Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Cậu Tú - Jules Vallès

Tập II Cậu Tú chủ yếu kể lại cuộc kiếm sống chật vật của Jăc Vanhtrax ở Pari, do đó một mặt Juyn Valex vẽ lên một bức tranh khá sinh động về xã hội Pari, mặt khác ông vạch ra bước đầu đi vào hoạt động chính trị của Jăc Vanhtrax mà cũng là của bản thân ông. Chắc chẳn là khi viết về cuộc sống chật vật của Jăc Vanhtrax ở Pari, Juyn Valex đã liên hệ với cuộc sống ở Pari của những Raxtinhăc, Ruybemprê trong Tấn trò đời mà Jăc Vanhtrax gọi là những người “anh em về tham vọng và lo âu của mình”. Nhưng cái xã hội Pari của Juyn Valex có khác cái xã hội Pari của Banzăc, là vì tham vọng của Ruybeniprô, một kẻ muốn vươn tới danh vọng và giàu sang, có khác tham vọng của Jăc Vanhtrax, một kẻ bất bình muốn chống lại bất công xã hội. Ở đây hầu như vắng bóng những quý tộc hay tư sản hãnh tiến, cùng với những cảnh ăn chơi đàng điếm, xa hoa, mà phần nhiều là nhân dân lao động, là sinh viên, và nhất là những người làm chính trị, trong đó nổi bật lên nhân vật Matutxanh, một điển hình chính khách tài tử. Không khí chính trị ở đây đậm nét hơn, căng hơn trong Vỡ mộng chẳng hạn, vì là không khí sau những ngày tháng Sáu 1848, sau cuộc đảo chính 1852 của tên độc tài Napôlêông III. Cái xã hội đó, cái không khí đó đã chuyển Jăc Vanhtrax từ cái chí hướng muốn làm thợ đến chỗ dứt khoát trở thành “người chỉ huy những kẻ mặc áo rơđanhgốt (trí thức) xếp thành hàng ngũ chiến đấu bên cạnh những kẻ mặc áo bludơ (công nhân)”, đúng như lời khuyên của người công nhân già Pari mà Jăc Vanhtrax đã gặp buổi đầu khi mới bước chân tới Pari. *** Juyn Valex (Jules Vallès) là một nhà văn lớn mà cũng là một chiến sĩ kiên cường của Công xã Pari. Ông sinh năm 1832 ở thị trấn Puy (xứ Ôvecnhơ) nước Pháp và mất năm 1885 tại Pari. Xuất, thân từ một gia đình công chức, Juyn Valex ngay từ thuở bé đã là nạn nhân của một nền giáo dục gia đình khắc nghiệt cũng như một nền giáo dục nhà trường sai lầm. Cha ông làm giám thị, sau làm giáo sư trung học, tuy cũng thương con, nhưng lại là một người nhút nhát, luôn luôn lo sợ cho chức vụ của mình, do đó mà sinh ra khắc nghiệt với con, thậm chí có lần, để khỏi bị liên lụy, đã cho giam con vào một nhà thương điên sau khi Juyn Valex tham gia vào một vụ chống đối cuộc đảo chính của Napôlêông thứ III. Mẹ Juyn Valex xuất thân từ nông dân nhưng có tư tưởng hãnh tiến, học làm sang, muốn cho con làm nên danh giá, và, vì không được toại nguyện, nên trút cả nỗi cay đắng lên đầu con, roi vọt hành hạ con đến tàn nhẫn. Một mặt khác, cha Juyu Valex muốn cho con trở thành giáo sư, nhưng cậu học sinh Juyn Valex, qua tấm gương của bố, đã chán ngấy cái cảnh nhà trường do bọn phản động công giáo thời Đế chính thứ II lũng đoạn, ở đó các giáo sư vừa quỵ lụy, khúm núm trước hiệu trưởng và cấp trên, lại vừa hành hạ học trò bằng đòn và phạt, ở đó người ta dạy cho thanh niên một kiểu học tầm chương trích cú, nô lệ sách cũ người xưa, xa rời thực tế. Chính cái giáo dục gia đình và giáo dục nhà trường sai lầm, tàn nhẫn ấy đã tác động mạnh tới cậu bé Juyn Valex đa cảm và sớm biến cậu thành một kẻ bất bình, môt con người nổi loạn. *** Nhưng con người bất bình ấy đã trở nên một chiến sĩ cách mạng kiên cường, thì lại là do hoàn cảnh xã hội nước Pháp lúc bấy giờ. Khi Juyn Valex sinh ra thì phong trào công nhân Pháp bắt đầu lên mạnh với công cuộc công nghiệp hóa tư bản chủ nghĩa bắt đầu ở nước Pháp trong những năm 30 thế kỷ XIX, và nó được đánh dấu bằng những cuộc đấu tranh và khởi nghĩa của công nhân ở Lyông (1831, 1834) và ở Pari (1832, 1834). Song giai cấp công nhân Pháp chỉ có thể trưởng thành sau khi nó đã dứt bỏ được mọi ràng buộc với giai cấp tư sản để lần đầu tiên, đứng lên như một lực lượng chính trị độc lập, trực diện đấu tranh chống giai cấp tư sản vào tháng Sáu năm 1848. Và chính là phải trải qua những ngày tháng Sáu đẫm máu ấy nó mới bước đầu rũ bỏ được ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội không tưởng, của mọi thứ“chủ nghĩa xã hội tư sản và tiểu tư sản”. Tuy nhiên, những năm liền sau khi cách mạng 1848 thất bại ở châu Âu nói chung, chính là “thời đại - như Lênin đã nói,- mà tinh thần cách mạng của phái dân chủ tư sản đã suy vong rồi (ở châu Âu), trong khi đó thì tinh thần cách mạng của giai cấp vô sản xã hội chủ nghĩa chưa tới lúc già dặn” [1] . Riêng ở nước Pháp, trong thời kỳ đầu của nền Đế chính thứ II tối phản động thiết lập từ tháng Chạp 1852, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân bị lắng xuống cho mãi tới những năm 60 nó mới được phục hồi. Và với sự thành lập Chi nhánh Pháp Quốc tế thứ nhất năm 1866, một thời kỳ bão táp cách mạng mới lại mở ra để đến khi giai cấp tư sản thống trị, dưới nhãn hiệu Chính phủ Quốc phòng, đầu hàng quân xâm lược Phổ (tháng Giêng 1871), thì nó lên tới đỉnh cao với phong trào Công xã Pari thiết lập nền chuyên chính vô sản đầu tiên trên thế giới trong bảy mươi hai ngày (18 tháng 3 đến 28 tháng 5 năm 1871). *** Juyn Valex sinh ra và lớn lên trong cái hoàn cảnh lịch sử xã hội như thế đó. Thị trấn quê hương ông ở sát cạnh những trung tâm công nghiệp như Xanh-Êchiên (nơi mà cha ông đã từng tới dạy học một thời kỳ), như Lyông, nên không khỏi nhận được âm vang mạnh mẽ của những làn sóng đấu tranh của giai cấp công nhân. Và chàng trai có chí hướng muốn làm thợ đó đã từng đi đầu trong đám thanh niên cộng hòa khi nổ ra cuộc Cách mạng tháng Hai 1848. Sau đó, khi được gia đình gửi lên Pari theo học, Juyn Vanlex, sống nghèo khổ ở thủ đô, lại đã sớm tiếp xúc với phong trào cách mạng trên mảnh đất chôn nhau của cách mạng. “Tôi đã đi vào lịch sử cuộc Cách mạng. Người ta vừa mở ra trước mặt tôi một quyển sách trong đó có nói về bần cùng và đói khát, trong đó tôi thấy diễu qua những bộ mặt làm tôi nhớ đến cha Jôdép hoặc chú Sađơna, những người thợ mộc với chiếc compa mở rộng ra làm vũ khí và những nông dân cầm chĩa sắt có vấy máu ở đầu răng. Có những phụ nữ đi tấn công Vécxay, vừa đi vừa thét lên là bà Vêlô làm nhân dân đói, và ngọn giáo có xiên ổ bánh mì đen - một lá cờ - đâm thủng các trang sách và chọc vào mắt tôi... ... Lần này thì không còn là tiếng La-tinh nữa. Họ nói: “Chúng tôi đói! Chúng tôi muốn tự do!” Tôi đã ăn thử bánh mì quá cay đắng ở gia đình tôi, tôi đã bị hành hạ quá nhiều ở nhà nên những tiếng kêu đó không thể không làm kinh động trái tim tôi”. [2] Juyn Valex đã kể lại như thế cuộc tiếp xúc đầu tiên của mình với phong trào cách mạng Pari qua một cuốn lịch sử cuộc Cách mạng 1789 và người ta đã đưa ông mượn đọc. Và không lạ rằng Juyn Valex đã từ đó tiến tới đứng dưới lá cờ của Công xã Pari để hợp thành cái mà ông gọi là “Cuộc đại liên minh của những đau khổ”. *** Công xã Pari thất bại; Juyn Valex, sau khi chiến đấu đến phút cuối cùng, đã trốn ra được nước ngoài, ông sang Bỉ, Thụy-sĩ, rồi sang Anh. Ở đấy ông sống nghèo khổ bằng nhuận bút của một số bài báo, trang tiểu thuyết đăng trên vài tờ báo cộng hòa xuất bản ít ỏi ở Pari. Đến năm 1880, khi luật ân xá được ban hành, ông trở về nước Pháp, viết sách viết báo cho tới lúc qua đời. Juyn Valex bắt đầu viết từ khoảng cuối những năm 50, sau khi đã chật vật làm đủ nghề để kiếm sống ở Pari. Ông cộng tác với một số tờ báo như Figarô , Biến cố ; ông giao thiệp với Giracđanh, ông vua báo chỉ đương thời, và Vilơmexăng, chủ nhiệm báo Figarô . Trên tờ Figarô ông giữ mục Thị trường chứng khoán là vấn đề mà ông nghiên cứu trong cuốn sách đầu tay của ông nhan đề Tiền bạc (1857). Nhưng ít lâu sau ông bỏ mục đó để cộng tác với những tờ báo không chịu phục tùng nền Đế chính như Tạp chí châu Âu , Tự do , Báo chí , Thời đại ... và chẳng mấy lúc ông nổi tiếng là một nhà văn luận chiến hăng hái và độc lập, một nhà báo trào phúng và chiến đấu, độc đáo và tài năng. Năm 1865, với tác phẩm Những kẻ không phục tùng (Les Réfractai res) tập hợp một số bài báo, ông nhằm đả kích lối sống nghệ sĩ giang hồ mà nhà văn đương thời Hăngri Muyêcgiê đã ca tụng trong cuốn Cảnh đời sống giang hồ có ảnh hưởng xấu tới thanh niên. Năm 1867 ông sáng lập tờ báo Đường phố , trong đó ông đả kích thẳng tay mọi thiết chế chính trị, văn học, nghệ thuật đương thời, đả kích những kẻ mà ông gọi là “bọn giữ đồ thánh trong văn học, chính trị, và cả trong Cách mạng nữa!” Nhưng ra đến số 34 thì tờ báo bị tịch thu và phá sản. Trong thời kỳ Công xã ông thành lập tờ báo Tiếng kêu của dân chúng nó mau chóng trở thành cơ quan chủ yếu của Công xã, trong đó Juyn Valex khích lộ tinh thần kháng chiến đến mức “kiên cường tuyệt vọng”. Nhưng tác phẩm văn học lớn và chủ yếu của Juyn Valex là bộ tiểu thuyết ba tập Jăc Vanhtrax (Jacques Vingtras) mà hai tập đầu ông đã viết và cho đăng báo ngay từ hồi ông còn lưu vong ở Anh (1878 - 1879). Sau khi trở về Pháp ông đã chữa lại hai tập đó và viết tiếp tập ba mà mãi sau khi ông mất, năm 1886, mới được in thành sách. Jăc Vanhtrax là một tiểu thuyết tự truyện thuật lại chính cuộc đời của tác giả và, với nội dung xã hội - chính trị, nó giúp cho chúng ta hiểu khá sâu xã hội Pháp từ sau cuộc cách mạng 1848, trải qua thời Đế chính thứ II cho đến phong trào Công xã Pari. Cùng với tiểu thuyết Jăc Vanhtrax cũng phải kể đến việc Juyn Valex cho xuất bản lại tờ báo Tiếng kêu của dân chúng từ năm 1883, và ông đã làm cho nó thành tờ báo cách mạng lớn đầu tiên của nước Pháp. Tiếng kêu của dân chúng đã tham gia vào tất cả mọi chiến dịch xã hội chủ nghĩa thời bấy giờ, nó đã kịch liệt phản đối những cuộc chinh phục thuộc địa ở Tuynidi và ở Bắc kỳ (Bắc-bộ Việt Nam), nó đã nhiệt liệt ủng hộ những cuộc đình công của thợ mỏ tại Anzin và Đơcazơvilơ. Và điều đáng kể là Juyn Valex đã biết đặt Juyn Ghexđơ (Jules Guesde), vị lãnh tụ xuất sắc của phong trào công nhân Pháp đương thời, vào địa vị cây bút số một trong tờ báo của ông. Chính sự hợp tác của Ghexđơ và những đồng chí của ông này đã khiến cho Tiếng kêu của dân chúng trở thành cơ quan ngôn luận lớn nhất của giai cấp công nhân đã xuất hiện ở Pháp từ trước cho đến thời bấy giờ. Juyn Valex qua đời năm 1885, hai năm sau khi Tiếng kêu của dân chúng lại xuất hiện. Hàng chục vạn nhân dân lao động Pari đã đưa tới nghĩa địa Perơ Lasedơ “người ứng cử viên của bần cùng” [3] “người đại biểu của những kẻ bị xử bắn” ấy. Nhân dân Pari đã biểu lộ lòng tôn trọng chính đáng của mình đối với “con người tâm huyết” ấy, “người bạn chân thành của thợ thuyền, người chiến sĩ vẻ vang của Công xã, nhà văn cách mạng lớn của nước Pháp!” *** Tiểu thuyết Jăc Vanhtrax, với ba tập của nó nhan đề lần lượt: - tập I, Chú bé (L’enfant - 1879), - tập II, Cậu tú (Le bachelier - 1881), - tập III, Người khởi nghĩa (L’insurgê - 1886), Jacques Vingtras là một kiệt tác kỳ lạ của Juyn Valex; nó đã đặt ông vào hàng những nhà văn xuôi lớn của nước Pháp thế kỉ XIX. Một mặt, bộ tiểu thuyết vạch rõ bước đường tất yếu của một người trí thức tiểu tư sản, dưới thời Đế chính thứ II, đi đến với cách mạng. Bước đường của Jăc Vanhtrax chính là bước đường của bản thân Juyn Valex. Có thấy hết mọi nỗi nhục nhã, cay đắng vì nghèo khổ, vì hành hạ, vì bất công, mà chú bé Jăc Vanhtrax, cậu tú Jăc Vanhtrax phải chịu đựng trong gia đình, ở nhà trường và ngoài xã hội, có thấy cả cái không khí đấu tranh chính trị ở Pari, dưới thời Đế chính thứ II, khi ngấm ngầm khi công khai, sôi sục, mới hiểu được tại sao Jăc Vanhtrax đã trở thành một kẻ bất bình, và từ một kẻ bất bình trở thành người khởi nghĩa đứng dưới lá cờ của Công xã Pari. Mặt khác, bộ tiểu thuyết cũng đồng thời vừa là một bức tranh sinh động vừa là mội bản cáo trạng nghiêm khắc cái xã hội Pháp đương thời, dưới nền Đế chính thứ II cực kỳ phản động, dưới sự thống trị của giai cấp tư sản, đầy rẫy những tàn ác, bất công trong quan hệ gia đình, quan hệ học đường, quan hệ xã hội. Tập I, Chú bé, với lời đề tặng cho TẤT CẢ NHỮNG AI đã buồn chán đến chết trong trường học hoặc đã phải khóc trong gia đình, những ai, trong thời thơ ấu, bị thầy giáo hành hạ hoặc bị cha mẹ đánh đập”, chính là đã vạch trần những quan hệ gia đình, quan hệ học đường tàn nhẫn đó. Tập II, Cậu tú với lời đề tặng cho “Những ai bụng nhồi đầy tiếng Hy-lạp, tiếng La-tinh mà chết đói”, vừa mỉa mai cái nền giáo dục nhồi sọ, sách vở, xa rời thực tế, vừa tố cáo “cái xã hội chó má nó làm cho những người có học thức và những người can đảm phải chết đói khi họ không muốn làm đầy tớ cho nó”. Đến như tập III, Người khởi nghĩa, với lời đề tặng “Những liệt sĩ năm 1871, những ai là nạn nhân của bất công xã hội, đã cầm vũ khí chống lại một xã hội tổ chức hỏng và họp thành, dưới lá cờ của Công xã, cuộc đại liên minh của những đau khổ”, thì chính là một thiên ký sự lịch sử độc đáo kể lại bước đấu tranh cách mạng tất yếu của Jăc Vanhtrax, và, nhân đó, vẽ lên cả bức tranh nhân dân lao động Pari sôi sục nổi dậy chống chính quyền tư sản đầu hàng giặc, thiết lập Công xã và chiến đấu suốt trong bẩy mươi hai ngày. *** Tiểu thuyết Jăc Vanhtrax , như vậy, với hình tượng nhân vật chủ yếu của nó là Jăc Vanhtrax, bao trùm cả ba tập, vẽ lên thành một điển hình sắc nét của người chiến sĩ Công xã Pari, là một tác phẩm xuất sắc của dòng văn học hiện thực chủ nghĩa nước Pháp, kế tục trực tiếp những truyền thống hiện thực chủ nghĩa của Xtăngđan, của Banzắc mà Juyn Valex đã từng nói đến trong tác phẩm của ông. Tính cách của Jăc Vanhtrax được hình thành và phát triển trong những hoàn cảnh gia đình và xã hội nhất định, đó là điều mà tác giả có ý thức đầy đủ và muốn chứng minh rõ ràng. Song, giá trị hiện thực của bộ tiểu thuyết tăng lên qua ba tập sách với trình độ khái quát hóa càng ngày càng cao thêm. Tập I chủ yếu trình bày cái khung cảnh gia đình và nhà trường tỉnh nhỏ trong đó chú bé Jăc Vanhtrax lớn lên. Trước hết hình tượng bố và mẹ Jăc Vanhtrax cũng đạt tới những nhân vật điển hình sinh động: ông bố tiêu biểu cho một lớp giáo viên không phải thiếu học vấn, thiếu tư tưởng và tinh cảm, nhưng vì nhút nhát, một mặt luôn luôn lo sợ mất chức vụ, mặt khác lại bị bà vợ đành hanh khống chế, nên hóa ra một con người tầm thường, hèn với cấp trên, ác với con; bà mẹ đại diện cho hạng tiểu tư sản xuất thân từ nông dân, với đầu óc hẹp hòi mà hãnh tiến” - muốn đua đòi, bay nhẩy, học làm sang, thậm chí vì không được toại nguyện mà đâm cay nghiệt, tàn ác với con. Bên cạnh hai nhân vật đó tập truyện còn đạt ở một loạt hình tượng chân dung những giáo sư, hiệu trưởng trường trung học, như Tuyếcfanh kiêu căng, hợm hĩnh, khinh người nghèo, hành hạ học trò có học bổng, như Lacbô tâm ngẩm, giảo quyệt, - cóc cần học trò và chỉ dịu dàng với đám con nhà quyền thế, hay như Bécgunha đạo mạo, lạnh lùng, lên mặt triết gia mà độc ác với con như quỷ sứ, thậm chí đã giết con bằng roi vọt tàn bạo, tất cả đều nói lên một chế độ nhà trường ghê tởm, thối tha. Rõ ràng, với những tính cách nhân vật và bức tranh xã hội đạt tới tính chân thực, tính lịch sử và tính khái quát cao, tiểu thuyết Jăc Vanhtrax đã kế tục và phát huy vẻ vang những truyền thống hiện thực chủ nghĩa của Xtăngđan và Banzắc ở nửa sau thế kỷ XIX khi mà chủ nghĩa hiện thực phê phán cổ điển đã bắt đầu xuống dốc với Guyxtavơ Flôbe để mở ra thời kỳ của chủ nghĩa tự nhiên và tiếp theo nó là hàng loạt những trường phái suy đồi đủ loại. Hơn thế nữa, mặc dầu Juyn Valex không vẽ lên một bức tranh xã hội thật rộng lớn, đồ sộ và không đả kích mạnh vào cái mặt cơ cấu của xã hội tư sản là quan hệ tiền bạc như Xtăngđan hay Banzắc, nhưng ông lại vượt hẳn các nhà hiện thực phê phán cổ điển này ở chỗ ông đã mường tượng thấy và đề cập tới người chủ tương lai của xã hội sẽ thay thế cho giai cấp tư sản, đó là giai cấp công nhân. Với ông lần đầu tiên trong văn học Pháp xuất hiện hình ảnh người công nhân, hình ảnh quần chúng nhân dân như những nhân vật anh hùng phần nào với cái tư thế của những người làm nên lịch sử, và ít ra thì cũng đã có lúc họ làm nghiêng ngửa cả uy thế của những tay chính khách tư sản sừng sỏ trong bộ máy thống trị như Juyn Fery, Gămbetta... Và, mặc dầu bộ tiểu thuyết kết thúc bằng sự thất bại của Công xã Pari, người ta không thấy bóng dáng của bi quan thất vọng, trái lại hình ảnh cuối cùng vẫn là hình ảnh của chiến đấu trong tương lai: ... Tôi vừa vượt qua một dòng suối làm biên giới. Chúng nó không bắt được tôi nữa! Và tôi sẽ còn có thế đứng với nhân dân, nếu nhân dân lại bị ném ra ngoài phố và dồn tới chỗ phải chiến đấu. Tôi nhìn trời về phía tôi cảm thấy có Pari. Trời một màu xanh tươi rói, với những đám mây đỏ. Tưởng như một chiếc áo bludơ lớn đẫm máu”. Chính ở những điểm trên đây, tiểu thuyết Jăc Vanhtrax của Juyn Valex, cùng với toàn bộ nền văn học Công xã Pari, đã hé mở ra một bước phát triển mới của văn học hiện thực chủ nghĩa sau này, đó là bước đường đi tới chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa của chúng ta ngày nay. Tháng Năm 1972 TRỌNG ĐỨC Mời các bạn đón đọc Cậu Tú của tác giả Jules Vallès.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Dòng Thời Gian - Michael Crichton
Cuối thể kỷ hai mươi, Robert Doniger một nhà vật lý học tài năng cùng công ty nghiên cứu ITC của mình đã bí mật nghiên cứu và phát triển thành công công nghệ dịch chuyển tức thời giữa các vũ trụ tồn tại song song trên cơ sở lý thuyết lượng tử. Với khao khát độc quyền khai thác quá khứ, Robert Doniger đã đồng thời tiến hành đầu tư dựng lại khu di tích dọc theo con sông Dordogne vàthử nghiệm việc gửi người trở về Dordogne vào thời kỳ Trung Cổ. Giáo sư Edward Johnston, trưởng nhóm khảo cổ học tiến hành dựng lại khu di tích, khi được Robert giới thiệu về công nghệ dịch chuyển tức thời, đã vô tình bị mắc kẹt lại Dordogne giữa thời kỳ Trung Cổ. Các nhóm tìm kiếm được ITC gửi đi đều không đem lại kết quả do hiểu biết hạn chế của họ về thời kỳ này. Điều này buộc nhóm sinh viên tham gia vào dự án của giáo sư Johnston bao gồm André Marek, Kate Erickson và Christopher Hughes phải cùng trở về quá khứ và tham gia vào quá trình tìm kiếm. Tại Dordogne, vào thời điểm thế kỷ 14, giữa cuộc chiến tranh tàn khốc của Lãnh chúa Oliver và Đại tư tế Arnault, họ được chứng kiến một thời kỳ Trung Cổ không hề giống những gì mình từng đọc qua sách vở, đồng thời phát hiện nhiều hơn nữa những mặt trái. *** Nhận định “Những dòng thời gian kết hợp được tất cả những yếu tố đã làm nên sự hấp dẫn cho tiểu thuyết của Micheal Crichton: câu chuyện với diễn biến chóng mặt, những lập luận khoa học thuyết phục, và cấu trúc gần như một bộ phim...Một câu chuyện giàu hình ảnh và được đầu tư nghiên cứu...Crichton đã kết hợp hoàn hảo yếu tố hồi hộp, ly kỳ vào tiểu thuyết khoa học của mình và những tác phẩm của ông thực sự đã định nghĩa một thể loại cho riêng mình.” (Iain Pears theo Los Angeles Times) “Những dòng thời gian, tiểu thuyết kiếm hiệp của Crichton, có thể sẽ lại là một bom tấn phi thường nữa giống như Công viên kỷ Jura...Tác giả có một tài năng phi thường trong việc kết hợp yếu tố hồi hộp với những khái niệm khoa học vốn không ngừng cuốn hút trí tưởng tượng của người đọc.” (USA Today) *** Michael Crichton, sinh ngày 23 tháng 10 năm 1942 tiểu bang Chicago mất ngày 4 tháng 11 năm 2008 ở Los Angeles.  Ông là một người chuyên viết về những truyện khoa học,giả tưởng và đã có nhiều truyện đã được dựng lên phim. Tác giả Michael Crichton nổi tiếng trong giới truyền hình nhiều hơn là trong giới văn chương bởi đơn giản ông là một nhà viết kịch bản tài ba của nhiều bộ phim nổi tiếng. Điểm đặc biệt trong sự nghiệp văn chương của ông chính ở chỗ các truyện được viết dựa trên những nghiên cứu khoa học của ông sau khi tham gia học ngành y và ông có được một kiến thức y học tương đối rộng (ông tốt nghiệp khoa y Đại học Havard). Vì lý do đó, ông được gọi là "Cha đẻ của truyện giật gân Mỹ", các sáng tác của ông mang nặng tính giả tưởng, tính ly kỳ hoàn hảo và bằng tài năng hiếm có, ông đã sáng tạo ra những thiên truyện hoàn mỹ, ly kỳ và giật gân nhất thế kỷ XX.  *** Đây là một tác phẩm của Michael Chrichton. Nếu ai quan tâm thì ông cũng là người viết Công viên kỷ Jura và Thế giới nghịch. Và Dòng Thời Gian cũng đề cập đến một nhánh nghiên cứu trong khoa học: thuyết Lượng tử. Nói đơn giản và ngắn gọn thì tuyện đề cập đến một công ty nghiên cứu về thuyết này và ứng dụng nó cho việc di chuyển người từ nơi này đến nơi khác (hay còn gọi là Teleport) nhằm thao túng việc khai thác lịch sử. Công ty ITC đã dùng hiện tượng giao thoa ánh sáng để giải thích cho nghiên cứu của họ. Khi chiếu hai tia sáng qua khe, họ nhận được kết quả là những vệt sáng song song trên màn chắn, đó chính là kết quả của hiện tượng giao thoa ánh sáng mà ai cũng đã từng nghe qua. Thế nhưng điều thú vị không dừng lại ở đó. Khi các nhà khoa học ở ITC chỉ dùng một tia sáng duy nhất, được chiếu qua khe tương tự, họ cũng nhận được những vệt sáng tương tự trên màn chắn. Vậy câu hỏi đặt ra là, thứ gì đã giao thoa với tia sáng ấy? Và họ đưa ra lập luận: Hãy còn những vũ trụ khác tồn tại song song với vũ trụ chúng ta đang sống, những vũ trụ mà ta không nhìn thấy được. Chính những thứ tồn tại trong những vũ trụ ấy đã giao thoa với tia sáng duy nhất trong thí nghiệm của họ, và từ đó họ nhận được kết quả như trên. Chính từ lập luận ấy, ITC quyết định thành lập một nhóm nghiên cứu nhằm chế tạo ra những cỗ máy dịch chuyển, đưa con người từ vũ trụ này sang một vũ trụ khác. Thế nhưng, mọi hoạt động của họ đều được thực hiện trong bí mật. Họ đã chi một khoảng cực lớn vào hệ thống dịch chuyển, từ những miếng đệm nước đến những thiết bị tinh vi nhưng không một ai biết đến sự tồn tại của ITC và dự án táo bạo này. Nhưng đã đến lúc công ty không thể ém nhẹm quá lâu mọi việc. Một hôm, bệnh viện tiếp nhận một bệnh nhân ngất trên sa mạc với những triệu chứng khó giải thích. Sau khi điều tra, họ phát hiện ông là Giáo sư khoa học đang làm cho ITC. Đương nhiên họ không biết gì về công ty này, họ chỉ không hiểu tại sao một Giáo sư lại bị lạc ở Sa Mạc, cách quá xa trụ sở Công ty đến vậy. Quái lạ hơn, sau khi chụp MRI và các thứ khác, các bác sĩ còn nhận thấy, xương tay, xương chân của người đàn ông này như bị tách rời, không khớp vào nhau. Vụ việc đã làm dấy lên nghi ngờ và Robert Doniger, nhà vật lý học thiên tài, người sáng lập ITC, phải tìm cách bưng bít sự cố này. Sự việc tạm rơi vào quên lãng. Hiện nay, Robert Doniger đang đầu tư vào kế hoạch dựng lại khu di tích thời Trung Cổ Dordogne, đồng thời thử nghiệm việc đưa người của công ty trở lại thời kỳ này để khảo sát. Nhóm khảo sát của Giáo sư Edward Johnston chịu trách nhiệm dựng lại khu di tích Dordogne. Tuy nhiên, Johnston và những người học trò của ông không biết đến mục đích thật sự của Robert và sự tồn tại của những cỗ máy dịch chuyển. Bất thình lình, Robert nhận thấy đã đến lúc cần tiết lộ mọi việc với giới truyền thông. Giáo sư Johnston được gọi đến trụ sở Công ty và được giới thiệu về những cỗ máy dịch chuyển. Trong một lần thử nghiệm, ông đã đi quá xa cỗ máy và bị kẹt lại thời Trung Cổ. Những người được ITC gửi đi để tìm cách đưa ông trở về đều thất bại, vì họ không nắm được kiến thức trong thời kỳ đó. Chính vì vậy, Robert đã ra lệnh tập họp những người học trò của Johnston lại và yêu cầu họ đi cứu Giáo sư của mình. Những sự cố xảy ra và nhóm học trò này, gồm có André Marek, Kate Erickson và Christopher Hughes cũng bị kẹt lại thời Trung Cổ, thế kỷ 14. Tại đây họ đã chứng kiến cuộc chiến tranh tàn khốc giữa Lãnh Chúa Oliver và Đại Tư tế Arnaut. Quan trọng là… Họ chỉ có 36 tiếng để hoàn thành sứ mệnh. Rắc rối là… Phòng dịch chuyển đã bị hỏng hóc nặng do một vụ nổ. Họ không thể quay về được cho đến khi mọi thứ được sửa chữa… … Trong vòng 36 tiếng. Liệu họ có thể sống sót trở về? Liệu họ có thể tìm ra và cứu được Giao sư của mình? Dòng thời gian không ngừng chạy! Mời các bạn đón đọc Dòng Thời Gian của tác giả Michael Crichton.
Cha Con Giáo Hoàng - Mario Puzo
Cha con Giáo hoàng lấy bối cảnh Italy thời kỳ Phục hưng. Tiểu thuyết là câu chuyện về những dã tâm chính trị của nhà Borgia - “gia đình tội phạm đầu tiên” theo nhận định của Puzo. Ở đó, Giáo hội nắm quyền thống trị tối cao, nhưng ẩn dưới tấm áo choàng đỏ luôn là lửa tham vọng rực cháy. Cha con Giáo hoàng là một thiên sử thi xuất sắc, pha trộn màu sắc lãng mạn với chất cuồng điên của lòng tham quyền lực, những mưu ma chước quỷ, tội lỗi và trừng phạt… vượt xa khỏi trí tưởng tượng của người thường. Cuốn sách mang người đọc du hành đến một không gian, thời gian hoàn toàn khác, nơi Giáo hội nắm quyền thống trị tối cao, nơi lửa tham vọng ngùn ngụt cháy dưới tấm áo choàng đỏ rực. Đây là câu chuyện về mối quan hệ cha con kì lạ: gắn bó với nhau bởi huyết thống, lòng tận tụy và những ý đồ đen tối; về một gia đình khét tiếng mà công trạng và tội lỗi còn mãi lưu truyền hậu thế: gia đình Borgia. *** “Hấp dẫn không ngừng, li kì với những tình tiết xoay quanh tệ tham nhũng, mưu đồ phản bội, sát hại lẫn nhau, đan xen cùng chất trữ tình đậm đà và các giá trị gia đình” • Time “Puzo là người kể chuyện thiên tài với một thủ pháp miêu tả kì lạ khiến độc giả cứ phải nhấp nhổm lật giở từ trang này sang trang khác. Hãy gọi đó là thứ văn chương gây nghiện.” • USA Today “Tài năng của Puzo nằm ở chỗ ông biết sáng tạo nên một thế giới đa sắc, mỗi nhân vật có tính cách và lối hành xử riêng… khiến mỗi khi đọc tác phẩm của ông, ta luôn có cảm giác vui sướng đầy tội lỗi.” • New York Post “Một trong những tác phẩm hay nhất của Puzo… Cốt truyện lôi cuốn, tỉ mỉ với những nhân vật nổi tiếng lịch sử nhưng được miêu tả đầy chân thật… Đậm chất sử thi, một di tác vô cùng hấp dẫn mà ông hoàng tiểu thuyết Mafia để lại cho đời” • Booklist “Với nỗ lực biến những nhân vật lịch sử tai tiếng nhà Borgia trở nên gần gũi, Cha con Giáo hoàng - cuốn tiểu thuyết có tiết tấu dồn dập, được dụng công nghiên cứu kĩ càng - có lẽ là tác phẩm tham vọng nhất trong sự nghiệp của Puzo.” • Barnes and Noble Review “Cho dầu tôi hèn hạ và đê tiện đến thế nào, xin hãy để tôi hôn đường viền tấm vải liệm bao bọc nhục thể Chúa tôi. Mặc dầu có thể con đang đi theo quỷ dữ, con vẫn là con của Người, ôi lạy Chúa, và con yêu kính Người, và con cảm nhận niềm lạc phúc mà nếu không có nó thế giới này không thể tồn tại. • FYODOR DOSTOYEVSKY - Anh em nhà Karamaxov *** Tác giả Mario Puzo, quốc tịch Mỹ, gốc Ý, sang Mỹ sống ly hương trong khu dành riêng cho dân ngụ cư người Ý ở Long Island (New York). Khởi sự bằng những truyện ngắn viết nhỏ ở ban đầu, tiền nhuận bút kiếm chẳng đủ nuôi miệng. Vợ làm nghề thợ may chẳng đủ nuôi miệng vợ và chồng chưa đủ nuôi thân chồng. Chồng dại vợ đi ngủ, khẽ gập bàn máy may lại, kê bàn máy chữ lên, dưới để chiếc chăn không gây tiếng động, bắt đầu viết. Thật cuộc sống không ngày mai; nhưng kiên nhẫn vẫn cứ kéo dài ngày qua ngày. Khi Mario Puzo hàn vi, cũng may mắn gặp dược một người bạn thật tốt. Hàng ngày bạn này lui tới, khuyến khích chàng văn sĩ, không những về tinh thần mà giúp cả vật chất nữa. Thường là cho Mario Puzo vay tiền, lúc năm, hoặc mười đô la; khi hai chục. Rồi một ngày, bạn đưa ra ý kiến: khuyên nên viết một tác phẩm theo ý thích: nhân vật, chất liệu, tình tiết cũng như bối cảnh mà chàng có được. Nếu cứ viết như bây giờ, chuyện nhỏ theo lối đặt hàng chủ báo, thì cuộc đời văn sĩ sẽ chẳng bao giờ mọc mũi, sủi tăm - tiền cũng chẳng có mà sự nghiệp cũng không! Mario Puzo nghe tới đây rất thích thú, nhưng có một điều; chẳng lẽ chàng lại nói ra. Cuối cùng đành phải tiết lộ, món tiền nhuận bút kia nhỏ thật; nhưng đủ uống nước lạnh và gặm mẩu bánh mì dằn bụng. Chàng cũng đành thú thật, viết tác phẩm theo sở thích, thì lấy đâu ra tiền để sống hàng ngày? Bạn chàng gật dầu, đáp ứng ngay, hôm nay hai; mai ba; mốt bốn; kia năm mươi đô đủ sống mà viết. Ngày, tuần, tháng; bạn lui tới kiểm tra sáng tác tới đâu. Và mỗi lần cho vay tiền đều rút sổ tay ghi nợ. Một ngày kia, khi gần hoàn tất tác phẩm, bạn chàng cho vay số tiền khá lớn, và cầm bản thảo đến các nhà xuất bản thương lượng. Các tác phẩm của Mario Puzo: Đấu trường u ám (1955) Đất khách quê người (1965) The Runaway Summer of Davie Shaw (1966) Six Graves to Munich (1967), với bút danh Mario Cleri Bố già (1969) Những kẻ điên rồ phải chết (1978) Sicilian Miền đất dữ (1984)  Đời Tổng Thống K thứ tư (1991) Ông Trùm Quyền Lực Cuối Cùng (1996) Luật im lặng (2000) phần tiếp theo tới Bố già Gia đình Giáo hoàng (2002) (tựa bản dịch khác Cha Con Giáo Hoàng) Mời các bạn đón đọc Cha Con Giáo Hoàng của tác giả Mario Puzo.
Cửa Tiệm Của Những Lá Thư - Yasushi Kitagawa
Tác giả Yasushi Kitagawa đã để lại dấu ấn lớn trong lòng bạn đọc khi viết về những vấn đề gần gũi, chân thực trong đời sống của xã hội Nhật Bản đầy bất ổn nhưng cũng rất khuôn phép gò bó. Nối tiếp thành công từ cuốn tiểu thuyết Cuộc hẹn bình minh và Nếu ngày mai không bao giờ đến, Yasushi tiếp tục chinh phục độc giả qua cuốn sách thứ 3 mang tên Cửa tiệm của những lá thư. Cửa tiệm của những lá thư sẽ giúp bạn có câu trả lời, tuy không giải đáp được mọi thắc mắc nhưng cuốn sách được ví như luồng ánh sáng len lỏi vào tâm hồn mỗi người. Ở đó, góc khuất của tâm hồn lần lượt được chiếu rọi. *** Bây giờ, tôi đã viết xong tác phẩm thứ ba của mình Cửa tiệm của những lá thư. Tôi đang ngồi một mình trong thư phòng để viết lời bạt này.   Mùa hè năm ngoái, khi tôi xuất bản cuốn Nếu ngày mai không bao giờ đến, rất nhiều bạn đọc đã gửi cảm nhận của họ đến tôi. Đó như một mối duyên dẫn ta đến với nhiều cuộc gặp gỡ tuyệt vời. Nhờ những cuộc gặp gỡ đó, tôi có được cơ hội tham gia diễn thuyết hay làm khách mời trên sóng truyền thanh.   Đem tác phẩm của mình bày ra trước thế giới cần nhiều dũng khí lắm. Nhưng một khi có dũng khí hành động thì thế giới của tôi sẽ từng bước mở rộng ra. Chính vì thế, lần này, tôi lại có cơ hội mời các bạn đón đọc một tác phẩm mới của tôi.   Tôi không phải dạng viết lách thường xuyên. Chỉ khi nào cuộc sống của tôi có những điều cực kì muốn truyền tải đến mọi người, hay khi có những người mình thực lòng muốn truyền tải đến họ. Chỉ những lúc ấy, tôi mới viết. Lần này là nhờ một cậu sinh viên đã luôn hỗ trợ công việc của tôi suốt bốn năm trời. Nhìn cảnh bon chen đi xin việc của cậu ấy, tôi mới quyết định, “Được rồi, hãy viết theo cách nghĩ của mình!” rồi bắt tay vào viết, đó chính là tác phẩm Cửa tiệm của những lá thư này.   Tôi không có ý dùng tác phẩm này để chỉ dạy cách thức vượt rào tuyển dụng (xin lỗi những ai đã mong đợi điều ấy khi đọc cuốn sách này).   So với việc thành hay bại trong quá trình xin việc trước mắt, cuộc đời sau này ra sao, ta sẽ sống là chính mình như thế nào mới là điều quan trọng hơn hẳn. Điều đó, tôi muốn gửi đến cho cậu ấy, đến cho những bạn trẻ đồng tuổi với cậu ấy và cả những người đang mang cùng mối lo nữa. Tôi muốn gửi đến những bạn trẻ đang nắm tương lai của đất nước này. Với quyết tâm đó, tôi đã khởi thảo cho tác phẩm này đây.   Thực ra, tác phẩm này kể từ khi bắt đầu viết cho tới tận lúc hoàn thành mất nhiều thời gian hơn tôi dự tính ban đầu. Tôi phải xem xét những điều mình muốn truyền tải có thể truyền tải một cách rõ ràng không rồi còn viết lại, việc đó lặp đi lặp lại chẳng biết bao nhiêu lần.   Quá trình đó là điều đương nhiên, nhưng bắt đầu từ lòng kiên nhẫn, ta cần đến rất nhiều trí lực theo nhiều nghĩa. Đối với tôi, nó mệt mỏi hơn nhiều các tác phẩm mình đã viết ra như Cuốn sách của nhà hiền triết hay Nếu ngày mai không bao giờ đến.   Chỉ là, dẫu có vậy, tôi không hề có ý từ bỏ giữa chừng.   Nếu là tôi của trước đây, điều này cũng chẳng phải lạ gì nhưng tôi đã giữ vững niềm tin “Nhất định, mình sẽ hoàn thành một tác phẩm hay!” rồi tiếp tục viết.   Với lại, trong lúc tôi viết tác phẩm này, tôi luôn nghĩ đến “một điều gì đó” và “một điều gì đó” đấy biết đâu lại là cách suy nghĩ được giới thiệu trong chính tác phẩm này.   Tôi lúc nào cũng viết một mình.   Ngồi một mình trong căn phòng yên tĩnh, lặng lẽ viết.   Nhưng, tôi không thấy cô độc.   Tôi có ý định mình sẽ một mình ngồi trên bàn viết ra một tác phẩm với đội cổ vũ hùng hậu đủ để lấp đầy sân bóng chày Koushien.   Đội cổ vũ đó giờ tôi vẫn chưa thấy đâu nhưng khi tôi vượt qua được bức tường của mình cũng là lần đầu tiên gặp được họ, đó là những người có suy nghĩ “đọc được tác phẩm này thật tốt quá”.   “Có những người đang đợi tác phẩm này hoàn thành. Dẫu có gặp gian nan nhường nào, chỉ cần vượt qua, chắc chắn sẽ có hàng vạn người sẽ nghĩ rằng đọc được Cửa tiệm của những lá thư quả là điều may mắn. Nhất định tôi sẽ gặp được những người như vậy.”   Nghĩ vậy, tôi đã nghe thấy đâu đây những tiếng hò reo ủng hộ.   Giờ, khi đọc xong hết tác phẩm này rồi, bạn cũng sẽ trở thành một người trong số đó chứ?   Bởi vì tôi đã nghe thấy được những tiếng cổ vũ của các bạn đọc cuốn sách “May mà cuốn sách này đã được xuất bản, cảm ơn anh” nên mới có thể cố gắng hoàn thành nó.   Đương nhiên, để có được cảm xúc như vậy cũng là nhờ nhiều người đã nói rằng “Chúng tôi trông đợi vào tác phẩm tiếp theo của anh Kitagawa đấy!”. Những độc giả đã tiếp sức cho tôi, thật lòng cảm ơn các bạn.   Giờ, đến lượt người đã đọc cuốn sách là bạn đấy, đến lượt bạn nghe thấy những tiếng cổ vũ và vượt qua bức tường khó khăn của mình rồi. Tôi cũng sẽ là một người trong đó lớn tiếng ủng hộ bạn.   Hãy cứ rạng rỡ, tươi vui và là chính mình. Ngoài ra... dẫu có thể nào! Hãy cứ chạy tiếp đi.   Viết được tác phẩm này, tôi đã nhận được nhiều lời khuyên bổ ích cho cấu trúc của câu chuyện từ giám đốc Hoshiba và phụ trách biên tập Ishibashi của Discovery 21. Morisue đã cung cấp cho tôi rất nhiều ý tưởng liên quan đến “Thư lạc”. Nếu không có sự giúp đỡ của những người đó, Cửa tiệm của những lá thư sẽ không thể ra đời được. Tôi muốn mượn một góc nhỏ, xin gửi lời tri ân đến họ. Thành thật cảm ơn.   Ngoài ra, những thành viên hội “Soumei” lúc nào cũng giúp đỡ tôi, những em học sinh luôn chỉ dạy cho tôi nhiều điều và cả những người đã tài trợ cho tôi. Những người tôi đã có cơ hội được gặp từ trước tới nay. Người vợ và con gái luôn thấu hiểu tôi nhất nữa. Những độc giả đã luôn đọc sách của tôi từ trước tới giờ. Và cả người đang đọc cuốn sách vào lúc này đây là bạn nữa.   Xin có lời cảm ơn.   Cảm ơn mọi người.   Đầu hè 2007   Mời các bạn đón đọc Cửa Tiệm Của Những Lá Thư của tác giả Yasushi Kitagawa.
Từ Thăm Thẳm Lãng Quên - Patrick Modiano
Ở Từ thăm thẳm lãng quên, cuộc gặp lại sau mười lăm năm biến mất không dấu vết gì về nhau đã gợi lại một đoạn đường ngắn nhân vật Tôi được ở trong vùng kết nối cùng Jacqueline, cô gái mà anh đã quý mến day dứt ngay từ lần đầu tiên nhìn thấy trước cửa quán cà phê Dante, ở Paris. Cô gái Jacqueline đột ngột bước vào một đoạn tuổi trẻ ngắn ngủi của anh, để rồi từ ấy, anh đã bị cuốn theo cô, với những cuộc đi băng qua nhiều đại lộ ở Paris, rồi sau đó là cuộc vượt thoát sang London, và họ ở đó, mùa hè rong ruổi cùng nhau trên những đại lộ nóng bức. Thế nhưng, Jacqueline bỗng nhiên biến mất. Còn anh, sau những ngày tháng trôi dạt cùng cô giữa Paris, giữa London, phá phách, hoang dại, lại trở về với đời sống thường ngày, nhưng anh hoàn toàn không phải là anh của những ngày trước kia gặp cô. Tâm trí anh vẫn tìm kiếm cô như tìm kiếm một ảo vọng giữa mê cung đầy huyễn hoặc của những mùa hè. Để rồi mười lăm năm sau, anh gặp lại cô cùng chồng cô trong một bữa tiệc ở ngày khu nhà cũ. Cô đã đổi tên, cắt tóc, và hút thuốc không còn bị ho. Anh tưởng như cô không còn nhớ gì về anh. Thực chất, ấy chỉ là một mặt hồ yên lặng, dậy sóng ở đáy sâu. *** Nhà văn Patrick Modiano sinh ngày 30/7/1945 tại Boulogne-Billancourt - một khu ngoại ô thành phố Paris. Cha của ông là một doanh nhân Ý gốc Do Thái, sống sót qua Thế chiến thứ hai bằng những mối làm ăn bí mật với Đức quốc xã. Có lẽ chính vì thế nên Patrick Modiano bị ám ảnh với thân thế có vết nhơ. Các tác phẩm của ông thường lấy bối cảnh thời kỳ Đức quốc xã chiếm đóng nước Pháp và xoay quanh những chủ đề như ký ức, sự lãng quên, thân phận và cảm giác tội lỗi. Trong một lần xuất hiện trên truyền hình năm 2007, ông kể mình “đau khổ vì được ra đời” và mô tả bản thân là “sản phẩm của một thời kỳ quái đản, khi những người lẽ ra không nên gặp nhau lại gặp và có con một cách tình cờ”. Từ khi xuất bản cuốn tiểu thuyết đầu tay La place de L’Etoile (Quảng trường ngôi sao), Patrick Modiano đã lập tức trở thành một hiện tượng của nền văn học Pháp. Hàng loạt tác phẩm sau đó, từ La ronde de nuit (Tuần tra đêm), Les boulevard de ceinture (Những đại lộ ngoại vi), Rue des boutique obscures (Phố những cửa hiệu u tối) đều được giới phê bình đánh giá cao và giành hàng loạt giải thưởng văn học Pháp. Một số tác phẩm đã được dịch và xuất bản tại Việt Nam: Phố Những Cửa Hiệu U Tối - Patrick Modiano Quảng Trường Ngôi Sao - Patrick Modiano Ở Quán Cà Phê Tuổi Trẻ Lạc Lối - Patrick Modiano Để Em Khỏi Lạc Trong Khu Phố - Patrick Modiano Từ Thăm Thẳm Lãng Quên   Mời các bạn đón đọc Từ Thăm Thẳm Lãng Quên của tác giả Patrick Modiano.