc và bảo chị ấy thôi đi, để cho tôi yên. Trong cửa hiệu, tôi đi đến quầy nhạc cổ điển và bắt đầu thư giãn ngay khi giọng hát mượt mà, êm ái của Anna Netrebko phát ra từ chiếc loa. Cô ấy hát bài Verdi. Các kệ đĩa CD nằm gọn gàng bên cạnh các bảng xếp hạng âm nhạc và những thùng đĩa nhựa nối tiếp nhau. Những cây guitar và vĩ cầm cũ xếp thẳng hàng trên tường. Tôi thật sự thích cái cách mùi giấy, đồ sơn mài và nước tẩy hương chanh tỏa hương. Zach, một anh chàng đáng yêu, đã đi làm trở lại. Ít nhất, tôi tin là anh ấy hấp dẫn. Rất khó để chắc chắn khi không có kính - thứ giúp tôi không bị “đứng hình” nếu đến gần anh ta. Đối với tôi, những đường nét trên khuôn mặt và cơ thể của anh ấy thật lôi cuốn, tôi yêu giọng nói của anh ấy - ấm áp, hào sảng và trong trẻo. Anh ấy luôn có vẻ như đang mỉm cười với tôi. “Này, Amy. Tuần này cậu muốn nghe gì?” Tôi cố gắng thể hiện sự thân thiện trên khuôn mặt mình nhưng dường như tôi đang biến nó trở nên nhăn nhó đến mức ngượng nghịu. “Anh có gợi ý nào không?” Anh ấy chỉ việc để cho khách hàng nghe thử các đĩa nhạc nhưng dường như chưa bao giờ lưu tâm đến những lần lượn lờ của tôi trong cửa hiệu. “Vậy, Joseph Szigeti thì sao?” Tôi hăng hái đến mức quên cả xấu hổ. “Tôi vừa đọc một bài báo về bản thu Prokofiev Concerto No.1 in D của anh ấy.” “Đang rất sốt đấy,” anh ấy nói và lấy ra một đĩa CD. “Anh ta là minh chứng rằng kỹ thuật hoàn hảo không phải là tất cả.” Ngay khi chúng tôi đi đến quầy nghe, điện thoại của tôi đổ chuông. “Xin lỗi”, tôi lí nhí nói. “Tôi phải nghe máy.” Tôi cúi đầu và rời cửa tiệm. Tôi bắt máy và ngay khoảnh khắc nghe thấy giọng anh Lukas, tôi biết có chuyện chẳng lành xảy ra. Đường truyền đầy nhiễu sóng, có thể do cuộc gọi xuyên Đại Tây Dương. Tôi lấy tay bịt tai bên kia lại để cố nghe rõ hơn. “Amy, anh cần nói chuyện với Sylvie ngay,” Lukas nói. Giọng anh ấy căng thẳng và đầy gấp gáp với ngữ điệu Hà Lan của anh nặng hơn là tôi nghĩ. Tôi nhíu mày. “Nhưng chị ấy đang ở Hà Lan chỗ anh mà.” Anh ấy thở mạnh đến mức tôi có thể nghe thấy nó qua điện thoại. “Sao cơ? Không có, cô ấy đã bay về đó vào thứ bảy. Giờ này phải đến nơi rồi chứ. Em không nghe tin gì từ chị em sao?” “Nhà em còn không biết là chị ấy đang về. Em mới nói chuyện với chị ấy sau đám tang của bà. Khi đó là khi nào nhỉ? Thứ năm, phải không? Em nghĩ chị ấy sẽ ở lại lâu hơn. Chị ấy cũng có nhắc đến dự án của chị ở đấy vẫn chưa xong.” “Sylvie vẫn không trả lời điện thoại. Anh rất muốn nói chuyện với cô ấy”. Rõ ràng, một người có trách nhiệm như chị Sylvie sẽ báo cho chúng tôi biết ngay nếu chị ấy quay lại. Chị ấy lẽ ra đã đến gặp mẹ và kể cho mẹ nghe về bà. Tim tôi bắt đầu đập mạnh như có một vết cắt dưới da. Phải có một vài lời giải thích đơn giản nào đó chứ. Tôi cố gắng trấn an: “Đừng lo lắng, em sẽ xem chuyện gì đang xảy ra.” “Uhm, làm ơn hãy tìm hiểu xem có chuyện gì nhé. Khi nào tìm thấy cô ấy, bảo Sylvie gọi cho anh, được chứ? Ngay lập tức nhé.” Một khoảng lặng rợn người. “Anh hy vọng cô ấy sẽ không có chuyện gì.” Tôi vội đeo kính và nhanh chóng đến tiệm giặt khô nơi mẹ làm việc. Mùi kinh khủng của hơi nước và hóa chất bao trùm lấy tôi khi tôi đẩy cánh cửa mở. Tôi thấy mẹ đang đứng sau một cái quầy dài, lí nhí một thứ tiếng Anh bập bẹ với một người phụ nữ ăn vận đẹp đẽ, mái tóc vàng óng ả sau lưng. “Chúng tôi rất bực khi một cái cúc áo đã bị long ra sau khi nhận lại mớ đồ này.” Bà khách vừa nói vừa đẩy về phía mẹ một chiếc áo sơ mi sọc của nam. “Vô cùng xin lỗi bà!”. Khuôn mặt nhỏ bé của mẹ dường như thêm gầy gò và xanh xao trong bộ quần áo đen, đôi mắt sưng lên vì khóc. “Tôi sẽ sửa nó”. Người phụ nữ gõ bộ móng tay được cắt tỉa cẩn thận lên mặt quầy. Giọng bà ta vừa cáu gắt vừa ra vẻ trịch thượng, như thể bà ấy đang nói chuyện với một đứa trẻ phạm lỗi. “Chất lượng dịch vụ thật sự không tốt như chúng tôi mong đợi, đặc biệt là sau khi lên giá đấy.” “Rất xin lỗi bà!”, mẹ lặp lại. Tôi nhìn trừng trừng về phía tấm lưng xương xẩu của bà ta. Tôi muốn nói với bà ấy rằng chủ cửa hiệu tăng giá chứ mẹ tôi chẳng được lợi gì trong đó. Mẹ thậm chí còn chưa được tăng lương trong suốt từng ấy năm làm việc ở đây - phải đứng suốt cả ngày, khiêng hàng đống quần áo nặng trịch, rồi giặt, ủi và sửa chúng. Nhưng miệng tôi cứ ngậm chặt. Tôi đợi cho đến khi bà khách mắng mỏ mẹ xong và rời đi. Mặc dù đang buồn, nhưng khi thấy tôi, nụ cười lại làm bừng sáng khuôn mặt mẹ. Tuy có thể hiểu một ít tiếng Hoa, nhưng tôi không bao giờ học nói cho đàng hoàng, vì vậy mẹ luôn nói chuyện với tôi bằng tiếng Anh. “Sao con lại ở đây, Amy?” Tôi đã định không làm mẹ lo lắng nhưng tôi nhận ra mình đang ghì chặt cổ tay bà, vò nát chiếc áo blouse vải polyester mỏng manh. “Anh họ Lukas vừa gọi cho con. Anh ấy nói, chị Sylvie đã bay về nhà vào cuối tuần trước, nhưng chị ấy không nhấc máy.” “Ay yah.” Mẹ thảng thốt lấy tay che miệng. Đôi mắt to đen của bà trợn trắng. “Nó không nói với chúng ta là nó về. Nó nhất định vẫn ổn. Chỉ là nhầm lẫn gì đó thôi. Con gọi anh Jim chưa?” “Con đã thử mọi cách nhưng anh ấy không trả lời. Không có vụ rơi máy bay hay chuyện gì xảy ra, phải không mẹ?” “Tất nhiên là không! Con đang nói bậy gì vậy!” Mẹ vuốt trán ba lần bằng bàn tay trái gầy guộc để xua đuổi những xui xẻo trong lời nói tôi vừa thốt ra. Mẹ nhìn chằm chằm tôi cho đến khi tôi cúi người để mẹ có thể làm điều tương tự với tôi. Tôi và mẹ có chiều cao gần như nhau và khi chợt nhìn thấy hình ảnh phản chiếu của chúng tôi trong gương ở cửa hàng, tôi mới chợt nhớ rằng tôi trông giống bà đến mức nào - ngoại trừ việc tôi đeo một cặp kính dày và không thể nào so sánh với hình ảnh của mẹ khi còn trẻ. Mẹ từng là cô gái đáng yêu nhất trong làng chúng tôi ở Quảng Đông. Bây giờ ở độ tuổi 50, làn da của mẹ vẫn đẹp với một vài nếp nhăn mờ, lớp kem mềm mượt làm nổi bật đôi mắt ấm áp, và có gì đó dịu dàng nhưng hoang dã trong ánh mắt của bà, như một chú nai vàng trong rừng thông. “Con đi đến nhà chị đi. Xem chuyện gì xảy ra. Hãy lấy chìa khóa, trong lọ gừng khô ở nhà.” “Con có chìa khóa riêng. Chị Sylvie có đưa cho con trước khi chị ấy đi. Nhưng mẹ có chắc không, mẹ?” Tôi thấy ngại khi nghĩ đến việc vào nhà chị Sylvie mà không có sự cho phép. Tâm trí tôi rối loạn: Nếu anh Jim ở đó thì sao? Chuyện gì sẽ xảy ra đây? Và điều gì có thể xảy ra với chị Sylvie? “Chắc, chắc chắn mà,” mẹ khẳng định. “Con hãy đi ngay đi! Nhanh lên!” Mời các bạn đón đọc Đi Tìm Sylvie Lee của tác giả Jean Kwok & Liên Thảo (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Phục Hồi
???????????????????????? “????????????̣???? ????????̂̀????” - Câu chuyện về những hộp nhạc và con người cần được sửa chữa Đúng như cái tên của nó, “Phục hồi” là một món quà tinh thần dành cho những tâm hồn bị tổn thương, vụn vỡ. Một câu chuyện về một chàng trai bị trầm cảm lại cố gắng chữa lành trái tim cho người khác. Nhân vật chính của cuốn sách này là Hagane – một chàng trai mắc chứng trầm cảm lo âu. Anh đã chạy trốn thực tại bằng cách sống ở một ngôi nhà cổ mượn được cùng một chú chó hoạt bát tên Stella. Hạn chế giao tiếp hết mức với những người khác, chỉ quanh quẩn với công việc phục chế hộp nhạc, Hagane tưởng chừng sẽ sống cô độc vĩnh viễn cùng thuốc trầm cảm và ý tưởng tự tử ập đến mỗi ngày. Nhưng một ngày, khi nhận lời sửa chữa cho Mutsuki – cô tiểu thư xinh xắn hoạt bát và tốt bụng nhà Iimura, Hagane đã từng bước bước ra khỏi ngôi nhà “an toàn” của mình, anh mở lòng với những người xung quanh nhiều hơn, tìm hiểu những câu chuyện bí mật đằng sau những hộp nhạc và chủ nhân của chúng: Một mối tình bị chia cắt nhưng những người yêu nhau chưa từng quên được nhau, một người mẹ cùng cực của đau khổ tội lỗi, một người anh trai với dày vò về tội lỗi của mình,… Dù cho luôn phủ nhận về những việc tốt của mình làm, nhưng những hành động Hagane làm lại khác hẳn với vẻ dửng dưng, vô tâm được khắc họa trong đầu chuyện. Tuy nhiên, dù Hagane có thể sửa chữa được hộp nhạc cho mọi người, phần nào mang lại cái kết có hậu cho chủ nhân của chúng, nhưng còn câu chuyện của chính anh thì sao? Bên cạnh những điều tích cực mà Tadashi Ohta muốn truyền tải, rất còn những người không hiểu được bản chất của căn bệnh trầm cảm, họ cho rằng : Trầm cảm vốn do bản thân người bệnh nội tâm yếu đuối, luôn tìm cách trốn trách thực tại hay không đủ mạnh mẽ để vượt qua những khó khăn gặp phải. Cuốn sách đã mang đến cái nhìn đầy bao dung và thông cảm với người bệnh, đồng thời giúp độc giả thấu hiểu được khối cảm xúc khổng lồ mà những người trầm cảm luôn phải gánh trên lưng mình. Với một kết thúc có hậu, “Phục hồi” là một liều thuốc chữa lành cho những ai đang mang trong mình những cảm xúc nặng nề, luôn luôn dằn vặt và tự trách bản thân những lỗi lầm trong quá khứ. “Mẹ anh thật đáng thương, nhưng có lẽ lúc đó mẹ anh đã oán hận cả thế giới này. Ít nhất mẹ cũng không hận mỗi mình anh. Vậy mà anh định một mình đón nhận hết nỗi hận của mẹ sao?” Người review: Đoàn Thảo. *** Anh dùng ngón trỏ để kéo cần gạt. Chiếc đĩa hát đường kính 30 centimét với vài vết xước trên bề mặt bắt đầu quay, tiếng nhạc khẽ vang lên. Là đĩa nhạc Traumerei. Đĩa nhạc chậm rãi quay, vô số những chiếc kim âm dựng đứng trên mặt đĩa cuốn theo trục quay hình sao, trục quay này truyền động tới chiếc lược. Bằng cách đó, âm thanh sẽ làm không khí chuyển động, và truyền tới màng nhĩ. Hagane nhắm mắt lại. Anh lắng tai nghe như muốn kiểm tra từng âm từng âm một. Khi đĩa quay hết một vòng, bản nhạc đã kết thúc, anh mở mắt. Anh khẽ thở dài. Anh hơi vươn vai rồi đứng dậy khỏi ghế, rót cà phê từ chiếc bình để bên cạnh vào cốc, đoạn uống một ngụm. Đây là nghi thức anh luôn thực hiện mỗi khi xong việc. Anh đặt một chiếc đĩa khác vào để hộp nhạc chơi thêm lần nữa. Đó là đĩa nhạc Yêu tinh Polka. Lần này anh không để ý tới từng âm riêng lẻ nữa, mà lắng nghe xem nhạc có trôi chảy không. Chú chó Stella nãy giờ ngủ lăn lóc dưới chân anh giờ đang ngáp lớn. Nó ngẩng mặt lên nhìn Hagane, rồi liếm mũi bằng chiếc lưỡi rất dài. Chân sau nó đưa lên gãi phía sau đôi tai hình tam giác nhọn, đuôi vẫy vẫy. “Ngồi không nên chán hả?” Khi Hagane hỏi chuyện, Stella bèn đứng dậy, dụi dụi mũi vào chân anh. Nó to hơn giống chó Shiba, lông trên người cũng dài hơn. Dù phòng rất mát do có bật điều hòa, nó vẫn há miệng thè lưỡi ra ngoài. “Chú mày chịu nóng kém nhỉ. Thế mà vẫn muốn ra ngoài chơi à?” Như thể muốn đáp lại, Stella đập đập chân trước xuống nền nhà. “Thế thì chờ thêm chút nhé.” Bản nhạc Yêu tinh Polka đã kết thúc. Hagane tháo đĩa ra, đóng nắp hộp nhạc lại. Chiếc hộp bằng gỗ được chạm trổ với những họa tiết uy nghiêm. Trông giống như một loại đồ nội thất. Symphonion Rococo. Một hộp nhạc dùng đĩa * được sản xuất vào những năm 1890 ở Đức. Với chất lượng tốt như thế này, giá của nó trên thị trường phải lên tới mấy triệu yên. * Về mặt cấu tạo, hộp nhạc có hai loại là dùng đĩa hoặc dùng trục quay để phát nhạc. Khi anh kéo rèm cuốn cửa sổ lên, ánh nắng tháng Bảy rọi vào nhuộm trắng vỏ ngoài chiếc Symphonion Rococo. Anh chuyển hộp nhạc vào chỗ không có ánh nắng chiếu đến. Ánh mặt trời dệt nên nhiều họa tiết trên những dụng cụ nằm lăn lóc nơi bàn làm việc. Hagane bỏ kìm và giũa vào ngăn kéo bàn, đặt chiếc mỏ cặp cỡ nhỏ lên giá đồ sau lưng. Trên giá chất vô số hộp đựng dụng cụ và hộp đựng linh kiện. Thứ chiếm cứ phần lớn diện tích của căn phòng 8 chiếu này cũng chính là những thứ dụng cụ và linh kiện ấy. Điện thoại chợt reo vang. “A lô, Kou-chan* ơi?” * Ký tự tên “Hagane” có thể đọc theo 2 cách là Kou và Hagane. “Chan” là một hậu tố đặt sau tên của một người, thể hiện sự yêu quý, trìu mến của người nói đối với người đó. Một giọng phụ nữ phát ra từ ống nghe. “Dạ.” Hagane đáp không chút hồ hởi. “Công việc của cháu tiến triển thế nào?” “Cháu vừa sửa xong một cái ạ.” “Thế à, sớm quá nhỉ. Là chiếc Rococo hả?” “Chỉ có một chiếc răng lược bị gãy thôi. Không tốn nhiều thời gian lắm.” “Kou-chan giỏi quá! Cô sẽ bảo Mochiduki tới nhận về ngay.” “Nếu tới lấy thì để sau năm giờ hãy tới được không ạ?” “Cô hiểu rồi. Mà này, ngày mai cháu rảnh không?” Hagane im lặng. “Sao thế? Cô vừa hỏi điều gì không nên hỏi à?” “Là vì cháu không biết trả lời cô thế nào. Mai cháu không có việc gì bắt buộc phải làm, nhưng nếu bị cô giao cho việc gì đó thì rắc rối lắm.” “Khó nhỉ. Nhưng cô chỉ là muốn cháu gặp một người thôi.” “Xin lỗi, cháu từ chối.” “Cô biết cháu sẽ nói thế mà. Nhưng mà người ta đến vì chuyện công việc.” “Nếu có hộp nhạc nào cần sửa thì cô hãy gửi nó tới đây. Cháu đâu cần gặp chủ nhân hộp nhạc làm gì.” “Lần này không như vậy. Chuyện họ cần nhờ có chút khác thường, nên họ muốn gặp trực tiếp để trao đổi với cháu.” “Cháu không thích mấy chuyện phiền nhiễu. Cô từ chối đi. Hơn nữa hiện giờ cháu cũng đã bận tối mắt tối mũi để sửa những hộp nhạc cô gửi tới rồi.” “Mấy hộp nhạc đó cháu để sau cũng được. Cô cũng sẽ không làm gì phiền đâu. Thế nên tới nhà cô đi nhé. Mười một giờ ngày mai nhé. Nhờ cả vào cháu đấy.” Hagane định phản đối nhưng đã bị đầu dây bên kia cúp máy trước. Anh nhìn chăm chăm ống nghe một lúc, rồi vừa thở dài vừa đặt nó xuống. Khi anh ngoảnh lại, đã thấy Stella đứng chờ. “Thật là, hết bà ấy lại tới mày.” Hagane vừa vươn tay ra, Stella đã nhảy lên, đuôi vẫy tít. Anh tròng vòng cổ và dây dắt cho nó ở cửa vào, rồi bước ra ngoài. Ánh nắng chiều nhuộm trắng cảnh sắc trên con phố. Vừa kéo dây giữ lại Stella đang phấn khởi muốn chạy nhào đi, Hagane vừa đi bộ ra công viên trẻ em ở gần nhà. Tiếng ve kêu râm ran, trên sân chơi trong công viên bị tia tử ngoại chiếu rọi, không có bóng dáng một đứa trẻ nào. Trở về sau khoảng hai mươi phút, trước cửa nhà anh đã thấy đậu một chiếc PT Cruiser đen. Hagane và Stella vừa tiến lại gần thì cửa xe phía người lái mở ra, một cậu thanh niên bước xuống. Mái tóc nhuộm màu xanh khói, cằm nuôi một chỏm râu mỏng. Cậu ta mặc sơ mi nền đen in họa tiết paisley, quần màu be. Trên ngực cậu ta lấp lánh mặt dây chuyền hình thánh giá của hãng Chrome Hearts. “Tôi nhớ đã dặn là hơn năm giờ hãy tới rồi mà?” Nghe Hagane nói, cậu thanh niên cúi đầu lễ phép. Nhìn nét mặt thì có vẻ mới chừng hai mươi tuổi. Nhưng Hagane không biết chính xác tuổi của cậu ta. “Xin lỗi anh. Em định tới sớm rồi đợi.” “Đợi ba tiếng liền ư?” “Vâng.” Hagane không nói gì, định đi ngang qua cậu ta vào trong. Nhưng Stella không nhúc nhích. Khi cậu thanh niên ngồi xuống, Stella vẫy đuôi và nhào vào lòng cậu. Được vuốt ve đầu, nó càng vẫy đuôi tợn. “Stella!” Hagane vừa gọi, Stella lập tức tới cạnh anh. Cậu thanh niên cũng đứng dậy. “Tôi mang nó ra cho cậu đây. Cậu có thể chở nó an toàn với cái xe kia được không?” “Em có mang theo mấy cái chăn. Cũng có thể cố định nó lại nữa.” Hagane cho Stella vào nhà rồi mang chiếc Symphonion Rococo ra. Nhận lấy hộp nhạc, cậu thanh niên cho nó vào băng ghế sau, khéo léo cuộn những tấm chăn xung quanh và dùng đai an toàn để cố định nó lại, không cho xê dịch. “Cảm ơn anh.” Cậu thanh niên nói lời cảm ơn rồi mở cánh cửa phía ghế lái. “Ngày mai anh sẽ tới nhà Madam nhỉ? Để em tới đón anh nhé?” “Tôi sẽ tự đi.” Hagane trả lời. Cậu thanh niên lại cúi mình lần nữa, đoạn chui vào trong xe. Hagane không đứng tiễn. Anh lập tức vào nhà, ngồi bệt xuống bậc thềm cửa. Stella tới gần, liếm mặt anh. “Chú mày ai cũng thân thiết ngay được nhỉ. Thế thì còn làm chó giữ nhà sao được.” Hagane vừa dứt lời, Stella bèn dụi mặt vào chân anh.   Mời các bạn đón đọc Phục Hồi của tác giả Tadashi Ohta.
Bên Dòng Sông Hằng
Một quá trình cuốn hút bằng đậm đặc câu chuyện, đậm đặc trải nghiệm. Cái kết hay cụ thể hơn là câu trả lời cho trường hợp của từng nhân vật đều rất hay, ý nghĩa nhưng có phần hơi ngắn gọn. Khi đọc về cuối, thoáng qua mong muốn tác giả sẽ viết kĩ hơn, sâu hơn về tâm lí, cảm xúc từng nhân vật như ở phần đầu. Nhưng có thể đấy là dụng ý của Endo Shusaku. Nhiều khi cách mà chúng ta đi qua mỗi trải nghiệm đã là một câu trả lời rồi, nên đến cuối cùng không cần phải diễn giải quá nhiều chăng? Đặc biệt yêu thích cấu trúc của cuốn sách. Cách tác giả sắp xếp để từng nhân vật, từng câu chuyện xuất hiện rất thú vị. Các giá trị văn hoá, tôn giáo, tâm linh được truyền tải tinh tế, vừa vặn, không gây sự choáng ngợp hay cảm giác khó tiếp nhận cho độc giả. *** Bên dòng sông Hằng, lẫn vào giữa những khách thập phương hoặc hiếu kỳ hoặc bàng quan, là một tốp du khách Nhật. Họ lặn lội đến đây, đều đang chôn sóng ở trong lòng. Người đi tìm bóng hình người vợ quá cố, kẻ mong chữa lành chấn thương nhân tính thời chiến tranh, người muốn tạ ân vì một cơ hội sống, kẻ lại muốn đắp bồi cho trái tim đang trống rỗng... Họ soi vào những dàn thiêu rừng rực, soi vào nhau, soi vào cái chết, hầu tìm lời giải đáp cho cõi sống, bên dòng sông Hằng. Trĩu nặng dưới những ưu tư thần học, triết học về lẽ sống, về định mệnh, đây vẫn là một cuốn tiểu thuyết đầy ắp những chi tiết đời thường tinh tế và nét khôi hài lấp lánh.Giống như sông Hằng “không chỉ là của tín đồ Ấn giáo, mà còn là dòng sông sâu thẳm cho tất cả mọi người”, cuốn sách viết từ cảm quan Công giáo này vẫn thấm đượm những khắc khoải cùng lòng yêu tha nhân nối liền mọi nền văn hóa, và là minh chứng tuyệt vời để hiểu tại sao Endo Shusaku lại được cả Nhật Bản lẫn phương Tây cùng mến mộ. *** [REVIEW SÁCH HAY] BÊN DÒNG SÔNG HẰNG: CHÚNG TA TÌM LẼ SỐNG Ở NƠI NÀO? Bằng những trang văn suy tư, chậm rãi nhưng cũng đầy biến chuyển, Endo Shusaku cuốn hút người đọc vào cuộc hành trình thú vị với Bên dòng sông Hằng. Ký ức của trẻ con luôn bền bỉ hơn người lớn, tôi luôn tin như vậy. Ở tập hợp chắp nhặt vô vàn ký vãng trong đời sống của một con người, những mảnh ký ức của tuổi thơ luôn chiếm lấy tâm trí của họ nhiều hơn hết thảy. Tôi cũng không là ngoại lệ. Tuổi thơ tôi gắn liền với miền Trung, miền đất của nắng hạn mưa nguồn, của tận cùng khắc nghiệt và khó khăn, nhưng cũng là nơi chốn mà thiêng và phàm dung hòa làm một. Ở quê hương ấy, tuổi thơ của bao đứa trẻ băng qua những lời kinh cầu ngân vang quyện giữa mùi trầm hương bảng lảng. Lời kinh được dẫn nhịp bằng tiếng mõ ấm áp, những đôi tay khô gầy tre trúc của mẹ của bà chắp lại thành kính dâng lên một cõi vàng son xa xăm nào đó mà lũ trẻ con ngày đó không thể hiểu hết. Trẻ con chúng tôi lại càng chẳng thể hiểu vì sao những người lớn đang còn sống lại tụng mãi những lời cầu khẩn một đời sống trường cửu ở cõi an vui nào đó sau khi nhắm mắt lìa đời, vượt ngoài thế giới của chúng tôi, vượt khỏi mấy cái vương quốc bé tí trên sân trường mà biên giới được các ông hoàng con vạch vội bằng phấn để đánh trận giả. Đất nước Phật kia Nhẹ làn gió thổi Cây cành châu báu Chạm dây leo ngọc Tuyệt vời vang ngân. Những lời kinh trầm ấm ấy đã dìu lũ trẻ chúng tôi vào giấc ngủ ngon lành giữa xào xạc lá cành, thoảng đưa vào nhà cùng tiếng thằn lằn tặc lưỡi trong đêm yên vắng. Cho đến khi lần giở Bên dòng sông Hằng, tôi bắt gặp lại những lời kinh ấy, trong một hành trình khác, hành trình bằng câu chữ, đi vào thế giới huyền hoặc sâu thẳm của tâm hồn Đông phương. Endo Shusaku cho ra đời cuốn tiểu thuyết Bên dòng sông Hằng vào năm 1993. Đến năm 1995, ông qua đời. Đây là cuốn tiểu thuyết cuối cùng của ông, cũng là một trong hai cuốn tiểu thuyết mà ông muốn đặt cạnh mình trong quan tài khi giã từ cõi sống. Là một nhà văn Công giáo, chịu phép rửa tội từ năm 11 tuổi, vậy nhưng, suốt cuộc đời, Endo Shusaku lại chọn bước đi trên ranh giới giữa hai nền văn hóa Đông – Tây. Là người Nhật, ông thấm đẫm tinh thần và cá tính hướng nội của dân tộc này. Chúng ta không khó để tìm được những dòng tóm tắt như vậy về cuộc đời Endo Shusaku trên mạng. Nhưng tôi chỉ cảm nhận được rõ nhất điều đó khi bước vào Bên dòng sông Hằng. Hơn ba trăm trang của cuốn tiểu thuyết vẽ nên hành trình của năm con người, mỗi con người lại mang một câu chuyện, một băn khoăn, nỗi ưu tư và u hoài khác nhau về lẽ sống. Họ gặp nhau trong chuyến đi bắt đầu từ Nhật Bản sang tận Ấn Độ, với điểm dừng cũng là đích đến: sông Hằng. Sông Hằng là dòng sông của nước Ấn đầy sắc màu, hỗn độn nhưng cũng tràn đầy sức sống. Dòng sông xuất hiện muôn vạn lần trong kinh điển, trong tụng ca ngân vọng suốt cõi nhân gian. Dòng sông mẹ, dòng sông thánh thiêng, mang hết mọi ngưỡng vọng của con người tìm tới và gửi gắm, bất phân giữa sự sống và cái chết. Dòng sông ấy hiện lên sống động trong tiểu thuyết của Endo Shusaku như nó vốn dĩ. Ở nơi ấy, những nhân vật của ông truy tầm lời giải đáp cho cuộc đời mình. *** Khoai nướng nóng hổi đây... Khoai nướng nóng hổi đây... Mỗi khi ông Isobe nhớ lại lúc người bác sĩ báo cho biết vợ ông mắc phải bệnh ung thư vô phương cứu chữa, tiếng rao hàng phía ngoài khung cửa sổ phòng xét nghiệm hôm đó lại văng vẳng trong tai như đang chế giễu nỗi kinh hoàng của ông. Giọng rao buồn tẻ của một người đàn ông vô tâm. Khoai nướng nóng hổi đây... Khoai nướng nóng hổi đây... - Cái ung nó nằm... ở đây này. Nó đang nhảy qua chỗ này nữa. - Ngón tay người bác sĩ từ từ bò trên tấm hình chụp X-quang như theo nhịp của tiếng rao ngoài kia; vẫn giọng đều đều, ông giải thích: - Tôi nghĩ khó có thể dùng phẫu thuật được nữa. Chúng tôi sẽ thử dùng thuốc kháng ung thư và tia xạ... - Thế nhà tôi còn sống được bao lâu nữa, thưa bác sĩ...? ' Ông Isobe nghẹn ngào hỏi. Người bác sĩ không nhìn vào ông: - Khoảng ba tháng, nhiều nhất là bốn. - Nhà tôi có phải đau đớn nhiều không? - Chúng tôi có thể dùng moóc phin để làm giảm đau một phần nào đó. Hai người yên lặng một lúc. Ông Isobe lại hỏi: - Nhà tôi có nên dùng vắc-xin Maruyama, cả thuốc bắc nữa...? - Được chứ! Ông cứ dùng bất cứ loại thuốc dân gian nào mà ông cho là có thể giúp cho bà nhà. Cái kiểu người bác sĩ Tây y nhanh chóng tán thành đề nghị dùng thuốc bắc như thế, cho thấy bệnh tình của vợ ông thực sự vô phương cứu chữa. Hai người lại rơi vào yên lặng. Ông Isobe không chịu đựng được nữa, đứng dậy. Người bác sĩ xoay người về phía tấm phim X-quang; chiếc ghế xoay kêu ken két khó chịu như báo cho ông biết về cái chết cận kề của vợ mình. “Mình... đang mơ...” Ông Isobe nghĩ. Trên đường đi ra thang máy, ông vẫn có cảm giác như không thực. Ông chẳng bao giờ nghĩ là vợ mình sẽ chết. Ông có cảm tưởng như đang xem một cuốn phim, thì đột nhiên người ta lại chiếu một phim khác lên màn ảnh. Ông buồn bã nhìn bầu trời chiều đông xám lạnh, vẫn còn tiếng rao bán khoai nướng ngoài kia: “Khoai nướng nóng hổi đây...” Ông băn khoăn kiếm câu nói dối với vợ. Ông nghĩ với trực giác bén nhạy vốn có của người bệnh, chắc vợ ông sẽ biết ông đang toan tính gì. Ông ngồi sà xuống ghế cạnh thang máy. Có hai người y tá đi qua trước mặt ông chuyện trò vui vẻ. Tuy họ làm việc ở bệnh viện nhưng bệnh tật cũng như những bất hạnh xảy ra trong bệnh viện không làm mất đi vẻ mạnh khỏe, tươi trẻ của họ. Ông hít một hơi thật sâu, nắm chặt núm cửa phòng bệnh. Vợ ông đang ngủ, một tay để trên ngực. Ông ngồi lên chiếc ghế độc nhất trong phòng, và lại một lần nữa, nghiền ngẫm câu nói dối ông đã sắp sẵn trong đầu. Người vợ mở mắt buồn bã, nhìn chồng mình, bà mỉm cười yếu ớt: - Mình đã nói chuyện với bác sĩ chưa? - Rồi... - Bác sĩ... đã nói gì với mình? - Bác sĩ nói là mình sẽ phải nằm viện một thời gian nhưng sẽ không quá ba hoặc bốn tháng, rồi mình sẽ khỏe lại. Vì vậy mình chịu khó một chút. Tự biết mình nói dối không xuôi, ông cảm thấy như mồ hôi đang rịn trên trán. - Vậy à... Người vợ nhìn thẳng vào cái trán đẫm mồ hôi của ông. Ông thấy phải coi chừng trực giác bén nhạy của người bệnh. - Như vậy là mình phải khổ trong ba bốn tháng trời! - Mình đừng có nói vậy! Có gì đâu mà khổ! Vợ ông lại mỉm cười. Từ trước đến bây giờ bà mới nghe ông nói câu tình cảm như vậy. Nụ cười đặc thù của vợ ông. Hồi mới lấy nhau, khi ông trở về nhà sau những mệt mỏi vì các mối quan hệ trong công việc, mở cửa ra, bà luôn đứng đón ông với nụ cười bao dung, âu yếm. Cảm thấy mình lâu nay quả có thiếu quan tâm đến vợ, ông nói dối thêm một lần nữa: - Khi được ra viện, mình cứ tạm thời tĩnh dưỡng một thời gian. Rồi tôi sẽ đưa mình đi suối nước nóng dưỡng sức. - Không việc gì mà phải phí tiền như vậy vì em đâu. “Không việc gì...” Câu nói nghe đượm vẻ cô đơn lẫn bi ai, giống với tiếng rao của người bán khoai ngoài kia một cách lạ lùng. Chẳng lẽ vợ ông đã mon men biết sự thật? Đột nhiên, bà như lẩm bẩm một mình: - Lúc nãy em đã nhìn cái cây. - Vợ ông hướng mắt ra ngoài cửa sổ nhìn cây ngân hạnh lá cành sum suê như đang ôm ấp một thứ gì đó. - Cây đó sống được bao lâu rồi mình nhỉ? - Dám cả hai trăm năm. Có lẽ nó là cây cổ thụ sống lâu nhất ở khu này. - Cây cổ thụ đó đã nói đó mình. Rằng sinh mệnh không bao giờ biến mất. Hồi vợ ông chưa bệnh, bà vẫn có thói quen nói chuyện với hoa cỏ như những cô gái xuân thì mỗi khi tưới các chậu hoa trước hành lang. “Hoa xinh đẹp kia ơi, nở cho tôi vài đóa!” “Cảm ơn hoa nhé!” Kiểu chuyện trò với hoa như thế, bà học theo người mẹ vốn yêu hoa của mình, và sau khi lấy chồng, bà vẫn giữ thói quen đó. Nhưng cái kiểu bà nói chuyện với cây cổ thụ lần này cho thấy Mời các bạn đón đọc Bên Dòng Sông Hằng của tác giả Shūsaku Endō.
Cái Giá Của Tự Do
Stephanie có sắc đẹp cổ điển, nhưng hơn thế, nàng có một trái tim đam mê. Ham thích mạo hiểm, nàng dám lao đầu vào những cuộc tình cuồng nhiệt và cũng sẵn sàng chịu trả giá cho những mối tình của mình. Một tính cách như vậy lại ra đời trong thời đại bão táp của nước Pháp nửa cuối thế kỷ XIX với những cuộc tranh giành quyền lực trong nước, chiến tranh ở ngoài nước, những cuộc xâm lược thuộc địa và sự phát triển nhanh chóng của các công ty liên quốc gia, ắt cuộc đời nàng phải bảy nổi ba chìm với ... yêu đương. Số phận éo le đã đẩy Stéphanie lưu lạc khắp năm châu và rơi vào đủ những mối tình hết sức khác nhau: - Nhà kinh doanh trẻ tuổi Armand Dytteville có tài sản lớn ở Nam Thái Bình Dương. - Chàng sĩ quan điển trai, tùy tùng của hoàng đế Napoléon III. - Chàng quý tộc Nga hào hoa Boris tại kinh thành Saint Petersburg. - Một thanh niên bản xứ tại miền đất hoang vu, Yann Kendelec. - Và ... văn hào Victor Hugo, cây bút vĩ đại đồng thời cũng nổi tiếng là thuộc số những đàn ông có nhu cầu tình ái mãnh liệt nhất trong lịch sử thế giới ... STEPHANIE lấy nhân vật cùng tên làm trung tâm, được viết thành 4 cuốn với tên gọi như sau: 1. Bốn mùa yêu. 2. Vì em yêu anh. 3. Cái giá của tự do. 4. Ngọn lửa tình. Tuy là bốn cuốn cùng viết về một nhân vật, song cũng như bộ tiểu thuyết Angelic đã quen thuộc với bạn đọc, mỗi cuốn đều là những câu chuyện hoàn chỉnh, độc lập với nhau, không nhất thiết phải đọc toàn bộ tác phẩm hoặc đọc theo trình tự nhất định mới thấu hiểu được nó. Tất nhiên, hy vọng rằng bạn đọc sẽ gắn bó và say mê với số phận của Stéphanie để không bỏ sót một cuốn, một tập nào, như đọc giả phương Tây đã hết sức hoan nghênh STÉPHANIE khiến bộ sách được tái bản liên tục trong vòng 10 năm nay kể từ khi nó ra đời. *** LÁ THƯ CỦA YVES KENDELEC Stephanie giận dữ lao ra khỏi phòng khách như kẻ mất trí. Xiêm áo, đăng ten, dải lụa sột soạt theo bước chân giận dữ của nàng. Cánh cửa đóng sập lại theo cái khoát tay của nàng. Toàn thân run lên vì uất ức, Stephanie đi thẳng đến phòng giấy, giật mạnh cánh cửa, bước vào, đóng sập lại cùng với động tác giận dữ như lúc nàng đóng cửa phòng khách. Lại một lần nữa nàng khẳng định quyền tự do của nàng trước René. Cái quyền này là điều kiện nàng đã đặt ra với chàng ngay từ khi cưới nhau. Tại sao René không chịu hiểu rằng không thể bắt vợ chỉ chăm lo đến áo quần, đầu tóc, chiêu đãi, tiệc tùng, đến chuyện phiếm với những kẻ kiêu kỳ nhưng ngu xuẩn? Tại sao chàng lại không muốn hiểu rằng Stephanie đâu phải loại người cam chịu sống theo dư luận, sợ hãi những lời đàm tiếu để không dám làm cái này cái nọ theo ý mình? Stephanie đâu thuộc loại ngươi quan tâm đến ý kiến nhận xét của những kẻ đạo đức giả, những kẻ không dám sống theo ý mình và không để người khác sống theo ý họ? Những kẻ chỉ chăm chăm tạo cho mình vẻ ngoài sang trọng, quí phái, kiểu cách phù phiếm? Stephanie thuộc loại phụ nữ hiếu động, yêu cuộc sống, thích lao vào những tình huống phức tạp, không sợ nguy hiểm, thích luôn luôn đương đầu với những hoàn cảnh bất ngờ... Đúng là gần đây nàng ít xông pha vào những tình huống nguy hiểm, nhưng nỗi lo lắng về số phận tầu thuyền của nàng ngoài biển, niềm kiêu hãnh khi nàng chiến thắng trong cuộc giành giật những mặt hàng quí với các đối thủ, niềm phấn hứng khi nàng vạch ra những ý đồ táo bạo, tính mạo hiểm trong việc bỏ vốn vào những vụ kinh doanh liều lĩnh... tất cả những thứ đó René đều tìm mọi cách tước đi của nàng. Stephanie đã ba lần giật sợi dây chuông gọi Aimé. Nàng đấm mạnh xuống mặt bàn mà vẫn không ghìm được cơn giận dữ. Lần này René đi quá mức. Chàng dám nói: “Khi mang danh hiệu cao quí phu nhân Guinchamp thì...” Cao quí gì? Cao quí chỗ nào? Nếu không do bà mẹ bán cái mã đẹp trai của con mình cho Agnès lấy món tài sản kếch sù của dòng họ Lomanais thì chàng đâu có cái biệt thự sang trọng “De Guinchamp” này?... Lương sĩ quan được là bao? Stephanie khinh thói nhu nhược, sợ dư luận của René nhưng vẫn không thể thôi không yêu chàng. Nghĩ cho cùng thì René xưa nay vẫn là người như thế. Nàng chẳng nói với Pompette ngày nào rằng “Tôi biết tất cả những nhận xét của bác về anh ấy, nhưng tôi yêu anh ấy với tất cả mọi ưu điểm và khuyết điểm. Biết làm sao được, tôi không thể không yêu René!” Nàng đã yêu chàng đến mức bất chấp nguy hiểm, bỏ nhà cửa, con cái, đuổi theo chàng ra tận chiến trường. Yêu đến mức nàng nhận lấy chàng để có chàng bên cạnh tất cả các đêm, để được nhìn thấy chàng cười, chàng đi lại, được nghe thấy giọng nói nồng ấm và dâm đãng của chàng thầm thì gọi tên nàng. Mỗi khi René thầm thì gọi “Stephanie”, lập tức nàng rùng mình tưởng như môi chàng đang lướt trên da thịt nàng. Nàng đã bỏ qua thói phù phiếm, thói sợ dư luận của chàng để được yêu chàng, để được hưởng những cơn ân ái cuồng nhiệt của chàng. René chỉ là người đàn ông để yêu đương. Tình ái là sở trường của chàng, là phẩm chất duy nhất của chàng. Than ôi, đúng là duy nhất! Ngoài khả năng yêu đương và ân ái ra, René không còn bất cứ phẩm chất nào khác! - Cứ vào! Nàng nói to khi nghe thấy ba tiếng gõ ngoài cửa. Đấy là mật hiệu giữa họ. Ba hồi chuông và ba tiếng gõ cửa! Ám hiệu giữa nàng và Aimé. Ngay sau lần cãi nhau đầu tiên, hôm ấy Stephanie báo chồng biết nàng có thai và René lợi dụng hoàn cảnh đó đã yêu cầu nàng thay đổi cách sống, bỏ những công việc quen thuộc của nàng, Stephanie lại trở về với Aimé. Nàng khôi phục mối quan hệ thân tình với anh. Với Aimé nàng có thể nói hết, bởi anh hiểu rõ nàng hơn cả chính nàng hiểu bản thân mình. Giữa Stephanie và Aimé có bao nhiêu sợi dây gắn bó với nhau: quê hương, những kỷ niệm thuở nhỏ, Charles, cùng bao nhiêu yếu tố bí hiểm khác. Trước kỳ sinh nở, René lại một lần nữa yêu cầu vợ rời bỏ công việc kinh doanh mà chàng gọi là “công việc của một mụ nhà buôn”. Sau khi Stephanie sinh cho chàng bé Diane, con gái không phải con trai như nàng mong ước, thì René lải nhải không biết mệt, ngày này sang ngày khác: - Bao giờ em mới chịu thôi cái việc la cà các hãng buôn? Bao giờ em mới chịu thôi đến phố Vivienne, thôi bàn bạc tranh cãi giá cả với đám chủ hiệu đồ gỗ? - Không bao giờ! Em trả lời anh lần này là lần cuối cùng. Đừng bao giờ anh nhắc lại câu hỏi đó với em nữa! Hôm đó, nói xong nàng đã băng ra ngoài và đóng sập cửa lại. - Bà chủ gọi tôi? Thoạt nhìn, Stephanie thấy ngay Aimé giữ thế rồi. Chỉ mấy tháng mới cưới tình thân giữa nàng và anh đã bị giảm bớt, sau đó họ đã lấy lại được tình thân ngày xưa. Lẽ tự nhiên là Aimé lại không ngần ngại tỏ thái độ ương ngạnh với nàng mỗi khi anh không tán thành việc gì đó. - Anh lại thế rồi! - Bà chủ muốn nói tôi lại tiếp tục chứ gì? Nàng cau mặt lườm anh. - Đến bao giờ René mới chịu thôi cái việc dằn vặt tôi? - Thì bà chủ có thôi bỏ thói ương ngạnh, thôi hành hạ ông ấy đâu? - Anh định nói rằng... - Theo cách suy nghĩ của ông chủ, thì ý kiến ông chủ đúng. Stephanie nổi cơn thịnh nộ. - Anh tán thành René à? - Tôi hiểu ông chủ. - Thế thì ích gì chứ? - Stephanie gầm lên. - Ích chứ! - Aimé nói bằng giọng ương ngạnh, cái giọng bao giờ cũng làm Stephanie điên người. - Anh cố tình nói thế để chọc tức tôi thêm! Đúng là Aimé làm thế. Anh thấy nên đẩy cơn giận của Stephanie đến tột đỉnh, sẽ có lợi cho nàng hơn. Phải sau khi lên đến đỉnh điểm, cơn uất giận của nàng mới chịu lui và khi đó anh sẽ lựa lời nói cho nàng hiểu. Tất nhiên không khí thuận hòa giữa hai vợ chồng họ chẳng thể kéo dài được mãi mãi. Dù sao trong một quãng thời gian, họ cũng được hưởng niềm hạnh phúc trong yêu thương. - Anh cũng khuyên tôi đừng hoạt động gì nữa? - Tất nhiên là tôi không khuyên như thế. Bản chất bà chủ đã như vậy làm sao thay đổi được? - Bản chất tôi làm sao? - Bà chủ là người thích leo trèo. - Tôi chưa hiểu - nàng bực tức Aimé giở cái giọng bí hiểm quen thuộc ra. - Ý tôi muốn nói hồi nhỏ còn ở lâu đài bà chủ đã thích tụt lan can cầu thang gác, thích nhẩy vài bậc một lúc, thích trèo cây, thích leo vách núi dốc đứng. Mỗi khi định thuyết phục nàng điều gì, Aimé luôn gợi nhớ lại thời thơ ấu của nàng ở quê nhà, gợi lại cuộc chiến tranh Crimée, khi nàng làm cấp dưỡng cho trung đoàn Bắc Phi. - Như thế thì sao? - Bản chất bà chủ là hiếu động. Tính hiếu động ấy tất nhiên phải được bộc lộ ra trong một công việc nào đó. Hồi cụ bà còn sống, phu nhân Hortense... Stephanie xưa nay vẫn cố học theo mẹ nhưng kết quả nàng lại khác xa mẹ. Bà Hortense ngày xưa không bao giờ nổi nóng. Mẹ nàng bao giờ cũng nói với giọng dịu dàng, nhỏ nhẹ tình cảm trong khi vẫn kiên quyết. Không ai lay chuyển được điều gì một khi mẹ nàng đã quyết. - Mẹ tôi ngày xưa được làm việc theo ý riêng. Cha tôi không bao giờ cản trở. - Bởi cụ chủ ngày xưa đâu có giống ông chủ René de Guinchamp bây giờ? Stephanie hiểu câu đó như Aimé định nói: “Bà chủ đã sai lầm là lấy ông ta!” Nàng còn phạm thêm sai lầm nữa là chịu đến sống ở biệt thự Guinchamp. Như vậy thành ra nàng là người khác chứ không phải là nàng. Lẽ ra nàng phải tậu hoặc xây một tòa nhà khác. Nhưng hồi đó nàng đang khao khát tình yêu, Stephanie đâu có nghĩ gì. René bảo gì nàng cũng răm rắp nghe theo. Chính vì vậy bây giờ thằng bé René năm nay lên 2 cùng hai chị nó sống với nàng, trong khi bốn đứa con nàng đẻ ra - hai đứa sinh đôi con Armand và hai đứa một trai một gái con André, lại không được sống cùng với mẹ chúng. Bốn đứa vẫn sống với mẹ chồng thứ nhất của nàng, bà Francoise. Tình trạng này là do một loạt tình huống. Sau cái chết thương thảm của André, Stephanie một thời gian nằm liệt giường, đành để các con sống bên biệt thự Dytteville. Hồi đó chính Aimé đã khuyên nàng như thế. Vả lại bà Francoise không hề phân biệt đối xử giữa hai đứa cháu nội của bà với hai đứa em cùng mẹ khác cha của chúng. Còn thêm một nguyên nhân nữa khiến Stephanie dễ chấp nhận lời đề nghị của René là sau khi Agnès qua đời chàng đổi tên biệt thự Lomanais thành biệt thự Guinchamp. Nàng đã trở thành phu nhân Guinchamp, việc sống tại biệt thự Guinchamp đâu có gì không hợp lý? Tuy biết không thể lay chuyển những định kiến đã hình thành nên trong đầu Aimé, Stephanie vẫn cố tìm cách lay chuyển chúng. Nàng nói giọng xót xa: - Ôi nếu anh biết vừa rồi René nói với tôi như thế nào, dằn vặt tôi ra sao... Anh ấy dám bảo tôi: “Khi đã mang danh hiệu cao quí “phu nhân Guinchamp” thì có những loại người em không nên tiếp xúc. Quá lắm là đến nhà họ nếu như em buộc phải gặp!”. - Chắc ông chủ định nói đến Vaudières! - Ông Vaudières quen biết tôi lâu năm. Ồng lại là chủ ngân hàng, tôi cần quan hệ với ông ta. - Nhưng bà chủ cũng biết, ông chủ không ưa ông Vaudières! - Tôi đang muốn tậu khu đất ở Chesnay thuộc ngoại thành Vaudières và nhất định tôi sẽ tậu, nàng nói giọng dứt khoát - Tôi đã “ngửi” thấy đó là miếng đất tuyệt vời, sẽ có lãi rất lớn. Vụ này cần tiến hành nhanh chóng kẻo có người thọc gậy bánh xe. Tôi không thể đưa chuyện đó ra bàn ở phố Vivienne vì cha tôi quá thận trọng, còn chú Hippolyte thì trước mỗi việc cứ cân nhắc quá lâu. Tôi bàn chuyện với ông Vaudières và hai cố vấn thì có gì là xấu? - Tất nhiên rồi. Nhưng hình như bà chủ lại yêu cầu ông chủ bắt tay họ, những người ông chủ vẫn khinh thường, thậm chí ghét nữa. Quả là Stephanie có yêu cầu René chào hỏi, bắt tay họ! Nàng rất biết rằng Antonin Vaudières cũng như hai người cố vấn kia nếu được nghe René Guinchamp niềm nở chào hỏi, họ sẽ “mềm” hơn khi nàng trao đổi với họ về các khoản trong hợp đồng. René đã hai lần chịu tiếp họ tại biệt thự Guinchamp, nhưng lần nào cũng bảo vợ: “Chỉ lần này thôi đấy”. Đến hôm nay, chàng lại bảo: “Anh đã nói rồi, anh không muốn ai bàn chuyện hàng hóa, buôn bán trong cái nhà này. Em muốn bàn bạc ở đâu tùy em. Tại các văn phòng công ty, tại cửa hiệu hay quán giải khát nào cũng được, miễn không phải ở đây! Em nhớ rằng đã mang danh hiệu cao quí phu nhân Guinchamp thì... “ Chính câu đó làm nàng điên tiết. Danh hiệu cao quí Guinchamp! Bà mẹ René không đào mỏ mấy cô gái nhà giầu thì lấy đâu ra sự “cao quí” của cho Guinchamp. - Mà một cái bắt tay, một nụ cười niềm nở và một câu chào lịch sự thì có gì mà không thể làm được? - Stephanie rầu rĩ nói. - Xin phép bà chủ tôi xin nói thế này. Bà chủ có lý thì ông chủ cũng có lý. Mọi người đều có lý hết. Tuy nhiên Bắc cực và Nam cực không bao giờ đến với nhau. Riêng tôi thì bà chủ hãy tin rằng tôi thi hành mọi điều bà chủ yêu cầu và các vị khách đó tôi sẽ tiếp họ chu đáo: cà phê, trà, nước ngọt, bánh trái... tất tất đều có đủ. Trong lòng Stephanie lại trào lên nổi căm giận René! Vì tình yêu nàng, tại sao chàng không thể bỏ ra năm phút “quí giá”, chào hỏi khách để chiều vợ? Trong khi nàng từng đã dám bỏ cả gia đình để theo chàng ra chiến trường, sẵn sàng chịu dựng bao nỗi gian truân ở Dobroudja. Alma, ở Sebastopol? Đến đây nàng chợt nghĩ đến Boris! Boris! Đến nay nàng vẫn luôn, nghĩ đến chàng. Chàng là tình yêu không gợn sóng mây, tình yêu của tình yêu. Trong thời gian cuộc triển lãm thương mại ở Paris, Boris đã quan tâm đến công việc của nàng. Chàng đã tính sẽ trở lại Paris để nghiên cứu những kinh nghiệm trong hoạt động kinh doanh của nước Pháp. Boris là người thật sự hiểu mình. Stephanie thầm nghĩ, chàng chịu nghe những lời khuyên của nàng. Boris vêrr nàng tuyệt đối, nhưng rồi... chiến tranh, cuộc bao vâv Paris, cái chết của Agnès, René tự do và nàng lấy René! Hoàng thân Boris Petrovitch Biotsky và quận chúa Nalasa vợ chàng đã gửi thư chúc mừng đám cưới Stephanie. Nhưng nàng cũng nhận được một lá thư của Boris mà nàng vẫn còn giữ, một lá thư tuyệt diệu... “... Anh hiểu rằng anh không thể dâng cho em danh hiệu dòng họ anh, tài sản của anh, cuộc đời anh, nhưng anh yêu em và trong ký ức anh, em gần gụi với anh hơn nhiều so với phu nhân Guinchamp đang sống ở Paris. Tha lỗi cho anh. Trong mấy năm tới anh chưa thể sang Pháp. Anh rất đau lòng. Anh vẫn gìn giữ em trong tim anh, trong linh hồn anh, trong con mắt anh. Mong em hạnh phúc, Stephanie! Stephanie của anh, chỉ của riêng anh thôi!...” Cuối thư chàng viết, ám chỉ René: ‘Anh đã cứu sống con người ấy trên bãi chiến trường, cứu hắn vì em, vậy mà bây giờ em lại ở đó với hắn, trở thành vợ hắn... Chúa đã an bài như thế biết làm sao được”? Anh chỉ cầu Chúa một điều, em thân yêu, là sau đây Chúa sẽ cho hai ta được chung sống bên nhau mãi mãi. Đấy là lời cầu Chúa duy nhất của anh!”. Stephanie đưa tay lên gạt những hình ảnh hiện ra trước mắt. Mơ màng làm gì? Boris đã có cuộc đời chàng. Nàng có cuộc đời nàng, cuộc đời mà nàng tự ý lựa chọn. Bao tháng nay cuộc đời ấy biến thành nỗi đau khổ ngấm ngầm, không làm sao chữa được. Thói ngoan cố của René mỗi ngày làm nàng thêm cay đắng trong lòng. Tại sao René bất công làm vậy? Tại sao René thiển cận làm vậy? Lúc ăn bữa trưa, nàng đã tính sẽ giảng hòa với chồng và thuyết phục thêm đôi chút. Nhưng lúc nàng gọi lấy cà phê, René nói ngay: - Phu nhân tha lỗi... Cách xưng hô nhạt nhẽo “phu nhân” nàng rất ghét. Cách đó nàng chỉ chịu được nơi đông người. - Tôi sang uống cà phê bên biệt thự Resmont. Achille đã có lời mời tôi, bởi biết phu nhân hôm nay bận tiếp khách kinh doanh. - Anh ấy biết là do anh kể chứ gì? - Nàng bực tức nói. - Chính phu nhân báo trước cho tôi biết chuyện đó và tôi muốn phu nhân hoàn toàn thoải mái, hoàn toàn tự do làm những công việc quan trọng của phu nhân. Phu nhân coi tự do là thứ quí giá nhất. Cũng nói thêm, nếu phu nhân định mời những vị khách kia đến ăn tối, xin phu nhân cho tôi biết trước để tôi liệu. Đúng là thái độ khiêu khích! Stephanie không nhịn được, quật mạnh khăn xuống bàn, giận dữ đứng phắt dậy, cặp mắt tóe lửa nhìn thẳng vào mắt René, nhưng René làm như không thấy, thản nhiên bước ra cửa. - René! René vẫn thản nhiên mở cửa, điềm tĩnh bước ra ngoài, coi như không nghe thấy vợ gọi. Anh ta đã biến thành vừa câm vừa mù vừa điếc! Stephanie cắn ngón tay, lẩm bẩm một mình: - Mình sẽ không chịu! Mình không muốn chịu nhún. René phải hiểu mình... Mình buộc anh ấy phải hiểu... Còn anh ấy vẫn ngoan cố, mình sẽ tiếp Vaudières tại đây. Mình sẽ tậu bằng được khu đất ở Chesnay! Tối hôm ấy, Stephanie thấy chồng về, nàng không buồn hỏi xem ngày hôm ấy chàng có gì vui không. René tỏ ra vẫn đẹp trai, duyên dáng và đáng yêu như mọi khi. Chàng hỏi vợ nên nhận hay thoái thác lời mời đến dự buổi vũ hội ở biệt thự nữ công tước Lozencoise. Không muốn gây chuyện thêm, Stephanie nở nụ cười rất tươi, bảo chồng rằng nàng sẽ rất vui đến dự buổi vũ hội ấy. René nghiêng mình cảm ơn vợ tỏ ý chàng rất sung sướng thấy nàng cũng muốn dự. “Mình đành đầu hàng vậy - Stephanie thầm nghĩ - Mình có mong ước gì đâu, ngoài việc làm cho chàng vui. Rồi chàng sẽ phải hiểu như thế, sẽ chiều mình và niềm nở tiếp những khách kinh doanh của mình”. Nhưng trong khi nghĩ thế, nàng lại càng thấy ghét nữ công tước Lozencoise. Bà ta góa chồng, công tước Wedborg, nhưng còn rất trẻ. Đó là một phụ nữ tóc vàng vô cùng xinh đẹp, được nam giới kháo nhau là “người phụ nữ mặc áo có cổ rộng nhất Paris!” Đã một thời gian dài Lozencoise là nhân tình lén lút của René, ngay từ hồi Agnès còn sồng. Stephanie rất ghét bà ta vì mỗi lần hai vợ chồng nàng gặp bà ta trong một cuộc hội họp đông người nào đó, Lozencoise đều tỏ thái độ thân mật quá mức với René và hai người trò chuyện theo kiểu nói như ngầm ám chỉ những kỷ niệm ân ái với nhau, Stephanie rất khó chịu thấy Lozencoise lẳng lơ quá đáng, cổ áo bao giờ cũng mở rất rộng, chỉ vừa đủ che núm vú, còn cả nửa trên cặp vú nhô hẳn ra ngoài, miệng thì bôi son đỏ chót và lúc nào cũng như sắp hôn người đàn ông đang tiếp chuyện bà ta. Cặp mắt Lozencoise nhìn René như muốn nói với chảng: “Em yêu anh. Em không thể quên anh. Bất cứ lúc nào anh muốn, em cũng sung sướng được chiều anh. Thân xác em đang khao khát thân xác anh. Cặp môi em đang khao khát cặp môi anh!” Một lần sau cuộc vũ hội René gặp “mụ ta”, Stephanie đã to tiếng với chồng. René chỉ cười... nhưng chuyện đó đã lâu rồi, nàng chỉ còn coi là một kỷ niệm êm ái. Vì nàng ghen với “mụ ta” thì đúng là điên rồ. Nàng là vợ của René và nàng biết René chỉ yêu một mình nàng. Tuy nhiên Stephanie vẫn lấn cấn thế nào đó mỗi khi chồng gặp Lozencoise. Chính vì vậy hàng tháng, “mụ ta” đều gửi thiếp mời hai vợ chồng nàng đến dự vũ hội ở nhà mụ. Mọi lần Stephanie đều khoái thác, nhưng hôm nay vì muốn làm lành với chồng nên nàng chiều chàng, bằng lòng đi dự. Nàng thầm nghĩ: “Em bằng lòng đi với anh đến nhà mụ ta dự vũ hội chỉ vì anh thích đến đó. Nhưng để đáp lại, anh cũng phải chiều em trong một số việc”. Khốn nỗi từ khi René chịu rời khỏi nhà để vợ tiếp khách kinh doanh cũng như nàng chịu cùng chồng đến dự vũ hội ở nhà người đàn bà đáng ghét, thì sự rạn nứt giữa họ cũng bắt đầu. Sự nhượng bộ nhau tạo cho quan hệ giữa họ mất đi niềm tươi mát, sự thoải mái không thể thiếu được trong tình yêu. Theo đà ấy cuộc sống chung giữa René và Stephanie biến thành một thứ mỹ lệ giả tạo, một lớp sơn phết bên ngoài để che giấu những bất đồng bên trong. Cuối cùng đến lúc quá mệt mỏi, Stephanie đã nghĩ đến chuyện xa lánh chồng. Không khí trong biệt thự Guinchamp ngày càng làm nàng khó chịu. Nàng đâm ghét mọi thứ xa hoa phù phiếm ở đây, từ những bức họa khoe mẽ đến những hàng mỹ nghệ đắt tiền nhưng vô tích sự. Stephanie cảm thấy sống trong tòa nhà cực kỳ sang trọng này không thoải mái bằng sống trong phòng giam chật chội tại pháo đài Sebastopol! Ban ngày nàng cố không ở nhà. Buổi tối buộc phải về thì lòng nàng nặng trĩu. Nhiều buổi tôi nàng ngồi với các con trong biệt thự Dytteville và chỉ ao ước được ngủ lại đấy, không phải về biệt thự Guinchamp. Đang trong tâm trạng rối bời, đang nghĩ cách nào thoát khỏi cuộc sống ngột ngạt căng thẳng này thì một lá thư bay đến tay nàng. Lá thư của Yves Kendelec. Ông ta là người nàng chưa gặp bao giờ, chỉ một lần nàng viết thư cho ông ta hỏi tình hình ở đảo Nouvelle Caledonie[1], tại sao việc khai thác kền ở đó lại không tăng lên được... Lá thư “hỏi tình hình” đó phải một năm sau nàng mới nhận được phúc đáp. Thư viết: - “... Nouvelle Caledonie là một nơi đất mới. Công việc hiện đại hóa nó đòi hỏi rất nhiều tiền bạc và thời gian. Các phương tiện khai thác ở đây hiện rất thô sơ. Thiếu nhân công châu Âu. Dân bản địa, người Canaques, quen sống nhàn tản, mặc dù họ rất hiền lành chất phác. Bẳn thân tôi lại đang rất mỏi mệt và đau ốm. Vài năm nữa, tôi lại giao công việc lại cho con trai tôi và hó sẽ trình bày tình hình với ngài Georges Dytteville... “ Bức thư làm Stephanie sôi máu. Nàng thấy rõ nếu cứ để tình trạng như thế này thì việc kinh doanh ở đảo không sao tiến triển được. Nàng thấy cần phải sang xem xét tình hình tại chỗ, thuyết phục mọi người ở đó và thực hiện cải tiến công nghệ bằng mọi giá, trang bị kỹ thuật hiện đại... “Không, không phải việc của mình - Stephanie suy nghĩ - Mình không thể sang đó. Đấy là việc của Hippolyte. Nhứng cậu ta lại quen hưởng cuôc sống yên ổn, nhàn hạ, sung túc rồi. Cậu ta ngại khó khăn, “sợ gian khổ”. Mối mâu thuẫn đó ám ảnh Stephanie và nhiều lúc nàng thấy phải đích thân nàng sang mới được. Ngoài nàng không ai khác. Nhưng nếu đi nàng sẽ phải xa gia đình, bỏ lại con cái. Nàng không muốn xa hẳn René... Nàng đã bốn mươi tuổi rồi, đâu còn trẻ trung để đi đây đi đó nữa... Nhưng một ý nghĩ khác bác lại. Tình trạng ở Nouvélle Caledonie cần phải giải quyết ngay. Chờ mười năm nữa thì sẽ quá muộn! Đảo Nouvelle Caledonie đang là vùng đất mới. Người ta đã phát hiện những mỏ kền ở đó từ nhiều năm rồi. Nếu nàng sang đó, bắt tay vào xây dựng, việc khai thác thứ kim loại đáng quí này mới có cơ phát đạt mạnh mẽ... Đành để các con xa mẹ chúng trong mười tháng, mười lăm tháng... Nàng phải sang nhìn tận mắt mới nghĩ ra cách phát triển. Sau thời gian đó nàng trở về Pháp tuyển mộ một đội ngũ thợ kỹ thuật trẻ, đồng thời mua sắm máy móc... “Thôi được mình sẽ suy nghĩ thêm. Nếu thật sự cần thiết. Nếu không có ai khác ngoài mình... Và sau một thời gian xa cách, rất có thể mình và René nối lại được...” nàng kết luận. --------------------------- [1] Còn gọi là Tân Caleđôni hoặc Tân Đảo, nằm ở Nam Thái Bình Dương (N.D) Mời các bạn đón đọc Cái Giá Của Tự Do của tác giả Marcel Gobineau.
Vì Em Yêu Anh
Stephanie có sắc đẹp cổ điển, nhưng hơn thế, nàng có một trái tim đam mê. Ham thích mạo hiểm, nàng dám lao đầu vào những cuộc tình cuồng nhiệt và cũng sẵn sàng chịu trả giá cho những mối tình của mình. Một tính cách như vậy lại ra đời trong thời đại bão táp của nước Pháp nửa cuối thế kỷ XIX với những cuộc tranh giành quyền lực trong nước, chiến tranh ở ngoài nước, những cuộc xâm lược thuộc địa và sự phát triển nhanh chóng của các công ty liên quốc gia, ắt cuộc đời nàng phải bảy nổi ba chìm với ... yêu đương. Số phận éo le đã đẩy Stéphanie lưu lạc khắp năm châu và rơi vào đủ những mối tình hết sức khác nhau: - Nhà kinh doanh trẻ tuổi Armand Dytteville có tài sản lớn ở Nam Thái Bình Dương. - Chàng sĩ quan điển trai, tùy tùng của hoàng đế Napoléon III. - Chàng quý tộc Nga hào hoa Boris tại kinh thành Saint Petersburg. - Một thanh niên bản xứ tại miền đất hoang vu, Yann Kendelec. - Và ... văn hào Victor Hugo, cây bút vĩ đại đồng thời cũng nổi tiếng là thuộc số những đàn ông có nhu cầu tình ái mãnh liệt nhất trong lịch sử thế giới ... STEPHANIE lấy nhân vật cùng tên làm trung tâm, được viết thành 4 cuốn với tên gọi như sau: 1. Bốn mùa yêu. 2. Vì em yêu anh. 3. Cái giá của tự do. 4. Ngọn lửa tình. Tuy là bốn cuốn cùng viết về một nhân vật, song cũng như bộ tiểu thuyết Angelic đã quen thuộc với bạn đọc, mỗi cuốn đều là những câu chuyện hoàn chỉnh, độc lập với nhau, không nhất thiết phải đọc toàn bộ tác phẩm hoặc đọc theo trình tự nhất định mới thấu hiểu được nó. Tất nhiên, hy vọng rằng bạn đọc sẽ gắn bó và say mê với số phận của Stéphanie để không bỏ sót một cuốn, một tập nào, như đọc giả phương Tây đã hết sức hoan nghênh STÉPHANIE khiến bộ sách được tái bản liên tục trong vòng 10 năm nay kể từ khi nó ra đời. *** Vậy là Stephanie đã trở về nhà bếp của trường quân chính, nơi ngày nào nàng đã rời đây để cùng với Pompette lên đường ra trận, cốt đuổi theo René. Bây giờ nàn cũng sắp phải rời bỏ nơi này để trở thành phu nhân Dytteville, trở về thành phố Paris với các con, với gia đình của nàng, lấy lại vị trí của nàng trong gia đình cũng như trong xã hội thượng lưu và trong công việc kinh doanh. Nghĩ tới việc lại phải tiếp xúc với "giới dân sự" Stephanie hoang mang vô cùng, không phải chỉ bây giờ vì nàng phải bắt đầu mọi thứ từ đầu vì nàng đã bị mang cái tiếng là "làm cấp dưỡng" trong trung đoàn lính Bắc Phi. Trong đáy thâm tâm, Stephanie coi đó là vinh dự, một thứ đáng để nàng tự hào. Nhưng mọi người xung quanh nàng lại không nghĩ như thế. Stephanie sẽ phải "đương đầu" với họ. Tuy nhiên nàng thầm nghĩ, bất cứ trước mặt ai, dù vị trí là thế nào đi nữa, nàng sẽ không bao giờ từ chối việc nàng đã tham gia chiến trường Crimée, bên cạnh Pompette, trong trung đoàn lính Bắc Phi số 3. Hôm qua Stephanie đã may một tấm áo dài, một chiếc mũ, đôi giày, chiếc xắc, bởi nàng không thể mặc đồng phục cấp dưỡng quân đội để đến nhà Amélie. Chỉ chị là người có thể khuyên bảo nàng đôi điều cần thiết. Hôm nay, trước lúc đi, Stephanie ngập ngừng đôi chút rồi cuối cùng nàng quyết định cởi áo dài ra, mặc lại bộ đồng phục cấp dưỡng quân đội vào người. Nàng thầm tự nhủ: - Để mai... mai mình hãy đi. Để lấy lại can đảm, Stephanie nhớ lại câu Amélie đã nói với nàng một lần. Hôm đó phu nhân Resmont bảo nàng: - Tôi quý chị hơn chị tưởng đấy, Stephanie. Tôi muốn nói với chị rằng bao giờ chị cũng có thể coi tôi là người bạn tin cậy, tận tụy và thông cảm với chị. Hai chữ "bao giờ" của Amélie nói ra hàm nghĩa "bất kể hoàn cảnh nào". Nhưng Stephanie đã không viết lá thư nào trả lời bạn. Nàng chỉ đọc ba lá thư của Amélie nàng nhận được đầu tiên. Từ lá thư thứ tư cho đến tất cả các lá tiếp theo, Stephanie đều xé vứt đi, mặc dù Amélie gửi thư rất đều đặn cho nàng. Do đó Stephanie hoàn toàn không biết tin tức gì ở nhà, bây giờ trở về gia đình nhà chồng, nàng chưa biết, sau khi nhận được tin nàng tử trận, ông bà Dytteville liệu có còn giữ lại căn hộ của nàng không. Suốt thời gian nàng ở ngoài mặt trận, bà Francoise Dytteville không hề viết thư cho con dâu, vì Amélie đã nói với bà rằng Stephanie không muốn nhận thư ai, ngoài thư của chị. Và mẹ chồng nàng đã tôn trọng ý muốn ấy của Stephenie. Nhưng rất có thể Amélie đã báo tin của nàng cho hai ông bà Dytteville. Vậy thì nàng phải gặp Amélie đã. Nhưng liền sau đó Stephanie lại chợt nghĩ "Bố mẹ chồng ta không thể không nhận ta. Ta là mẹ của hai cháu nội họ: Armand và Charles. Và là con dâu, ta vẫn là một cổ đông của công ty". Cho dù bố mẹ chồng tiếp đón nàng ra sao, Stephanie quyết định không làm điều gì ảnh hưởng xấu đến hai con nàng. Stephanie kết luận, người duy nhất nàng có thể hoàn toàn tin cậy là Amélie. Chắc chắn khi nghe tin cuộc chiến tranh Crimée kết thúc, chị đã nóng lòng mong gặp mặt bạn. Vấn đề chỉ còn là Stephanie không đến một mình mà có thêm con chó Cesar. Thôi được, nàng sẽ đến gặp Amélie trước. 8 giờ sáng hôm sau, tay dắt con chó, Stephanie bước ra khỏi cổng trường quân chính, nàng rất khó chịu trong tám áo bó chặt trên ngực, dưới lại xòe rộng với khung lồng bên trong vướng víu. Thêm nữa, đôi giày chật, bó đã lâu nàng không dùng, bây giờ khiến nàng bước đi rất khó khăn. Stephanie quen ở mặt trận, mặc áo quần rộng rãi, thoải mái, đi giày quân nhân mềm mại. Dọc đường nàng đi ngang qua một cửa hàng đồ chơi thấy có dòng chữ rất to làm nàng ngạc nhiên vô cùng "Cuộc phong tỏa Sebastopol - Trò chơi lý thú cho mọi lứa tuổi, giá thấp nhất: 6 franc!" Thì ra cuộc chiến tranh đẫm máu đã được dân chúng Paris khai thác thành trò chơi. Stephanie nhìn vào tủ kính thấy bày đầy các kiểu hộp carton to nhỏ màu sắc sặc sỡ với các hình thành lũy, pháo đài, quân Đồng minh đang tấn công, cũng như quân đội Nga đang tự vệ... Stephanie muốn văng ra một câu chửi tục tĩu của binh lính Bắc Phi, nhất là của bác Tubosiquoi. Nhưng nhàng cố gắng ghìm lại, cay đắng và nhẫn nhục đi tiếp về phía biệt thự của gia đình Resmont. Một gia nhân nàng không biết tên ra mở cổng. - Bác vào báo Phu nhân Resmont tôi là phu nhân Dytteville đến thăm. - Bà chủ tôi sáng nay không tiếp khách. - Chính vì vậy mà tôi đến gặp phu nhân. - Nhưng hôm nay không phải là ngày tiếp khách của bà chủ tôi. - Tôi cũng hy vọng như thế. - Tôi không biết bà chủ tôi có... -... có tiếp tôi không chứ gì? Bác cứ nói tên tôi với bà chủ bác sẽ thấy. Tôi là phu nhân Dytteville. Con chó Cesar của Stephanie nhảy bổ đến bác gia nhân, nhưng bị sợi dây níu lại nên nó chỉ sủa vang giận dữ. Bác gia nhân tỏ vẻ khó chịu, đưa mắt lườm "mụ khách" và con chó hung dữ, rồi bực dọc khép cánh cổng, đi vào trong. Stephanie đứng đợi bên cạnh một cửa sổ. Nàng đang ngắm vườn hoa, sân trời, chuồng ngựa và cố không nghĩ đến điều gì làm nhụt ý chí. Tiếng một cánh cửa trên gác đóng lại, tiếng sột soạt váy áo trên cầu thang làm Stephanie quay đầu lại. - Stephanie! Stephanie! Ôi, mình mừng quá! Con chó Cesar gầm gừ. - Im, Cesar! Amélie lao đến ôm chầm lấy Stephanie, hôn vào má bạn. Con chó Cesar vẫn còn gầm gừ nhưng lúc này không còn nhe răng hung dữ nữa. Nó đã cảm nhận người lạ kia là bạn thân của chủ nó. - Vào đây, bạn thân mến! Vào đây! Amélie mừng rỡ đến mức Stephanie phải xúc động. Chị định kéo nàng vào phòng khách, nhưng Stephanie ngăn lại, trỏ con chó: - Tôi còn con chó này. - Ôi, chó của chị đấy à, Stephanie? Chị đem nó ở mặt trận về sao? Ôi, trông nó có vẻ quý chị lắm nhỉ? Thì có sao đâu, dắt cả nó vào! Đi! Amélie bao giờ cũng nói những câu đáng nói. Stephanie thấy nhẹ cả người. Bao nhiêu căng thẳng, bao nhiêu chua chát, bao nhiêu tự ái về cách người dân Paris coi thường những anh hùng từ chiến trận trở về đột nhiên tan biến hết. Đối với Amélie mọi thứ trở nên đơn giản lạ thường. Chị tiếp bạn mới như hôm qua hai người vẫn còn gặp nhau. Con chó Cesar đã thôi không gầm gừ nữa. Nó như lắng nghe người phụ nữ lạ kia cầm tay trò chuyện huyên thuyên với chủ nó. Dường như nó đã thấu hiểu tính tình hiền hậu và tốt bụng của bà ta còn hơn cả Stephanie. Amélie đã tước đi mọi thứ vũ khí phòng ngự nàng chuẩn bị sẵn để đối phó. Amélie không đòi hỏi gì ở nàng. Chị kể mới tối hôm qua hai vợ chồng chị còn nhắc đến Stephanie. Achille đã hoàn toàn bình phục những vết thương ngoài chiến trường. Đứa con trai của chị là niềm vui khôn tả của hai vợ chồng chị.   Amélie kể hai con Stephanie là Armand và Charles đều khỏe mạnh, ngoan ngoãn và bà Dytteville, mẹ chồng nàng, thường xuyên đưa hai cháu nội đến đây. Chị cho biết hai ông bà Dytteville hiện ở lâu đài tại nông thôn, nơi có các khu rừng vẫn đẹp tuyệt vời và chắc chắn mọi người đều rất mong Stephanie về. - Nhưng chị phải ở lại đây với hai vợ chồng tôi vài ngày. Ôi, anh Achille và tôi mong chị vô cùng. Bao giờ chị thuê được đầy tớ, sắm được xe, tậu được ngựa, chị hãy về nhà. - Nhà tôi ấy à? Amélie? - Chứ còn gì nữa? Nhà chị vẫn y nguyên như cũ, chỉ có mấy bức rèm hơi bạc màu đôi chút. Chị thấy chưa nhỉ? Rèm ở nhà tôi, tôi đã phải thay rồi đấy. Stephanie lúc này mới kịp nhìn những tấm rèm cửa sổ của Amélie. - Đẹp quá! - Nàng khẽ nói. Trong những câu nói của Amélie, Stephanie không hề thấy một lời trách móc, một câu hỏi nào, chứng tỏ chị biết rõ tất cả mọi chuyện liên quan đến nàng. Tất nhiên Amélie cũng muốn hỏi bạn thêm chi tiết, nhưng chị nghĩ hãy đợi đến lúc Stephanie ổn định cuộc sống mới, hòa nhập được vào xã hội Paris đã. Sau khi huyên thuyên cho bạn biết những chi tiết chủ yếu tại đây và thấy Stephanie đã trở lại thoải mái, Amélie mới khẽ rụt rè câu hỏi đầu tiên: - Ôi, nhưng bây giờ chị kể đi, Stephanie. Chị nói về chị đi, Stephanie thân yêu. - Tôi đã về. Chiến tranh đã kết thúc, có vậy thôi. - Tôi biết ngoài mặt trận chị được mọi người rất quý. Achille đã kể tôi nghe rồi. Chị biết tính Achille không bao giờ nói dối. Tuy nhiên tôi cảm thấy anh ấy chưa kể hết. Bây giờ gặp chị tôi muốn nghe chị kể về chiến trường, những gian nan, thiếu thốn mà tôi biết là rất ghê gớm. Chị là người chứng kiến và bản thân chịu đựng tất cả những thứ đó. Tôi muốn nghe chính miệng chị kể. - Ôi, tất cả những thứ đó đã lùi vào dĩ vãng rồi - Stephanie khẽ đáp, trìu mến đặt tay lên đầu con Cesar. - Tôi không muốn làm chị buồn, Stephanie thân mến. Tôi chỉ muốn để chị thấy là vẫn theo dõi chị, vẫn là bạn tận tuỵ và quý mến chị. Chị có thể thổ lộ nỗi lòng tất cả chuyện gì, bất cứ lúc nào. Tôi sẵn sàng nghe và chia sẻ với chị mọi kỷ niệm vui buồn. - Ôi, chị tốt quá, Amélie. Stephanie thở dài, cúi đầu thầm nghĩ "Vậy là Amélie mạnh hơn mình. Chị ấy đã chinh phục được mình". Amélie im lăng, tôn trọng dòng suy nghĩ thầm kín của bạn. Đột nhiên Stephanie ngẩng đầu, nói rành rọt: - Tôi muốn biết tại sao anh ấy cưới Agnès. - Nhiều nguyên nhân thúc đẩy lắm, Stephanie thân mến ạ - Amélie bình thản đáp, dường như chị đã đoán trước được Stephanie thế nào cũng sẽ hỏi câu đó - Lúc ở ngoài chiến trường trở về, René rất yếu. Vết thương ở chân mãi không lành. Chỗ xương gãy mãi vẫn chưa lành lại bình thường. Phải mổ đi mổ lại bao nhiêu lần. Thế là phu nhân Lomanais mời anh ấy về nhà họ để chăm sóc. Tôi đã viết trong thư kể chị biết rồi đấy. - Chị có viết à, Amélie? Tôi không nhận được lá thư đó. - Tôi biết. Thư bị trả lại cho người gửi với dòng chữ "Người nhận mất tích". Ít lâu sau tôi nhận được bản danh sách chính thức do René đưa xem. Chẳng là hôm ấy tôi đến biệt thư gia đình Lomanais thăm René và anh ấy thấy vẻ mặt tôi buồn bã đã đưa tôi xem. Anh ấy rất đau khổ vì cho rằng chị bị thiệt mạng là do lỗi của anh ấy. Achille và tôi đã tưởng René không sống nổi. Bệnh tình anh ấy kéo dài quá lâu và anh ấy dường như tuyệt vọng. Hôm đầu tiên anh ấy dậy được và tập đi, tiểu thư Agnès Lomanais đã dìu anh ấy và sau đó... - Tôi hiểu. Từ bước thứ nhất đến bước thứ hai! Chuyện ấy là tất nhiên rồi. Duy có điều anh ấy biết rằng tôi còn sống, sao anh ấy không... - Lúc ấy René đã đính hôn với Agnès rồi. Đính hôn chính thức! Lợi dụng lúc René đang yếu, đang cần chăm sóc, bà mẹ Agnès, phu nhân Lomanais đã...  - Ôi, bà ấy là người nào tôi biết rồi! - Trong khi đó phu nhân Guichamp khánh kiệt, bán đến cả chiếc trâm cuối cùng...  - Tôi biết đấy là kỷ vật duy nhất còn lại của bà Guinchamp. - Bà ta phải bán để sắm nhẫn cưới cho con dâu... một cái nhẫn rất đẹp, rất sang. - Xứng đáng với cô ta! - Stephanie chua chát nói. - René cảm động trước sự hy sinh của mẹ, không nỡ thoái hôn. Sau khi René và Agnès cưới nhau được vài tháng thì phu nhân Guinchamp qua đời. - Bà ấy đã hoàn thành sứ mạng. - Kìa, Stephanie! - Amélie kêu lên. - Bà ta, phu nhân Guinchamp, đã làm tròn công việc là gây đau khổ cho con trai và cho tôi, vậy mà chị muốn tôi đền ơn bà ta chăng? Chị còn muốn tôi cầu nguyện cho linh hồn bà ta được yên ổn dưới suối vàng hay sao? - René đã viết thư báo tin đó cho chị, Stephanie. Anh ấy có đưa tôi nhờ tôi gửi, bởi anh ấy chưa đi ra khỏi nhà được. Chính tôi đã gửi bưu điện lá thư đó cho chị. Nhưng chị không hề viết thư trả lời, cho tôi cũng như cho René. Stephanie nhắm nghiền mắt lại. Nàng dường như còn nghe rõ tiếng giấy bị nàng xé hôm đó và nàng còn nhìn thấy tất cả những mảnh giấy bay lả tả theo chiều gió. Hôm đó nàng đã xé cùng với lá thư, cả số phận cuộc đời nàng. Lúc đó Stephanie bị ma quỷ nào xui khiến, nàng đã đập một đòn tan tành mọi thứ. Nàng thầm nghĩ "Làm sao chàng thay đổi được? Cũng như mình, làm sao mình thay đổi tính nết được? Tính tình bao giờ cũng vẫn thế: sôi nổi, mãnh liệt, trong khi René bao giờ cũng vậy: hời hợt, nông cạn và nhu nhược. Trong khi mình vẫn say mê chàng thì chàng lại tin là mình đã chết, dựa ngay vào hai mẹ con Agnès. Có gì lạ đâu? Cả ta lẫn chàng đều 'trung thành' với bản chất của mình". Đột nhiên Stephanie thấy mệt mỏi vô cùng. Toàn thân nàng rã rời, nàng chán chường đến mức không còn muốn cưỡng lại gì nữa. Lúc này nàng chỉ ao ước một điều là trốn biệt đi đâu đó, lánh xa tất cả mọi người ở đây, chui vào một xó xỉnh nào để được một mình. Hoặc là quay về nhà bếp của trường quân chính, đấy mới thực sự là "nhà" của nàng, là "gia đình" của nàng. Stephanie lẩm bẩm một lời cáo lỗi rất khẽ: - Amélie, tôi phải về thôi. Mai tôi lại đến thăm chị, có lẽ thế. - Tôi hiểu, Stephanie. Nhưng... Achille sẽ buồn lắm đấy. Anh ấy rất mong gặp chị. Tôi đã tưởng có thể giữ chị lại ăn bữa trưa với vợ chồng tôi. - Tôi ở lại thế nào được, tôi phải về nấu ăn cho mọi người. Amélie không nằn nì. Chị chỉ thở dài thông cảm: - Achille sẽ trách tôi ghê gớm là không giữ chị ở lại. Nhưng chị nói đúng, bao nhiêu người ở đó đang chờ chị. Không có ai ở đó có thể thay chị được. - Chúng tôi có hai người, Amélie. Ngoài tôi còn có cô Marinet. Nếu tôi không về, cô ấy sẽ "quán xuyến" mọi công việc. Lúc đi tôi có dặn cô ấy là có thể tôi đi xa và không về kịp. - Tuỳ chị, Stephanie. Chị ở lại với chúng tôi thì Achille và tôi sẽ rất mừng. Khoảng một tiếng đồng hồ sau, Achille bước vào phòng khách. Anh sững người lại khi nhìn thấy Stephanie. Sau đó anh reo lên và chạy đến bên nàng:   - Stephanie! Sao mà tuyệt vời thế này! Từ hôm được tin cô bình yên, ngày nào vợ chồng tôi cũng nhắc đến cô và mong gặp cô. Đúng thế không em, Amélie?  Amélie gật đầu, mỉm cười nhìn chồng và bạn bắt tay nhau mạnh mẽ như hai quân nhân bắt tay nhau ngoài chiến trường. - Ôi, tôi sung sướng vô cùng được gặp lại cô, Stephanie! Hay quá, vậy là cô đã trở về!  - Và chúng ta phải giữ chị ấy ở lại đây. Đúng không anh? Stephanie sẽ ở lại nhà mình. - Đúng quá đi rồi. Bé Quille đâu? - Achille quay sang hỏi vợ.  - Sao lúc nào anh cũng hoảng hốt như vậy? Anh yên tâm, nó hoàn toàn khỏe mạnh - Amélie âu yếm đáp.  - Quille là con trai chúng tôi - Achille nói rồi nhìn con chó - Còn bạn này tên là gì?  - Cesar - Stephanie đáp.  Nghe đến tên mình, con chó sủa lên vài tiếng.  - Im nào, Cesar.  - Vậy là một tù binh chó được cô đem vềParis? - Achille vui vẻ nói.  - Nó đã cứu sống tôi đấy, Achille!  - Ôi, nếu vậy thì nó đáng được tất cả chúng ta trân trọng.  Stephanie bật cười. Câu của Achille hàm ý "Nhờ nó mà chúng tôi được hưởng niềm hạnh phúc gặp cô hôm nay".  - À, nhưng cô thấy bé Quille của chúng tôi chưa?  Amélie vội đáp thay bạn:  - Ôi, em mừng quá đâm quên béng đi mất, chưa đem con ra cho Stephanie xem mặt.  Nói xong, Amélie chạy ra ngoài và quay vào liền, bế trên tay một đứa bé xinh xắn, đang nép đầu vào cổ mẹ nó.  Stephanie bỗng nhói đau trong lồng ngực. Nàng chợt nhớ đến hai con và muốn bay đến đó gặp chúng ngay. Nhưng không được. Đành phải chờ. Phải để Amélie tiến hành các bước đi cần thiết. Achille xuất hiện làm đảo lộn mọi ý nghĩ của Stephanie. Nàng nhớ đến vết thương của anh nhưng không dám hỏi thăm, không biết vết thương đó có làm cho Achille đau đớn không? Mọi chuyện đều phải gác lại đã. Nàng nhớ lần cuối cùng nàng gặp Achille. Hôm đó anh bị nhát kiếm chém suốt từ bả vai đến háng, người đầy máu, nằm giữa những xác chết, những thương binh rên rỉ. Rồi nàng nhớ lại Achille trong bộ quân phục sĩ quan hồi chưa xảy ra chiến tranh và bỗng thấy bãi chiến trường Crimée xa vời vợi. Bây giờ Achille đã trở lại hình dạng của anh xưa kia, điều đó gợi lên trong lòng Stephanie bao ý nghĩ quay cuồng.  Sự xuất hiện của Achille gợi lên trong lòng Stephanie cảm giác nàng sắp phải trở lại cuộc sống ngày xưa. Nàng cảm thấy mình như con cá đang chui vào rọ và sẽ không bao giờ thoát ra được nữa. Mọi người xung quanh đã chuẩn bị để đưa nàng vào tròng. Cả Achille và Amélie cũng đang đan những mắc rọ để nhốt nàng vào trong. Họ đan một cách lặng lẽ, không phải chỉ vì tình bạn mà phải nhận đó là tình yêu, lòng quý mến tận tình. Stephanie vừa hỏng sợ, vừa xúc động.  Nàng thầm nghĩ "Họ đang trói buộc ta chính vì họ yêu ta. Ta chẳng nên làm họ thất vọng. Ta là ai? Chỉ là một kẻ bị ruồng bỏ, một nữ cấp dưỡng. Họ băn khoăn cho ta trong khi ta chẳng hề băn khoăn chút nào! Sẽ không bao giờ ta từ bỏ cô cấp dưỡng Phanie, Phanie Mourlon, từ bỏ Pompet, Tuboisquoi cũng như các đồng đội Bắc Phi. Nhưng ta lại là phu nhân Dytteville. Bao nhiêu người mong đợi ta. Rồi hai đứa con yêu quý của ta, chúng cũng mong mẹ chúng trở về. Vì các con, vì gia đình, ta đành phải chui vào cái rọ ấy. Không còn cách nào khác".  Stephanie quay nhìn Achille và đứa con trai xinh xắn đang đứng nhìn nàng như chờ đợi điều gì đó.  - Cô cầm lấy quả bóng đánh ki này, Stephanie. Rồi lăn bóng đến cho cháu.  Stephanie đỡ quả bóng nhỏ trong tay Achille, liệng nhẹ trên sân nhà về phía đứa trẻ. Khi quả bóng lăn đến gần chân nó, thằng bé reo lên mừng rỡ.  - Đánh ki! Đánh ki! - Vừa hét nó vừa vỗ tay đôm đốp.  Bây giờ Stephanie mới hiểu tại sao hai vợ chồng Achille và Amélie gọi con trai họ là Quille: Môn đánh ki!  - Cô thấy chưa, Stephanie? Từ hôm đi chơi trên đại lộ Champs Elysees thấy người ta đánh ki, thằng bé không thích chơi gì khác ngoài môn này. Cô liệng tiếp quả bóng cho nó và nó yêu cô ngay đấy. Bây giờ mọi người đều quen gọi nó là thằng Quille.  - Cesar! - Stephanie sai con chó - Ra cầm bóng về đây. Nhẹ nhàng thôi... Nhẹ nhàng thôi.  Cesar quay đầu nhìn quả bóng, rồi như thể do dự, bước tới cầm quả bóng về đặt dưới chân cô chủ, rồi ngẩng đầu nhìn nàng vẻ chờ đợi.  - Con chó của cô khôn quá - Achille lẩm bẩm nói.  - Đúng thế. Vài hôm nữa, khi nó đã quen với bé Quille, tôi sẽ bảo nó trông nom bé và không ai trêu chọc gì được bé nữa đâu. Hồi ở chiến trường, nó canh cổ xe cấp dưỡng cho tôi rất chu đáo. Nó chỉ có một khuyết tật là rất ghét ngựa. Cứ chơi kiểu này thì chẳng mấy chốc con Cesar sẽ quen với bé Quille và bé cũng sẽ quen với con chó.  - Có nghĩa, cô đến đây bao giờ cũng phải dắt theo con Cesar?  - Đúng thế.  - Tốt thôi, nhưng lúc nào cũng phải buộc dây cẩn thận đấy.  Stephanie bật cười, tiếp tục chơi bóng với đứa bé. Con Cesar chừng như hiểu biết, mỗi lần đến gần đứa bé nó đều tỏ vẻ hết sức hiền lành để khỏi làm đứa bé sợ. Thấy vậy, Achille dần dần cũng mến con chó và thấy nó không xấu xí như lúc đầu anh nhìn thấy nữa.  Stephanie thấy rõ Achille muốn chìu chuộng nàng. Suốt bữa ăn, anh ta luôn miệng kể đủ thứ chuyện về thành phố Paris, coi như nàng chưa hề rời khỏi đây một ngày nào. Khi nói đến những bạn bè của nàng, Achille nói như kiểu nàng vẫn thường gặp họ trong những ngày qua.  Lúc ngồi ăn tráng miệng và uống cafe sau bữa ăn, Stephanie nói:  - Sau đây tôi phải về trường quân chính. Bởi tôi đã xuất ngũ đâu? Tôi vẫn còn ở trong quân đội kia mà.  - Ôi, chuyện ấy chẳng khó khăn gì hết. Chị cứ yên tâm, Stephanie - Achille nói - Tôi sẽ đến đó và nếu cần, cha tôi can thiệp thêm nữa.  - Tôi sẽ trao cho anh giấy tờ nhập ngũ của tôi - Stephanie nói, tay nhấc chiếc xắc - Nếu cần tôi phải làm chứng trong nửa tháng, một tháng, tôi xin sẵn sàng. Tôi cần có giấy tờ hợp pháp, đầy đủ mọi văn bản chứng nhận, nhưng anh đừng quên, tên tôi ở quân đội là Stephanie Mourlon đấy nhé.  Amélie hiểu rằng việc chị và Achille bảo trợ cho Stephanie cần được sự đồng ý của gia đình nhà chồng nàng. Chị bèn thảo một bức thư gửi Dytteville, mẹ chồng Stephanie, báo tin con dâu bà đã trở về, khỏe mạnh và hai vợ chồng xin phép bà đề Stephanie sống tạm với họ, trong khi chờ đợi sửa sang ngôi nhà của nàng.  Ngay sau đấy Amélie cho người đem thư đến bà Dytteville và mời bà ngày mai đến gặp hai vợ chồng chị. Mời các bạn đón đọc a của tác giả Marcel Gobineau.