Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Tình Yêu Ra Trận - Rafael Sabatini

Đây là cuốn "Love-At-Arms" (1907) của Rafael Sabatini. Cuốn này cũng được NXB Phụ Nữ / Nhã Nam phát hành với tên "Này chiến trận, này cuồng si" (dịch giả: Lê Đình Chi). Toàn bộ câu chuyện xảy ra vào thời Giáo hoàng Alexander VI (tức Roderigo Borgia, khoảng 1492 - 1503), một thời kỳ phát triển rực rỡ về văn học nghệ thuật của Italia, nhưng đây cũng là một thời kỳ loạn lạc nhiễu nhương khi Italia bị chia năm xẻ bảy liên tục rơi vào những cuộc nội chiến không dứt để tranh dành quyền bá chủ giữa các quốc gia nhỏ. Nổi bật lên trong những cuộc chiến không ngừng ấy là mưu toan thống nhất Italia không thành của gia đình Borgia - chủ yếu là Giáo hoàng và con trai, Cesare Borgia. Roderigo Borgia nổi tiếng là nhân vật ăn chơi phong lưu nhất Italy thời ấy với ít nhất 3 người con trai và 2 người con gái được chính thức thừa nhận, kết quả của vô số cuộc tình. Cesare Borgia mới 20 tuổi đã được phong Hồng y, để rồi sau đó cũng bỏ áo chùng sang một bên để trở thành công tước Valentinois, nỗi kinh hoàng của cả Italia. Tất cả bắt đầu bằng việc Gian Maria Sforza, công tước Babbiano, cầu hôn cháu gái công tước Urbino để tìm kiếm liên minh chống lại mối đe doạ từ Cesare Borgia. Mọi chuyện đều xuôi chèo mát mái, thế nhưng rắc rối bắt đầu khi cô dâu, không cam chịu biến mình thành vật hi sinh cho một liên minh chính trị, liều lĩnh bỏ trốn chỉ vài ngày trước khi hôn lễ được cử hành... Khi bị ép vào cuộc hôn nhân chính trị, nàng - một công nương yêu kiều, mơ mộng, vốn xa lạ với những đua tranh ngoài bức tường thành - bỗng liều lĩnh chống lệnh vua, đem quân cố thủ trong lâu đài, những muốn bảo vệ danh dự của mình. Khi trái tim mách bảo, chàng - một bá tước đam mê phiêu lưu, không màng quyền bính - đã sát cánh cùng nàng, dưới danh nghĩa kẻ đánh thuê hèn mọn, không màng hiểm nguy, âm thầm bảo vệ người trong mộng. Tình yêu và âm mưu, hận thù và đố kỵ, tất cả tưởng như đã rõ ràng khi chiếc cầu dưới cổng thành Roccaleone uy nghi hạ xuống... *** Rafael Sabatini (1875 - 1950) là nhà văn chuyên viết truyện thám hiểm - lãng mạn và thu được nhiều thành công lớn. Ông đã nhận được giải Book Prize. Một số tác phẩm nổi tiếng của ông  là: Chim ó biển (1915), Cuộc đời chìm nổi của thuyền trưởng Blood (1922)... Ông xuất hiện trên bầu trời văn học cùng thời với rất nhiều tên tuổi rực sáng khác như A. Dumas, W. Scott, và là một trong những tác giả được mến mộ nhất thời ấy, với dòng tiểu thuyết hiệp sĩ, lãng mạn. Một số tác phẩm nổi tiếng của Rafael Sabatini: - Này chiến trận, này cuồng si - Chim ó biển (The sea hawk, 1915), - Cuộc đời chìm nổi của thuyền trưởng Blood (Captain Blood, 1922); - Scaramouche (1921); - Bellarion the Fortunate (1926)...  *** Từ dưới thung lũng, tiếng chuông Angelus khẽ vẳng lại theo làn gió đêm. Trong ngôi lều của người chăn dê trên đồi có một nhóm sáu người, đầu trần, khẽ cúi xuống tuân theo tiếng chuông báo giờ cầu nguyện tối. Từ trên mái nhà bụi bặm dòng xuống một ngọn đèn bằng đồng ba bấc vừa cháy leo lét vừa bốc khói mờ mịt, toả ánh sáng tù mù cùng mùi khói khét nồng ra khắp căn lều tối tăm. Tuy vậy căn lều vẫn đủ sáng để có thể thấy cả toán người đều ăn vận với vẻ phong lưu quyền quý hoàn toàn tương phản với khung cảnh nghèo nàn xung quanh. Hồi chuông cuối cùng chìm dần trong tiếng gió thổi rì rào đều đều qua sườn đồi, cả sáu người cùng thành kính làm dấu thánh, từ tốn đội mũ rồi nhìn nhau với vẻ dò hỏi. Nhưng trước khi có người nói ra lời điều đang làm tất cả bận tâm, chợt có tiếng gõ nhẹ lên cánh cửa lều mối mọt. « Cuối cùng cũng tới rồi », ông lão Fabrizio da Lodi khẽ kêu lên nhẹ nhõm như trút được gánh nặng, trong khi một người trẻ tuổi cao dong dỏng, ăn mặc bảnh bao sải bước về phía cửa và mở rộng cửa theo ánh mắt ra lệnh của Fabrizio. Bước qua ngưỡng cửa là một người đàn ông cao lớn, đội một chiếc mũ rộng vành không có ngù lông, chiếc áo choàng phủ kín người được chàng cởi ra khi bước vào để lộ bộ đồ xoàng xĩnh chàng đang mặc. Một chiếc áo da thắt chặt ở ngang hông bởi một chiếc thắt lưng kết bằng mạng sắt, bên trái đeo một thanh kiếm dài, trong khi từ sau hông phải của chàng lấp ló cán của một con dao găm. Chiếc quần bó màu đỏ được bỏ vào trong ống đôi ủng bằng da không thuộc, đôi ủng dài đến quá gối bó sát ống chân hoàn tất ở chàng vẻ ngoài thường thấy của một người lính đánh thuê đang lúc hết việc làm. Bất chấp vẻ ngoài của chàng, cả sáu người quý tộc có mặt trong khung cảnh lạ lùng này đều cung kính bỏ mũ ra một lần nữa, và đứng yên với vẻ chờ đợi chăm chú. Chàng dừng lại một chút để bỏ hẳn chiếc áo choàng, người trẻ tuổi đã mở cửa cho chàng vội vã bước tới giúp một cách thành thạo đến độ có thể tưởng nhầm anh ta được sinh ra để sắm vai hầu phòng. Sau đó chàng bỏ mũ, để lộ khuôn mặt trẻ trung đẹp trai, vừa quý phái vừa khoẻ khoắn tràn đầy sức sống và mái tóc dày đen nhánh được giữ trong một chiếc mạng đan bằng chỉ vàng - vật duy nhất cho biết chàng có địa vị cao sang hơn nhiều so với vẻ bề ngoài. Chàng nhanh nhẹn bước về phía toán người đang đứng cạnh chiếc bàn cục mịch trơn nhẫy, đôi mắt đen lướt nhanh qua tất cả những khuôn mặt đang đối diện với chàng. « Thưa các ngài, tôi có mặt. » Sau cùng chàng lên tiếng, « Con ngựa của tôi bị què cách Sant’ Angelo nửa dặm và tôi đã buộc phải đi bộ đoạn đường còn lại. » « Đức ông chắc đang mệt lắm », Fabrizio lên tiếng, với vẻ quan tâm săn đón luôn được dành cho những người có địa vị, « Hãy uống một cốc vang Puglia, thưa đức ông. Fanfulla, lại đây », ông gọi anh chàng quý tộc trẻ đã đóng vai hầu phòng. Nhưng người mới tới đã khoát tay cản lại. « Chuyện đó để sau. Thời giờ lúc này quý hơn các ngài tưởng đấy. Rất có thể, thưa các ngài, nếu không bị buộc phải đi bộ tới đây tôi đã chẳng bao giờ tới nơi được. » « Tại sao ? », một người bật hỏi, bộc lộ sự băn khoăn vừa nảy ra trong đầu đám quý tộc, thậm chí không ai dấu được vẻ lo lắng trên khuôn mặt. « Chẳng lẽ chúng ta bị phản bội ? » « Nếu các ngài đang trong tình thế phải đề phòng sự phản bội, thì có thể đúng là vậy, các bạn thân mến. Trong lúc tôi vừa đi khỏi chiếc cầu bắc qua Metauro và lần theo lối đi từ cầu lên, tôi nhìn thấy một đốm sáng nhỏ nhấp nháy đằng sau mấy bụi cây ven đường. Đốm sáng đó là ánh mặt trời phản chiếu trên mũ sắt của một gã đang rình rập đằng sau bụi cây. Tôi đi lại gần hơn theo con đường, mũ kéo thấp xuống vừa đủ để che bớt mặt mà vẫn không cản trở tầm nhìn. Đến khi đi ngang qua chỗ gã do thám đang ẩn nấp giữa đám lá đáng lẽ đã giấu kín tung tích gã nếu gã không bị ánh mặt trời phản chiếu trên mũ làm lộ, tôi chợt nhận ra khuôn mặt quỷ quyệt của Masuccio Torri. » Cả đám thính giả của chàng ồ lên, vẻ lo lắng càng lộ rõ, một vài người thậm chí tái mặt. « Hắn rình mò ai mới được chứ? Tôi tự hỏi, và câu trả lời là hắn đang đợi tôi. Nếu tôi đoán không sai, hắn còn biết rõ quãng đường tôi phải đi, và không hề nghĩ đến chuyện tôi lại đi bộ, cũng như việc tôi có thể tới đây dưới bộ cánh như thế này. Vậy là, nhờ sự tình cờ cũng như chiếc mũ và chiếc áo choàng mà tôi đã dùng che kín người, hắn đã để tôi đi qua không đoái hoài gì. » « Trước Đức Mẹ Đồng Trinh ! », Fabrizio kêu lên nóng nảy, « tôi xin thề là đức ông đã lầm. Ngoài sáu chúng tôi chẳng ai khác trên toàn đất Italy biết ngài tới đây. Và tôi có thể thề trên cây thánh giá rằng không ai trong chúng tôi đã hé môi để lộ ra ngoài. » Ông quay sang nhìn những người còn lại như muốn tìm kiếm sự đồng tình. Không hề chần chừ, tất cả đều lập tức xác nhận lời thề của ông quý tộc già với những lời thề không kém thiêng liêng cho tới khi người mới đến phải giơ tay ra dấu cần sự yên lặng để chấm dứt tràng thề thốt. « Cả tôi cũng không hé ra với ai, » chàng trấn an, « vì tôi tôn trọng ngài, Fabrizio. Thế nhưng … tại sao Masuccio lại nấp né như kẻ trộm trong bụi cây bên đường như thế ? », chàng tiếp tục, với một giọng hơi khác,« Thưa các ngài, tôi không biết các ngài hẹn tôi đến đây làm gì, nhưng nếu các ngài có ý mưu phản thì hãy dè chừng ! Công tước đã biết về âm mưu của các ngài, hoặc chí ít cũng nghi ngờ. Nếu tên do thám đó không phải được cử đi theo dõi tôi, thì không nghi ngờ gì nữa, gã có nhiệm vụ theo dõi và bẩm lại cho Công tước chủ của hắn tên những người có mặt tại đây. » Fabrizio nhún vai tỏ vẻ dửng dưng coi thường, một thái độ được Ferrabraccio đứng bên cạnh chia sẻ. « Cứ để ông ta biết », ông này dè bỉu với một nụ cười hằn học, « Ông ta sẽ biết khi đã quá muộn. » Người mới đến hơi ngả đầu ra sau, đôi mắt đen của chàng sáng lên nửa băn khoăn, nửa vỡ lẽ. Chàng thở dài. « Vậy là tôi đã đoán đúng », chàng nói lạnh lùng, «các ngài quả nhiên đang có ý phản nghịch. » « Thưa ngài Bá tước Aquilla », Fabrizio trả lời chàng, « chúng tôi phản bội một người để tận trung phục vụ một đất nước. » « Nước nào vậy ? » Bá tước Aquilla vặn lại khinh miệt. « Công quốc Babbiano. » « Các ngài phản bội Công tước để trung thành với công quốc ? », chàng hỏi, giọng càng có vẻ khinh bỉ. « Thưa các ngài, tôi thấy khó mà tiêu hoá được lý lẽ của các ngài. » Đám người dự mưu lặng lẽ trao đổi với nhau bằng những cái nhìn bàng hoàng. Họ đã không hề trông chờ một thái độ như vậy từ phía chàng bá tước, và nhìn nhau tự hỏi liệu có nên đi xa hơn không. Cuối cùng, khẽ thở dài, Fabrizio quay về phía Aquilla. « Thưa ngài bá tước », ông bắt đầu vói giọng nghiêm trang bình thản, « Tôi là một người già cả ; tên tuổi của tôi cũng như của gia đình tôi chưa hề có chút tỳ vết. Ngài không thể cho tôi là một kẻ tệ hại đến mức đã ngần này tuổi đầu còn cam tâm nhúng tay vào những chuyện có thể làm hoen ố bản thân hay danh dự gia đình. Làm một tên phản nghịch, thưa ngài, là một tội lỗi xấu xa. Hơn ai hết, không ai trong chúng tôi đáng bị kết án nặng nề như thế. Xin ngài hãy làm ơn lắng nghe tôi nói hết ; và sau khi đã biết tất cả, hãy phán xét chúng tôi. Không, chúng tôi trông đợi ở ngài nhiều hơn phán xét, thưa ngài bá tước. Chúng tôi mong ngài hãy dẫn dắt chúng tôi cứu quê hương chúng ta khỏi mối hoạ huỷ diệt đang đe doạ. Chúng tôi xin hứa sẽ không manh động khi chưa được ngài chấp thuận- sẽ chỉ làm theo sự chỉ huy của ngài. » Francesco del Falco, bá tước Aquilla, nhìn người quý tộc già, vẻ khinh miệt không còn nữa, thay vào đó là cái nhìn suy tư pha lẫn vẻ ngạc nhiên. Chàng khẽ gật đầu như để chấp nhận lời thỉnh cầu. « Xin ngài cứ nói, », chàng trả lời. Fabrizio vừa định nói tiếp thì vẫn lại là quý ngài Ferrabraccio chen ngang vào yêu cầu Aquilla thề trên danh dự hiệp sĩ sẽ không phản bội họ trong trường hợp chàng từ chối đề nghị của những người dự mưu. Sau khi chàng thề và mỗi người đều đã xoay xở tìm được cho mình một chỗ ngồi tàm tạm trong căn lều cũ nát, Fabrizio tiếp tục vai trò phát ngôn viên cho cả toán quý tộc dự mưu và tiết lộ lý do khiến ông mời bá tước đến dự cuộc hẹn của họ. Bằng vài câu ngắn gọn, ông tóm lược tính cách của Gian Maria Sforza, công tước tại vị của Babbiano, người đã được ông bác hùng mạnh Lodovico Sforza, công tước Milan, đặt lên ngai. Ông phàn nàn về sự xa hoa quá độ, về những cuộc truy hoan thâu đêm suốt sáng và thói quen chểnh mảng chính sự của đức ông công tước, cũng như sự bê trễ của ngài trong việc hoàn thành những trách nhiệm mà cương vị cao quý của ngài đòi hỏi. Tất cả được Fabrizio nhắc đến bằng thái độ chừng mực và tế nhị, một sự thận trọng hoàn toàn không thừa vì Francesco del Falco là em họ công tước. « Đến lúc này, thưa ngài bá tước », ông tiếp tục, » ngài không thể không biết sự bất bình với công tước anh họ ngài đang lan rộng trong dân chúng. Năm ngoái đã xảy ra vụ mưu phản của Bacolino suýt nữa đã khiến chúng ta rơi vào tay Florence. Vụ bạo động bất thành, nhưng một cuộc nổi loạn tiếp theo rất có thể sẽ không thất bại. Sự mất lòng dân ngày càng trầm trọng của công tước có thể khiến nhiều người hơn hưởng ứng một khi bạo loạn lại nổ ra, và chúng ta sẽ không còn là một quốc gia độc lập nữa. Sự tồn vong của nước nhà đang bị đe doạ. Không chỉ bởi nội loạn, mà cả ngoại xâm nữa. Kẻ xâm lăng đó chính là Cesare Borgia. Quyền lực ghê gớm của hắn lan nhanh như dịch bệnh trên toàn cõi Italy mà hắn đang ngoạm dần từng mảng chẳng khác gì người ta nhâm nhi một chùm nho, hết quả này đến quả khác. Đôi mắt tham lam của hắn đã bắt đầu nhòm ngó chúng ta. Và chúng ta, hoàn toàn chưa chuẩn bị sẵn sàng, có gì trong tay để đương đầu với sức mạnh áp đảo của công tước Valentinois ? Tất cả ngài công tước của chúng ta đều biết, vì chúng tôi đã nói đi nói lại không biết bao nhiêu lần với đức ngài, cũng như chúng tôi đã chỉ ra cho công tước lối thoát. Thế nhưng xem ra với mối nguy hiểm đang đe doạ mình, ngài công tước cũng phớt lờ như ngài đã luôn dửng dưng với sự cứu rỗi của bản thân. Công tước dành toàn bộ tâm trí cho tiệc tùng, khiêu vũ, săn bắn và đủ trò tiêu khiển phóng túng khác, và nếu chúng tôi có đánh bạo ngỏ lời can ngăn thì nguyền rủa và đe doạ là câu trả lời duy nhất chúng tôi nhận được. » Da Lodi ngừng lại, dường như nhận ra ông bắt đầu không kiềm chế nổi sự phẫn nộ trong lời nói. Nhưng các chiến hữu của ông một cách vô thức, tiếp tục lầm rầm khẳng định một cách phẫn nộ ngay cả khi nhà quý tộc già đã ngừng lời. Francesco nhíu mày thở dài. « Hỡi ôi, tôi cũng hoàn toàn ý thức được mối nguy hiểm các ngài nói tới. Nhưng… các ngài muốn trông đợi gì ở tôi ? Tại sao lại kể với tôi nỗi lo của các ngài ? Tôi không phải là chính khách. » « Chúng ta không cần đến chính khách ở đây. Babbiano cần một người lính ; một người có thể tổ chức một đội quân để chống lại cuộc xâm lược sắp tới…hay đúng hơn đã bắt đầu. Tóm lại, thưa ngài bá tước, chúng tôi cần một người lính như ngài. Trên toàn cõi Italy, còn có ai, cho dù là phụ nữ, trẻ con, là không biết đến danh tiếng của bá tước Aquilla ? Những kỳ công anh hùng của ngài trong cuộc chiến giữa Pisa và Florence, những chiến thắng oanh liệt và tài thao lược của ngài dưới màu cờ của Venice, tất cả đã trở thành đề tài cho những bản anh hùng ca. » « Ngài Fabrizio ! » Francesco kêu khẽ, tìm cách hãm lại tràng ca tụng nhiệt tình của người đối thoại, gò má rám nắng của chàng hơi đỏ lên. Nhưng Da Lodi vẫn tiếp tục không để ý : « Và ngài, bá tước, một người đã thể hiện mình can đảm như thế khi làm tư lệnh lính đánh thuê cho nước ngoài, chẳng lẽ lại là người chần chừ khi đem tài thao lược và sự can trường của bản thân ra chống lại kẻ thù của chính quê hương mình ? Không bao giờ. Chúng tôi biết tâm hồn yêu nước của Francesco del Falco, và hy vọng vào điều đó. » « Và các ngài đã không lầm », chàng trả lời chắc nịch, « Khi cần thiết các ngài sẽ thấy tôi luôn sẵn sàng. Nhưng cho đến lúc đó, về tất cả sự chuẩn bị cần thiết … tại sao các ngài không nói với công tước như đã nói với tôi ? » Một nụ cười buồn khẽ thoảng qua khuôn mặt cao quý của da Lodi, trong khi Ferrabraccio, vẫn với vẻ bộc trực đến lỗ mãng, bật cười mỉa mai rồi trả lời : « Liệu chúng tôi có thể nói với ông ta », ông đáp, « về thao lược, về lòng can đảm, về trận mạc được không ? Làm thế thì cũng ngược đời như đi nhắc nhở Roderigo Borgia làm tròn bổn phận của đấng chăn chiên, cũng vô ích như đi phun nước hoa lên một đống phân vậy. Những gì nói được với Gian Maria chúng tôi đã nói cả, và cho dù năn nỉ khuyên nhủ với ông ta cũng vô ích hệt như với ngài, chúng tôi cũng đã chỉ ra cho ông ta một cách khác để cứu nguy Babbiano và tránh cuộc tấn công của Cesare Borgia. » « A ! Và cách đó là gì ? » chàng bá tước hỏi lại, cái nhìn hướng về Fabrizio. « Một cuộc hôn nhân với gia đình công tước Urbino, » Lodi trả lời, « Guiđobaldo có hai cô cháu gái. Chúng tôi đã đánh tiếng với ông ta, và ông ta cũng sẵn sàng chấp nhận cuộc hôn nhân mà chúng tôi đề nghị. Trở thành thông gia với gia đình Montefeltro, chúng ta sẽ không chỉ nhận được sự giúp đỡ từ Guidobaldo, mà cả từ Bologna, Perugia, Camerio, cũng như một số nước nhỏ khác hiện đã là liên minh với Urbino. Như thế chúng ta có thể đối đầu với Cesare Borgia bằng một liên minh đủ mạnh để khiến y không bao giờ dám đặt chân lên lãnh thổ của chúng ta. » « Tôi cũng đã nghe nói về chuyện này, » Francesco nói, « nếu thành công đó sẽ là một bước đi khôn ngoan. Đáng tiếc là cuộc thương lượng đã không đi đến đâu. » « Thế nhưng tại sao nó lại không đi đến đâu ? Quỷ tha ma bắt, tại sao ? », Ferrabraccio nóng nảy gầm lên, nắm tay hộ pháp đấm mạnh xuống chiếc bàn như muốn đập vụn nó ra từng mảnh, « Tại vì Gian Maria không có hứng lấy vợ ! Cô bé chúng tôi làm mối cho ông ta xinh xắn như một nàng tiên vậy, ấy thế mà ngay cả đi xem mặt ông ta cũng không màng. Bởi vì ở Babbiano có một cô ả … » « Thưa ngài bá tước, » Fabrizio vội vàng cắt ngang, sợ rằng ông bạn sẽ đi quá xa, « mọi chuyện đúng như Ferrabraccio đã nói. Đức ông công tước không muốn cưới vợ. Và chính chuyện này đã khiến chúng tôi quyết định hẹn gặp ngài ở đây tối nay. Công tước sẽ chẳng làm gì để cứu công quốc, và chúng tôi chỉ còn biết trông cậy vào ngài. Dân chúng đứng về phía chúng tôi ; trên đường phố Babbiano mọi người nói công khai rằng ngài là công tước mà họ muốn để trị vì và bảo vệ họ. Thể theo ý nguyện thiêng liêng của nhân dân, » ông quý tộc già đứng dậy, kết thúc với giọng run rẩy vì xúc động, « và nói lên tiếng nói của nhân dân, mà chúng tôi chỉ là đại diện, chúng tôi xin trao cho ngài vương miện công tước của Babbiano. Hãy trở về cùng chúng tôi đêm nay, thưa chúa công, và sáng mai, chỉ cần hai mươi tay thương hộ tống, chúng ta sẽ tiến vào Babbiano để suy tôn ngài làm công tước. Ngài cũng không phải lo đến sự chống trả nào, cho dù nhỏ nhất. Ở Babbiano chỉ còn một người còn trung thành với Gian Maria – chính là gã Masuccio mà ngài nói đã trông thấy tối nay. Mà cũng chỉ vì Gian Maria đã trả tiền để mua sự trung thành của gã và năm chục tên lính đánh thuê Thuỵ Sĩ . Hãy hành động, thưa đức ông ! Hãy để lý trí của ngài nói với ngài xem một người trung thực có cần đắn đo hay không trước khi phế bỏ một ông hoàng mà ngai vàng chỉ được che chở bởi sự bảo vệ thuê mướn từ năm mươi tay lính đánh thuê nước ngoài. » Tiếp theo bài diễn thuyết đầy ấn tượng là một khoảng yên lặng. Da Lodi vẫn đứng, những người khác đều ngồi, ánh mắt khẩn khoản hướng về chàng bá tước, chăm chú chờ đợi lắng nghe câu trả lời. Họ im lặng như vậy một lúc lâu, trong khi Aquilla bất động như một bức tượng. Chàng ngồi lặng thinh, tay nắm chặt thành ghế, đầu khẽ cúi dần về phía trước đến khi cằm chạm ngực, vầng trán cao nhíu lại, tối sầm. Trong khi mọi người chờ đợi câu trả lời của chàng, một trận chiến âm thầm bùng lên dữ dội trong chàng. Quyền lực chàng không hề trông đợi chợt đến quá bất ngờ ngay trong tầm tay, và sẽ là của chàng, chỉ cần chàng dang rộng vòng tay ra đón nhận, đã làm chàng choáng váng, đôi mắt hoa lên trong khoảnh khắc. Nhanh như một tia chớp chàng thấy mình trở thành công tước Babbiano. Trôi qua vùn vụt trước mắt chàng là hình ảnh của một sự nghiệp hiển hách khiến tên tuổi của chàng và tiếng tăm của Babbiano lan rộng khắp Italy. Từ một công quốc vô danh, lòng ái quốc và tài thao lược của chàng sẽ nâng Babbiano lên ngang hàng những quyền lực lớn nhất Italy – ngang hàng với Florence, Venice hay Milan. Chàng nhìn thấy lãnh thổ công quốc không ngừng mở rộng, các nước láng giềng trở thành chư hầu dưới sức mạnh của chàng. Chàng nhìn thấy mình chiếm lấy từng dặm đất Romagna từ tay Borgia, săn lùng gã như chàng vẫn săn lợn rừng ở vùng đầm lầy Commachio, hoặc buộc gã phải bỏ chạy về Vatican nấp sau vạt áo chùng của cha gã - mảnh đất cuối cùng chàng cho phép gã được đặt chân lên trên trái đất. Chàng mơ màng về một Babbiano hùng mạnh, được tất cả các nước cộng hoà cầu cạnh tìm kiếm sự liên minh để chống lại mối đe doạ từ Pháp và Tây Ban Nha. Chàng nhìn thấy tất cả lướt qua trước mắt, và sự cám dỗ như xiết chặt tâm hồn thượng võ của chàng trong vòng đai sắt. Thế rồi một bức tranh hoàn toàn khác hiện ra trước mắt chàng. Trong những lúc thời bình chàng sẽ làm gì ? Trong cung điện chàng luôn cảm thấy buồn chán vô vị. Chàng được sinh ra để sống cuộc đời phóng khoáng của một người lính chứ không phải cho không khí tù hãm của cung đình. Để đánh đổi lấy quyền lực chàng sẽ phải hy sinh gì ? Tự do vô giá của chàng. Để trở thành chủ nhân của người khác trong một số việc, để làm nô lệ cho họ trong nhiều việc hơn thế. Trên danh nghĩa là người trị vì, trên thực tế là kẻ bị cai quản đủ đường. Cho tới khi chàng không còn làm hài lòng các chủ nhân thực sự của chàng nữa. Đến lúc đó, cũng vào một buổi hội họp ban đêm như tối hôm nay, người ta sẽ lại âm mưu để thay thế chàng bằng người khác như chàng đang được mời mọc thay thế Gian Maria. Cuối cùng, chàng nghĩ tới người mà chàng đang được thúc giục cướp lấy cơ nghiệp. Đó là anh họ chàng, con trai người chị gái của cha chàng, một người trong huyết quản đang chảy cùng dòng máu với chàng. Sau hồi lâu, chàng ngẩng đầu lên nhìn những khuôn mặt lo lắng nửa tối nửa sáng dưới ánh đèn tù mù. Một nụ cười lạnh lùng thoáng qua giây lát trên cặp môi cương nghị của chàng. « Tôi chân thành cảm ơn vinh dự lớn lao các ngài đã dành cho tôi »,chàng trả lời chậm rãi, « một vinh hạnh mà tôi e mình hoàn toàn không xứng đáng. » Tất cả đồng thanh lên tiếng phản đối. « Hay ít nhất, đó là một vinh dự tôi không thể chấp nhận. » Tiếp theo là một khoảnh khắc im lặng, khuôn mặt đám quý tộc dự mưu đang hăng hái nhiệt tình bỗng chốc ỉu xìu bất bình. « Nhưng tại sao, thưa ngài ? », ông lão Fabrizio kêu lên, đưa tay về phía chàng, giọng nghẹn ngào. « Tại sao kia chứ, thề có Đức Mẹ Thánh Thần ? » « Bởi vì – hãy nói đến chỉ một thôi bên cạnh các lý do khác - người các ngài yêu cầu tôi lật đổ và thay thế là người cùng dòng máu với tôi. » Và nếu giọng nói của chàng không hoàn toàn bình thản đám người dự mưu có thể cho rằng chàng đang lên án họ. « Tôi đã nghĩ, » anh chàng Fanfulla đẹp trai bảnh bao đánh liều chen vào, « với một người như bá tước, nước nhà và lòng ái quốc sẽ quan trọng hơn huyết thống cơ đấy. » « Cậu nghĩ không sai đâu, Fanfulla. Tôi đã chẳng vừa nói rằng đó chỉ là một bên cạnh các lý do khác sao ? Hãy nói thử xem, thưa các ngài, lý do nào khiến các ngài tin tôi sẽ trị vì các ngài một cách công minh và khôn ngoan ? Một cách tình cờ vào lúc khủng hoảng này Babbiano cần một người lính lãnh đạo nó. Nhưng đừng để điều này huyễn hoặc các ngài, vì sẽ có lúc một người như thế sẽ không còn thích hợp cho việc trị quốc nữa, cũng như trường hợp của công tước tại vị trong hoàn cảnh hiện nay. Đến lúc đó thì sao đây ? Một chàng hiệp sĩ lang thang là một triều thần biếng nhác và một chính khách tồi. Cuối cùng, các bạn thân mến – vì các ngài muốn biết tất cả những gì diễn ra trong trái tim tôi – còn một sự thật nữa là tôi cũng yêu quý bản thân mình một chút. Tôi yêu quý sự tự do của bản thân, và không hề muốn chết ngạt trong bầu không khí ngập mùi nước hoa của cung đình. Các ngài thấy là tôi đang thẳng thắn với các ngài. Tôi luôn ưa thích lang bạt trên thế gian này, vũ khí đeo sau lưng, tự do như cơn gió trên trời cao. Liệu một chiếc vương miện công tước và một chiếc áo choàng tím … » Chàng bật cười vang thành tiếng. « Vậy đấy, thưa các bạn ! Các ngài đã có quá đủ lý do rồi. Một lần nữa tôi cảm ơn các ngài, và lấy làm tiếc rằng, để được là tôi, tôi không thể trở thành người các ngài muốn. » Chàng ngồi lại xuống ghế, nhìn họ với ánh mắt chưa khi nào lại buồn bã đến thế. Sau một giây im lặng, da Lodi cất tiếng, với giọng run run, cầu khẩn chàng suy nghĩ lại quyết định của mình. Ông lão còn đang toan tiếp tục thuyết phục thì Aquilla cắt ngang ngăn lại. « Tôi đã cân nhắc kỹ rồi, thưa ngài Fabrizio. » chàng trả lời dứt khoát, « không gì có thể lay chuyển được tôi đâu. Nhưng tôi xin hứa với các ngài điều này : tôi sẽ tới Babbiano tìm cách thuyết phục anh họ tôi. Tôi sẽ làm hơn thế ; tôi sẽ thuyết phục công tước trao cho tôi việc chỉ huy quân đội. Nếu được công tước chấp thuận, tôi sẽ tổ chức lại lực lượng của chúng ta, đồng thời tìm cách liên minh với các nước láng giềng để bảo đảm, ít nhất ở mức độ nào đó, an ninh của chúng ta. » Đám quý tộc vẫn cố tìm cách thuyết phục chàng, nhưng vô ích. Cuối cùng, da Lodi, với khuôn mặt rầu rĩ, đứng lên cảm ơn chàng vì lời hứa sẽ sử dụng ảnh hưởng của chàng với Gian Maria. « Ít nhất chúng tôi muốn cảm ơn ngài bá tước về chuyện này ; về phía mình, chúng tôi sẽ tận dụng mọi ảnh hưởng chúng tôi có được ở Babbiano để chức chỉ huy quân đội được trao cho ngài. Chúng tôi những muốn thấy ngài được tôn vinh ở một địa vị cao quý hơn, và nếu ngài thay đổi ý định… » « Đừng hy vọng vào điều đó, » bá tước trả lời, lắc đầu nghiêm nghị. Đột nhiên, trước khi có ai kịp nói thêm điều gì, chàng trẻ tuổi Fanfulla degli Arcipreti đứng bật dậy, đôi lông mày nhíu lại, khuôn mặt điển trai hiện vẻ cảnh giác lo lắng. Chàng đứng yên một giây như vậy rồi lao vội về phía cửa, mở rộng cửa ra rồi đứng lắng nghe, trong khi mọi người đều nhìn theo với vẻ ngạc nhiên. Nhưng không cần đợi đến khi chàng vừa quay lại vừa kêu lên kêu báo động, mọi người đã hiểu nguyên nhân khiến chàng đột nhiên hành động lạ lùng như vậy. Ngay sau khi tiếng động do cánh cửa bị mở đột ngột gây ra vừa dứt, tất cả đều nghe thấy tiếng bước chân theo nhịp đều đặn từ xa vẳng lại. ... Mời các bạn đón đọc Tình Yêu Ra Trận của tác giả Rafael Sabatini.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

George Sand
Dịch giả : Đặng thị Hạnh và Lê Hồng Sâm Dịch nguyên bản tiếng Pháp George Sand   Cuốn sách này xuất bản trong khuôn khổ «  Chương trình hợp tác xuất bản, đưọc sự giúp đỡ của Trung tâm Văn hóa và Hợp tác Đại sứ quán Pháp tại nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ nghĩa Việt Nam (Cet ouvrage, publié dans le cadre du Progamme de participation à la publication, bénéficie du soutien du Centre Culturel et de Coopération de l’Ambassade de France en République Socialiste du Vietnam) Béatrice Didier là một giáo sư trường Đại học Sư phạm ( Phố Uhm, Paris) ; tác giả của nhiều tiểu luận ( Nhật ký thầm kín, văn viết - phụ nữ… ) về văn học Pháp thế kỷ XVII và thế kỷ XIX, đặc biệt về Stendhal và George Sand. Năm 1998 bà đã xuất bản ở PUF một tác phẩm, đầu đề lấy nguồn cảm hứng từ Flaubert : George Sand. Một giòng sông lớn châu Mỹ. bà là người chủ trì việc xuất bản toàn tập George Sand ở Honoré Champion, một công việc từ trước tới nay chưa bao giờ được thực hiện. George Sand «Với tư cách người sáng tạo ra kiệt tác, bà là người thứ nhất trong giới phụ nữ, bà có thứ hạng độc nhất đó, trên phương diện nghệ thuật, không phải chỉ của thời đại chúng ta mà của mọi thời đại; bà có trí tuệ mạnh mẽ nhất và cũng đáng yêu nhất đã được trao tặng cho giới của bà. Thưa Bà, bà làm vẻ vang cho thế kỷ và cho đất nước chúng ta […] Tôi xin cảm tạ bà vì đã là một tâm hồn lớn lao đến thế”. VICTOR HUGO, Thư gửi George Sand, Paris 19 tháng sáu năm 1875 ° ° ° Beatrice Didier là giáo sư trường Đại học Sư phạm (phố Uhm, Paris); tác giả của nhiều tiểu luận (Nhật ký thầm kín, Văn viết - phụ nữ...) về văn học Pháp thế kỷ XVII và thế kỷ XIX, đặc biệt về Stendhal và George Sand. Năm 1998 bà đã xuất bản ở PUF một tác phẩm, đầu đề lấy nguồn cảm hứng từ Flaubert: George Sand. Một giòng sông lớn châu Mỹ. Bà là người chủ trì việc xuất bản toàn tập George Sand ở Honoré Champion, một công việc từ trước tới nay chưa bao giờ được thực hiện.   Mở đầu Ai sợ George Sand ? Các phản ứng khó thương của một Baudelaire có lẽ là bắng chứng rõ ràng nhất về nỗi lo âu do bà gây nên. Trong một thời gian dài người phụ nữ - tác giả đã khiến người ta sợ, đặc biệt nếu người ấy chẳng chịu thôi làm phụ nữ. Ngay từ đầu vinh quang của bà đã có vầng hào quang tai tiếng bao quanh.  Điều này có vẻ đáng ngạc nhiên, bởi rốt cuộc thì trong thế kỷ XVIII của chúng ta, đông đảo nữ văn sĩ từng có tình nhân ; nhưng giữa thời gian ấy đã diễn ra cuộc Cách mạng, rất ít chú ý đến nữ quyền, cần phải thừa nhận như vậy : sau đó nền Đế chế, thời Trùng Hưng và triều đại Louis –Philippe biểu thị bước thoái bộ rất rõ trong việc giải phóng phụ nữ. Và dư luận công chúng, ở thế kỷ XIX, với sự phát triển của báo chí, các phương tiện trung gian để làm rùm beng vụ tai tiếng, những phương tiện mà thế kỷ trước không có. Trong một thời gian dài nền phê bình văn học, chịu ảnh hưởng của dư luận này, cứ khăng khăng thấy George Sand là người tình của Musset hay của Chopin, thay vì thấy bà là một đại văn hào, như chúng ta hiện nay. Điều đó lý giải tình trạng tương đối thất sủng của sáng tác George Sand. Tuy nhiên, sinh thời bà, một Balzac, một Flaubert và nhiều bậc khác coi bà là đồng đẳng với mình. Tại nước ngoài ảnh hưởng của bà hết sức lớn lao, thí dụ như với Dostoievski và với tiểu thuyết Nga, cả với tiểu thuyết Ý. Bà từng được việndẫn bởi tất cả những phụ nữ nhìn thấy ở bà một ngưòi giải phóng. Trong những năm đầu thế kỷ XX, Alaine và đặc biệt Marcel Proust coi bà là một đại văn hào. Sau đó, nhờ nhiều công trình từng in dấu ở nửa sau thế kỷ, hình ảnh của George Sand và công trình của bà đã định hình rõ rệt. Trước hết chúng ta hãy tỏ bày niềm kính trọng đối với việc xuất bản Thư Tín do Georges Lubin phụ trách, gồm hai mươi sáu tập dày, cho phép chúng ta xem xét cuộc sống của George Sand ngày này qua ngày khác, cuộc sống khác hẳn với những sự đơn giản hóa mà bà là nạn nhân, cho ta thấy khả năng làm việc khó tin nổi và theo dỏi công việc sáng tác của bà trong những nét lớn. Chúng ta cũng lưu ý cả nỗ lực đã được thực hiện trong lĩnh vực xuất bản, tuy vẫn còn chưa đủ. Cho đến nay chưa nhà xuất bản nào ấn hành một bộ tổng tập : Honoré Champion là nhà xuất bản đầu tiên khởi sự công trình này, sẽ phải được tiến hành trong nhiều năm. Các trường đại học đã đi vào nghiên cứu văn hào một cách nghiêm túc : trường Đại học Grenoble, với các công trình của..Cellier và L.Guichard, được học trò của các ông tiếp nối, trường Đại học Vérone, với A. Poli, các trường Đại học Paris VII, Amsterdam, Hanovra, các trường Đại học Mỹ … Tuy vậy vẫn còn rất nhiều việc cần làm.   Tiểu thuyết của George Sand, được viết với sự dung dị mà người ta thường chê trách bà, dễ đọc ; tuy nhiên nắm bắt toàn thể công trình của bà lại khó, trước hết do tầm rộng lớn của nó. Rất hiếm người có thể tự phụ là đã đọc chín mươi cuốn tiểu thuyết, các tác phẩm tự thuật, kịch, các bài báo, thư từ trao đổi của bà : giá như muốm làm, phải bỏ vào đó cả cuộc đời. Cho nên người ta thích tái bản những gì tất cả mọi người đều biết, thí dụ như các tiểu thuyết gọi là « đồng nội », và bỏ qua phần kịch, bị đánh giá nhầm lẫn là khó diễn. Tự giới hạn ở vài hình ảnh về George Sand do các thế hệ trước truyền lại thì dễ hơn: người đàn bà định mệnh, rồi « bà phu nhân hiền hậu của Nohant ». Trong chừng mực bà từng gây ra và còn đang gây ra những cách lý giải say sưa sôi nổi, lại cũng khó có được một cái nhìn tương đối khách quan và đừng phóng chiếu lên bà các sơ đồ của thế kỷ XXI chúng ta. George Sand nhà đấu tranh vì phụ nữ ư ? Một số người sẽ cho rằng bà đấu tranh chưa đủ. Sáp nhập bà với các nhà đấu tranh vì phụ nữ những năm 1970 là một việc làm nguy hiểm : sự giải phóng phụ nữ mà bà yêu cầu xét cho cùng khá hạn chế, khi sẵn sàng chấp nhận là những người phụ nữ thuộc mọi đẳng cấp xã hội không có cùng một phận vị. Nhưng cần đặt cuộc đấu tranh của bà vào thời đại bà, chứ không phải thời đại chúng ta. Georges Sand xã hội chủ nghĩa, bạn của Pierre Leroux, ủng hộ 1848, thậm chí tham gia hoạt động trong đó ? Nhưng người ta sẽ thấy chủ nghĩa xã hội ấy là rụt rè, người ta sẽ chê trách thái độ của bà trong thời kỳ Công xã. Cả ở đây nữa, cũng cần xác lập lại các viễn cảnh : năm 1848 và năm 1871 tuổi bà đã khác đi: bà đã sống ngày này qua ngày khác những biến cố mà chúng ta biết một cách tổng quát và theo phương pháp quy nạp, đối với những biến cố đó chúng ta có thể có một cách nhìn khác với những người đương thời. Một điều cũng gây khó nghĩ, đó là trong cuộc sống thọ của bà, George Sand đã tự đổi mới, đã ứng dụng những thể loại rất khác biệt và thật khó đưa bà vào các phạm trù đã định giới hạn. Bà từng được một công chúng hết sức rộng rãi đọc trong suốt thế kỷ XIX. Bà có là nhà sáng tạo những hình thức mới hay không ? Nhiều hơn người ta nghĩ. Bà có quan tâm đến bút pháp, hay như người ta từng khẳng định, bà viết những gì lướt qua óc mình ? Việc nghiên cứu các bản thảo chứng tỏ rằng, dù không chữa kỹ lưỡng như một Flaubert, song bà dụng công, chỉnh sửa, nâng cao, hơn người ta thường bảo rất nhiều. Các bạn đã đọc George Sand chưa? Cuốn sách nhỏ này muốn xui bạn hãy làm điều đó và đặc biệt là hãy phiêu lưu ngay (nếu việc đọc toàn bộ hầu như bất khả thực hiện) đến với những tác phẩm ít nổi tiếng hơn. Như thế bạn sẽ có được một khái niệm về sự phong phú, về tính đa dạng, về chất quảng đại trong văn chương của người được Flaubert ví với “một dòng sông lớn châu Mỹ”. Chú ý đến tác phẩm hơn là cuộc đời, chúng tôi sẽ theo trật tự thời gian trên những nét lớn, nhưng đồng thời có những tập hợp về thể loại để giúp nắm bắt đồng thời cả tính phức hợp cả sự nhất quán của công trình.   *** George Sand ưa nhấn mạnh sự kiện là do chính nguồn gốc gia đình mà bà thuộc về hai giới hết sức khác biệt. Giới quý tộc về bên nội, giới bình dân về bên ngoại. Vào thời kỳ hậu – cách mạng mà người ta mơ hòa giải xã hội, bà thấy nguồn gốc của mình như một biểu trưng cho sự liên kết các cực, cho phép bà thừa kế mọi tiềm năng của một  dân tộc. Amandine – Aurore – Lucile Dupin sinh ngày 12 tháng Messidor năm XII (1 tháng Bảy năm 1840) ở số nhà 15 (ngày nay là nhà số 46) phố Meslée hay Meslay, tại Paris.  Về bên nội, Aurore là dòng dõi của Maurice de Saxe, vị anh hùng trận Fontenoy và của nhiều chiến thắng khác, sau thành Thống chế nước Pháp. Ông có với Marie Rainteau một con gái ngoài giá thú: đó là bà nội của George Sand; được nuôi dạy tại nữ học hiệu Saint – Cyr, bà kết hôn với Louis Claude Dupin de Francueil, sáu mươi mốt tuổi khi bà hai mười chín, và sống với ông rất hạnh phúc, như sau này bà tâm sự với cháu gái. Xuất thân từ giới đại tài chính, ông qua đời trước Cách Mạng ba năm, để lại cho bà một gia sản khá lớn. năm 1793, bà tậu cơ ngơi Nohant, nhưng có bị giam giữ ít lâu dưới thời Khủng bố. Con trai bà, Maurice Dupin, sinh năm 1778, ước mơ vinh quang trong ngành quân sự và gia nhập đội Cộng Hoà. Anh lập công trong cuộc viễn chinh sang Ý, đặc biệt ở Marengo. Cũng ở bên ý, Maurice gặp Antoinette Sophie – Victoire Delaborde, bấy giờ đang là tình nhân của một chuẩn tướng. Nguồn gốc tầm thường, quá khứ hơi lộn xộn của thiếu phụ khiến Maurice giữ bí mật việc kết hôn tiến hành ngày 5 tháng Sáu năm 1804, một tháng trước khi George Sand tương lai chào đời. Sự nghiệp quân sự của Maurice Dupin tiếp tục cùng Đại quân: các cuộc viễn chinh sang Bavière, sang Phổ, sang Ba Lan và Tây ban Nha (ở đó Maurice là trợ lý cho hoàng thân Murat). Người vợ, lại có mang, sang Tây Ban Nha với chồng cùng cô bé Aurore 4 tuổi. Vậy là George Sand, cũng như Victor Hugo, có tuổi thơ in dấu của bản anh hùng ca Napoléon và của cuộc chiến khủng khiếp tại Tây Ban Nha. Những hình ảnh không thể nào quên đã khắc sâu vào ký ức những đứa trẻ còn rất non nớt về sau sẽ trở thành các đại văn hào lãng mạn chủ nghĩa. Cuối tháng 7 năm 1808, trở về Nohant, tiếp theo là hai biến cố đau thương: tháng 9, em trai George Sand chết, được một tháng tuổi, rồi đến người cha, vì ngã ngựa ở gần La Châtre. (vùng Creusse) Sau này nhà văn sẽ dành một phần lớn trong Truyện đời tôi để kể câu chuyện của cha mẹ, nhất là người cha? Sự hòa hợp các tầng lớp xã hội mà Sand mơ ước, bà đã cảm nhận những khó khăn ngay từ thời thơ ấu, và cảm nhận một cách đau đớn. Bà Daupin de Francueil, muốn đảm trách việc giáo dục cô bé, đã khiến người mẹ từ bỏ quyền giám hộ. George Sand tương lai sống thời thơ ấu ở Nohant, với các cuộc đến thăm ngắn ngủi của mẹ, và những khi bà nội nghỉ đông tại Paris thì cô bé gặp mẹ nhiều hơn. Cô bé thấy mình bị giằng xé giữa hai người thể coi là hai bà mẹ, cô yêu mến cả hai, nhưng cảm nhận được sự thù địch sâu xa giữa họ. Cho nên bộ tự truyện sau này sẽ bị lôi kéo bởi những nẻo đường khác nhau: lý tưởng hóa mối tình của bố mẹ, thiên tình sử bên Ý và sự ra đời của mình (“Ngày hôm ấy mẹ tôi mặc một tấm áo dài đẹp màu hồng, còn cha tôi đang chơi vĩ cầm Crémone của ông”, một truyện thần tiên), nhưng cũng diễn tả cả nỗi đau thực sự sau này của mình và biện hộ cho mẹ về việc hầu như bỏ rơi con, sự bỏ rơi có lẽ do ưu thế kinh tế của bà nội nhiều hơn là do điều mà Sand không thể hình dung nổi như thái độ thờ ơ. George Sand, nhìn chung thường ít gạch xóa bản thảo, để lộ niềm bối rối này qua cách viết đầy khăn khoăn dằn vặt ở những đoạn liên tưởng đến mẹ. Nhà văn cũng muốn, một cách hết sức công bằng, bộc bạch món nợ đối với người bà mà tính cách mạnh mẽ đã in dấu lên mình. Nhờ bà nội; George Sand được biết chế độ cũ, về mặt thời gian hãy còn rất gần, nhưng sự đứt đoạn là Cách mạng đã đột ngột đẩy lùi thật xa vào dĩ vãng. Ngoài ra, Nohant là chốn buông neo đích thực của Sand. Bà sẽ du hành, bà sẽ ở Paris, nhưng giống như Antée, bà luôn cảm thấy cần lấy lại sức mạnh từ mảnh đất của thời thơ ấu nơi mà sau này bà muốn sẽ là chốn yên nghỉ cuối cùng cho mình. Chính từ Nohant mà bà cảm thấy niềm say mê đối với miền quê và chính xác hơn là đối với miền Berry, sẽ là khung cảnh cho nhiều tiểu thuyết của bà. Cũng từ nơi đây mà bà có được sức khoẻ cường tráng ít khi suy giảm. Jean Louis François Deschartres, trước kia là gia sư của người cha, trở thành gia sư cho cô con gái, và sự đào tạo về trí tuệ của Aurore, mặc dù lộn xộn đôi chút, về tổng thể vững vàng hơn sự đào tạo mà đa số các cô gái thời đó được hấp thụ. Thư viện của bà nội, người từng quen biết Jean Jacques Rousseau, có nhiều sách, và cô bé thỏa mãn được niềm đam mê đọc sách sẽ bền vững nơi cô. Bà nội chơi phong cầm và hát; chính nhờ bà mà Sand có được cơ sở của một sự giáo dục về âm nhạc nghiêm chỉnh hơn sự giáo dục của rất nhiều nhà văn lãng mạn. Nhưng trong Truyện đời tôi, bà chú ý nhắc nhở rằng mẹ bà thuộc một gia đình bán chim, rằng con chim như một vật tổ của bà: bà nội, đó là âm nhạc bác học, mẹ, đó là âm nhạc của thiên nhiên, cả âm nhạc dân gian nữa; chúng ta sẽ gặp lâi hai phương diền này của lĩnh vực âm nhạc trong sáng tác của bà, và chúng ta sẽ thấy Consuelo hoà giải các phương diện đó ra sao. Mời các bạn đón đọc George Sand của tác giả Beatrice Didier.
Cô Gái Chúc Sơn
Mới hạ tuần tháng chín, trời chưa hẳn sang đông mà đã giá căm căm. Trên mặt sông lạnh tanh từ sáng đến trưa, con đò ngang mới chở được vài ba chuyến, mỗi chuyến lèo tèo dăm sáu người. Cảnh ngược xuôi tấp nập trên đường đê rộng thênh thang lượn dài theo con sông Đáy cũng không còn nữa. Trong túp lều tranh nhỏ xíu dựng nép bên đường, bà hàng tóc bạc phơ buồn bã ngó con đê vắng ngắt, giòng sông lạnh lẽo với con đò bơ vơ. Ngồi co ro trong tấm áo bông cánh còn mới, bà cụ chít lại chiếc khăn vuông nâu cho thật kín và nhớ lại những ngày đông vui đã qua. Nào mấy bà người làng te tái từ dưới bến lên vào uống bát nước chè tươi cho ấm bụng, nào mấy ông khách buôn, tay nải khoác chĩu một bên vai, sà xuống ghế làm một cút 1 rượu nhắm với đĩa lòng béo ngậy… Bà cụ nhớ cả những tiếng dép da trâu lẹp kẹp trên mặt đường, những tiếng nói chuyện ồn ào của những ông lái, bà lái không bao giờ ghé vào trong quán. Họ phải gồng gánh nặng và luôn luôn phải chạy gằn từng thôi 2 thẳng cho kịp giờ họp chợ. Nhớ cả đám trẻ con nô đùa dức lác… Chỉ có nghịch, chỉ có phá, nhưng mà vui. Còn bây giờ, nguyên cả một nồi chè đậu đãi chưa ai động đến với già nữa chõ xôi ngon thật là ngon. Cứ cái cung cách này chắc tối nay cả nhà phải ăn xôi chè trừ bữa… Có tiếng vang lên cùng với tiếng chân người bước tới. - Có nắng rồi !... Cũng sắp có đò nữa ! Hai người đàn ông hăm hở bước vào trong quán. Cả hai cùng cao lớn, vạm vỡ. Nét mặt và cử chỉ cùng lanh lợi. Và họ cùng đảo mắt xoi mói khắp nơi trong quán hẹp trước khi bóc mấy tấm bánh nếp ra ăn. Họ chỉ đưa mắt cho nhau chứ không nói chuyện bằng lời và chỉ ậm ự khi bà hàng đon đả mời họ dùng thêm thứ này thứ khác. Dưới sông, con đò đã gần sang tới bến. Họ trả tiền, đứng dậy. Mấy chiếc lá gói bánh bay lào xào, đuổi nhau trên mặt đê. Bà hàng ngước mặt lên nhìn khách : - Hai ông sang đò ? - Phải ! Đó là tiếng nói độc nhất mà một trong hai người đã miễn cưỡng buông ra trong quán nước. Y có một bộ râu quai nón khá đẹp. Họ bước xuống con đường dốc. Một tên ngoái lại nhìn thấy có ba người từ phía nam đi tới sắp bước vào trong quán. Bà hàng vồn vã : - Mời ba ông vào nghỉ chân sơi nước. Nắng xiên khoai chiếu vào đầy quán. Cả chủ lẫn khách khoan khoái ngâm mình trong ánh vàng ấm áp. Bà hàng một tay vươn ra lật ngửa mấy chiếc bát ở sát mép chõng, một tay ngoái ra đàng sau cầm cái gáo dài múc nước chè tươi rót cho khách. Hình ảnh ngộ nghĩnh y như một người đang quờ quạng bơi trong nắng. Bà suýt soa : - Mới tháng chín mà trời đã rét ngọt ! Đi đường lúc này chắc vất vả lắm, thưa ba ông ? - Phải !... Hàng có gì ăn không, bà cụ ? Ông khách có gương mặt nho nhã nhất lên tiếng hỏi. Bà hàng ân cần đáp, vẻ mừng hiện rõ trên đôi môi ăn trầu cắn chỉ 3 : - Thưa có ạ. Xôi lạc ngon lắm. Cả chè đậu đãi nữa. Xôi tôi để nguyên trong chõ, nóng hôi hổi. Để tôi cơi 4 ra đĩa, ba ông sơi thử. Người cao lớn nhất ngồi ngoài cùng cười nói oang oang : - Thôi, bà cụ cơi cho ông thầy tôi đây một đĩa xôi và hai chén chè là đủ. Còn bao nhiêu bà cụ cứ để đấy, hai anh em tôi lo cho. Hai người lực lưỡng như hai ông hộ pháp ăn như rồng cuốn nước trước sự ngạc nhiên và mừng rỡ của bà hàng. Tuy nhiên, những gì xẩy ra chung quanh cũng không qua được tai mắt họ. Dưới bến, chiếc đò ngang đã tới. Cô lái, người cao dong dỏng, cắm chiếc sào dài xuống đất cho thuyền ghé sát bờ. Khách quá giang ngưng bặt câu chuyện đang nói dở khi họ thấy hai người bịt khăn tùm hụp từ mặt đê xuống tới nơi. Họ lên bờ, lặng lẽ. Tên có hàm râu quai nón nhẩy tót xuống thuyền, nhẹ như chiếc lá. Mặt y lầm lì trong khi gã bạn đồng hành nhe hàm răng trắng nhởn cười nham nhở và làm bộ quờ quạng nắm cổ tay trắng nõn của cô lái như phải có một điểm tựa mới bước được lên thuyền. Sợ hãi, người con gái vội rụt tay lại và kéo theo luôn cả con sào. Mũi thuyền quay ngang hắt tên vô lễ lăn tòm xuống nước. Tiếng cười khoái trá vang trên mặt đê. Cười lớn nhất là hai ông khách ăn mạnh như hùm trong quán. Ông khách nho nhã vuốt chòm râu đen nhánh khen : - Hà hà ! Cô bé cũng là tay đáo để đấy chứ, phải không hai chú ? - Dạ. Thân thủ 5 khá lắm. Người thứ hai tiếp lời : - Còn phải nói ! Con gái Chúc Sơn mà ! - Ờ, trông cách cô bé gỡ tay rồi bước xéo chân khiến cho con thuyền tạt ngang, êm cứ như ru, cũng biết cô bé có nghệ chân truyền. - Vâng. Ngón nghề cô bé vào hạng cừ khôi đó, thưa thầy. Bà hàng bỗng thấy cao hứng, tươi cười nói xen vô : - Con gái họ Hoàng mà, thưa ba ông. Lúc thường thì ăn nói dịu dàng, dễ thương hết sức. Nhưng lúc cần dụng võ thì, nói ba ông bỏ lỗi, con trai lực điền cũng không bằng. Ông khách ngồi ngoài cùng ngó xuống mé sông, thích chí cười ha hả : - Chả thế mà hai tên kia biết thân phải ngồi yên một phép ! - Rét mướt thế này mà tên kia ướt như chuột lột… Kìa, cu cậu phải ngồi thu hình vào một xó cho đỡ lạnh, trông thảm hại chưa ! - Cho thế mới đáng đời ! - Hai đứa cũng là tay võ nghệ, sao chúng không gây sự nhỉ ? Bà hàng tươi cười giải thích : - Chúng nó không dám đâu ông ơi ! Một thằng là người làng làm chó săn cho giặc. Tôi nhận ra ngay khi nó mới bước chân vào trong quán. Còn thằng kia là Tầu. Đánh nhau trên bộ không biết sao, chứ giở giỏi ra trên thuyền thì chết với cô gái. - À, ra thế ! Có phải cô ấy là cô Sơn Ca không bà cụ ? Bà hàng ngạc nhiên : - Phải. Mà sao ông biết ? - Chúng tôi nghe người ta đồn. Bà hàng nhỉ, sao từ nẫy đến giờ, không thấy cô ta hát ? Nở một nụ cười cởi mở khi thấy hai ông hộ pháp đã ăn sạch nhẵn cả chõ xôi lẫn nồi chè, bà hàng kể rành rọt : - “Sơn Ca” không phải là tên thật cô ấy đâu, ông thầy ạ. Tên thật cô bé ấy là Mai, con ông Hương trưởng Tùng. Ngày nhỏ, nó hay hát, hát véo von suốt ngày nên người làng gọi đùa là con Sơn Ca, lâu dần thành tên. Nhớn lên, thấy nước nhà hoạn nạn, giặc lại hay sục sạo làm điều càn rỡ, bọn con gái biết lo không cười đùa ca hát nữa. Họ theo gót cha anh tập võ. Cụ Cử Chúc Sơn khen con bé Sơn Ca giỏi vào hạng nhất nhì làng tôi đấy. Ba thầy trò chưa kịp gợi chuyện thêm, bà cụ đã ướm lời hỏi trước : - Tôi già nua lẫn cẫn hỏi thế này khí không phải, ba ông bỏ lỗi cho nhé. Nghe nói ở đường trong, Bình Định Vương đã đánh đến Tây Đô 6 chả biết đến bao giờ Người mới dẹp được Đông Quan 7 để cho con dân được yên ổn làm ăn ? Ông khách nho nhã cười khiêm tốn đỡ lời : - Ấy chết ! Sao cụ lại hỏi chúng tôi điều ấy ? Chúng tôi cũng là con nhà làm ăn buôn bán như cụ, biết đâu được những việc xa xôi. - Các ông giấu già này cũng chả được. Nhác trông một cái già biết liền. Có điều già muốn nói ra hay không nói ra mà thôi. Này nhé, ba ông là người ngoài ta nhưng ở lâu trong ấy, giọng đã hơi nặng, tinh ý một chút là nhận ra ngay. Bàn tay của ông thầy trông xa cũng thấy là bàn tay cầm bút. Còn hai ông đây đúng là hai ông hổ tướng. Đố ai dám bảo các ông là người buôn bán hay làm việc thổ mộc 8 ! Một người tấm tắc khen : - Bà cụ vậy mà cũng biết xem tướng nữa cơ đấy ! - Chẳng qua là thói quen đấy thôi, các ông ạ. Chả là tôi bán quán đã lâu, khách cũng đông, mỗi người một vẻ, chả ai giống ai, mà tôi nhận xét ít khi lầm lẫn. *** Chân Phương là tác giả, nhà thơ, hiện sống tại Hoa Kỳ. Tác phẩm đã in (dưới bút hiệu Phương Sinh): Chú thích cho những ngày câm nín (1992), Bản án cho các vĩ cầm (1992), Nghĩa đen (1993), Bổ túc lý lịch cho loài di dân (1994) và Biển là một tờ kinh (1996). Mời các bạn đón đọc Cô Gái Chúc Sơn của tác giả Chân Phương.
Chờ Em Đến San Francisco
Truyện viết về Sài Gòn những năm 1980, qua suy nghĩ, qua hồi ức của một nhân vật nay đã là một phụ nữ trưởng thành. Truyện cũng xen vào những bối cảnh rất hiện đại ở các quốc gia châu Âu và Mỹ. Các địa danh như Chicago và San Francisco cũng được nhắc đến nhiều trong truyện. Đọc "Chờ em đến San Francisco", bạn đọc sẽ một lần nữa, được trở lại với Sài Gòn xưa, với những con người xưa và những tình cảm thiêng liêng một khi đã bước vào thì rất khó dể thoát ra...Một kết thúc mở cho cuộc tình giữa một cô gái với 2 chàng trai, cô sẽ lựa chọn ai?... "Một cô gái nuôi dưỡng tình cảm si mê của mình suốt hai mươi năm trời, tưởng không thể gặp lại người trong mộng. Nhưng một ngày, người tình thời thơ ấu đột ngột trở lại. Cô sẽ làm gì để giữ được tình yêu cũ trong khi tim cô cũng đang rối bời vì một người đàn ông khác vừa xuất hiện. Những chuyến bay, những khung cảnh lãng mạn của Paris, Chicago... và đặc biệt là khung cảnh Sài Gòn của hai mươi năm trước bồng bềnh hiện ra, xen giữa câu chuyện tình nóng bỏng." *** Review Nguyễn Ngọc Ánh Bạn có tin vào duyên số không? Những cuộc gặp gỡ, những mối tình, những kỷ niệm xen lẫn nụ cười và nước mắt,… cùng tất cả những thứ mà bạn đã nếm trải trên cuộc đời này, chúng đều là duyên số. Tôi đã nghe ở đâu đó nói rằng “Kiếp trước phải quay đầu nhìn nhau 500 lần, kiếp này mới có duyên gặp gỡ hay ở cạnh nhau”. Và tôi tin vào duyên số mà ông trời đã sắp đặt. Tôi tin một ngày nào đó, chúng ta – những người yêu nhau, dù có cách xa hàng nghìn cây số rồi cũng sẽ trở về bên nhau. Có lẽ, Dương Thụy cũng vậy khi xây dựng tình yêu của nhân vật An và Bình trong cuốn sách “Chờ em đến San Francisco”. Dương Thụy đã nhắc trong Lời nói đầu rằng “Cuốn sách này không dành cho những bạn đọc tuổi teen hay những bạn trẻ dưới ba mươi tuổi” và tôi cũng không phải đối tượng của cuốn sách này. Thế nhưng, tôi vẫn khuyên các bạn nên đọc, cho cái tuổi trẻ “thanh xuân” đang tràn ngập, cho cái thời áo trắng ngây ngô nhưng khao khát tình yêu. Cuốn sách là một câu chuyện nhẹ nhàng và lãng mạn như nước Pháp, pha chút bồng bột của tuổi trẻ, nhưng vẫn rất đáng yêu và chân thành. Mạch kể câu chuyện đan xen giữa những ký ức trong quá khứ và hiện tại qua suy nghĩ cùng hồi ức của nhân vật nữ chính nay đã là một phụ nữ trưởng thành. Đọc “Chờ em đến San Francisco”, bạn sẽ được sống lại thời bao cấp ở Sài Gòn vào những năm 80 của thế kỷ trước, khi cuộc sống còn nhiều thiếu thốn nhưng tình người thì vô cùng bao la. Dưới ngòi bút của Dương Thụy, một Sài Gòn rất khác, một Sài Gòn hào hoa, không quá nhộn nhịp mà gần gũi hơn, Sài Gòn những ngày nắng và trái tim của một cô gái với những rung động đầu đời nhưng cuối cùng cũng có một kết thúc tốt đẹp. Các ký sự về hành trình châu Âu, châu Á không những cung cấp kiến thức về con người, văn hóa, lịch sử của nơi đến mà còn đan xen những cảm nhận rất riêng, rất thật, rất đặc biệt dưới con mắt của nhà văn. Tôi đã đọc lại cuốn sách rất nhiều lần, tôi không nhớ chính xác mình đã đọc nó bao nhiêu lần khi tôi được tặng nữa. Nó thực sự hay. Cũng như những câu chuyện trước của Dương Thụy, các nhân vật trong câu chuyện này cũng có những chức vụ, địa vị khá cao trong xã hội. Ở hiện tại, An là một nhân viên của công ty dược phẩm nổi tiếng, đi đây đi đó khắp nơi như cơm bữa. Ngoài ra, sự xuất hiện của hai chàng trai là John – một doanh nhân ấm áp và lịch lãm, tự tay xây dựng doanh nghiệp của riêng mình và Bình – mối tình đầu ngây thơ của An, anh làm ở Apple với một vị trí mà “không có người để cho phép anh nghỉ” – một vị trí khá cao theo suy nghĩ của tôi, cả hai chàng trai đều đã để lại trong tôi những cảm xúc khó có thể diễn tả xuyên suốt câu chuyện. Trong chuyến đi công tác của mình, An tình cờ quen biết với chàng trai độc thân tên John trên máy bay, giữa họ nảy sinh những rung động sau vài lần gặp gỡ ở Chicago, nhưng khi nhận ra những rung động đó, An bắt đầu băn khoăn, cô chưa sẵn sàng cho một tình yêu mới. Trong quá khứ, An là một cô nữ sinh khiến biết bao thằng con trai trong xóm “thèm” với vẻ ngoài non trẻ của thiếu nữ 18 của mình, nhưng người duy nhất cô trao tình cảm là Bình – mối tình đầu của cô. Cái cảm giác nóng rẫy khi ngồi sau chiếc xe Dream của Bình trước khi anh xuất ngoại đó mãi là phút giây ngất ngây nhất đã làm cô không thể quên trong suốt những ngày tháng sau này. Duyên số đưa đẩy, An và Bình gặp lại nhau vào mùa thu Paris với những cơn gió rét ngọn, tình cảm giữa họ năm ấy vẫn còn đó, những lần cùng nhau học tiếng pháp, thu âm những bài hát tiếng pháp lãng mạn như vừa mới xảy ra. Bình gắn với tuổi thơ của An, gắn với những hồi ức về một thời khốn khó nhưng luôn tràn ngập niềm vui. Bình là Sài Gòn trong An, và quan trọng nhất, Bình là…mối tình đầu. Mối tình đầu chỉ khiến ta thôi nhớ, chứ chẳng thể nào khiến ta mãi mãi quên. An cũng vậy. Sau một khoảng thời gian quá dài, tưởng chừng như bóng hình Bình đã phai mờ trong kí ức cô, nhưng không, anh vẫn luôn ở đấy, ở một góc sâu thẳm trong trái tim của cô gái Sài Gòn. Thật may khi cả hai đều vì những bấp bênh của cuộc sống mà chưa kết hôn. Kết thúc câu chuyện, giữa một chàng trai người Mỹ lịch lãm vừa quen như John và mối tình đầu không thể quên là Bình, An buộc phải đưa ra chọn lựa cho chính mình. Và cô đã chọn Bình. Truyện không chỉ nói về tình yêu, mà còn về những con người xóm Tân Định, cuộc sống thời bao cấp, chị Hương qua đèo, các anh “cu”, và “non-cu”,… Tôi chỉ tiếc rằng mình không sinh ra ở thời ấy để có thể cảm nhận hết những gì Dương Thụy đã viết. Nhưng khi đọc nó và nghiền ngẫm, tôi vẫn có thể tưởng tượng ra một rạp phim tồi tàn cũ kỹ mang cái tên Văn Hoa đầy ắp những kỷ niệm đẹp giữa các nhân vật, có thể tưởng tượng ra một xóm nghèo như vô số những xóm nghèo bây giờ nhưng đầy ắp tình người. Thế nhưng tôi không làm sao hiểu cảm giác bị rệp cắn là thế nào, cũng không làm sao hiểu những thái độ kỳ thị nhau chỉ vì chế độ chính trị ở thời xưa. Với lối viết văn nhẹ nhàng mà giản dị, Dương Thụy đã xây dựng tính cách nhân vật nữ chính mà tôi thực sự yêu thích. Thông qua câu chuyện của nhân vật chính, nó cho ta bài học về tự đối mặt với chính bản thân mình, đối mặt với những cảm xúc sâu thẳm nhất trong tâm hồn chúng ta để có thể đưa ra sự lựa chọn không phải đúng đắn nhất mà là khiến chúng ta hạnh phúc, vui vẻ nhất một cách thực sự từ trong trái tim. Và tôi cũng đã thực sự bị quyến rũ bởi những bức tranh được vẽ ra về những chuyến bay, những khung cảnh lãng mạn của Paris, Chicago… và đặc biệt là khung cảnh Sài Gòn của mấy mươi năm trước bồng bềnh hiện ra, xen giữa câu chuyện tình nóng bỏng. Thế nhưng có lẽ vì câu chuyện theo mô típ cũ trong những cuốn sách trước đây mà tôi từng đọc của Dương Thụy nên với tôi, nó vẫn chưa thực sự đặc sắc, cùng với những sự khó hiểu trong một vài chi tiết của câu chuyện mà cô ấy đã viết, nếu có sự sáng tạo hơn nữa trong cách sáng tác thì cuốn sách này của Dương Thụy sẽ được tôi đánh giá cao hơn. Tuy nhiên với tôi, nó vẫn là cuốn sách mà tôi thực sự yêu thích. Và tôi nghĩ rằng bạn cũng sẽ cảm nhận được như thế khi bạn đọc được nó. Hãy đọc và cùng tôi cảm nhận. Mời các bạn đón đọc Chờ Em Đến San Francisco của tác giả Dương Thụy.
Bù Khú Tiên Sinh
Nếu như tự truyện LẠC ĐƯỜNG kể lại hành trình của một trí thức trẻ lên rừng theo Việt cộng để rồi vỡ mộng khi biết minh lạc đường, thì BÙ KHÚ TIÊN SINH là cuộc chia tay đầy bi kịch của gã Việt cộng ấy với cái guồng máy quái đản mà hắn từng tham dự. Sau ngày 30/4/75 anh ta ở Rừng về nhưng không muốn chen chân vào chốn quan trường mà trở về với quần chúng, sống chung với những người cùng khổ trong xã hội. Đây là một hình thức phản kháng của người trí thức. Sư thức tỉnh của hắn đã phải trả giá bằng chính mạng sống của mình. TỰA KHÔNG CHỜ NGÀY MAI Năm 1949 Samuel Beckett viết vở kịch nổi tiếng “En Attendant Godot” với những nhân vật cứ loay hoay làm những việc vô nghĩa trong khi chờ Godot đến để cứu rỗi, để đổi thay. Nhưng Godot đã không bao giờ đến. Vở kịch, thoạt tiên không ai xem vì quá đơn điệu, nhưng rồi sau đó khán giả châu Âu ùn ùn đến rạp vì cho rằng nó là một ẩn dụ về sự vô vọng của Chủ nghĩa Xã hội. Nhân vật chính trong tác phẩm “Bù Khú Tiên Sinh” này là một trí thức Sài Gòn lên rừng theo kháng chiến. Gã biết Godot không bao giờ đến nên không chờ. Gã chọn con đường riêng. Gã sống như một nhà tiểu thuyết của đời mình, một kẻ sáng tạo ra bản thân, một bánh răng tự nhảy ra khỏi guồng máy. Lúc ở chiến khu làm Việt cộng, lúc ở tù, hay lăn lộn vào thế tục… đâu cũng thế, vẫn cứ là gã. Sống thực, sống đầy, sống như triều dâng, sống hoang dã và sống tận tình, sống lặng lẽ và sống bất bình. Gã có thể bù khú hay im lặng, cười hay khóc, phóng đãng hay thánh thiện. Sao cũng được. Gã đem cuộc đời mình ra mà bù khú, mà chơi, mà sáng tạo và hủy diệt. Đó là dốc hết tinh anh ra mà sống, không cần ai tán thưởng. Như một dòng sông háo hức băng vào đại dương bao la, gã phóng mình đi. Gã chỉ có một dịp để sống. Gã rất vội. Nên không chờ ngày mai. NHẬT CHIÊU (Nhà văn, nhà nghiên cứu văn học, dịch giả. Sinh 1951 tại Sài Gòn. Hiện là giảng viên của nhiều chuyên đề văn học và văn hoá tại ĐH KHXH & NV TP. HCM, và nhiều đại học khác.) *** Đào Hiếu (sinh năm 1946), tên khai sinh: Đào Chí Hiếu. Các bút danh khác: Biển Hồ, Đào Duy. Hiện ông là hội viên Hội nhà văn Việt Nam. Đào Hiếu, sinh ngày 10 tháng 2 năm 1946 tại Tây Sơn, tỉnh Bình Định. Ông sớm gia nhập phong trào sinh viên cách mạng tại Quy Nhơn. Năm 1968 ông gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam. Năm 1970 ông bị bắt quân dịch và trở thành binh nhì sư đoàn 22 Quân lực Việt Nam Cộng hoà. Sau sáu tháng, ông trốn vào Sài Gòn bắt liên lạc với Tổng hội sinh viên hoc sinh để tiếp tục hoạt động chống Mỹ đến ngày 30 tháng 4 năm 1975. Ông tốt nghiệp cử nhân văn chương trước 1975 tại Sài Gòn. Từng làm phóng viên báo Tuổi Trẻ và Nhà xuất bản Trẻ. Hiện Đào Hiếu sống và viết tại TP. Hồ Chí Minh. Truyện dài Giữa cơn lốc, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 1978. Một chuyến đi xa, Nhà xuất bản Măng Non, 1984, nxb Trẻ 1994. Qua sông, Nhà xuất bản Văn Nghệ, 1986. Vùng biển mất tích, Nhà xuất bản Đồng Nai 1987. Vượt biển, Nhà xuất bản Trẻ 1988, 1995. Vua Mèo, Nhà xuất bản Trẻ 1989. Người tình cũ, Nhà xuất bản Văn Nghệ 1989. Kẻ tử đạo cuối cùng, Nhà xuất bản Trẻ 1989. Thung lũng ảo vọng, Nhà xuất bản Trẻ 1989. Hoa dại lang thang, Nhà xuất bản Văn Học 1990. Trong vòng tay người khác, Nhà xuất bản Tác phẩm Mới 1990. Kỷ niệm đàn bà, Nhà xuất bản Văn Nghệ 1990. Nổi loạn, Nhà xuất bản Hội Nhà Văn 1993. Lạc Đường (tự truyện), Nhà xuất bản Giấy Vụn 2008, Nhà xuất bản Kim Thư Production USA 2008. Tuyển tập Đào Hiếu (tập 1 và tập 2) Nhà xuất bản Kim Thư Production USA 12. 2009. Mạt lộ, Nhà xuất bản Lề Bên Trái (tự xuất bản)[1], 03. 2009. Truyện ngắn và tạp văn Bầy chim sẻ, Nhà xuất bản Văn Nghệ 1982. Những bông hồng muộn, Nhà xuất bản Trẻ 1999. Tình địch, Nhà xuất bản Trẻ 2003. Thơ Đường phố và thềm nhà, Nhà xuất bản Trẻ 2004. Mời các bạn đón đọc Bù Khú Tiên Sinh của tác giả Đào Hiếu.