Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Cát Cháy

"Cát cháy" viết trực diện về chiến tranh, về cuộc chiến đấu của quân ta với quân địch, mà quân ta ở đây là những đứa trẻ của đội du kích thiếu niên ở Cô Sơn. Từ đây, tác giả đã viết nên một câu chuyện cảm động về sự can đảm, lòng quyết tâm, về tình bạn, tình đồng đội, tình thân vô cùng chân thực, dung dị. Chiến tranh còn nóng hổi mùi bom đạn, với những cuộc càn quét, dồn dân ráo riết của quân địch, nhưng ở đó có những đứa trẻ không sợ đánh giặc. Từ nhỏ đã ý thức được cần phải tham gia vào chiến tranh, phải bền gan bền chí chiến đấu với kẻ thù, để không bị bạn bè chê cười, và để cùng giúp sức với các chú bộ đội lớn hơn. Tuổi nhỏ mà kiên gan, như Ba, như bé Một, như Thấn... và rất nhiều những đứa trẻ khác nữa. Theo dõi hành trình hàng ngày giữa bom đạn ác liệt của những đứa trẻ này, người đọc vừa cảm phục vì sự thông minh, dũng cảm của chúng, lại vừa thót tim, lo lắng mỗi khi thấy chúng đối diện với hiểm nguy. Sự hy sinh của bé Một, cô bé giao liên tháo vát, nhanh nhạy và can đảm đã khiến cho mỗi đứa trẻ sững sờ. Chứng kiến cái chết của cô bạn nhỏ thân thiết, cô đồng chí anh hùng, mỗi đứa trẻ đều như lớn lên, trong đó người chịu tác động nhiều nhất là cậu bé Ba. Ba và Một đã cùng lớn lên và có những kỷ niệm thân thiết với nhau. Tác giả đã dành cho Ba và Một những trang văn vô cùng thơ mộng giữa bom đạn, để dệt nên những khoảnh khắc kỷ niệm đẹp đẽ của hai người bạn, hai người anh em, và đâu đó, tưởng như đã nhen nhóm những rung cảm sâu kín lạ lùng. “Từ phía bờ sông, có một mùi hương như mùi hương hoa dủ dẻ phảng phất theo làn gió bay vào. Mùi hương như tâm hồn con người, qua chiến tranh còn bền vững hơn chính bản thân sự sống của mỗi con người”. Mùi hương ấy, có lẽ Ba sẽ còn giữ mãi, để nhớ về Một. Và sự ra đi của Một khiến Ba trưởng thành hơn, và càng vững tin hơn nữa vào lý tưởng mà mình đang đi. Trong buổi lễ kết nạp thành viên mới của đội du kích thiếu niên, những đứa trẻ để tưởng nhớ về người đồng chí nhỏ nhắn Huỳnh Thị Một đã quyết định lấy tên cô bé đặt cho Đội. Câu chuyện ấy buồn bã nhưng cảm động đến chừng nào. Những đứa trẻ chiến đấu trong Cát cháy của nhà văn Thanh Quế, gợi nên biết bao nhiêu hình ảnh trẻ thơ đẹp đẽ kiên ngang trong chiến trường, như Lượm, Mừng, Quỳnh sơn ca trong Tuổi thơ dữ dội của Phùng Quán, hay cậu bé Gavroche trong Những người khốn khổ của văn hào Victor Hugo, hay cậu bé Ivan trong bộ phim Ivan's Childhood của đạo diễn nổi tiếng người Nga Andrei Tarkovsky... Chiến tranh và trẻ thơ vốn dĩ là hai phạm trù hoàn toàn trái ngược nhau. Trẻ thơ, với sự hồn nhiên, thơ ngây đáng lẽ nên được hưởng một đời sống yên bình, hạnh phúc, nhưng chiến tranh vẫn cứ xảy ra, và mỗi đứa trẻ, vẫn có thể trở thành những người anh hùng. Như những chú lính chì dũng cảm, chúng vượt qua sợ hãi, vượt qua mất mát, để sống cuộc đời phải sống. Mỗi nhà văn khi viết về trẻ con trong chiến tranh, đặc biệt khi chứng kiến khoảnh khắc ngã xuống của chúng, đều như trầm lại, ngậm ngùi, và đầy đau thương. Tác giả Thanh Quế đã có được những trang văn vô cùng cảm động, chân thành và dung dị về những đứa trẻ sống trong thời đại khói lửa buồn thảm ấy. Dù viết về một cuộc chiến trực diện, nhưng văn của Thanh Quế, vốn cũng là một nhà thơ, lại vô cùng mềm mại, uyển chuyển, và đầy những tâm tư. Ông đi sâu vào suy nghĩ trăn trở của mỗi đứa trẻ, như Ba, dù rất dũng cảm, luôn quyết tâm hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ, nhưng trong lòng luôn đau đáu một nỗi buồn về người mẹ của mình. Như Thấn, vô cùng thông minh, nhưng lại luôn lo lắng sẽ thua kém bạn bè, bị bạn bè coi thường.... Và hơn hết, tác giả đã viết nên một khúc ca đẹp về tình bạn, tình đồng chí, tình thương mến giữa những đứa trẻ với nhau. Chúng tự đến bên cạnh nhau, an ủi, khích lệ, vun đắp và giúp nhau trưởng thành. Tác phẩm của Thanh Quế hôm nay đọc lại còn thấy vẫn nguyên cảm giác rùng mình vì sự phá hủy của chiến tranh, và vẫn thấy rưng rưng lòng bởi những mất mát, những khổ cực và chân tình mà những đứa trẻ dành cho nhau. Chuyện chiến tranh khép lại được chưa? Có lẽ, ở xứ sở đã chìm trong chiến tranh lâu đến thế, mất mát nhiều đến thế, chuyện chiến tranh vẫn chưa thể khép lại. Tiểu thuyết Cát cháy của Thanh Quế  được lấy chất liệu từ những hoạt động chân thật của Đội du kích thiếu niên Hòa Hải, vùng chân núi Ngũ Hành Sơn, giàu truyền thống cách mạng và văn hóa, vào những năm kháng chiến chống Mĩ ác liệt. Tập sách đã được giải nhì (không có giải nhất) của Hội Nhà văn Việt Nam và Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh năm 1981 và là một trong hai tác phẩm đoạt giải thưởng Nhà nước năm 2012 của nhà văn Thanh Quế… Nhà văn Thanh Quê vốn quê gốc ở Phú Yên. Tại đây ông còn mẹ già và các em gái. Nhưng ngay sau chiến tranh ông sống ở thành phố Đã Nẵng, nơi ông đã gắn bó và cầm bút gần nửa thế kỉ qua. Đà Nẵng chính là quê hương thứ hai nơi lưu giữ những hồi ức sống động bi thương và đẹp đẽ nhất của cuộc đời nhà văn. Ông từng là học sinh miền Nam ra Bắc học ở trường học sinh miền Nam số 24 Hà Đông, rồi vào học khoa sử Đại học Tổng hợp Hà Nội. Năm 1969 ông vào công tác ở chiến trường khu V. Hiện nay ông là Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam, Tổng thư ký Hội Nhà văn Đà Nẵng. *** Thân tặng đội thiếu niên du kích Hòa Hải NHÀ THƠ THANH QUẾ Tên thật: Phan Thanh Quế. Sinh ngày 26/2/1945, tại xã An Chấn, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên, trong một gia đình trí thức yêu nước. Cha là bác sĩ, lão thành cách mạng. Mẹ và các em đều tham gia cách mạng, có người là liệt sĩ, có người là thương binh nặng. Hồi nhỏ học ở trường làng. Từ năm 1955 đến năm 1963  tập kết ra Bắc, học tại các trường học sinh miền Nam trên đất Bắc. Từ 1963 đến 1967, học khoa sử, trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Từ năm 1967 đến năm 1969 là cán bộ Nghiên cứu, Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương. Từ 1969 đến 1975 là phóng viên chiến trường, tạp chí Văn nghệ giải phóng Trung trung bộ. Từ năm 1975 đến năm 1980 là cán bộ sáng tác, Trại sáng tác văn học Quân khu V. Từ năm 1980 đến năm 1983 là biên tập viên Tạp chí Văn nghệ quân đội (Tổng cục chính trị, Bộ Quốc phòng). Từ năm 1983 đến năm 2009 là phó chủ tịch Hội văn nghệ Quảng Nam-Đà Nẵng và Hội văn nghệ Đà Nẵng, Tổng biên tập tạp chí Đất Quảng và Non Nước, Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam (nhiệm kỳ 2000-2005). Từ năm 2009, nghỉ hưu và sáng tác tại Đà Nẵng. Là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 1977 và hội viên Hội Nhà báo Việt Nam từ 1980.   TÁC PHẨM CHÍNH   Về thơ Tên em khuôn mặt em (2 tác giả), NXB Giải phóng-1975; Tình yêu nhận từ đất (3 tác giả) NXB Tác phẩm mới-1977; Trong mỗi ngày đời tôi, NXB Đà Nẵng-1986; Giãi bày, Hội Văn nghệ Quảng Nam-Đà Nẵng-1988; Khi ta giở sách ra (thơ thiếu nhi), Sở Văn hóa Thông tin Bình Trị Thiên-1988; Hái tiếng chim (thơ thiếu nhi), NXB Đà Nẵng-1991; Những tháng năm vay mượn, NXB Đà Nẵng-1993; Mé biển đời tôi, NXB Hội nhà văn-2000; Người lính đi đầu (trường ca), NXB Quân đội Nhân dân-2003; Thơ Thanh Quế với tuổi thơ, NXB Kim Đồng-2004; Những tháng năm, NXB Quân đội nhân dân-2006; Một gạch và chuyển động, NXB Hội nhà văn-2006; Thơ Thanh Quế, NXB Hội nhà văn-2008; 72 bài thơ chọn, NXB Hội nhà văn-2012; Nơi phòng đợi, NXB Quân đội nhân dân-2006; Tuyển thơ; NXB Văn học-2016. Về văn xuôi Chuyện từ một truyền thuyết (truyện ngắn), NXB Kim Đồng-1978; Thung lũng Đắc Hoa (truyện ngắn 2 tác giả),NXB Phụ nữ-1980; Cát cháy (tiểu thuyết) NXB Kim Đồng -1983; Mai (truyện ngắn ), NXB Phụ nữ-1988; Người khách lạ (truyện ngắn), NXB Đà Nẵng-1990; 11 truyện ngắn, NXB Đà Nẵng-1994; Về Nam (hồi ký, chân dung văn nghệ), NXB Đà Nẵng-1996; Những gương mặt thân yêu (chân dung văn học), NXB Kim Đồng-1996; Bếp lửa làng Tà Băng (truyện ngắn), NXB Quân đội nhân dân-1998; Hai người bạn (truyện ngắn), NXB Kim Đồng-1998; Những kỷ niệm, những gương mặt (hồi ký, chân dung), NXB Đà Nẵng-2001; Từ những trang đời (hồi ký, chân dung văn nghệ), NXB Hội nhà văn-2001; Bà mẹ vui tính (truyện ngắn), NXB Kim Đồng-2002; Sao anh lại cảm ơn tôi (truyện ngắn), NXB Quân đội nhân dân-2002; Truyện và ký chọn lọc, NXB Hội nhà văn -2003; Dì Út (truyện ngắn), NXB Kim Đồng-2003, Thj trấn em kết nghĩa (truyện và ký), NXB Kim Đồng-2005; Ở giữa thời gian (truyện và ký), NXB Đà Nẵng-2007; Tuyển truyện Thanh Quế-chuyện ở miền Cát cháy, NXB Đà Nẵng-2009; Kẻ đào ngũ (tập truyện), NXB Quân đội nhân dân-2013; Tuyển truyện ngắn Thanh Quế, NXB Hội nhà văn -2011; Gương mặt và cảm nhận (chân dung văn học), NXB Đà Nẵng-2013; Ký và chân dung chọn, NXB văn học-2015; Hai người đàn ông và một người đàn bà (truyện), NXB Quân đội nhân dân-2016. Giải thưởng chính  Cát cháy (tiểu thuyết), giải nhì (không có giải nhất) của Hội nhà văn Việt Nam và Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh năm 1981; Những tháng năm vay mượn (tập thơ), giải B của Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam năm 1994; Giải thưởng loại A hai lần (1975-1985) và (1985-1995) của UBND Quảng Nam-Đà Nẵng cho các tác phẩm trong giai đoạn. Bếp lửa làng Tà Băng (tập truyên), tặng thưởng của Bộ Quốc phòng năm 2000; Người lính đi đầu (trường ca), giải nhì (không có giải nhất) giải thưởng văn học (1997-2005) của UBND thành phố Đà Nẵng; Một gạch và chuyển động (tập thơ), giải nhì (không có giải nhất) giải thưởng văn học (2005-2010) của UBND thành phố Đà Nẵng; Tiểu thuyết Cát cháy và tập thơ Một gạch và chuyển động, giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2012. *** B a đứng sững trước sân, ngó trân trân vào ngôi nhà tranh thủng dột quen thuộc của mình. Nhà vắng tanh, cửa khép hờ, bên ngoài dựng một chiếc nia cũ. Chắc ông nội và mẹ vừa đi đâu đó.Trong một phút, những tình cảm trái ngược bỗng ùa đến: Ba vừa muốn gặp ông, gặp mẹ ngay cho đỡ nhớ, vừa muốn hai người về chậm lại để mình có thời gian sắp xếp mọi ý nghĩ đang bề bộn trong đầu. Ba cảm thấy vừa vui vừa lo. Ba đứng thẫn thờ một chút, sau đó, run run mở cửa bước vào nhà, hồi hộp nhìn khắp lượt những đồ vật như bao người đi xa về. Mọi thứ trong nhà: từ chiếc ảnh cha ố vàng trên bàn thờ, đến cái ghế, cái bàn, chiếc giường ọp ẹp, cả cánh cửa mở thông vào buồng trong không đóng lại bao giờ, vốn có ở những nhà nghèo, vẫn như cũ, mà lại không phải như cũ. Một mùi mốc thường có ở những ngôi nhà vắng chủ lan ra phả vào mũi Ba. Ba đứng lặng một chốc, cố nhớ lại một điều gì đó đã quên bẵng đi từ lâu. Nhưng mọi ý nghĩ cứ bay tuột khỏi đầu Ba. Hai ngày đêm đi đường, ngủ bờ ngủ bụi làm cho Ba mệt đừ, người bã ra, không còn cảm giác chính xác nữa. Ba lần đến chiếc chõng tre ông vẫn nằm, đặt mình lên chiếc chiếu rách đầy cát. Một cái gì đó không rõ tên cứ chạy rần rần từ đầu ngón chân lên mí mắt. Ba nhắm mắt lại. Lập tức những âm thanh mơ hồ quen thuộc bỗng rì rào xung quanh. Có thể đó là tiếng rắc rắc của mối mọt đang ăn cột kèo trong bóng tối trên đầu mình; có thể là tiếng gió nhẹ nhàng thổi cát trên cồn Quy sau nhà, bước chân mẹ đi lại sắp đặt đồ đạc gì đó trong đêm, ông khục khặc ho, những tiếng mơ hồ lan lan trong giấc ngủ không ai cắt nghĩa nổi, chỉ có ở những miền quê yêu dấu.  Một tiếng động ở đầu hè làm Ba bừng tỉnh. Không kịp nghĩ, Ba bò ngay xuống gậm giường, nằm im. Chốc nữa, ông hay mẹ bước vào, Ba sẽ chồm ra hù lên một tiếng. Ông thế nào cũng cười khà khà, nói: “Tổ cha mày, tao già nhưng thần kinh tao vẫn còn vững lắm”. Còn mẹ đứng sững lại, tay sờ nơi tim như xưa nay mẹ vẫn vậy khi sợ hãi điều gì. Nhưng một lúc lâu, Ba chẳng thấy mẹ hay ông bước vào nhà. Có lẽ, phải tối mịt hai người mới về. Ba lại leo lên giường, nằm mường tượng ra lúc gặp gỡ. Hẳn lúc đó, ông hỏi: “Tại sao cháu về ?”. Ba nói: “Cháu thích đánh Mỹ”. Ông nói “được” rồi ngồi im như tảng đá. Mẹ chắc càu nhàu. Nhưng mẹ sẽ cho Ba ăn một bữa bánh tráng cá ngừ thật ngon. Mẹ vừa ngồi cuốn bánh đưa tới tấp cho Ba, vừa âu yếm nhìn đứa con trai có khuôn mặt bầu bầu da sạm đen, mắt sáng, người chắc nịch như cha nó mà thầm lo nay mai nó sẽ ra sao. Ba ngồi với ông và mẹ một chút rồi chạy đi tìm bọn thằng Thấn, con Một.Tụi nhỏ thế nào cũng xúm xít lại bắt Ba kể chuyện chiến khu cho chúng nghe. Tất nhiên, Ba sẽ thuật lại mọi chuyện mà chị Bốn cấp dưỡng đã kể cho Ba nghe. Đó là chuyện anh Năm Cần ở văn phòng huyện ủy. Năm 67, bọn Mỹ càn căn cứ. Bắn hết đạn, các anh các chị rút sâu vào hang đá. Chúng truy kích theo. Anh đã đứng nấp ở cửa hang. Cứ mỗi tên mò vào, anh lại dùng báng súng gõ một cái cốc vào đầu nó rồi hất xác ra. Đó là chuyện chị Sáu Úc làm quản lý ở hội phụ nữ. Một hôm, đi cõng gạo về, nước sông Trà Ly lớn quá, cuốn băng chị cùng gùi gạo. Chị em tìm suốt hai ngày không thấy, đã làm lễ truy điệu chị. Giữa chừng, chị trở về, người ướt át, đứng ở đầu hè ngó vào nhà, tưởng ai đó vừa mất, khóc òa. Chị em quay lại, “ồ” lên, rồi đang khóc, họ xông đến đấm vào lưng chị bình bịch, cười khúc khích. Đó là anh Tám Nghề ở cơ quan binh vận. Một lần, địch vây cơ quan, mọi người trốn vào rừng sâu, đói vàng mắt. Đêm đến, anh bò qua đầu giặc đi nhổ sắn. Khi mang gùi sắn nặng trở lại bìa rừng, anh bị vấp đá, gây ra tiếng động. Một thằng ngụy ngồi phục, hẳn đang ngủ gật, giật mình hỏi: “Ai đó”. Anh nói: “Ông tổ nội mày đây” rồi cười hê hê phóng nhanh vào rừng, mặc cho chúng nổ súng theo. Sau đó, Ba sẽ thêm vào: trên đó có nhiều cọp lắm, mặc dù Ba chưa từng thấy. Đêm đêm, nó gầm lên, núi đá chao qua chao lại như bị bom B.52. Một lần, bước ra cửa hang, gặp con cọp to bằng con bò ụ, Ba nổ một phát súng, nó gãy một chân, bỏ chạy, xô đổ tảng đá bằng cái nhà. Một con trăn to vung mình làm cho nước sông Trà Ly trước cơ quan Ba sủi ục ục. Nhưng Ba cùng chị Bốn dùng một sợi sắn dây, cột nó, kéo về nấu cháo bồi dưỡng cho cả cơ quan mấy ngày liền. Bạn bè nghe chuyện sẽ phục Ba lắm. Thằng Thấn hẳn xuýt xoa, chặc lưỡi, vỗ đôm đốp vào đầu vì nó không được biết những chuyện như Ba. Còn con Một thì khỏi phải nói. Ba kể tới đâu, nó sẽ “a” lên tới đấy, mắt trợn ngược. Ba bỗng thấy buồn cười trước những khuôn mặt ngơ ngác của bạn bè mà Ba đã tưởng tượng ra. Rồi Ba cười thật. Ba bụm miệng cười hặc hặc một mình .   Một lúc sau, Ba lại thiếp ngủ…Nước sông Trà Ly bỗng sôi lên, đổ ầm ào qua con thác kề bếp ăn của cơ quan. Ba thấy mình ngụp lặn trong dòng nước mát, vẫy tắm thỏa thích sau hai ngày đi đường trở về nhà. Chị Bốn cấp dưỡng bảo Ba tắm mau lên để đem cơm cho chú Chín. Bưng cơm, Ba vấp phải hòn đá, mâm cơm đổ nhào xuống đất, ông nội hiện ra bảo: “Người nào quẹo quẳng, họ chẳng ưa đâu”. Chính lúc đó, mẹ “á” lên vì một phát rốc két của thằng máy bay OVI0 bắn xuống bên kia bờ Trà Ly, khi thấy chị Bốn cầm một mụn măng. Máu loang đỏ… Khi Ba tỉnh dậy thì mặt trời đã lặn, chỉ để lại trên dãy núi phía căn cứ một vầng ráng đỏ. Ba nhảy ra sân, vươn vai mấy cái rồi như ngày nào, Ba vòng phía sau nhà, phóng lên cồn Quy. Đứng ở đây, Ba có thể nhìn khắp một vùng rộng lớn trong xã. Cồn cát giống chiếc mai rùa, rộng chừng nửa cây số vuông này ngăn xã ra làm đôi. Nửa phía nam là cánh đồng đất cát pha chạy từ mí đường tỉnh lộ (đường này làm ranh giới phía tây của xã với các xã bạn) xuống phía đông, giáp với một cái làng hoang người ta gọi là Cô Sơn. Bên kia cánh đồng là con sông Bãi Dài, làm ranh giới phía nam của xã với các xã bạn, chằng chịt những lạch nhỏ, sáng lấp lánh đang đổ về phía biển. Ở nửa xã phía bắc, xen giữa những xóm làng xanh biếc bóng dừa bóng dương là những cồn cát to nhỏ. Chẳng biết từ lúc nào, hẳn người ta đặt tên theo hình dáng hay những nhà ở gần chúng, mà chúng có tên: cồn Kinh, cồn Nhà Lập, cồn Thằn Lằn, cồn Du. Trên một số cồn cát ấy, bọn Mỹ đã dựng lên những ngôi nhà tôn, những trạm gác. Cứ chiều đến chúng bắn những phát pháo sáng nghe “phụp phụp” và tiếp liền sau đó là những quả cối nổ oạch oành. Tít xa kia, sau những làng xóm, năm ngọn núi của cụm Ngũ Hành Sơn nhô lên như năm mái nhà in trên nền trời chiều mờ tím. Ngày nào, Ba đã cùng các bạn leo lên núi Non Nước (một ngọn của Ngũ Hành Sơn) thăm chùa, chơi trò trốn tìm trong các hang đá vôi hoặc rủ nhau vào hang Âm Phủ thả những quả bưởi non, để rồi, sau đó nhảy ùm xuống biển nhặt lại. Ngày nào, Ba cùng các bạn giả người mang lễ vật lên chùa, gánh vũ khí cho đơn vị anh Phan Hành Sơn (1) diệt đại đội Mỹ đóng trên chóp núi. Bây giờ, những khẩu pháo Mỹ đứng nghễu nghện trên các đỉnh núi trông như những con quái vật khổng lồ. Lâu lâu, chúng rướn cái cổ dài ngoẵng lên hét ầm ầm. Một rừng dương như bức tường xanh chạy từ Đà Nẵng vào Hội An ngăn cách xã Ba với mép biển, làm cho mặt biển cứ lúc ẩn lúc hiện như chơi trò trốn tìm. Ba đứng nhìn khắp xã một lúc rồi cởi áo, vắt vai, ngồi bệt xuống cát, hướng mặt về phía biển đón những làn gió mát rượi. Bỗng nhiên, Ba đứng bật dậy nghiêng tai lắng nghe như có ai vừa khẽ gọi tên mình. Làn gió mát vừa đi qua mang đến cho Ba mùi hương thoang thoảng như mùi đào chín sau một ngày nắng to. Có một cái gì đó, cứ ẩn ẩn hiện hiện ở đâu đó, như đã từng quen thuộc lâu rồi, như mãi mãi mới lạ mà ta phải tìm kiếm để gặp. Ba hít mùi hương vào lồng ngực, thẫn thờ một chút và nhận ra, đó là mùi hương của hoa dủ dẻ, loài hoa đậu trên những thân cây bé nhỏ, lá dày và cứng, rễ bám chặt vào mặt cát nóng bỏng của quê hương… – Ê nhóc mày về lúc nào? – Một người nào đó có giọng oang oang hỏi Ba ở phía sau. Ba quay lại thì thấy một anh người thấp thấp, to ngang, đôi tay săn như cái bắp chuối, dáng đi khuỳnh khuỳnh đang sóng bước bên một chị bé nhỏ, tóc dày và dài. Trông hai người thật không xứng đôi tý nào. Thế mà họ mê nhau. Đó là anh Bảy Kim và chị Hai Soan. Bảy Kim đã trên ba mươi tuổi mà chưa có vợ, anh không thích trẻ con gọi là chú mà gọi bằng anh. Bảy Kim là xã đội phó đánh giặc rất hăng nhưng chẳng hiểu vì sao Ba không thích. Có lẽ anh hay véo tai bẹo má Ba và các bạn. Trong những lần đi tắm biển, hễ thấy Bảy Kim là bọn trẻ vù chạy. Anh thường đứng tắm cách xa bọn trẻ, biến mất trong những lớp sóng trùng điệp rồi đột nhiên hiện lên bên một đứa trẻ nào đó, kéo chân nó, dìm cho nó uống nước rồi tung nó ra cười hê hê. Ba trả lời cộc lốc: – Mới về. – Mày biết chuyện gì xảy ra trong nhà mày chưa? – Chưa. Tui mới về hồi xế đây mà. Anh ta cười hố hố: – Cái nhà mày có phúc thiệt. Chồng chết, cha bị bắt, vợ ngại ác liệt vào Đà Nẵng làm đĩ . . . hố hố. Anh ta ngúc ngoắc đầu rồi kéo chị Soan về phía rừng dương liễu. Ba muốn chạy theo hỏi cho rõ sự việc nhưng có cái gì níu chân Ba lại, chôn chặt xuống cát. Cái giọng cười nói sống sượng của anh Bảy Kim làm Ba vừa buồn tức vừa xấu hổ. Cách đây sáu tháng, vào một ngày mưa cuối năm 1968, cha Ba, xã đội trưởng nổi tiếng của xã này đã hy sinh. Trong nhà Ba mọi việc lâu nay ngỡ êm xuôi bỗng xáo trộn lên. Hình như lúc vui sướng, mọi điều thường đến từ từ, lúc đau khổ, mọi lo toan, phiền muộn lại ập đến một lúc. Mẹ Ba ủ rũ, khóc suốt ngày. Đột nhiên, mẹ cấm Ba không được ở trong tổ du kích thiếu niên tham gia đánh giặc với các bạn nữa. Mẹ nói với Ba: “Con ạ, cái nòi chơi với lửa, có ngày cũng bị lửa thiêu. Mẹ có mình con làm giống, con cứ ở nhà, không đánh chác gì nữa”. Mẹ gặp chú Năm Hà, Bí thư xã, chị Bảy phụ trách Đội, xin đừng cho Ba làm những công việc “nguy hiểm” nữa. Mẹ bàn với ông nội gửi Ba ra Đà Nẵng cho yên. Nhưng ông bảo: – Tụi nhỏ ở đây chết hết hay sao mà mày lo quíu vậy mày? Mẹ nói dịu ngọt: – Nhà người ta có nhiều con cái nối dòng nối giống, còn cha, cha chỉ có một đứa cháu đích tôn đó, cha nghĩ coi. – Kệ nó, tao không muốn nó là đứa hèn nhát. Mẹ khóc. Ông nội cầm gậy vừa chọc bình bịch xuống đất, vừa hát: Người nào quẹo quẳng Đứa nào quẹo quẳng Họ chẳng ưa đâu Hát xong, ông nội gọi Ba: – Ba đâu, ra đây, nhìn vô mắt ông đây coi thử mày là đứa được hay đứa nhát. Ba vừa bước ra với ông, vừa nhìn mẹ đang khóc, lúng túng không biết làm sao. Một hôm, ông nội đi ăn giỗ ở Hội An, Ba cùng các bạn đi gài mìn về nhà thì thấy một chú lạ mặt đang ngồi uống nước với mẹ. Mẹ chỉ Ba nói với chú: – Con tôi đây anh Đức ạ – Rồi mẹ quay sang phía Ba – Chào chú đi con. Người kia mỉm cười: – Nghe nói cháu muốn đi bộ đội lắm phải không? – Dạ muốn. Cháu thích lắm. Nhưng sợ mẹ cháu không ưng – Thấy mẹ cười, Ba tiếp – Sợ Đội không đồng ý. – Được mẹ cháu sẽ cho cháu đi. Còn Đội chú sẽ bàn với các anh các chị. Chú cần một người như cháu. Ba mừng rơn. Điều mơ ước lâu nay của Ba là được đi bộ đội đánh Mỹ để trả thù cho cha nay đã thành sự thật. Ba nhảy vọt ra cửa, phóng lên cồn Quy, băng vào xóm để tìm bạn. Ngay lúc ấy, trước mắt Ba, bỗng hiện lên một cậu bé cũng giống như Ba, nhưng oai vệ hơn, mặc quần áo quân giải phóng, đội mũ tai bèo, nằm dưới một hầm cát, vụt đứng dậy chĩa B.41 vào một chiếc xe tăng địch, chiếc xe cháy bừng bừng. Chị phụ trách đã từng kể cho Ba nghe về anh Phan Đình Giót lấy thân mình lấp lỗ châu mai. Sau này người ta sẽ kể cho bọn trẻ rằng: Ngày xửa ngày xưa có một cậu bé tên là… Bây giờ, trở về đây, việc anh Bảy Kim vừa nói như cái tát vào mặt Ba. Có phải trước đây mẹ lừa mình lên căn cứ để mẹ tự do vào Đà Nẵng sống sung sướng không? Câu hỏi ấy cứ xoáy vào lòng Ba đau nhói. Ba đứng lặng, nước mắt ứa ra. Có tiếng bước chân ai sào sạo trên cát. Ba ngẩng lên, thấy một đứa bé thấp lũn cũn, mái đầu húi cua, đang vác một khẩu súng dài quá người. Trời ơi, thằng Tượng. Nó dừng lại bên Ba hỏi: – Anh về hồi nào? Sao lại đứng buồn vậy? – Tao mới về. Không gặp ai, tao chán quá. – Về công tác à? – Tao về ở luôn với tụi bay đây.           Tượng nhìn Ba chăm chăm rồi nói nho nhỏ, vẻ ái ngại: – Em vừa ăn cắp của tụi Mỹ được cây súng. Bây giờ em đem tặng du kích đây – Nó nhìn Ba nói tiếp – Còn anh, giờ anh đi đâu? Có đi họp thì theo em, em chỉ chỗ cho. Tối nay, các anh các chị thiếu niên họp ở làng đó. Anh đến đấy mặc sức mà vui.   (1) Anh hùng các lực lượng vũ trang nhân dân.   Mời các bạn đón đọc Cát Cháy của tác giả Thanh Quế.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Nhà Có Một Tiểu Hồn Ma - JieMay
Cậu là một hồn ma, cô là một cô gái bình thường. Thế mà tình yêu lại nảy nở giữa hai con người ấy. Nhẹ nhàng mà lại chân thật cứ như là do sự sắp đặt sẵn của tự nhiên. Cậu là người ấm áp còn cô dịu dàng thuần khiết đến vô cùng. Nếu chẳng phải vì cách biệt nhau hai thế giới thì có lẽ tình yêu của họ sẽ là mối tình đẹp nhất thế gian. *** Từ Thiên Anh, 17 tuổi, có biệt danh là May - cô gái đáng yêu với một nét đẹp hoàn hảo của một người con lai. Là người có một mái tóc đen huyền, suôn óng xoã ngang vai, May sở hữu một khuôn mặt đẹp thanh thoát tựa thiên thần và đôi mắt như biết nói. Có lẽ sẽ không ngạc nhiên gì khi nói May luôn được rất nhiều người yêu mến. Từ nhỏ, May đã sống cùng với ba mẹ tại Việt Nam. Trải qua những năm tháng tuổi thơ hồn nhiên ngày nào, giờ thì cô đã là một nữ sinh trung học. Với mục đích cho cô có được một môi trường học tập tốt hơn, gia đình May đã gửi cô từ một vùng ngoại ô nhỏ lên trường Hermann Gmeiner - một trong những ngôi trường phổ thông bậc nhất thành phố sương mù Đà Lạt. Và rồi từ đây, số phận và định mệnh của May đã bắt đầu một trang mới. Nơi May chuyển đến lúc này đang là mùa mưa. Những hạt mưa bụi lất phất rơi, bám cả vào áo và cặp May làm cô khẽ run người lên vì lạnh. Cả năm hai của trường đang xôn xao vì cô bạn mới chuyển đến. May đang lúc còn ngại ngùng đi dọc hành lang trường để tìm lớp học thì một thầy giáo đi lại cất tiếng gọi cô : - Em là Thiên Anh phải không ? Theo thầy đến lớp học mới nào ! May khẽ gật đầu và đi theo người thầy nọ. Rie Trần - thầy giáo chủ nhiệm dẫn May đến lớp và giới thiệu cô với mọi người : - Các em thân mến, đây là May. Cô bé sẽ học tại lớp chúng ta. Các em hãy giúp đỡ bạn ấy nhé ! Rồi May mỉm cười, cô cúi đầu như là đang thay thế cho một lời chào làm quen. Mái tóc dài của May rơi nhẹ nhàng ra phía trước trông rất duyên. Tiếng vỗ tay vang lên, cô đã được chào đón. May cảm thấy rất vui, đôi bàn tay đã không còn run như lúc vừa đến đây nữa. Có tiếng bàn tán xôn xao : - Trông cô ấy đẹp quá ! - May đáng yêu thật ! - Nhìn đôi mắt màu nâu của cậu ấy kìa. Dường như là con lai ? Cô mỉm cười, bỏ qua những lời mời ngồi chung của các bạn khác, May đồng ý ngồi cạnh một cô bạn có mái tóc màu nâu ngắn tên Lam. Và rồi cô hít vào một hơi thật sâu để tạo ra một lực giúp bản thân cảm thấy thoải mái hơn. Giờ ăn trưa tại căn tin trường, May biết được mình lại được ở chung phòng ký túc xá với Lam và một cô bạn khác nữa là Thanh. Hai cô bạn này rất thân với nhau và họ hứa giúp đỡ May thích nghi dần với cuộc sống mới. Cô cảm thấy rất vui vì điều đó. Con đường từ trường về phòng ký túc xá là nơi mà các học sinh có thể đi bộ. Đó là một con đường đê khá cao. Một bên là con sông nhỏ lúc nào cũng nghe được tiếng nước chảy tí tách. Bên còn lại là cây xanh, rất nhiều cây xanh tựa như một khu rừng. May rảo bước thật chậm để quan sát kỹ con đường mà sau này sẽ trở nên thân thuộc với mình. Đang ngó nghiêng mọi thứ xung quanh, May chợt dừng lại bên một cây thông nhỏ chỉ cao quá hông cô bé. Nó sẽ chẳng có gì là đặc biệt nếu không có một vật gì đó rất lạ nằm dưới gốc cây. ... Mời các bạn đón đọc Nhà Có Một Tiểu Hồn Ma của tác giả JieMay.
Bà Mụ - Chris Bohjalian
Vào một đêm mùa đông bão bùng năm 1981, một ca đẻ tại nhà ở bang Vermont, miền bắc nước Mỹ, đã biến thành bi kịch. Đường dây điện thoại bị đứt, đường sá bị phong tỏa vì băng đá. Không thể đưa bệnh nhân đến bệnh viện, bà mụ Sibyl Danforth đã nỗ lực hết sức để cứu cả bà mẹ lẫn thai nhi trong lúc người học việc thiếu kinh nghiệm của bà và người chồng hoảng sợ của thai phụ chỉ biết bất lực đứng nhìn. Thai phụ đã chết nhưng đứa bé được sống nhờ quyết định vào phút chót của Sibyl: mổ lấy thai. Nhưng cơn ác mộng chỉ mới bắt đầu: người học việc một mực cho rằng thai phụ chưa chết lúc Sibyl tiến hành mổ đẻ. Trong tiểu thuyết Bà mụ, tác giả Chris Bohjalian đã tường thuật lại những sự kiện dẫn đến phiên tòa xét xử Sibyl Danforth, một bà mụ lành nghề ở thị trấn nhỏ Reddington, từng đỡ đẻ cho hơn 500 đứa trẻ. Tuy nhiên, thực tế cho thấy đó không đơn thuần là phiên tòa về tội bất cẩn gây chết người của Sibyl, mà còn là cuộc đối đầu giữa giới bác sĩ và bà mụ, những người luôn bị xem là cái gai trong mắt chính quyền và cộng đồng y tế. Bà mụ được kể lại qua cách nhìn của Connie, cô con gái mười bốn tuổi của Sibyl. Khi câu chuyện về điều gì đã xảy ra trong đêm mùa đông định mệnh ấy dần mở ra cũng là lúc người đọc bước vào một thế giới lạ lùng của nghề bà mụ. Ở đó có những người phụ nữ không xem việc đỡ đẻ là một “nghề nghiệp” mà là một “duyên phận” chỉ dành riêng cho một số người, và họ thực hiện nó như một nghi thức tôn giáo thiêng liêng. Những người như Sibyl Danforth luôn tin rằng “phụ nữ đẻ con hiệu quả nhất trong môi trường mà họ thông thuộc nhất và điều đó khiến họ cảm thấy thoải mái nhất; tương tự, việc chào đón một đứa trẻ đến với thế giới này trong một căn phòng ấm áp, và đỡ lấy đứa bé với đôi tay trìu mến, là điều rất quan trọng”. Ở đó có những ca đẻ tại nhà với sự cộng hưởng cảm xúc của tất cả những người có mặt khiến ta chỉ muốn “đóng chai những rung cảm trong căn phòng đó và để dành một ít cho những ca đẻ cô đơn hơn”. Bà mụ cũng có thể được xem là “duyên phận” của tác giả Chris Bohjalian khi ý tưởng viết quyển sách đến với ông như một sự sắp đặt. Chris kể rằng khoảng sáu tháng sau khi cô con gái của ông chào đời, vợ chồng ông đến dự một buổi tiệc tối tại Vermont nơi họ sinh sống, và ngồi cạnh ông là một bà mụ hành nghề độc lập ở địa phương. Nghe tin vợ chồng ông phải lặn lội lái xe hơn 50 cây số giữa đêm mới đến được bệnh viện gần nhất để sinh con, bà đã mỉm cười nói: “Nếu anh chị dùng đến tôi, thì anh chị đã có thể đẻ con trong phòng ngủ của mình và anh đã có thể đích thân đỡ lấy cháu bé rồi.” Nhà văn kể lại: “Tôi chưa bao giờ nghe người ta nói động từ “đỡ” trong bối cảnh sinh đẻ, thế là tôi lập tức cảm thấy thích thú. Ngày hôm sau, chúng tôi ăn trưa với nhau, và bà chia sẻ với tôi những quyển sách về nghề bà mụ như Trái tim và đôi tay và Nghề bà mụ thiêng liêng. Rồi bà giới thiệu tôi với những ông bố bà mẹ từng đẻ con tại nhà. Tôi đã gặp gỡ những bà mụ và bác sĩ sản phụ khoa khác, và tôi phát hiện ra rằng một câu chuyện tuyệt vời đang chờ được viết ra.” Bà mụ (xuất bản năm 1997) là tiểu thuyết thứ năm của Chris Bohjalian. Là tác giả, Chris nhớ ơn người phụ nữ đã gợi ra cho ông một đề tài sáng tác tuyệt vời. Là bạn đọc, tôi cám ơn cuộc gặp gỡ định mệnh đó, vì nó là duyên lành cho sự ra đời của một tác phẩm hé mở về thế giới ít được biết đến của những bà mụ, của một nghề đang dần mai một. Đọc Bà mụ, thấy đồng cảm với niềm tin bất biến của những người làm nghề đỡ đẻ vào sự thiêng liêng không thể thay thế của sinh đẻ tại nhà. Thấy thương hơn những vất vả “mang nặng đẻ đau” của người làm mẹ, dù ở đâu và bên cạnh ai. Rồi bất chợt nhận ra, hình như có một lúc nào đó giữa những trang sách, ta đang nghĩ về giờ phút chào đời của chính ta và thấy yêu mẹ của ta nhiều hơn một chút. Đó là khi ta chạm đến sự đồng điệu với tác giả, như ông đã tâm sự: “Bà mụ đề cập đến nhiều câu chuyện, nhưng trên hết, tôi xem quyển tiểu thuyết này như một câu chuyện về tình mẫu tử thiêng liêng.” Thi Trúc Sài Gòn, tháng 11 năm 2010   *** Chris Bohjalian đã cho ra đời mười ba tác phẩm, mới nhất là Bí mật vườn địa đàng (Secrets of Eden) xuất bản tháng 2/2010. Tiểu thuyết Bà mụ từng chiếm vị trí số 1 trong danh sách bán chạy của New York Times, đoạt giải “Quyển sách hay nhất” của Publishers Weekly và được tuyển chọn trong Câu lạc bộ sách của Oprah. Tác phẩm của Chris Bohjalian đã được dịch ra hơn 25 ngôn ngữ và xuất bản ở hai mươi mốt quốc gia. Đến nay, đã có hai tiểu thuyết của ông được dựng thành phim, gồm Bà mụ và Băng qua khán đài. Năm 2002, ông đoạt giải thưởng sách New England (New England Book Award) ở thể loại hư cấu. Ngoài sáng tác tiểu thuyết, ông còn viết bài cho nhiều tạp chí, trong đó có Cosmopolitan, Reader’s Digest, và Boston Globe Sunday Magazine, và là người phụ trách chuyên mục xã luận Chủ nhật cho báo Burlington Free Press từ năm 1992 đến nay. Hiện ông sống ở Vermont với vợ và con gái. Tiểu thuyết The double bind (Nghịch lý) Before you know kindness (Trước khi bạn biết lòng tử tế) The buffalo soldier (Chiến binh trâu) Trans-sister radio (Đài phát thanh chị em) The law of similars (Lấy độc trị độc) Midwives (Bà mụ) Water witches (Phù thủy nước) Past the bleachers (Băng qua khán đài) Hangman (Người treo cổ) A killing in the real world (Một vụ giết người trong thế giới thật) Tuyển tập tản văn Idyll Banter: Weekly excursions to a very small town (Idyll Banter: Những cuộc dạo chơi hàng tuần đến một thành phố nhỏ)   *** Lời khen tặng dành cho tiểu thuyết Bà mụ của Chris Bohjalian Giải Quyển sách hay nhất của Publishers Weekly[1] “Một Bản đồ thế giới thứ hai... xúc động... đau đớn.” Glamour “Sự kết hợp giữa cường độ kể chuyện, nhân vật và bối cảnh thuyết phục, giọng văn xuôi tinh tế và chủ đề quan trọng đủ hiếm thấy để được trân quý.” Portland Oregonian “Quyển sách phải đọc của mùa này.” Woman’s Own “Thông minh và phóng khoáng... Bà mụ còn hơn cả một quyển sách hay để đọc.” Burlington Free Press “Quyến rũ... Bohjalian chuyển tải sự nhạy cảm đáng kinh ngạc vào tác phẩm mô tả nữ giới của ông.” San Antonio Express-News “Một quyển sách hay mê hoặc... Bohjalian... là bậc thầy trong tác phẩm của ông.” Concord Sunday Monitor (New Hampshire) “Lôi cuốn, sâu lắng... Độc giả sẽ bị mê hoặc trước sức hút không thể cưỡng lại của câu chuyện.” Publishers Weekly “Một tiểu thuyết hấp dẫn, phức tạp.” Kirkus Reviews Mời các bạn đón đọc Bà Mụ của tác giả Chris Bohjalian.
Vị Tư Lệnh Mong Muốn Vĩnh Hằng - Kresley Cole
Nhân vật Nikolai Wroth trong tựa tiểu thuyết full này là vị tướng quân ma cà rồng tàn nhẫn, sẽ không để thứ gì ngáng con đường tìm kiếm Cô Dâu của anh, người phụ nữ duy nhất có thể 'trao đổi máu' cùng anh, khiến trái tim anh đập, cũng đồng thời khiến sức mạnh tràn ngập thân thể anh. Chỉ lạnh lùng hứng thú với sức mạnh mà Cô Dâu ấy có thể mang đến, anh khó thể tin khi Myst Kẻ Được Khao Khát đánh thức cơ thể - và linh hồn của anh. Nổi danh trên khắp thể giới là con Valkyrie xinh đẹp nhất, Myst đã cống hiến cuộc đời mình để bảo vệ một món nữ trang ma thuật, và để chiến đấu chống lại bọn ma cà rồng. Với Wroth, cô thấy được cơ hội tuyệt vời để hành hạ kẻ thù không đội trời chung của mình - khi mỗi nhịp đập của trái tim hắn đi kèm với khát khao tình dục chỉ cô mới có thể thỏa mãn. Từ chối hắn, cô bỏ trốn, gắng sức quên đi nụ hôn cháy bỏng, đầy tính chiếm hữu ấy của hắn. Cô trốn tránh được anh trong năm năm, nhưng cuối cùng anh đã săn cô đến tận cùng trái đất rồi đoạt mất món nữ trang ma thuật của cô, món nữ trang trao tất cả quyết định của cô về tay anh. Giờ khi mà cô đã sẵn ở đấy trước mặt anh, anh định để cô tự mình trải nghiệm qua khát khao tình dục đau đớn không có điểm dừng cô đã khiến anh chịu dụng nửa thập kỉ qua. Thế nhưng khi Nikolai nhận ra điều anh muốn từ Myst còn hơn cả thù hận rồi thả tự do cho cô, liệu cô có quay trở về bên anh? *** Tất cả mọi sinh vật hay vật thể được suy nghĩ là trong truyền thuyết … không phải như thế. Họ tất cả đều tồn tại song song với loài người và tận hưởng món quà của sự bất tử.Có đến hàng trăm các loài khác nhau: từ Ma cà rồng đến Lykae, từ Furies đến Người biến hình, từ loài Yêu tinh đến loài Valkyrie. Những người bất tử đó gọi thế giới của họ là The Lore. Bạn đã có thể có một cuộc va chạm với một trong những loài Lore rồi. Vị tỉ phú kì quặc với một sự thu hút lôi cuốn – và một sự dị ứng với ánh nắng mặt trời. Một người qua đường trông nhẹ hều với vẻ đẹp không thể có – người mà móng tay nhìn giống như là vuốt hơn. Một người Cao Nguyên với âm giọng Scotland thế kỉ mười bảy và một lực hút thú vật – người mà không thể nào được vẽ lại trong một đêm trăng tròn. Họ bước đi trong chúng ta, nhưng họ lại đấu tranh trong nội bộ mình. Mỗi phần tử có sức mạnh, điểm yếu, và những định kiến nghìn năm củ nó đối với những phần tử khác. Cứ mỗi năm trăm năm, cuộc Accession, một cuộc chiến cho sự đứng đầu, nổi lên. Thời gian đó là bây giờ … Bộ Immortals After Dark gồm có: Book 1: The Warlord Wants Forever (Vị tư lệnh mong muốn sự vĩnh hằng) Book 2: A Hunger Like No Other (Cơn khao khát không như bất cứ gì) Book 3: No Rest For The Wicked (Không có sự yên nghỉ cho kẻ đen tối) Book 4: Wicked Deeds On A Winter’s Night (Những việc đen tối trong đêm đông) Book 5: Dark Needs At Night Edge (Những nhu cầu tối tăm tại một góc bóng đêm) Book 6: Dark Desire After Dusk (Nhưng khao khát đen tối sau hoàng hôn) Book 7: Kiss Of A Demon King (Nụ hôn của một vị vua demon) Book 8: Untouchable (Không thể chạm được) Book 9: Pleasure Of A Dark Prince (Sự thỏa mãn của một vị hoàng tử đêm tối) Book 10: Demon From The Dark (Quỷ dữ từ đêm tối) Book 11: Dreams Of A Dark Warrior (Giấc mơ của một chiến binh đêm tối) Book 12: Lothaire (published day: Jan 10, 2012) *** Nguồn gốc loài Valkyrie Giữa làn tuyết đẫm máu, một chiến binh đơn độc khuỵu gối, cơ thể yếu đuối run rẩy. Tuy nhiên, cánh tay nàng vẫn giương kiếm trước binh đoàn gần đến. Chiếc áo giáp bằng sắt móp méo nuốt trọn thân hình bé nhỏ của nàng. Gió gào rú từng cơn, khiến mái tóc nàng tung bay, nhưng nàng vẫn nghe được tiếng“tưng” khi một tên nhả dây cung. Nàng cất tiếng thét trong cơn thịnh nộ; mũi tên đâm thủng chính giữa áo giáp nàng, lực đánh hất người nàng ra sau. Mũi tên ấy đã đi xuyên qua lớp kim loại, chạm hờ được đến xương ức của nàng, đủ để mỗi nhịp tim là một lần trái tim nàng chạm đến đầu nhọn mũi tên. Nhịp tim đập dũng cảm của chính nàng đang khiến nàng chết dần chết mòn. Nhưng tiếng hét của nàng đã đánh thức hai vị thần đang chìm trong giấc ngủ cùng nhau suốt một thập kỉ lạnh lẽo khắc nghiệt gần đấy. Âm thanh ấy đã khuấy động họ, khiến họ nhìn xuống người thiếu nữ, thấy ngọn lửa can đảm rực rỡ cháy trong đôi mắt nàng. Cả đời nàng là quãng thời gian tràn đầy lòng dũng cảm và quyết tâm, nhưng ánh sáng ấy mờ dần khi cái chết cận kề, và họ thương tiếc nó. Freya (*), vị nữ thần, thì thầm rằng họ nên giữ sự can đảm ấy bất diệt bởi vì nó rất quý giá. Woden (*) đồng ý, và cùng nhau họ mang tia sét xuyên qua thinh không để đánh vào người trinh nữ đang dần chết. (*) Wóden, Freya: hai vị thần cai trị tất cả các thần trong thần thoại Bắc Âu. Tia sáng ấy dữ dội, rất lâu sau mới tan đi và làm cho cả binh đoàn kia run sợ. Khi bóng tối lại phủ lên một lần nữa, nàng trinh nữ tỉnh dậy không thương tích trong một nơi lạ lẫm. Thân thể nàng lành lặn, nhân kiếp hữu hạn của nàng không thay đổi. Nhưng không lâu sau, nàng sẽ hạ sinh một đứa con gái bất tử – người con gái mà sở hữu sự dũng cảm của nàng, trí thông minh ranh mãnh của Woden với bản tính vui vẻ với vẻ đẹp yêu tinh của Freya. Dù người con này hấp thụ năng lượng của tia sét để làm nguồn dinh dưỡng, cô cũng thừa kế tính kiêu ngạo từ Woden và niềm đam mê học hỏi từ Freya – những điều chỉ khiến họ cưng chiều nàng hơn. Hai vị thần thấy thỏa mãn còn người trinh nữ yêu quý đứa con đầu lòng của mình. Thế nhưng khi một thời đại lại thoăn thoắt trôi qua, các vị thần nghe thấy tiếng kêu can đảm của một người phụ nữ khác khi nàng chết trong cuộc chiến chống lại kẻ thù đen tối. Nàng không phải thuộc về loài người, mà nàng là Furie, một loài trong The Lore – một tầng lớp xã hội gồm các giống loài thông minh đã thuyết phục con người rằng họ chỉ là tồn tại trong trí tưởng tượng. Giây phút sơ hỡ đã khiến sinh vật ấy trả giá – trong đêm tối lạnh giá, hơi thở nàng đã không còn hiện hữu. “Sảnh của chúng ta rất rộng, tuy nhiên gia đình chúng ta lại nhỏ,” Freya nói, mắt nàng lấp lánh, ánh sáng rực rỡ đến mức một thủy thủ ở phương Bắc bị chói lòa bởi các vì sao trong phút chốc mà suýt nữa lạc lối. Woden nghiêm nghị nắm lấy tay nàng, không nỡ từ chối lời đề nghị ấy. Những kẻ xung quanh con Furie đang chết dần ấy lại nhìn thấy tia sét xé toạc bầu trời một lần nữa. Và nó sẽ giáng xuống lần nữa và nữa trong những năm sau đó, tiếp tục đến khi những nữ chiến binh – dù là con người, demon, tiên cá, người biến hình hay các sinh vật dũng cảm khác trong The Lore – biết cầu nguyện chúng đến khi họ chết. Từ đó, giống loài Valkyrie ra đời. ... Mời các bạn đón đọc Vị Tư Lệnh Mong Muốn Vĩnh Hằng của tác giả Kresley Cole.
Seoul Ngọt Ngào - Jung Yi Hyun
Cuốn sách đưa người đọc vào thế giới nội tâm của một cô gái Hàn Quốc hiện đại trước ngưỡng của tuổi ba mươi với biết bao trăn trở về tình yêu, đường đời và cuộc sống. "Seoul ngọt ngào" là chuyện đời của Oh Eun Shu - một phụ nữ bước sang tuổi ba mươi với cuộc đời hết sức bình thường tại thành phố Seoul náo nhiệt, nhưng các vấn đề tiền bạc và tình duyên đã hợp thành một thách thức to lớn, khác thường mà cô phải đối mặt.   Giọng văn của Jung Yi Hyun hài hước, nhẹ nhàng nhưng không kém phần cuốn hút. Chị dẫn dắt người đọc đến với một thế hệ U30 của thành phố Seoul hiện đại náo nhiệt, nơi có những cô gái hối hả tìm kiếm hạnh phúc riêng cho mình, đấu tranh để có được tự do cá nhân trong thời đại mới và thỏa hiệp với những truyền thống cũ. "Trong mỗi cuộc đời bình thường luôn đầy ắp những điều khác thường và đặc biệt" đó là điều mà nữ nhà văn xứ Hàn gửi gắm trong cuốn tiểu thuyết đầu tay này. Tiểu thuyết này giúp Jung Yi Hyun nhận giải thưởng văn học Lee Sang, giải thưởng văn học Lee Hyo Seok (Hàn Quốc). Độc giả Hàn đã đón nhận Seoul ngọt ngào rất nồng nhiệt và nó mau chóng trở thành tiểu thuyết ăn khách tại Hàn Quốc. Tác phẩm cũng đã được chuyển thể thành phim truyền hình. *** Nhà văn Jung Yi Hyun sinh năm 1972 tại Seoul. Truyện ngắn đầu tay Tình yêu lãng mạn và xã hội nhận được giải thưởng nhà văn trẻ của giải thưởng Văn học và xã hội lần 1, giúp chị có mặt trong văn đàn. Tiếp theo, truyện ngắn Sự cô độc của người khác của chị được giải thưởng văn học Lee Hyo Seok năm 2004, truyện ngắn Trung tâm thương mại Sam Pung đoạt giải thưởng văn học hiện đại lần thứ 51 (2006). *** Vào ngày kết hôn của người yêu cũ, người ta thường làm gì nhỉ? Có thể sẽ bỏ đi du lịch một mình. Nằm dài bên bờ biển Nam Thái Bình Dương, vừa nhâm nhi cocktail vừa tận hưởng cảm giác mát mẻ, đằng nào chuyện cũng thế rồi thì hãy cầu cho bọn họ được hạnh phúc vậy. Cũng có thể chất đầy một ba lô đá cuội leo lên núi Bắc Hàn, hoặc đi bộ qua cầu ngầm Jamsu. Và vừa xuống núi vừa ném từng hòn đá cuội, hoặc đứng lặng nhìn sóng nhấp nhô trên sông rồi đột nhiên òa lên nức nở, thế cũng chẳng sao cả. Vậy còn tôi thì sao? Tôi đã đi làm. Vào sáng thứ tư, như tất cả những nhân viên công ty khác trên đời. Kì nghỉ phép của năm nay tôi đã dùng hết từ mùa hè năm ngoái, vả lại chiều nay có một buổi thuyết trình quan trọng nên tôi không thể đến nói rằng “Sếp, cho em nghỉ một ngày để em lên núi Bắc Hàn nhé!”. Và cũng không thể điện thoại cho chú rể để chất vấn tại sao anh lại cưới vào đúng ngày thứ tư mà không phải là ngày cuối tuần. Không biết là may mắn hay bất hạnh, nhưng tôi không phải là người làm quá tới mức ấy. Thành thật mà nói cho đến tận trưa, tôi đã quên béng mất hôm nay là ngày cưới của anh ta cho đến khi dịch vụ báo tin của điện thoại réo lên báo hiệu ngày kỉ niệm. Khoảnh khắc từ 11g59 sáng chuyển sang 12g00 trưa, tôi đang nghĩ xem nên ra phở Hòa ăn phở Việt hay tới Dong Chung Hung để ăn mì đen thì chuông điện thoại réo vang. Màn hình điện thoại hiện ra dòng chữ “Tin buồn, Gorilla thiệt mạng!”. Gorilla[1], cái biệt danh mà anh ta không hề muốn công nhận nó. Gorilla, nếu tôi có lỡ miệng nói ra cái từ “kết hôn” thì kiểu gì anh ta cũng run lên bần bật. — Con gái gì mà không biết suy nghĩ sâu xa. Em không biết ở xã hội Hàn Quốc này, kết hôn cũng giống như cái cương ngựa ghìm chân người ta hay sao? Khoảnh khắc làm lễ cưới, đó chính là lúc người ta bước chân vào trong mộ mà nằm. Chính miệng anh ta đã phát ra từ “mộ”, vậy thì đúng 12g00 trưa, tại một nhà hàng tiệc cưới nào đó ở Kangnam, anh ta chắc chắn sẽ thở hắt ra cho mà coi. Mới ngày nào còn ngon ngọt rằng đừng trói buộc nhau bởi cái cách kết hợp vô nghĩa và đầy hình thức ấy, hãy sống và yêu nhau mãi mãi một cách tự do. Mới chia tay với tôi chưa đầy sáu tháng, anh ta đã gửi thiệp cưới tới. Cùng với tấm thiệp cưới là mảnh giấy nhỏ với dòng chữ “Eun Shu thân mến! Chúng ta đã thật sự như người nhà đúng không nào? Với em thì anh tin rằng em sẽ thực lòng chúc mừng cho anh. Chúc em mạnh khỏe”. Kiểu viết gà bới vẫn không hề thay đổi. Tôi, sau khi lần lượt xé nhỏ tấm thiệp cưới và mảnh giấy vứt vào thùng rác bèn mở máy điện thoại, vào menu dịch vụ báo ngày kỉ niệm, nhập ngày cưới của anh ta vào với suy nghĩ đến ngày đó, sau khi hướng về phía Nam chắp tay thành tâm vái, tôi sẽ ném một bông hoa cúc xuống sàn và dẫm nát nó bằng gót giày cao gót. Điện thoại báo cho tôi biết ngày này, giờ chỉ cần bùng lên cơn phẫn nộ đã kìm nén bấy lâu nay là được! Nhưng thật lạ! Máu không trào ngược lên, ngực không hồi hộp và tim cũng chẳng đập thình thình. Cũng không hề cảm giác bị phản bội, ghen tuông hay thương hại mình nữa. Chỉ thấy bụng đói dã man vào giữa trưa như bao nhiêu ngày khác. Tôi gọi một tô mì Jajangmyeon lớn và vét sạch sành sanh. Ăn xong chỉ ợ lên một tiếng vì no chứ không hề cảm thấy một tí tình cảm mãnh liệt nào. Thay cho ly cocktail của resort bên bờ Nam Thái Bình Dương là ly cà phê Mocha giá 3.800 won trong quán Starbucks. Trong lúc cầm ly cà phê và quay trở lại văn phòng, đầu tôi mông lung với suy nghĩ lạ lùng. Tôi đã yêu anh ta. Anh ta cũng đã yêu tôi. Chắc chắn là như vậy. Tôi đã nghĩ như vậy. Nhưng tại sao tôi lại không hề có cảm giác gì nhỉ? Hay tại máu tôi đã trở nên nguội ngắt rồi? Và sau này sẽ dần dần trở nên lạnh giá? Đột nhiên tôi cảm thấy sợ. Cứ như thế này, biết đâu lại già đi và đông cứng như cá đông lạnh để trong tủ đông. Có nghĩa là trở thành một con người vô cảm mãi mãi. Ngụm cà phê Mocha, mặc dù đã đổ đầy siro sao vẫn đắng ngắt trong miệng. Điều này không phải là vì kí ức còn lại với người yêu cũ. Nghĩ tới tương lai u ám, mờ đục giống như mắt cá đông lạnh khiến sống mũi tôi cay xè. Tôi nhìn đồng hồ. Chỉ còn hai tiếng nữa, tôi sẽ phải thực hiện một bài thuyết trình vô cùng quan trọng. Nếu để cho mascara nhòe đi sẽ thật nguy hiểm. Thay vì đóng cửa toilet lại để nức nở, tôi xì mũi một cái thật mạnh. Vào ngày cưới của người yêu cũ, tôi đã không nhỏ một giọt nước mắt. Chỉ thấy rằng mình đã trở thành người lớn. Sau khi lau sạch mũi, vừa bước vào văn phòng đã nghe văng vẳng tiếng ông Hwang trưởng phòng: — Các cô cũng chuẩn bị nhanh lên, trang điểm lại đi. — Sao ạ? Hai cô bé sinh viên mới vào thực tập cách đây mấy ngày, mắt tròn mắt dẹt. — Các cô cũng cùng tới công ty khách hàng luôn. Khi thuyết trình mà bối cảnh nhạt nhẽo quá cũng không được. Thêm các cô cho có không khí chứ, chỉ có mấy cái mặt nặng trình trịch của tôi và cô Eun Shu kia thì hỏng việc. Có thêm mấy khuôn mặt trắng trẻo như của các cô đây cho người ta ngắm cũng sẽ đỡ buồn hơn. Mời các bạn đón đọc Seoul Ngọt Ngào của tác giả Jung Yi Hyun.