Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Cuốn Sách Tiên Tri

"Trong cuốn tiểu thuyết tuyệt vời này, một Erika Swyler đầy tài hoa  đã xuyên suốt qua nhiều thế hệ và nhiều thế kỷ, dịch chuyển một cách khéo léo và dệt các mạch truyện thành một tấm thảm tuyệt đẹp. Tôi ngay tức khắc hòa mình vào trong câu chuyện gia đình đầy thủ đoạn và bất hòa. Văn chương của Swyler hoa mỹ và thanh tao tới mức vô cùng dễ hiểu, tỏa sáng hệt như giọng nói đặc biệt của bà - cách miêu tả của bà về biển và vẻ hung hãn của nó có thể sánh ngang với Annie Proulx trong tác phẩm Shipping News. Tôi thực sự yêu thích cuốn sách này và đã ngấu nghiến đọc một mạch từ đầu đến cuối"  - Trích lời Sara Gruen, tác giả cuốn Water for Elephants; At the Water's Edge - *** Văn học giả tưởng, ma mị là một thể loại cực kỳ thu hút độc giả. Mời các bạn đón đọc review Cuốn sách tiên tri – một câu chuyện cực hot trong thể loại trên. “Trong khi Peabody vẽ và mơ ước, hàng xe vẫn đi theo con đường quanh co chạy theo chiều dài Catawba. Trục xe rên rỉ phản kháng, những cánh cửa xe đóng sập lại và bị kẹt, không khí ẩm ướt khác thường bao trùm lên cả gánh xiếc khi họ mù quáng đi vào trong sương mù.” Cuốn sách tiên tri có cái ma mị của ‘Rạp xiếc đêm’, cũng có chút bất cần tuổi trẻ của ‘Những thành phố giấy’. Cái ma mị bí ẩn trong hình ảnh ngôi nhà bên vách đá gắn với những kỉ niệm, hiệu sách cũ, lửa trại, những lá bài tarot, gánh xiếc, người cá, cuốn sách cổ, những cái chết.. tất cả góp phần tạo nên một không gian truyện bí ẩn và cuốn hút. Đan xen vào đó là những khao khát, ước mơ và cả tình yêu của những con người trẻ tuổi, những con người mang trong mình những đam mê nồng cháy và cảm xúc bùng nổ khi đối diện với người họ thương yêu. Bằng cách kể chuyện song song ở hai khoảng thời gian hiện tại và quá khứ, tác giả như đang thì thầm những bí mật về những con người xa lạ hóa ra lại có mối liên hệ gắn bó và bị thu hút về phía nhau vậy. Tớ rất thích cách viết gắn kết những con người tưởng chừng không chút liên quan, mà qua ngòi bút của tác giả, sợi dây liên kết giữa họ rõ ràng hơn và kì diệu hơn rất nhiều. Không chỉ có vậy, đây còn là câu chuyện về tình cảm gia đình gắn bó, những kỉ niệm đã qua vẫn còn lưu lại trong kí ức tuổi thơ của những kẻ trưởng thành cô đơn, hay những day dứt về sự bồng bột và những hành động trong quá khứ vẫn xuất hiện trong tâm trí họ. Liệu người thân hay chính bản thân họ có dám đối diện với những sai lầm ngày còn trẻ, có thể bằng lòng tha thứ hay không? Bên cạnh đó thì đôi lúc mạch truyện cũng hơi chậm, cảm giác như tác giả cũng đang băn khoăn tìm hướng đi cho nhân vật vậy. Tớ cũng không thích vài chi tiết tình cảm người lớn trong cuốn này, cứ thấy cái gì đó không hợp câu chuyện lắm đâu. Chung lại thì đây là một cuốn khá ổn, nếu anh em muốn thử một cuốn bí ẩn ma mị mà không thiếu đi sự sâu lắng của tình cảm con người thì tớ nghĩ đây sẽ là một câu chuyện phù hợp đó. Cuốn sách tiên tri xoay quanh Simon Watson, anh chàng thủ thư vừa mất việc, rơi vào chán chường vì mất việc đồng nghĩa với không có tiền sửa sang lại căn nhà thơ ấu với bao kỉ niệm cùng bố mẹ và em gái Enola. Một ngày, Simon nhận được cuốn sách cổ từ chủ hiệu sách Churchwarry&son mà trong đó, anh chợt nhận ra những mối liên hệ bất ngờ và một sự trùng hợp kì lạ về những con người đặc biệt từ nhiều năm về trước. Trích dẫn Cuốn sách tiên tri: “Trong khi Amos mơ những giấc mơ của một Cậu bé Rừng xanh – có những đầm lầy dồi dào muông thú, có những đám rong rêu mềm mại để anh ngủ ngon lành trên đó, có sự sảng khoái của những dòng sông mát lạnh áp vào da thịt, có một cô gái đáng yêu trong nước, mái tóc bồng bềnh xung quanh như thảm cỏ – thì những giấc mơ của Evangeline lại u ám hơn nhiều. Cô mơ đến việc bò ra khỏi ngôi nhà màu xám ở Kromeskill, đầu gối đẫm máu, bùn đóng cứng lại cùng với lá thông. Lúc nào bà cô cũng đi theo cô, khuôn mặt tím tái, cầu xin lòng nhân từ và sự cứu giúp. Tại sao? Tại sao? Bà rất yêu cháu. Gánh xiếc đang rời Philadelphia để đến những ngôi nhà gạch có đầu nhọn ở New Castle thì bầu trời nổi gió và mưa trút xuống đe doạ sẽ cuốn trôi cả bầy thú. Con ngựa nhỏ đá chân và lồng lên bên trong xe ngựa của mình, con lạc đà rít lên như một đứa trẻ bị thương. Lo sợ rằng việc cố gắng đi tiếp sẽ khiến chúng bị sa lầy, Peabody lệnh cho tất cả các cỗ xe dừng lại cho đến khi mưa tạnh. Màn đêm buông xuống với hơi nóng dày đặc buộc mọi người phải lên giường đi ngủ. Không khí nặng nề với những đám mây mưa, bầu trời như một quả cân kéo Evangeline xuống như bà của cô đã từng làm. Cô ngủ một giấc ngủ bồn chồn, không yên vì tội lỗi.” Với Cuốn sách tiên tri, tớ chấm 4/5 điểm. *** Ngôi nhà cheo leo bên rìa dốc thẳng đứng trông thật nguy hiểm. Cơn bão đêm qua đã cày tung đất, khuấy đảo vùng biển, khiến bãi biển đầy rẫy chai lọ, rong biển, mai cua hình móng ngựa. Mảnh đất tôi đã sống cả cuộc đời này không chắc có thể trụ qua được mùa bão. Eo biển Long Island rải rác tàn tích của những ngôi nhà và những mảnh đời, tất cả bị chôn vùi trong cái dạ dày tham lam của cát. Nó là một kẻ chết đói. Các biện pháp như xây vách ngăn, tôn nền cao đều không có. Sự thờ ơ của bố đã khiến tôi phải gánh chịu một vấn đề không thể giải quyết, một vấn đề quá tốn kém với một thủ thư ở Napawset. Nhưng, những thủ thư chúng tôi nổi tiếng là có tài xoay xở. Tôi đi về phía những bậc thang gỗ dẫn xuống vách đá. Chân tôi đau nhói ở nơi đá găm vào. Ở bờ biển Bắc này, có một vài thứ cần thiết hơn là bàn chân chai cứng. Vào mùa hè, tôi và em gái Enola thường chạy chân đất cho đến khi vỉa hè nóng ran đến nỗi ngón chân chúng tôi lún xuống nhựa đường. Người ngoài không thể đi bộ trên những bờ biển thế này. Frank McAvoy vẫy tay với tôi từ dưới chân bậc thang trước khi quay ra nhìn chằm chằm vào vách đá. Ông mang theo con thuyền nhỏ xinh xắn, trông như thể được đục đẽo từ một tấm gỗ duy nhất. Frank McAvoy là thợ đóng thuyền gỗ và là một người tốt bụng, đã quen biết gia đình tôi trước cả khi tôi chào đời. Khi cười, khuôn mặt ông hằn lên những nếp nhăn loang lổ của một người Ireland bao năm dãi dầm mưa nắng; cặp lông mày cong lên trên và mất hút dưới vành mũ cũ kỹ. Nếu bố tôi sống đến sáu mươi tuổi, có thể trông ông sẽ giống như Frank, với hàm răng vàng khè và những vết tàn nhang ửng đỏ. Nhìn vào Frank, tôi lại nhớ đến tôi hồi trẻ thơ, đang bò giữa những thanh củi được xếp để đốt lửa trại, bàn tay to lớn của ông kéo tôi khỏi một khúc gỗ đang lung lay. Ông khiến tôi nhớ lại những kỷ niệm về bố, khi ông đang loanh quanh với món lợn quay, ngô nướng, mùi vỏ khô cháy thành than và mùi lụa cháy, trong khi Frank tiêu khiển cho chúng tôi bằng những câu chuyện đi câu. Frank có biệt tài nói dối như thần, đó là điều rất rõ ràng. Mẹ tôi và vợ ông ấy giục ông kể tiếp, tiếng cười của họ khiến cho lũ mòng biển cũng phải khiếp sợ. Hai người họ giờ đã không còn nữa. Tôi nhìn Frank và thấy bố mẹ tôi, tưởng tượng rằng ông không thể nhìn tôi mà không thấy những người bạn đã mất. - Có vẻ như cơn bão đã ảnh hưởng nhiều đến cháu đó. - Ông nói. - Cháu biết. Cháu mất một mét rưỡi. - Một mét rưỡi là đã nói giảm nói tránh rồi. - Bác đã bảo bố cháu phải dựng kè, trồng thêm cây. - Nhà ông McAvoy cách nhà tôi vài trăm mét về phía tây, nằm xa biển, với một cái dốc đứng có bậc thang và cây trồng, được thiết kế để bảo vệ ngôi nhà trong bất cứ hiểm nguy nào. - Bố cháu không bao giờ biết lắng nghe cả. - Đúng thế. Ngoài ra thì một hay hai miếng che trên kè có lẽ đã có thể cứu cháu khỏi một biển rắc rối. - Bác biết bố cháu thế nào mà. - Sau đó là một khoảng lặng đầy cam chịu. Frank hít không khí qua kẽ răng, tạo ra một tiếng huýt sáo khô khốc. - Bác cho rằng bố cháu nghĩ ông ấy có nhiều thời gian hơn thế để sửa chữa mọi thứ. - Có lẽ vậy. - Tôi nói. Ai mà biết được bố tôi đã nghĩ gì. - Dù vậy, mấy năm nay, nước đã lên cao. - Cháu biết, cháu không thể để việc này tiếp diễn lâu hơn được nữa. Nếu bác quen một ai đó mà bác tin tưởng, cháu sẽ rất cảm kích nếu được bác cho biết tên của một nhà thầu. - Chắc chắn rồi. Bác có thể gửi người đến chỗ cháu. - Ông gãi đầu - Nhưng bác không muốn nói dối, tiền công sẽ không rẻ đâu. - Không còn gì khác nữa phải không bác? - Không, bác nghĩ là không. - Cháu có thể xem xét bán một số thứ. - Thật buồn khi thấy cháu làm việc đó. - Vầng trán Frank nhăn lại, khiến chiếc mũ sụp xuống. - Đất đai còn có chút giá trị ngay cả khi ngôi nhà biến mất. - Hãy suy nghĩ thêm. Frank biết vấn đề tài chính eo hẹp của tôi. Cô con gái Alice của ông cũng làm việc tại thư viện. Tóc hoe đỏ và xinh xắn, Alice có nụ cười của bố và cô ấy rất biết cách lấy lòng bọn trẻ. Alice biết cách giao thiệp với mọi người hơn tôi, đó là lý do tại sao cô ấy làm nhiệm vụ thiết lập chương trình, còn tôi làm công việc tra cứu. Nhưng chúng tôi không ở đây để nói về Alice, hay tình trạng nguy hiểm của căn nhà. Chúng tôi ở đây để làm công việc chúng tôi đã làm suốt một thập kỷ qua, thả phao để cách ly một vùng ngập nước. Cơn bão đủ mạnh để kéo phao và mấu neo vào bờ, để lại một đống những dây xích han gỉ và dây thừng bện màu cam, san sát những hàu. Tôi thấy hơi ngạc nhiên khi bị mất đất. - Chúng ta đi chứ? - Tôi hỏi. - Tại sao không? Thời gian không còn dài nữa. Tôi cởi áo, nhấc dây xích và dây thừng lên một bên vai, rồi chầm chậm bước xuống nước. - Có chắc là cháu không cần giúp một tay không? - Frank hỏi. Con thuyền đã chạm mặt cát khi ông đẩy nó xuống nước. - Dạ không, cảm ơn bác, cháu làm được. - Tôi có thể tự mình làm việc này, nhưng có Frank đi theo vẫn an toàn hơn. Ông ở đây không phải vì tôi, mà là vì cái lý do đã khiến tôi làm việc này vào mỗi năm: để tưởng nhớ mẹ tôi, Paulina, bà đã chết đuối ở vùng nước này. Eo biển thật lạnh lẽo vào tháng 6, bước xuống tôi hòa mình vào nó, bàn chân tôi quắp vào nhũng hòn đá bám đầy tảo biển. Dây xích có móc neo khiến tôi chậm lại, nhưng Frank vẫn duy trì tốc độ, xoay tròn mái chèo. Tôi bước đi cho đến khi nước ngập đến ngực, rồi đến cổ. Ngay trước khi lặn xuống, tôi thở hết ra, rồi hít vào, như mẹ tôi đã hướng dẫn tôi trong một buổi sáng ấm áp vào cuối tháng 7, như tôi đã hướng dẫn em tôi. Mẹo để nín thở là chịu khát. “Thở một hơi thật nhanh và mạnh,” mẹ tôi nói, giọng bà êm ái bên tai. Ở vùng nước nông, mái tóc đen dài của mẹ trôi quanh chúng tôi tựa một dòng sông. Hồi đó tôi năm tuổi. Bà ấn bụng tôi cho đến khi các cơ thắt chặt vào, rốn gần chạm xương sống. Bà đẩy mạnh, móng tay sắc nhọn chọc vào tôi, “Bây giờ con hãy hít vào, nhanh. Nhanh, nhanh, nhanh. Xương sườn căng ra. Nghĩ rộng ra.” Bà hít vào, lồng ngực mở rộng, những chiếc xương mảnh như xương chim bành ra cho đến khi bụng bà tròn như cái thúng. Bộ áo tắm của bà là một ánh sáng trắng rạng rỡ trong nước. Tôi nheo mắt nhìn. Bà xỉa một ngón tay vào xương ức tôi. “Con đang thở ra đấy, Simon. Nếu con thở ra, con sẽ chết đuối.” Một cái chạm khẽ khàng. Một nụ cười mỉm. Mẹ bảo tôi hãy tưởng tượng rằng tôi đang khát, cổ họng khô khốc và trống rỗng, rồi uống không khí vào. “Hãy thư giãn xương cốt và uống vào thật nhiều, thật sâu.” Khi bụng tôi đã tròn như chiếc trống cái, bà thì thầm, “Tuyệt, tuyệt. Bây giờ chúng ta lặn xuống nào.” Lúc này tôi lặn xuống. Những tia nắng mềm mại xuyên xuống quanh bóng chiếc thuyền của Frank. Thỉnh thoảng, tôi nghe thấy tiếng mẹ tôi, đang trôi giạt trong làn nước, và thỉnh thoảng tôi thoáng thấy bà, phía sau lớp rong biển, mái tóc đen hòa lẫn với tảo bẹ. Hơi thở của tôi biến thành một màn sương đẹp đẽ bao phủ lên làn da. Mẹ tôi là một diễn viên ở rạp xiếc và lễ hội, người bói bài tarot, trợ lý ảo thuật gia, và người cá, chuyên sống bằng cách nín thở. Bà dạy tôi bơi như cá, và bà khiến bố tôi mỉm cười. Bà thường xuyên biến mất. Bà thường bỏ việc hoặc làm đồng thời hai hay ba việc một lúc. Bà ở khách sạn chỉ để thử những chiếc giường khác nhau xem chúng như thế nào. Bố tôi, Daniel, là một thợ máy và là một người chồng chung thủy. Ông ở nhà, mỉm cười, đợi vợ trở về, đợi bà gọi ông là anh yêu. Simon, con yêu. Bà cũng gọi tôi như vậy. Tôi lên bảy tuổi vào ngày bà gieo mình xuống nước. Tôi cố quên, nhưng nó đã trở thành kỷ niệm thân thương nhất của tôi về bà. Bà đã bỏ chúng tôi sau khi chuẩn bị xong bữa sáng. Trứng luộc chín phải được đập vào cạnh đĩa và phải dùng móng tay để bóc vỏ. Tôi đập và bóc trứng cho em gái, cắt chúng thành miếng cho vừa những ngón tay nhỏ xíu của đứa trẻ mới chập chững biết đi. Có bánh mì nướng khô và nước cam đi kèm. Những giờ đầu điên của mùa hè khiến bóng tối trở nên tối hơn, khuôn mặt trở nên sáng hơn và chỗ hõm trở nên góc cạnh hơn. Mẹ Paulina là một cảnh tượng đẹp trong sáng hôm đó, vô cùng duyên dáng, không ai sánh bằng. Bố tôi đang làm việc ở nhà máy. Chỉ có mẹ ở nhà với chúng tôi, quan sát, và gật đầu khi tôi cắt trứng cho Enola. - Con là một người anh tốt, Simon à. Con hãy trông chừng Enola. Con bé sẽ muốn chạy trốn khỏi con. Hãy hứa với mẹ rằng con sẽ không để em đi. - Con hứa. - Con là một chàng trai tuyệt vời, phải không? Mẹ không bao giờ trông chờ điều đó. Mẹ không trông chờ điều đó ở con một chút nào. Quả lắc trên chiếc đồng hồ chim cu tích tắc qua lại. Bà gõ một gót giày lên tấm vải son lót sàn nhà, yên lặng. Enola bôi đầy trứng và mảnh bánh mì vụn lên người. Tôi vật lộn với việc vừa ăn sáng, vừa giữ cho em gái tôi sạch sẽ. Một lát sau, mẹ đứng dậy và vuốt thẳng vạt trước của chiếc váy mùa hè màu vàng bà đang mặc rồi nói: - Gặp lại con sau nhé, Simon! Tạm biệt Enola! Bà hôn lên má Enola và áp môi lên đỉnh đầu tôi. Bà vẫy tay tạm biệt, mỉm cười và đi làm, tôi đã nghĩ như vậy. Làm sao tôi có thể biết được lời tạm biệt đó lại chính là lời vĩnh biệt. Những suy nghĩ khó khăn chất chứa trong những lời nói nhỏ bé. Khi bà quan sát tôi trong buổi sáng hôm đó, bà biết rằng tôi sẽ chăm sóc cho Enola. Bà biết chúng tôi không thể theo bà. Đó là thời gian duy nhất bà có thể đi. Không lâu sau đó, khi tôi và Alice McAvoy đang đua xe trên chiếc thảm trải sàn phòng khách nhà cô ấy, mẹ tôi đã trẫm mình xuống eo biển. Tôi lao xuống nước, đẩy nước bằng ngực, thọc chân sâu xuống. Sau khi đã lặn thêm vài mét nữa, tôi thả một cái neo, nó rơi xuống với một tiếng vang nghẹt lại. Tôi nhìn vào bóng của chiếc thuyền. Frank đang lo lắng. Mái chèo đập xuống mặt nước. Hít thở dưới nước sẽ như thế nào nhỉ? Tôi tưởng tượng khuôn mặt méo mó của mẹ tôi, nhưng vẫn tiếp tục đi cho đến khi tôi có thể thả một cái neo khác, và rồi tôi đẩy hết không khí ra khỏi phổi và bước về phía bờ, cố gắng ở phía dưới lâu nhất có thể - đó là một trò chơi mà tôi và Enola đã thường chơi. Tôi chỉ bơi khi không thể giữ nổi thăng bằng để bước đi, sau đó cánh tay tôi di chuyển thành những sải bơi ổn định, cắt qua eo biển như một trong những chiếc thuyền của Frank. Khi nước vừa đủ sâu để ngập đầu, tôi lại chạm xuống dưới đáy. Điều tiếp theo tôi làm là vì Frank. “Chậm thôi, Simon. Hãy mở mắt ra, ngay cả khi con thấy cay mắt. Không được chớp mắt.” Mẹ bảo tôi. Muối làm cho mắt đau nhói nhưng mẹ không bao giờ chớp mắt, không chớp mắt trong nước, không chớp mắt khi không khí bắt đầu đập vào mắt mẹ. Bà đang di chuyển như một bức tượng. “Đừng có thở, ngay cả khi mũi con đã ở phía trên mặt nước. Nếu con hít thở quá nhanh, miệng con sẽ đầy muối. Hãy đợi,” Mẹ nói, kéo dài từ này như một lời hứa. “Đợi cho đến khi miệng con đã lên khỏi mặt nước, nhưng hãy hít thở bằng mũi, hay trông như con bị mệt. Con không bao giờ có thể bị mệt. Rồi con mỉm cười.” Dù miệng nhỏ và môi mỏng nhưng nụ cười của bà luôn căng rộng ra như làn nước. Mẹ chỉ cho tôi cách cúi chào đúng đắn: cánh tay giơ cao, ngực ưỡn ra, như một con sếu chuẩn bị bay. “Đám đông thích những người rất nhỏ và rất cao. Đừng gập cong người như một diễn viên, điều đó sẽ ảnh hưởng đến con. Hãy để họ nghĩ rằng con cao hơn thực chất của mình. Mẹ mỉm cười với tôi khi đang giơ cao cánh tay bà. “Và con sẽ rất cao, Simon à.” Một cái gật đầu căng hết cỡ tới những khán giả vô hình. “Và con hãy thật duyên dáng, Hãy luôn luôn duyên dáng.” Tôi không cúi chào, không phải vì Frank. Lần cuối cùng tôi cúi chào là khi tôi dạy Enola và muối đâm vào mắt chúng tôi đau đến nỗi trông chúng tôi như thể mới đánh nhau. Dù vậy, tôi vẫn mỉm cười và hít một hơi thật sâu qua mũi, để cho xương sườn giãn ra và lồng ngực căng đầy. - Bác nghĩ là bác sẽ phải theo sau cháu. - Frank gọi. - Cháu ở dưới bao lâu rồi bác? Ông nhìn vào chiếc đồng hồ đeo tay bằng dây da đã rạn và thở ra: - Chín phút. - Mẹ cháu có thể làm được mười một phút. - Tôi giũ nước khỏi tóc, đập đập hai lần để nước ra khỏi tai. - Không bao giờ hiểu được điều đó. - Frank thốt lên khi lôi mái chèo ra khỏi khóa. Chúng kêu loảng xoảng khi ông ném chúng vào thuyền. Có một câu hỏi mà cả hai chúng tôi đều không hỏi: mất bao lâu để một người nín thở bị chết đuối? Khi tôi mặc áo, nó đầy cát, đó là hậu quả của việc sống ở bờ biển, cát luôn có trong tóc, dưới móng chân, trong những nếp khăn trải giường. Frank đi đến sau tôi, thở hổn hển vì kéo thuyền. - Lẽ ra bác nên để cháu giúp việc đó. Ông vỗ lưng tôi: - Nếu thỉnh thoảng bác không vận động thì bác sẽ chỉ có già đi thôi. Chúng tôi nói chuyện phiếm về mọi thứ ở bến du thuyền. Ông phàn nàn về sự thịnh hành của những chiếc thuyền bằng sợi thủy tinh, cả hai chúng tôi đều lan man về Windmind, chiếc thuyền đua mà ông và bố tôi cùng sở hữu. Sau khi mẹ tôi chết đuối, bố tôi chẳng nói chẳng rằng đã bán luôn chiếc thuyền đó đi. Ông thật tàn nhẫn khi làm vậy với Frank, nhưng tôi cho rằng Frank đã có thể mua được nó ngay tức khắc nếu ông muốn vậy. Chúng tôi tránh không nói chuyện về ngôi nhà, dù rõ ràng là ông buồn rầu với ý tưởng bán nó đi. Tôi cũng không muốn bán nó. Thế nên chúng tôi cùng trao đổi những lời nhận xét hài hước về Alice. Tôi nói tôi đang để ý đến cô ấy, dù điều đó là không cần thiết. - Thế còn em gái cháu thì sao? Nó đã ổn định ở đâu chưa? - Cháu không rõ. Thật ra mà nói, cháu không biết liệu nó có từng muốn vậy không. Frank khẽ mỉm cười. Cả hai chúng tôi đều nghĩ về điều đó: Enola cũng hoạt bát như mẹ tôi. - Vẫn đang bói bài tarot à? -Nó đang xoay sở với công việc đó. - Em tôi đã bỏ đi cùng với một gánh xiếc. Khi nói ra điều này, chúng tôi đã kết thúc cuộc hội thoại tất yếu. Chúng tôi lau khô và nhấc chiếc thuyền nhẹ trở lại cái kè. - Bác sẽ lên chứ? Cháu sẽ đi bộ về với bác. - Tôi nói. - Hôm nay trời thật đẹp. Bác nghĩ là bác sẽ ở đây thêm một lát nữa. - Nghi thức đã xong. Chúng tôi đi theo hai hướng khác nhau khi chúng tôi đã dìm chết hồn ma của chính mình. Tôi bước lên những bậc thang trở lại, tránh cây thường xuân độc leo lên rào chắn và mọc dày đặc trên dốc đứng - không ai kéo nó xuống, bất cứ thứ gì bám chặt vào cát xứng đáng với bất cứ tội lỗi nào nó đem lại - Và cắt qua đám cỏ biển, hướng về nhà. Giống như rất nhiều ngôi nhà ở Napawset, nhà của tôi là một thuộc địa thực sự, được xây dựng vào cuối những năm 100. Có một tấm bảng từ xã hội lịch sử được treo cạnh cửa trước cho đến khi nó bị thổi bay mất trong một cơn gió đông bắc vài năm trước. Ngôi nhà Timothy Wabash. Với màu sơn trắng bong tróc, bốn cửa sổ vặn vẹo, và một bậc thang dốc, vẻ bề ngoài của ngôi nhà cho thấy nó đã bị lãng quên từ lâu và thiếu tiền tu bổ trầm trọng. Trên bậc thang trước màu xanh lá bạc màu (phải nói đến điều đó) là một gói đồ được dựng mở trên cửa lưới. Người giao hàng luôn để cửa mở dù đã vô số lần tôi để lại lời nhắn là không được như vậy, tôi phải treo lại một cánh cửa vào một ngôi nhà đã không vuông vức kể từ ngày nó mới được xây. Tôi không đặt món hàng nào và không thể nghĩ được ai có thể gửi cho tôi món gì. Enola hiếm khi ở một nơi nào đủ lâu để gửi thư mà chỉ gửi một tấm bưu thiếp. Ngay cả nếu có vậy, chúng cũng thường trống trơn. Gói hàng nặng, kỳ cục, và được đề địa chỉ bằng những nét chữ nguệch ngoạc, khẳng khiu của một người lớn tuổi - một kiểu mà tôi đã quen thuộc, vì khách quen của thư viện chủ yếu là một nhóm những người lớn tuổi. Điều đó nhắc tôi rằng, cần phải nói chuyện với Janice về việc kiếm thêm một khoản trong ngân sách của thư viện. Mọi thứ sẽ không quá tồi nếu tôi có thể đắp kè. Không cần phải tăng lương, chỉ cần một khoản tiền thưởng vào một dịp nào đó, vì thâm niên làm việc. Người gửi là một ai đó tôi không biết, một người nào đó có tên là M. Churchwarry ở Iowa. Tôi dọn sạch một chồng giấy khỏi mặt bàn, đó là một vài bài báo về gánh xiếc và lễ hội, những thứ tôi đã sưu tầm trong những năm qua để bắt kịp cuộc sống của em gái tôi. Hộp đồ có chứa một cuốn sách khá lớn, được bọc cẩn thận. Dù chưa mở thì cái mùi mốc, hăng hăng cho thấy đó là mùi giấy, gỗ, da và keo dán cũ. Nó được gói trong tấm vải mỏng và giấy in báo, khi mở ra, nó là một bìa sách da màu tối trên đó có thể là những họa tiết xoắn phức tạp nếu nó không bị nước hủy hoại. Tôi cảm thấy hơi choáng váng. Nó rất cũ kĩ, không phải một cuốn sách có thể sờ mó bằng những ngón tay trần, mà nó như một thứ đã bị hư hỏng hoàn toàn, tôi hồi hộp chạm vào nó như chạm vào một cái gì đó của lịch sử. Mép trang giấy không bị hỏng mà còn thật mềm mại. Bộ sưu tập săn cá voi của thư viện đã khiến tôi lao mình vào công việc lưu trữ và phục chế, đủ để nói rằng quyển sách có cảm giác như đã tồn tại ít nhất từ những năm 1800. Đây là một sự sắp đặt, không phải một cuốn sách bạn chuyển đến mà không báo trước. Tôi xếp những tờ báo của mình thành hai chồng nhỏ để đỡ cuốn sách - sự thay thế đáng thương cho một cái giá sách nó đáng có được, nhưng như vậy cũng ổn. Có một lá thư được nhét bên trong bìa trước, được viết bằng mực nước cũng với nét chữ run rẩy đó. Cậu Watson thân mến, Tôi tình cờ thấy cuốn sách này tại một buổi đấu giá, nó nằm trong một mớ mà tôi đã mua để đầu cơ. Tình trạng hư hại của cuốn sách này cho thấy nó vô dụng với tôi, nhưng một cái tên bên trong nó - Verona Bonn - đã khiến tôi tin rằng nó có thể là mối quan tâm của cậu hay gia đình cậu. Đó là một cuốn sách thú vị và tôi hy vọng nó tìm được một ngôi nhà tuyệt vời với cậu. Làm ơn đừng do dự liên lạc với tôi nếu cậu có bất kỳ câu hỏi nào cậu cho rằng tôi có thể trả lời. Nó được ký bởi một ông Martin Churchwarry của Hiệu sách Churchwarry & Son nào đó, và có cả một số điện thoại đi kèm. Một người bán sách, chuyên về những cuốn sách cũ và sách cổ. Verona Bonn. Tên bà tôi xuất hiện trong cuốn sách này nằm ngoài sức tưởng tượng của tôi. Là một người biểu diễn lưu động như mẹ tôi, bà sẽ không có thời gian cho một cuốn sách như thế này. Tôi khẽ lật một trang sách bằng mép ngón tay. Trang sách bên trong đầy những chữ viết phức tạp, một bản khắc đồng được trang trí với những nét cong bay bướm kì dị. Có vẻ như nó là một cuốn sách kế toán hay hành trình của một ông Hermelius Peabody nào đó, liên quan đến điều gì đó có chứa từ xách tay và phép màu. Bất cứ chi tiết nào khác để nhận dạng cũng rất khó đọc vì bị nước làm hư hại và vì sự cống hiến cho nghệ thuật viết chữ đẹp của ông Peabody. Tôi lướt qua thấy những bức phác họa về phụ nữ, nam giới, những tòa nhà, và những cỗ xe ngựa mái cong, tất cả đều màu nâu. Tôi chưa bao giờ biết mặt bà tồi. Bà mất khi mẹ tôi còn nhỏ, mà mẹ tôi thì chẳng bao giờ nói nhiều về bà. Tôi không rõ cuốn sách này có liên quan đến bà tôi không, tuy nhiên, điều đó cũng thật thú vị. Tôi quay số, lờ đi những âm thanh ám chỉ đó là một tin nhắn. Nó reo một hồi vô cùng lâu trước khi chuyển sang chế độ trả lời tự động và giọng nói già nua của một người đàn ông nói rằng tôi đã gọi đến Hiệu sách Churchwarry & Son, hướng dẫn tôi nhắn lại ngày và thời gian ngoài một lời nhắn chi tiết về bất kỳ cuốn sách cụ thể nào mà tôi đang tìm kiếm. Chữ viết tay không nói dối. Đây là một ông lão. Mời các bạn đón đọc Cuốn Sách Tiên Tri của tác giả Erika Swyler.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Cái Chết Thứ Năm
Hai nữ sinh trung học liên tiếp mất tích. Xác của Ella Reynolds được phát hiện bên dưới mặt nước đóng băng ở công viên Jackson, còn xác của Lili Davies được tìm thấy trong phòng tranh nơi cô bé làm thêm sau mỗi buổi học. Không lâu sau đó, đến lượt hai người cha của các cô bị giết hại. Cảnh sát gần như không thể tìm ra điểm chung nào giữa các nạn nhân Trong khi các thanh tra của Sở cảnh sát Chicago chạy đua với thời gian để đưa tên sát nhân “mới nổi” ra ánh sáng thì Thanh tra Sam Porter bí mật tiếp tục săn lùng 4MK. Với hành trang là cuốn nhật ký của Anson Bishop và một bức ảnh nhòe mờ, Porter chạy đôn chạy đáo khắp các đường phố của New Orleans và tình cờ bước vào một thế giới còn tối tăm hơn những gì anh có thể tưởng tượng, nơi anh nhanh chóng nhận ra rằng thứ duy nhất đáng sợ hơn tâm trí của một kẻ giết người hàng loạt là tâm trí của người mẹ đã sinh ra hắn. Bộ sách 4MK Thriller gồm có: 4MK Cái Chết Thứ Năm Đứa Trẻ Thứ Sáu *** J.D. Barker là một tác giả người Mỹ nổi tiếng quốc tế về phim kinh dị hồi hộp, thường kết hợp các yếu tố kinh dị, tội phạm, bí ẩn, khoa học viễn tưởng và siêu nhiên. Cuốn tiểu thuyết đầu tay của anh, Forsaken, là người vào chung kết cho Giải thưởng Bram Stoker năm 2014. *** Porter Ngày 1 • 8:23 tối Bóng tối. Bóng tối dày đặc cuộn xoáy quanh anh, hút cạn ánh sáng, chẳng để lại gì ngoài khoảng không tối đen như mực. Một màn sương đang bủa vây tâm trí anh, những từ ngữ loay hoay tìm cách gắn kết với nhau, cố sao cho được một câu rành mạch, cố tìm cho ra ý nghĩa nào đó, nhưng đến lúc tưởng như đã ở rất gần thì chúng lại bị nuốt chửng và tan biến, thay vào đó là dự cảm chẳng lành cứ lớn dần, một cảm giác thật nặng nề - thân xác anh chìm dần vào vùng nước âm u sâu thẳm từ lâu đã rơi vào quên lãng. Anh ngửi thấy mùi ẩm thấp. Nấm mốc. Ướt át. Sam Porter những muốn mở mắt ra. Phải mở cho bằng được. Nhưng đôi mắt chẳng chịu tuân theo ý muốn của anh, chúng cứ thế nhắm chặt lại. Đầu anh vừa đau vừa nhức. Cơn đau dậy lên từng hồi phía sau tai bên phải và ở cả thái dương. “Cố gắng đừng cử động, Sam. Tôi không muốn anh cảm thấy buồn nôn.” Giọng nói cất lên loáng thoáng, xa xăm, quen thuộc. Porter đang nằm duỗi dài. Mười đầu ngón tay đặt trên tấm thép lạnh ngắt. Giờ anh nhớ ra mũi tiêm ấy rồi. Cây kim cắm vào dưới gáy, cú đâm diễn ra chóng vánh, dung dịch lạnh lẽo tràn vào bên dưới da, ngấm vào cơ bắp, sau đó… Porter cố mở mắt, song hai mí nặng trĩu nhất quyết kháng cự. Khô khốc, cay xè. Anh muốn dụi mắt, nhưng bàn tay phải vừa đưa lên đã ngay lập tức bị kéo về khi sợi xích ở cổ tay anh căng ra. Hơi thở nghẹn lại trong anh, anh gắng gượng ngồi dậy, đầu óc quay cuồng khi máu huyết từ trên dồn xuống. Suýt nữa anh lại nằm vật ra. “Ái chà, từ từ nào, Sam. Giờ anh đã tỉnh, etorphine* sẽ hết tác dụng nhanh thôi. Chịu khó chờ một lát đi.” Đèn bật lên, một chiếc đèn halogen sáng rực chiếu thẳng vào mặt anh. Porter nheo mắt nhưng quyết không quay đi, anh nhìn chằm chằm vào gã đàn ông đứng cạnh chiếc đèn, dáng người lờ mờ khuất trong bóng tối. “Bishop?” Porter gần như không nhận ra giọng mình nữa, nghe khàn đặc. “Khỏe không, Sam?” Cái bóng tiến sang phải một bước, lật úp cái xô đựng sơn rỗng có dung tích mười tám lít rồi ngồi lên đó. “Đừng chiếu cái đèn chết tiệt ấy vào mắt tao.” Porter kéo giật sợi xích ở cổ tay, đầu còn lại của chiếc còng va leng keng vào một đường ống dày, loại ống dẫn nước hoặc cũng có thể là dẫn ga. “Cái mẹ gì thế này?” Anson Bishop với tay đẩy cho chiếc đèn hơi chếch sang trái. Nó là loại đèn chiếu sáng trong các cửa hàng, được đặt trên một kiểu chân đế nào đó. Ánh sáng rọi lên bức tường gạch không nung, trong góc đằng xa có đặt cái máy nước nóng, phía bên kia là máy giặt và máy sấy cũ. “Đỡ hơn rồi chứ?” Porter giật sợi xích lần nữa. Bishop ném cho anh nụ cười nửa miệng và nhún vai. Lần cuối cùng Porter nhìn thấy hắn, hắn để tóc húi cua màu nâu sẫm. Mái tóc ấy nay đã dài ra, nhạt đi, bù xù. Mặt hắn lún phún lớp râu ba, bốn ngày chưa cạo. Bộ trang phục công sở theo phong cách đời thường đã không còn, thay vào đó là chiếc quần jeans và áo nỉ có mũ màu xám đậm. “Độ này coi bộ xuống mã nhỉ.” Porter nói. “Thời buổi khó khăn mà.” Nhưng hắn không thể thay đổi được cặp mắt, cũng như vẻ lạnh lùng ẩn chứa trong đó. Cặp mắt ấy muôn đời chẳng đổi khác. Bishop rút từ trong túi quần sau ra một cái thìa nhỏ, loại thìa ăn hoa quả có răng cưa, hắn lơ đãng xoay nó giữa những ngón tay, mép răng cưa sáng lên dưới ánh đèn. Porter ngó lơ cái thìa. Thay vào đó, anh liếc xuống, gõ ngón trỏ lên tấm kim loại mà anh đang nằm lên. “Cái băng ca này cũng cùng một kiểu với cái mày dùng để xích Emory vào phải không?” “Gần như thế.” “Không kiếm nổi cái giường gấp nào sao?” “Giường gấp hay hỏng lắm.” Một vũng màu đỏ sậm đọng lại bên dưới băng ca, vết nhơ tối thẫm trên mặt sàn bê tông nhếch nhác, bẩn thỉu. Nhưng Porter không hỏi han gì về nó. Sờ vào mặt dưới tấm kim loại rồi thu tay về, anh thấy ngón tay mình dinh dính. Điều này anh cũng chẳng thắc mắc. Bức tường bên trái anh có vài cái kệ, trên đó chất đầy dụng cụ quét sơn: thùng, chổi sơn, bạt phủ. Trần nhà phía trên đầu được ghép từ những tấm ván gỗ cỡ 2x6*, mỗi tấm cách nhau chừng bốn mươi centimet. Mạch điện để trần, ống nước và ống thông gió lấp đầy khoảng trống giữa các tấm ván. “Chỗ này là tầng hầm của một nhà dân. Ngôi nhà không lớn. Nhưng cũng cũ rồi. Đường ống trên đầu mày được bọc bằng a-mi-ăng, vì thế tao khuyên mày chớ có dại mà dây vào nó. Tao đoán nơi này bị bỏ hoang, vì cái đèn của mày đang phải dùng cáp nối dài, sợi cáp chạy lên tầng trên và cắm vào… gì nhỉ, một loại ắc quy nào đó chăng? Máy phát điện thì không phải rồi. Sẽ nghe thấy tiếng ngay. Mày không thèm dùng mấy ổ cắm trên tường, chứng tỏ nhà này đã bị cắt điện. Đã thế còn lạnh như nhà xác. Tao nhìn thấy được cả hơi tao thở ra, vậy nghĩa là hệ thống sưởi không hoạt động. Điều đó càng cho thấy đây là nhà hoang. Chẳng ai dám mạo hiểm ở trong căn nhà có đường ống bị đóng băng bao giờ.” Bishop tỏ vẻ hài lòng khi nghe điều này, một nụ cười thấp thoáng trên môi hắn. Porter tiếp tục nói. “Nhà này bề ngang tương đối hẹp. Vì thế đây hẳn là kiểu nhà thông cửa*. Mày chắc sẽ không chọn một khu dân cư sang chảnh nào đó có Starbucks, Internet, nơi người dân thường báo cảnh sát khi phát hiện đối tượng có tiền án tiền sự, bởi vậy tao đoán nhiều khả năng mày sẽ bám trụ ở khu Tây. Có thể là một con phố như phố Wood chẳng hạn. Ở đó nhiều nhà không người ở lắm.” Porter luồn bàn tay không bị còng vào trong chiếc áo khoác dày để tìm súng, nhưng chỉ thấy cái bao rỗng. Điện thoại di động của anh cũng mất rồi. “Đúng là cảnh sát có khác.” Phố Wood nằm cách căn hộ của anh ở Wabash những mười lăm phút lái xe nếu đường thông hè thoáng, Porter bị tiêm thuốc khi anh chỉ còn cách căn hộ chừng một khu nhà. Dĩ nhiên những điều này hoàn toàn chỉ là suy đoán, nhưng anh muốn gợi chuyện để Bishop nói tiếp. Càng mải ba hoa thì hắn càng ít nghĩ tới cái thìa kia. Cơn đau nhức nhối ở đầu giờ đã dồn cả vào phía sau mắt phải của Porter. “Anh không định thuyết phục tôi ra đầu thú sao? Rằng anh có thể giúp tôi thoát án tử nếu tôi ngoan ngoãn hợp tác ấy mà?” “Không có đâu.” Lần này Bishop mỉm cười thật. “Ê, có thứ này, anh muốn xem không?” Porter định bảo không, nhưng anh biết có nói gì đi nữa cũng vô ích. Tên này đã sắp sẵn trong đầu một kế hoạch, một âm mưu nào đó rồi. Chẳng kẻ nào dám liều lĩnh bắt cóc một thanh tra của Sở Cảnh sát Chicago ngay giữa phố nếu như không có mục đích rõ ràng. Anh cảm nhận được chùm chìa khóa đang nằm trong túi bên phải. Bishop đã chừa lại nó khi lấy súng và điện thoại của anh. Trong đó có chìa khóa mở còng, phần lớn còng tay đều dùng chung một chìa để mở. Hồi mới vào nghề, anh được biết lý do là vì người còng tay đối tượng và người mở còng cho chúng sau đó gần như chắc chắn không phải là một. Đối tượng bị bắt có thể sẽ qua tay vài người trong quá trình làm thủ tục nhập khám. Bởi vậy, các sĩ quan được dạy phải tịch thu chìa khóa tìm thấy khi khám người đối tượng, tất cả các chìa. Tên tội phạm sành sỏi nào cũng đem theo chìa khóa mở còng để dễ bề tẩu thoát trong trường hợp có gã cảnh sát gà mờ quên kiểm tra. Porter sẽ phải xoay xở để lấy được chùm chìa khóa ra khỏi túi bên phải, rồi bằng cách nào đó chuyển nó sang tay trái, mở còng và hạ gục Bishop trước khi hắn kịp băng qua khoảng cách một mét rưỡi giữa hai người. Tên này xem chừng không có vũ khí gì ngoài cái thìa. “Mắt nhìn thẳng phía trước, Sam.” Bishop nói. Porter lại hướng ánh mắt về phía hắn. Bishop đứng dậy, đi về phía cái bàn nhỏ cạnh máy giặt ở bên kia tầng hầm. Sau đó hắn trở lại chỗ cũ, đem theo một chiếc hộp gỗ trên nắp có đặt khẩu Glock của Porter. Hắn bỏ khẩu súng xuống sàn cạnh chỗ ngồi, dùng ngón cái gạt chốt cài của chiếc hộp và mở nắp ra. Sáu nhãn cầu ngước lên nhìn Porter từ bên trong chiếc hộp lót nhung đỏ. Những nạn nhân trước đây của Bishop. Porter liếc xuống khẩu súng. “Mắt nhìn thẳng phía trước.” Bishop nhắc lại kèm theo tiếng cười khẽ. Có điều gì đó không ổn rồi. Bishop xưa nay luôn tuân theo một khuôn mẫu cố định. Hắn xẻo tai nạn nhân trước, sau đó móc mắt, rồi cắt lưỡi, đặt vào một chiếc hộp màu trắng thắt dây màu đen và gửi đến cho gia đình mỗi nạn nhân kèm theo một tấm thiệp. Luôn là như vậy. Hắn không bao giờ thay đổi quy trình. Hắn không giữ lại chiến lợi phẩm. Hắn tin rằng mình đang bắt gia đình này phải trả giá cho tội ác nào đó mà họ gây ra. Một kiểu thay trời hành đạo quái đản. Hắn không giữ lại những cặp mắt. Không bao giờ hắn giữ… “Bắt đầu vào việc thôi.” Bishop vuốt tay lên nắp hộp, một cử chỉ đầy âu yếm, rồi đặt nó xuống sàn cạnh khẩu súng và giơ cái thìa ra trước ánh sáng. Porter lăn người xuống khỏi băng ca rồi kêu lên đau đớn khi đầu còng bằng kim loại cứa vào cổ tay anh, cái ống đã níu chiếc còng lại. Cố gắng quên đi cơn đau, anh lóng ngóng thò tay trái vào túi bên phải để lấy chìa khóa, đồng thời đạp băng ca về phía Bishop. Ngón tay Porter sượt qua chùm chìa khóa khi Bishop né được cái băng ca và tung cú đá vào ống quyển bên trái của anh. Chân anh khuỵu xuống, anh ngã nhào ra sàn, cái còng ở cổ tay phải mắc vào đường ống và giật mạnh đến nỗi trật cả khớp vai. Chưa kịp phản ứng gì thì anh chợt thấy đau nhói khi một mũi tiêm nữa đâm vào da thịt, lần này là bắp đùi. Anh cố cúi nhìn nhưng Bishop đã nắm lấy tóc anh, giật ngửa đầu anh ra sau. Ý thức bắt đầu rời bỏ anh. Porter cố cưỡng lại, cố phản kháng bằng tất cả sức lực trong anh. Anh cầm cự đủ lâu để trông thấy cái thìa đang từ từ đưa lại gần mắt trái của mình, đủ lâu để cảm nhận mép răng cưa cứa vào sụn mi nằm dưới nhãn cầu khi Bishop dùng sức chọc cái thìa vào hốc mắt anh, đủ lâu để… “Cô nàng nóng bỏng chứ?” Porter giật nảy người trên ghế, nhưng dây an toàn đã níu anh lại. Anh hít một hơi dài, hết nhìn trái rồi lại nhìn phải, ánh mắt anh dùng lại ở Nash đang ngồi trên ghế lái. “Hả? Ai cơ?” Nash cười giễu. “Em gái trong mơ của anh chứ ai. Thấy anh rên rỉ mà.” Sáu nhãn cầu. Tuy vẫn còn ngơ ngác nhưng Porter cũng đã nhận ra mình đang ngồi ở ghế phụ trên chiếc Chevy của Nash, dòng xe Nova đời 1972 cũ mà Nash tậu cách đây hai tháng, khi chiếc Ford Fiesta con cưng đột ngột khục khặc rồi chết ngóm trên đường 290 lúc ba giờ sáng, khiến anh buộc phải gọi về trụ sở xin một xe đến đón vì không liên lạc được với Porter. Porter đưa mắt nhìn ra ngoài cửa sổ. Kính xe bị phủ một lớp mỏng bụi đường và băng. “Đây là đâu?” “Chúng ta đang trên đường Hayes, phía trước là công viên.” Nash đáp và bật xi nhan. “Có lẽ anh nên đứng ngoài vụ này thì hơn.” Porter lắc đầu. “Tôi vẫn ổn.” Nash ngoặt xe sang trái, rẽ vào Công viên Jackson và đi theo con đường chính dẫn tới cổng vào mới được ủi sạch tuyết, ánh đèn chớp xanh đỏ lấp loáng hắt lên những rặng cây tăm tối xung quanh họ. “Từ đó đến nay đã bốn tháng rồi, Sam à. Nếu anh vẫn gặp vấn đề về giấc ngủ thì nên nói chuyện với ai đó. Không nhất thiết phải là tôi hay Clair, mà… người nào cũng được.” “Tôi vẫn ổn.” Porter nhắc lại. Họ đi qua một sân bóng chày nằm ở bên phải, cái sân bị lãng quên suốt mùa đông, rồi chiếc xe tiếp tục dấn sâu vào trong rừng cây khẳng khiu, trụi lá. Phía trước có thêm ánh đèn - nửa tá ô tô, mà cũng có thể nhiều hơn. Bốn xe cảnh sát tuần tra, một xe cứu thương, một xe van cứu hỏa. Những chiếc đèn pha công suất lớn sắp thành hàng ven đầm nước, máy sưởi chạy bằng khí propane đặt rải rác quanh khu vực được quây lại bằng dải băng cách ly màu vàng. Nash dừng lại phía sau chiếc xe van, gạt cần số về chế độ đỗ rồi tắt máy. Cái xe khục khặc hai lần, nghe như sắp sửa phát ra một tiếng nổ ngược kinh hoàng, sau đó mới chịu im hẳn. Porter nhận thấy vài sĩ quan nhìn chằm chằm về phía họ khi họ xuống xe và bước ra ngoài giữa trời đông buốt giá. “Chúng ta có thể đi bằng xe của tôi cũng được mà.” Porter nói với Nash, gót giày anh đạp trên lớp tuyết mới tinh phát ra tiếng lạo xạo. Porter sở hữu một chiếc Dodge Charger đời 2011. Phần lớn đồng nghiệp ở Sở vẫn hay gọi đùa cái ô tô của Porter là “con xế khủng hoảng tuổi trung niên”. Cái xe ấy đã thay thế cho chiếc Toyota Camry cách đây hai năm, khi Porter đón sinh nhật lần thứ năm mươi. Heather, người vợ quá cố của anh, đã mua cái xe thể thao này để làm quà tặng bất ngờ cho anh, sau khi chiếc Toyota bị kẻ xấu phá hoại rồi vứt bỏ tại một trong những khu vực “không mấy thiện cảm với cảnh sát” ở vùng phía nam của thành phố. Chính Porter cũng thừa nhận rằng khi ngồi sau tay lái, anh cảm thấy như trẻ ra mấy tuổi, nhưng chủ yếu là cái xe luôn khiến anh mỉm cười. Heather đã giấu chìa khóa xe vào trong chiếc bánh gatô sinh nhật rồi đem nướng lên, làm anh suýt mẻ răng khi cắn phải. Cô bịt mắt anh lại, dẫn anh xuống cầu thang và bước ra ngoài cổng, sau đó hát bài Happy Birthday cho anh nghe bằng giọng hát khó có cơ hội được góp mặt trong chương trình American Idol. Porter luôn nghĩ đến cô mỗi khi ngồi vào trong xe, nhưng giờ đây, dường như những điều gợi cho anh nhớ về cô cứ ngày càng ít đi, khuôn mặt cô mỗi lúc một mờ nhạt trong tâm trí anh. “Cái ô tô ấy chính là một phần của vấn đề đấy. Chúng ta lúc nào cũng đi bằng xe của anh, để cho em Connie kia bị xếp xó đến hoen gỉ trên lối đi nhà tôi. Nếu lái em ấy, tôi sẽ nhớ ra rằng tôi muốn cải tạo lại em ấy. Mà khi đã nhớ ra, biết đâu tôi sẽ chịu lết xuống gara và bắt tay vào thực hiện.” “Connie á?” “Ô tô cũng phải có tên chứ.” “Phải cái gì mà phải. Ai lại đi đặt tên cho ô tô bao giờ, mà anh đâu có biết cách cải tạo em… nó… sao cũng được. Có mà lúc anh lôi cái xe cũ rích ấy về nhà, lần đầu tiên cầm lấy cờ lê, anh đã hiểu ra còn lâu anh mới cải tạo xong nó chỉ trong vòng bốn mươi ba phút giống như mấy gã trong Overhaulin’*.” Porter nói. “Chương trình đó đúng là nhảm nhí. Lẽ ra phải nói thật quá trình sửa chữa kéo dài bao lâu chứ.” “Như thế vẫn còn tốt chán. Ít nhất anh cũng không đâm nghiện kênh HGTV* và tưởng mình có thể tranh thủ những lúc rảnh rỗi để cải tạo nhà cửa rồi rao bán.” “Cái đó thì đúng. Nhưng họ sửa lại mấy căn nhà chỉ trong vòng có hai mươi hai phút mà lãi thu về còn khủng hơn.” Nash đáp. “Nếu sửa được một, hai căn, tôi có thể thuê người độ lại xe. Ê, Clair kìa…” Họ chui qua dải băng cách ly màu vàng, tiến lại gần đầm nước. Clair đang đứng cạnh một cái máy sưởi, di động áp vào tai. Nhìn thấy họ, cô lấy tay bịt loa thoại, hất hàm về phía bờ đầm và bảo “Bọn tôi nghĩ đó là Ella Reynolds,” rồi lại tiếp tục nói chuyện điện thoại. Tim Porter chùng xuống. Ella Reynolds là cô bé mười lăm tuổi mất tích ở gần khu vực Quảng trường Logan sau khi tan học cách đây ba tuần. Lần cuối cùng có người trông thấy Ella là lúc cô xuống xe buýt của trường, cách nhà khoảng hai khu. Bố mẹ cô lập tức gọi cảnh sát, thông báo khẩn cấp tìm trẻ em mất tích được đưa ra chỉ một giờ sau khi cô biến mất. Nhưng nỗ lực đó không mang lại kết quả gì. Cảnh sát chẳng nhận được tin báo nào có giá trị. Nash tiến lại gần mép nước, Porter theo sau. Cái đầm đã đóng băng. Bốn cọc tiêu hình nón màu cam được đặt trên mặt băng ở xa bờ, quây lại bằng dải băng vàng, tạo thành một hình chữ nhật. Tuyết ở đó đã được quét sạch. Porter rón rén bước lên băng, dỏng tai nghe ngóng xem có tiếng “rắc” cảnh báo nào vang lên dưới chân không. Dù cho có bao nhiêu dấu giày để lại trên mặt đầm đóng băng đi nữa, anh lúc nào cũng run khi thêm vào đó dấu giày của mình. Khi Porter tiến đến gần, cô bé dần dần hiện ra trong tầm mắt. Lớp băng trong vắt như pha lê. Cô ngước lên nhìn bằng ánh mắt vô hồn từ bên dưới băng. Da cô trắng bệch trông thật ghê rợn, hơn nữa còn ánh lên sắc xanh, chỉ trừ vùng da quanh mắt. Hai quầng mắt cô tím bầm lại. Môi cô hé mở như có điều muốn nói, những điều vĩnh viễn không được thốt ra. Porter quỳ xuống để có thể quan sát kĩ hơn. Cô bé mặc áo khoác đỏ, quần jeans đen, đội mũ len trắng và đeo găng tay cùng bộ, đi đôi giày màu hồng có vẻ giống kiểu giày tennis. Hai tay buông thõng, chân hơi cong lại, mất hút dưới vùng nước tối đen. Thường thì xác ngâm dưới nước sẽ trương lên, nhưng ở nhiệt độ này, cái lạnh lại giúp bảo quản thi thể. Porter thà phải nhìn xác trương còn hơn. Khi người chết ít nhiều mất đi diện mạo của con người, anh thấy dễ tiếp nhận những gì mình đang chứng kiến hơn, ít bị cảm xúc chi phối hơn. Cô bé này trông chỉ như đứa trẻ con, tuyệt vọng, đơn độc, say ngủ bên dưới tấm chăn bằng băng. Nash đứng phía sau anh, đưa mắt quan sát rừng cây bên kia đầm. “Nơi này từng là địa điểm tổ chức Hội chợ Quốc tế vào năm 1893. Ngày trước còn có khu vườn kiểu Nhật ở đằng xa, chỗ cây cối um tùm ấy. Bố tôi từng dẫn tôi tới đây chơi khi tôi còn nhỏ. Ông bảo hồi Thế chiến thứ hai, ở đây bung bét lắm. Tôi nhớ có đọc được ở đâu đó rằng người ta đã huy động vốn để cải tạo khu này vào mùa xuân. Thấy đám cây bị đánh dấu kia không? Chúng sắp bị chặt đấy.” Porter nhìn theo ánh mắt người cộng sự. Cái đầm được chia thành hai mé đông và tây, bao quanh một đảo nhỏ. Nhiều cây trên đảo Cây được thắt những dải ruy băng màu hồng quanh thân. Có vài chiếc ghế nằm rải rác bên kia bờ, bị phủ một lớp tuyết trắng mỏng. “Theo anh, cái đầm này đóng băng từ bao giờ?” Nash ngẫm nghĩ giây lát. “Chắc là cuối tháng Mười hai, đầu tháng Một. Sao anh lại hỏi thế?” “Nếu đây đúng là Ella Reynolds, vậy làm thế nào cô bé nằm dưới băng được? Cô bé mới mất tích ba tuần trước. Lúc đó băng đã rắn chắc lắm rồi.” Nash mở bức ảnh chụp gần đây của Ella Reynolds lưu trong điện thoại và cho Porter xem. “Trông giống đấy, nhưng cũng có thể chỉ là trùng hợp, có thể một cô bé nào đó rơi xuống đầm khi băng vẫn còn mềm chẳng hạn.” “Nhưng cô bé kia giống y hệt người trong ảnh.” Clair bước tới bên cạnh họ. Cô hà hơi vào tay và xoa xoa. “Tôi vừa nói chuyện với Sophie Rodriguez ở Ban Tìm kiếm Trẻ em Mất tích. Tôi chụp ảnh gửi cho cô ấy và cô ấy khẳng định người này là Ella Reynolds, nhưng quần áo thì không khớp. Cô ấy nói lúc mất tích, Ella mặc áo khoác màu đen. Ba nhân chứng cũng xác thực khi ở trên xe buýt cô bé mặc áo đen chứ không phải áo đỏ. Cô ấy đã gọi điện cho mẹ của Ella và bà ấy nói con gái mình không có áo khoác đỏ, mũ len và găng tay len trắng nào cả.” “Vậy thì hoặc đây là một người hoàn toàn khác, hoặc có kẻ đã thay đồ cho Ella.” Porter nói. “Chỗ này cách địa điểm cô bé mất tích những hai mươi lăm kilômét.” Clair cắn môi dưới. “Bên pháp y sẽ phải xác định danh tính của cô bé.” “Ai tìm thấy cô bé vậy?” Clair chỉ về phía chiếc xe tuần tra đỗ ở đằng xa, ngoài khu vực cách ly. “Một cậu bé và ông bố. Cậu nhóc mới mười hai tuổi.” Cô xem lướt phần ghi chú trong điện thoại. “Scott Watts. Cậu ta tới cùng với bố để xem cái đầm đã đông cứng đủ để học trượt băng chưa. Tên ông bố là Brian. Ông ta nói cậu con trai gạt đi lớp tuyết và trông thấy một phần cánh tay cô bé. Ông ta bảo con tránh ra và tự mình phủi sạch tuyết đủ để xác thực đúng là người thật, sau đó gọi 911. Chuyện xảy ra khoảng một giờ trước. Cuộc điện thoại gọi đến lúc bảy giờ hai mươi chín phút. Tôi đã bảo họ ngồi chờ trong xe tuần tra, phòng khi anh có điều muốn hỏi họ.” Porter dùng móng tay trỏ cạo lên băng, rồi nhìn quanh bờ đầm. Hai sĩ quan khám nghiệm hiện trường đứng dạt về bên trái, nhìn ba người bọn họ bằng ánh mắt cảnh giác. “Ai trong số hai người đã dọn chỗ này?” Porter hỏi. Sĩ quan trẻ hơn, một phụ nữ khoảng ba mươi tuổi có mái tóc vàng cắt ngắn, đeo kính và quàng khăn màu hồng, giơ tay lên. “Là tôi ạ, thưa Thanh tra.” Cộng sự của cô rục rịch chân. Anh ta có vẻ lớn hơn cô khoảng năm tuổi. “Tôi là người giám sát. Sao thế?” “Nash, đưa tôi thứ kia được không?” Anh chỉ vào cây cọ có lông dài màu trắng đặt trên một trong mấy bộ dụng cụ của Đội Khám nghiệm. Porter ra hiệu cho hai sĩ quan lại gần. “Đừng sợ, tôi không mấy khi cắn đâu.” Hồi tháng Mười một vừa rồi, Porter quay lại làm việc sớm dù còn đang trong đợt nghỉ phép bắt buộc do cấp trên áp xuống sau khi vợ anh bị giết trong một vụ cướp xảy ra tại một cửa hàng tiện ích gần đó. Anh muốn tiếp tục đi làm, chủ yếu là vì công việc giúp anh phân tâm, tạm quên đi chuyện xảy ra. Những ngày đầu tiên sau khi vợ mất, khi anh tự giam mình trong căn hộ, là quãng thời gian tồi tệ nhất. Nhìn đâu cũng thấy những thứ gợi nhớ về cô. Khuôn mặt cô nhìn anh từ những bức ảnh bày ở hầu khắp các dãy kệ. Mùi hương của cô vẫn phảng phất đâu đây, nguyên tuần đầu tiên anh không sao chợp mắt được nếu không đặt vài bộ đồ của cô trên giường. Ngồi trong căn hộ, anh chỉ nghĩ đến một điều duy nhất, đó là anh sẽ làm gì với kẻ đã giết cô, những ý nghĩ anh không muốn lưu giữ trong đầu. Cuối cùng, tên sát nhân Bốn Con Khỉ - tức 4MK - đã kéo anh ra khỏi nhà. Cũng chính 4MK là kẻ đã bắt hung thủ giết vợ anh phải đền mạng. 4MK là lý do khiến những người như hai sĩ quan này cư xử kỳ quặc khi có mặt anh. Không hẳn là họ sợ, đúng hơn là họ kiêng dè. Anh là tay cớm đã để cho 4MK thâm nhập vào cuộc điều tra của cảnh sát dưới danh nghĩa sĩ quan khám nghiệm hiện trường. Anh là tay cớm bị 4MK đâm trong chính ngôi nhà của mình. Anh là tay cớm đã bắt được tên sát nhân hàng loạt ấy rồi lại để hắn trốn mất. Bốn tháng sau, người ta vẫn còn nói về vụ đó, chẳng qua không nói với anh thôi. Hai sĩ quan tiến lại gần. Người phụ nữ ngồi xổm xuống cạnh anh. Porter dùng cọ quét đi chỗ tuyết ở sát bờ và cả ngoài rìa khu vực họ đã làm sạch trước đó. Sau khi mở rộng vòng tròn thêm sáu mươi centimet, anh đặt cọ xuống rồi xoa tay lên mặt băng, bắt đầu từ tâm vòng tròn và chầm chậm tiến dần ra ngoài. Khi chỉ còn cách đống tuyết khoảng mười centimet thì anh dừng lại. “Chỗ này. Cô sờ thử xem.” Sĩ quan trẻ tuổi tháo găng và dè dặt làm theo anh, đầu ngón tay cô lướt trên mặt băng. Cô dừng lại cách lòng bàn tay Porter khoảng gần ba centimet. “Có cảm thấy không?” Cô gật đầu. “Có chỗ hơi võng xuống. Ít thôi, nhưng chắc chắn là có.” “Cô lần theo đi. Đánh dấu lại bằng cái này.” Anh đưa cho cô chiếc bút dạ. Một phút sau, cô đã vẽ xong một hình vuông lớn ngay ngắn phía trên cái xác và hai hình vuông nhỏ hơn ở hai bên, mỗi hình có cạnh khoảng mười centimet. “Vậy là đã có câu trả lời.” Porter nói. Nash nhíu mày. “Thế này nghĩa là sao?” Porter đứng dậy, đỡ người phụ nữ lên cùng. “Cô tên gì?” “Sĩ quan khám nghiệm hiện trường Lindsy Rolfes, thưa Thanh tra.” “Sĩ quan Rolfes, cô có thể giải thích ý nghĩa của hình vẽ này không?” Cô ngẫm nghĩ giây lát, nhìn từ Porter sang mặt băng, rồi lại nhìn anh. Cuối cùng, cô đã hiểu. “Cái đầm này bị đóng băng, nhưng có người đã cắt băng ra, có thể là bằng cưa máy không dây, sau đó thả cô bé xuống nước. Nếu cô bé sảy chân ngã thì chỗ băng vỡ sẽ nham nhở chứ không vuông vắn thế kia. Nhưng có điểm bất hợp lý…” “Điểm gì?” Cô nhíu mày, thò tay vào hộp dụng cụ và lấy ra cái máy khoan không dây, lắp mũi khoan có đường kính hai mươi lăm milimet rồi khoan hai lỗ, một lỗ ở ngoài phạm vi mấy hình vẽ, một lỗ gần với thi thể. Cô dùng thước đo khoảng cách từ mặt băng tới mặt nước ở cả hai lỗ. “Sao lại thế nhỉ, cô bé nằm bên dưới ranh giới đóng băng.” “Tôi chẳng hiểu gì cả.” Clair nói. “Hắn đã đổ nước vào.” Porter nói. Rolfes gật đầu. “Đúng vậy, nhưng tại sao? Hắn có thể khoét một cái hố, đẩy cô bé xuống bên dưới lớp băng sẵn có, rồi để cho cái hố tự đông lại được mà. Như thế sẽ nhanh chóng và dễ dàng hơn nhiều chứ. Cô bé có thể biến mất, thậm chí là vĩnh viễn.” Clair thở dài. “Làm ơn giải thích cho những người không được học qua lớp Hố Băng sơ cấp như tụi tôi được không?” Porter ra hiệu về phía cái thước, Rolfes đưa nó cho anh. “Băng ở đây dày ít nhất mười centimet. Mọi người có thể thấy mực nước đo được ở chỗ này.” Anh chỉ vào dấu vết trên cái thước. “Nếu khoét một hình vuông trên băng rồi nhấc ra, ta sẽ được một thành băng dày mười centimet tính từ mặt băng tới mặt nước. Giả sử ta thả xác cô bé vào đó, cô bé chìm xuống, sau đó ta muốn xóa cái hố này đi. Chỉ có một cách. Đó là đợi cho tới khi mặt nước phía trên cái xác đóng băng, chí ít là một lớp mỏng, sau đó đổ nước vào hố cho bằng với mặt băng xung quanh.” “Ít nhất phải hai giờ sau nước mới bắt đầu đóng băng.” Rolfes nói. “Cũng có thể nhanh hơn một chút, căn cứ vào nhiệt độ ngoài trời mấy ngày gần đây.” Porter gật gù. “Hắn tiếp tục đổ nước vào cho tới khi lượng nước mới ngang bằng với lớp băng xung quanh. Hung thủ là kẻ rất kiên nhẫn. Việc này cực kỳ mất thời gian.” Anh quay sang viên sĩ quan giám sát. “Chúng ta sẽ cần đến chỗ băng này. Thu thập tất cả những gì có ở phía trên cô bé cộng thêm ít nhất vài centimet xung quanh hình vuông. Rất có thể có dấu vết nào đó rơi vào nước trong lúc đóng băng. Hung thủ quanh quẩn ở đây rất lâu.” Viên sĩ quan có vẻ như muốn cãi lời, sau đó lại miễn cưỡng gật đầu. Anh ta biết Porter nói đúng. Ánh mắt Porter lại hướng về phía đám cây cối um tùm ở đằng xa. “Có điều, tôi không hiểu tại sao kẻ làm việc này lại không vứt cô bé ở kia. Đem cái xác tới nơi quang đãng này, hì hục cắt băng, lấp đầy nước, chờ cho đóng băng… như vậy quá mạo hiểm. Hung thủ có thể đem cô bé qua cầu rồi bỏ lại ở bất cứ chỗ nào bên đó, sẽ chẳng ai phát hiện ra cho tới tận mùa xuân, khi công nhân bắt đầu thi công. Vậy mà hắn lại dành hàng giờ để dàn dựng hiện trường gần khu vực có nhiều người qua lại. Chấp nhận nguy cơ bị bắt quả tang. Để làm gì? Để tạo cảm giác cô bé đã nằm đây lâu hơn nhiều so với thực tế ư? Hắn chắc chắn phải biết cảnh sát thế nào cũng đoán ra chứ.” “Xác chết thường không nổi lên mặt nước.” Nash nói. “Ít nhất là trong vài ngày đầu. Nhìn cô bé xem. Được bảo quản hoàn hảo. Tôi vẫn chưa hiểu sao cô bé lại nổi lên thế kia.” Porter di ngón tay theo cạnh của hình vuông lớn rồi dừng lại ở một trong hai hình vuông nhỏ kế bên. Áp mặt lại gần lớp băng, anh nhìn nghiêng từ bên cạnh và quan sát thi thể. “Quỷ tha ma bắt.” “Gì thế?” Rolfes rướn người tới. Porter rà bàn tay lên mặt băng trên vai cô bé. Khi tìm thấy thứ cần tìm, anh đặt tay Rolfes lên đó. Cô nhìn anh, mắt cô dần mở lớn trong lúc ngón tay hơi bấm xuống băng. Cô sờ vào vị trí tương ứng ở phía đối diện. “Hắn giữ cho cô bé khỏi chìm bằng cách dùng một vật bắc ngang qua cái hố này, có thể là tấm ván cỡ 2x4, căn cứ vào những dấu vết để lại. Sau đó, hắn quàng một sợi dây hoặc sợi thừng qua vai cô bé, rồi buộc vào tấm ván trong lúc chờ cho chỗ nước mới đóng băng. Xong xuôi, hắn cắt dây đi. Mọi người vẫn có thể sờ thấy hai đầu dây trong lớp băng ở chỗ này. Đoạn dây còn lại đủ để giữ cho cô bé nổi lên gần mặt nước. Mọi người sẽ thấy một sợi thừng mảnh nếu lựa đúng vị trí nhìn xuống lớp băng theo một góc nghiêng.” “Hắn muốn cô bé được tìm thấy ư?” Clair hỏi. “Hắn muốn để lại dấu ấn sâu đậm trong trường hợp cô bé được tìm thấy.” Porter nói. “Hắn hao tâm tổn trí dàn dựng sao cho nhìn bề ngoài tưởng như cô bé chết cóng dưới đầm từ nhiều tháng trước, dù thực tế cô bé mới ở đây cùng lắm là vài ngày, có thể ít hơn. Ta cần phải tìm hiểu lý do.” “Tên này đang giỡn mặt chúng ta.” Rolfes nói. “Hắn sắp đặt hiện trường để truyền tải câu chuyện nào đó.” Bản năng tự bảo vệ và nỗi sợ là hai trong số những bản năng mạnh mẽ nhất của con người. Porter không rõ liệu mình có muốn gặp một kẻ vô cảm với cả hai điều đó hay không. “Vớt cô bé lên đi.” Cuối cùng, anh nói. Mời các bạn đón đọc Cái Chết Thứ Năm của tác giả J. D. Barker & Matryoshka (dịch).
Ám Ảnh Kinh Hoàng
“Hắn nhìn chằm chằm xuống nền nhà lót gạch sứ trong phòng tắm. Nhìn nước xà phòng biến thành màu hồng do hòa lẫn với máu trôi vào cống thoát nước. Có gì đó mê hoặc ở chúng, những bong bóng trong suốt màu trắng, hồng, và đỏ chen chúc nhau giữa cái hố đen ngòm rồi lần lượt rơi xuống dưới. Một tiếng nấc nghẹn phát ra từ cổ họng hắn, không cách nào nén lại được. Mọi thứ đã đi tong hết rồi… Ban đêm người ta cũng đâu nhìn thấy được gì, chỉ là một màu đen ngòm. Nhìn những cửa sổ thích hơn nhiều, đêm đã muộn rồi nhưng một số vẫn còn sáng. Thành phố chưa bao giờ thật sự ngủ say cả. Và đâu đó tại nơi này, sẽ có một người dành cho hắn...” Câu chuyện bắt đầu trở nên nghiêm trọng khi thi thể của phụ nữ liên tục được người dân phát hiện tại các địa điểm công cộng. Từ đây, FBI vào cuộc và triệu tập nhà tâm lý học pháp chứng Zoe Bentley và đặc vụ Tatum Gray để bắt tay nhau giải quyết vụ án chấn động kinh hoàng, thậm chí phải cùng nhau dấn sâu vào tâm trí của một kẻ sát nhân bệnh hoạn, thích siết cổ phụ nữ, giao hợp với họ và cuối cùng sử dụng phooc-môn ướp xác họ. Kết cục chung cho những người phụ nữ nữ đáng thương này sẽ được phát hiện trong tình trạng lõa thể với một tư thế lạ lùng ngỡ như hệt… vẫn còn sống! Không chỉ vậy, dòng truyện dần hé lộ quá khứ kinh hoàng của Zoe về ba phong bì đáng ngờ để lại hiện trường: những mối liên hệ kinh khủng, những nỗi sợ quẩn quanh chưa kịp chợp mắt cùng những án mạng dã man trong quá khứ mang tên “Chưa kết án”. Và đột nhiên, kẻ đi săn trở thành con mồi! Liệu quá khứ có mãi mãi ngủ yên?  Liệu kẻ giết người vốn dĩ là 1 con quái vật? Và liệu có thể chặn đứng thứ trò chơi kinh hoàng mà ngay cả tên sát nhân ấy vẫn chưa biết kết thúc thực sự của của nó sẽ là gì?  SƠ LƯỢC VỀ TÁC GIẢ - Mike Omer là tác giả của loạt tiểu thuyết ly kỳ nổi tiếng Zoe Bentley Mystery Series và Glenmore Park Mystery Series. Trước khi trở thành nhà văn, Mike là một nhà báo, nhà phát triển trò chơi và Giám đốc điều hành của công ty Loadingames. - Anh thích viết về hai thứ: những người thực sự có khả năng trở thành thủ phạm, nạn nhân của tội ác và những thứ dí dỏm. Pha trộn những điều này, các cuốn sách của Mike Omer mang phong cách đặc trưng của chủ đề vừa rùng rợn vừa bí ẩn.  - Ám Ảnh Kinh Hoàng nằm trong series trinh thám ly kỳ nổi tiếng Zoe Bentley Mystery, nơi tồn tại một trong những tên sát nhân hàng loạt gây kinh hoàng cả thành phố Chicago, nước Mỹ. Đây là tác phẩm ghi dấu ấn đậm nét đầu tiên của Mike Omer khi xuất sắc đạt top #2 Bestseller tại Amazon Kindlle eBooks khi vừa ra mắt mùa hè năm 2018. *** Cơ bản, đây là một câu chuyện về một người khắc họa chân dung nghi phạm, gọi mỹ miều là《nhà tâm lý học pháp chứng》nhưng mà hihi nhà tâm lý học này vô tình (chắc tác giả cố ý) để cảm xúc cá nhân xen vào công việc hơi nhiều (thực ra là rất nhiều). Một nhát tự vả tương đối mạnh, nếu xét ra, cô nàng Zoe Bentley chỉ vừa hạ bệ một chuyên gia khắc họa khác vài ngày trước đó. Nội dung câu chuyện dừng ở mức đọc được, không xuất sắc, nhưng em thấy được, dù nghi phạm bật ra một cách bất ngờ đến mức hơi khó tin [chưa kể là tại sao gã mặc một bộ đồ đẫm máu mà vẫn qua được chốt chặn của cảnh sát, dù vị cảnh sát kiểm tra gã không (hoặc không thấy ghi nhận) có vấn đề gì về thị lực], anw, đây vẫn là câu chuyện tạm được. Câu hỏi thường trực khi đọc quyển này đơn giản là: hai nhân vật chính có cần thiết phải thô lỗ, thiếu tế nhị như thế không? Thái độ ấy, cá nhân em cảm thấy thiếu chuyên nghiệp, dù trở ngại tâm lý của cả hai vị có lớn đến đâu thì khi đã được miêu tả kinh nghiệm đầy mình như vậy, vẫn là thiếu sót. Giống như một tuyên ngôn: bố mày đang khó ở, làm ơn, để bố mày thở =)) Nb: bản dịch không nêu rõ tên người dịch, nhưng dịch《phố 37》thành《phố thirty-seventh》thì khả năng em đoán được người dịch là ai  Nb2: nhân vật em thích nhất truyện là ông nội Marvin, một ông lão yêu đời đến mức sợ rằng cao huyết áp có thể làm giảm khả năng cương cứng, dù ổng đã 85 tuổi. P/s: em đang đọc《Nỗi kinh hoàng ở Solitude Creek》, và đang muốn hỏi các anh chị bên BV là dạo này các anh chị dùng google dịch phải không?《Cảnh sát thủ tục》và《Tội phạm cho thuê》nghĩa là thế nào?  Phùng Băng *** Thành phố Chicago, Tiểu bang Illinois, Chủ nhật, ngày 10 tháng 07 năm 2016. Cả căn phòng bốc mùi phoóc môn nồng nặc khi hắn đổ chất lỏng vào trong hỗn hợp. Dù lúc đầu khá ác cảm với thứ mùi này nhưng hắn đã học cách trân trọng nó. Bởi dẫu sao thì nó cũng đại diện cho một điều: sự vĩnh hằng. Thứ dung dịch này sẽ giữ cho những cái xác được nguyên vẹn. “Chỉ có cái chết mới chia lìa được đôi ta” thật là một quan điểm không thể nào khiêm tốn hơn được nữa. Tình yêu thật sự thì phải lâu dài hơn thế chứ. Lần này hắn thêm nhiều muối hơn lần trước, hy vọng sẽ cho ra kết quả mỹ mãn hơn. Liều lượng trong hỗn hợp cần được cân đo đong đếm thật cẩn trọng; phải khó khăn lắm hắn mới nhận ra điều này. Chất ướp xác hứa hẹn sự trường tồn. Còn nước muối sẽ làm tăng độ linh hoạt, mềm dẻo cho nó. Thế đấy, một mối quan hệ lý tưởng thì cần phải có sự linh hoạt. Và rồi, cót két... kéo theo đó là một loạt âm thanh khác nhau phát ra từ phía sau cánh cửa đã bị khóa kín. Những tiếng kin kít và sột soạt xen lẫn tiếng rên rỉ khó nhọc của cô gái khiến cho thần kinh hắn nhức nhối. Cô ả lại tìm cách cởi trói nữa rồi. Bọn họ ai nấy đều như nhau. Lúc nào cũng cựa quậy, lúc nào cũng tìm cách chạy thoát. Nhưng rồi cô ta sẽ phải thay đổi thôi; hắn đảm bảo là như thế. Cô ấy sẽ không còn giãy dụa liên hồi, không cố gắng thốt ra những lời cầu xin ú ớ, không kêu la đến khản giọng nữa. Cô ấy sẽ câm nín và tĩnh lặng. Và rồi hắn và cô sẽ học cách yêu thương lẫn nhau. Một tiếng va chạm đột ngột vang lên khiến hắn mất - tập trung. Hắn bực dọc bỏ thứ muối kia xuống rồi tiến đến cánh cửa ván ghép, mở khóa và đẩy cửa ra. Ánh sáng bắt đầu lan vào bên trong căn phòng tăm tối. Trong phòng là một cô gái đang nằm quằn quại trên sàn, cũng chính là người đã lật ngã cái ghế gỗ làm cho nó bị gãy. Không biết bằng cách nào mà cô ta đã nới lỏng được dây trói dưới chân và đang trườn trên mặt sàn bằng tấm lưng trần, nỗ lực để... hả? Thoát thân á? Không có đường nào để thoát đâu. Cơ thể trần trụi của cô liên tục ngọ nguậy khiến hắn không được thoải mái. Cộng thêm tiếng làu bàu chẳng nghe rõ vì bị bịt miệng, nó khiến cô gái trông giống một con thú hơn là con người. Không được rồi, phải chấm dứt tình trạng này thôi. Hắn bước vào phòng và tóm lấy cánh tay cô kéo dậy, chẳng mảy may để tâm đến tiếng thét của người con gái ấy. Cô bắt đầu quẫy đạp và giãy giụa. “Im ngay,” hắn nói với giọng điệu hằn học. Nhưng cô không nghe theo. Thiếu chút nữa hắn đã định đánh cô nhưng kịp kìm lại. Hắn ép bản thân thở sâu vài cái, bàn tay đang cuộn thành nắm đấm lại thả lỏng. Vết bầm không dễ gì biến mất trên thi thể người chết, hắn không muốn có tì vết nào trên cơ thể cô. Tốt hơn hết là kiên nhẫn đợi thêm một lúc. Với cô gái trước đó, họ còn cùng nhau dùng một bữa tối lãng mạn dưới ánh nến trước khi hắn biến đổi cô. Mọi chuyện diễn ra rất êm đẹp... Nhưng mà không nhất thiết phải như vậy. Bỏ lại cô gái trong phòng cũng được, nhưng có thể cô ả sẽ tự làm đau mình. Biết đâu làn da trắng mịn như sữa ấy lại bị trầy xước thì sao, hắn chẳng đành lòng để như thế. Hắn đẩy cô vào xưởng làm việc và cho cô ngồi lên ghế của hắn. Cô lại quằn quại, dùng chân trái đá vào cẳng chân hắn. Mặc dù cô đi chân trần và cú đá cũng chẳng đau mấy, thế nhưng bấy nhiêu cũng đủ khiến cho hắn khó chịu. Hắn chụp lấy con dao mổ trên bàn và kề lưỡi dao bén ngót ngay dưới đầu vú bên trái của cô. “Mày mà còn cử động, tao sẽ cắt ngay,” hắn lạnh lùng đe dọa. Cô lập tức ngồi sụp xuống và run lên vì sợ hãi. Thái độ phục tùng của cô khiến cho hắn cảm thấy cực kỳ kích thích. Mới chút mơn trớn nhẹ nhàng thôi mà tim hắn đã bắt đầu đập nhanh hơn. Hắn đã yêu cô rồi. Hắn nhẹ nhàng cầm lấy sợi thòng lọng đã chuẩn bị trước đó ở trên bàn, tự cảm thấy hài lòng với kết cấu của sợi dây. Sợi lần trước hắn dùng chỉ là loại dây thừng bằng vải bông thông thường. Hắn không ưa dấu hằn mà sợi dây đó để lại, vết ma sát của nó đã làm hỏng mất làn da tuyệt mỹ. Lần này hắn sử dụng loại dây thừng đa năng làm bằng sợi tổng hợp. Kết cấu của sợi dây rất trơn mượt và đẹp. Hắn nghĩ cô sẽ thích cảm giác khi nó chạm vào da thịt cô. Hắn tròng sợi thòng lọng vào cổ cô gái. Khi phát hiện sợi dây trơn mịn đang thắt chặt cổ mình, cô lại tiếp tục ra sức quẫy đạp, nhưng đã quá muộn. Sợi thòng lọng chỉ là một sợi dây thừng với nút buộc đơn giản. Tuy nhiên có một thay đổi nho nhỏ, hắn đã chèn một thanh kim loại mỏng ngang nút thắt. Tiếp theo, hắn kéo nút thắt cho đến khi sợi thòng lọng quấn chặt lấy cổ cô, chặt đến nỗi sợi dây không thể di chuyển đi đâu được nữa. Hắn chỉ muốn để lại một dấu vết mà thôi, không hơn không kém. Kế đến, hắn nắm lấy thanh kim loại và vặn nó theo chiều kim đồng hồ. Một lần, hai lần, rồi ba lần, sợi thòng lọng càng lúc càng siết chặt. Người con gái quẫy đạp dữ dội hơn và đập mạnh một chân vào cạnh bàn, cú va chạm vừa rồi chắc chắn sẽ để lại vết bầm. Hắn lại vặn thanh kim loại thêm lần cuối... Được rồi, vậy là đủ. Lúc chuyển động của cô dần yếu đi, hắn bắt đầu xem xét vết hằn mà sợi dây để lại. Ban đầu hắn còn không muốn để lại bất kỳ dấu vết nào nữa kìa. Nhưng giờ hắn sẽ xem nó như món quà đầu tiên dành cho cô. Một sợi vòng cổ tuyệt đẹp minh chứng cho sự gắn kết giữa hai người bọn họ. Người bình thường chỉ sử dụng nhẫn đeo tay thôi, thảo nào tỷ lệ ly hôn lại cao đến thế. Sau khi cô đã hoàn toàn bất động, hắn phấn khích đến phát run lên. Hắn nên bắt tay vào xử lý cô ngay bây giờ. Cho hỗn hợp ướp xác lên càng sớm, thi thể sẽ càng được giữ nguyên. Nhưng giờ đây hắn đã bị nỗi khát khao cháy bỏng khuất phục. Hắn quyết định vui vẻ trước một chút. Mời các bạn đón đọc Ám Ảnh Kinh Hoàng của tác giả Mike Omer & RBooks (dịch).
Kho Báu Bị Nguyền Rủa
Cuốn sách mới nhất của ông hoàng trinh thám Pháp Michel Bussi. Một loạt các quan chức cao cấp của hiệp hội chuyên trợ giúp người nhập cư bị sát hại giữa khung cảnh được bài trí như trong Nghìn lẻ một đêm. Mọi nghi ngờ đổ dồn về một cô gái gốc Mali quyến rũ dường như đang che giấu một bí mật khủng khiếp. Bussi - một lần nữa lại giăng ra vô số cái bẫy, khiến độc giả không ngừng nghi vấn, không ngừng suy đoán cho đến trang sách cuối cùng, để rồi bị choáng ngợp. -------------- Giới thiệu tác giả: Michel Bussi sinh ngày 29 tháng Tư năm 1965 tại Normandie. Ông là nhà văn, nhà chính trị học, giáo sư địa lý tại đại học Rouen và được biết đến chủ yếu với những cuốn tiểu thuyết trinh thám. Theo tạp chí Le Figaro, ông đứng thứ hai trong danh sách nhà văn Pháp có tác phẩm bán chạy nhất năm 2018, với 975.800 bản. Các tác phẩm của Michel Bussi đã được dịch sang 34 thứ tiếng, một số được chuyển thể thành phim điện ảnh và phim truyền hình. *** Là cuốn sách thứ năm của Michel Bussi được xuất bản ở Việt Nam, "Kho báu bị nguyền rủa" đề cập câu chuyện nhập cư với góc nhìn trinh thám. Cuốn sách Kho báu bị nguyền rủa của nhà văn trinh thám Michel Bussi đem đến cho độc giả câu chuyện nhiều bi thương về phận nhập cư. Câu chuyện dài nghìn lẻ một đêm Cuốn sách mở ra bằng cái chết của các quan chức cấp cao nằm trong hiệp hội giúp đỡ người nhập cư. Loạt xác chết được phát hiện trong những khách sạn được bày trí như trong Nghìn lẻ một đêm. Một camera ghi lại hình ảnh của cô gái trùm kín khuôn mặt, chỉ lộ mắt đang nhìn thẳng vào camera như thách thức. Tin nhắn, bức ảnh trên Facebook và những cái tên trở thành manh mối để cảnh sát truy tìm hung thủ. Leyli - bà mẹ của ba người con - thường xuyên lui tới ủy ban hành chính để xét duyệt một căn nhà mới đủ rộng cho một gia đình bốn người. Nơi đây, những tập hồ sơ cao chất ngất xin duyệt nhà ở cho người nhập cư như Leyli, những nụ cười, cái nhìn, ánh mắt và cả những bí mật còn dài hơn cả đêm trường trong Nghìn lẻ một đêm. Đan xen giữa hiện tại và quá khứ, câu chuyện của Leyli được kể song song cùng những vụ án mạng xảy ra. Cô gái xinh đẹp Bamby bị tình nghi là hung thủ, chính là con gái của Leyli. Cô đi tìm cha mình trong những người đàn ông từng ngủ với mẹ. Manh mối chỉ là những cái tên trong quyển nhật ký mà mẹ cô giấu dưới gầm giường. Hóa thân thành nàng Sheherazade của Nghìn lẻ một đêm, Leyli kể cho hàng xóm nghe câu chuyện đời mình từ thuở ấu thơ đến khi nhập cư vào Pháp. Những bi kịch được bóc tách từng lớp và chỉ còn trơ lại cái lõi sự thật, Leyli là người bắt đầu, đồng thời cũng kết thúc hành trình đi tìm kho báu bị nguyền rủa. Những cảnh đời được trình hiện sống động bằng giọng kể của phụ nữ từng trải dường như hòa thành một, dẫn độc giả đến cái kết khó đoán định. Nàng Sheherazade bước ra từ bi kịch Những vụ án mạng, những cuộc điều tra, những chi tiết được hé lộ gây tò mò cho độc giả dường như chỉ là ba phần nổi của câu chuyện. Bảy phần chìm còn lại, được vùi lấp bởi những bí mật trong quá khứ, nơi hai bờ đại dương nối kết bằng bi kịch đen tối và hé mở về một hành trình có một không hai của Leyli. Câu chuyện của Leyli được chia thành nhiều chương, và mỗi chương được kể bằng những sắc thái khác nhau. Tuổi thơ được kể bằng thứ màu trong trẻo, những vạt nắng neo đậu trên dòng sông Niger hùng vĩ. Những chiếc thuyền độc mộc đi ngang, cô bé Leyli nhanh chân bì bõm chạy đến để chào bán những món trang sức, đồ gốm, thuốc lá và cả bao cao su. Tuổi thơ ấy chứa đựng cả những câu chuyện mà cô đã đọc đi đọc lại rất nhiều lần. Đến khi thị giác không còn, cô gái mù Leyli dần trở nên xinh đẹp và thông thái khi ghi nhớ tất cả bằng trí não. 17 tuổi, cô trở thành người dẫn đường cho chuyến vượt biên sang châu Âu. Tất cả bị bắt, trừ Leyli ngồi co quắp trong một góc tối bất động. Cũng nơi đó, cô được giải cứu bởi tình yêu đầu đời của mình. Nói đúng hơn là bị cầm tù trong hy vọng được hạnh phúc, cô bị dẫn dắt làm điếm bởi kẻ đầu ấp tay gối. Những vị khách cấp cao mà cô tiếp, cô chỉ biết tên mà không biết mặt. Cô ghi nhớ những câu chuyện mà họ kể và nhờ người bạn mình ghi chép lại. Không chỉ tiền mà còn là vàng bạc, đồng hồ, những món đồ có giá trị sau cuộc đổi trao với đích đến là cuộc phẫu thuật mắt. Tất cả đều trở thành kho báu bị nguyền rủa được cất giấu dưới hầm sâu. Nhập cư - đêm trường ngập trong nước mắt Thông qua câu chuyện của Leyli, những phận người nhập cư được khắc họa. Ở đó, những cuộc vượt biển được ngã giá bằng chính tài sản và tính mạng. Những chiếc vòng với màu sắc khác nhau định giá "thứ bậc" trên con thuyền lênh đênh đến Pháp. Có người tìm được người thân bên kia đại dương bằng tài sản cả đời kiếm được, nhưng cũng có người bị quăng xuống biển khi mới đi được nửa hành trình. Kho báu bị nguyền rủa của Michel Bussi đã chạm vào bí mật đen tối với đường dây vượt biên được tổ chức bởi những kẻ đứng đầu một hiệp hội chuyên trợ giúp người nhập cư. Vài nghìn euro cho một vị trí trên thuyền với xác suất 50% cập bến, 50% còn lại sẽ nằm dưới đáy biển sâu bởi những tai nạn chìm xuồng được ngụy tạo. Khoác lên chiếc áo trinh thám, Kho báu bị nguyền rủa đánh dấu sự dấn thân của tác giả vào đề tài xã hội gai góc. Thân phận những con người vượt đại dương với bi kịch chất chồng bi kịch. Tội ác đội lớp tiếng nói nhân danh công lý. Số phận được bày biện và bện chặt thành một sợi dây dẫn lối độc giả về cuối hành trình của sự cảm thông. Không chỉ xuất sắc trong việc "bày binh bố trận", thắt chiếc nút hoàn hảo trên sợi dây câu chuyện, Michel Bussi đã vượt qua ngưỡng của một tác giả trinh thám thông thường. Ông đưa câu chuyện gần gũi và thực tế hơn bởi những nhân vật bình thường đã làm nên những điều phi thường với trái tim biết thương yêu. Michel Bussi được mệnh danh là ông hoàng trinh thám Pháp với phong cách viết lắt léo, bất ngờ và tài tình. Ông từng giáo sư địa lý, một nhà chính trị học trước khi trở thành nhà văn trinh thám nổi tiếng giành được hơn 15 giải thưởng văn học lớn. Các tác phẩm của ông đã được dịch sang tiếng Việt gồm: Hoa súng đen, Xin đừng buông tay, Mẹ đã sai rồi, Vết khắc hằn trên cát. *** Có lẽ Hoa Súng Đen là cái bóng quá lớn của Michel Bussi nên các tác phẩm sau của tác giả được Nhã Nam giới thiệu khiến các bạn thấy kém hơn, hoặc thấy không thoả mãn, không hài lòng. Trước khi bắt đầu đọc Kho báu bị nguyền rủa mình đã thấy một số ý kiến chê quyển này. Nhưng không vì cái sự chê đó mà mình bỏ qua không đọc. Trái lại, Kho báu bị nguyền rủa lại là quyển mà mình thích của Bussi, nó đem lại cho mình nhiều cảm xúc và suy ngẫm về bi kịch và số phận của các nhân vật. Cá nhân mình còn thích Kho báu bị nguyền rủa hơn cả Mẹ đã sai rồi được phát hành khá lâu trước đó của Bussi mà mình đã đọc. Câu chuyện mở đầu bằng cái chết của một quan chức cao cấp của hiệp hội chuyên trợ giúp người nhập cư trong căn phòng được trang trí như trong Nghìn lẻ một đêm. Nhưng đó chỉ là một mảnh trong bức tranh về chủ đề nhập cư mà tác giả muốn đề cập tới. Mà chủ đề về những người nhập cư là chủ đề mà mình rất thích và quan tâm. Bởi nó là chủ đề rất nóng và nhạy cảm cách nay không lâu. Và có lẽ đến bây giờ nó vẫn là bài toán khiến Châu Âu và các nước khác phải đau đầu. Không hiểu sao khi đọc quyển này mình luôn nghĩ đến hình ảnh xác cậu bé Syria bị chết đuối trên bãi biển Thổ Nhĩ Kỳ khi theo gia đình vượt biển nhập cư trái phép vào Châu Âu. Sinh ra ở vùng đất Châu Phi nghèo đói, nuôi ước vọng tới miền đất hứa Châu Âu mong kiếm tìm một cuộc sống tốt đẹp hơn. Nhưng, để tới được Châu Âu trên các chuyến tàu vượt biển họ đã trải qua không ít những bi kịch, có khi còn mất mạng. Còn bao nhiêu sinh mạng đang tâm bị vứt bỏ để chỉ còn là cái xác được tìm thấy lênh đênh trên biển hay trôi dạt vào bờ. Chưa kể có nhập cư trái phép vào được Châu Âu thì nguy cơ bị phát hiện, bị trục xuất về nước là rất lớn. Rồi khác về văn hoá, màu da, bị phân biệt, đối xử họ không thể tìm được việc làm để nuôi sống bản thân, sống ở những khu phố nghèo nàn, thiếu thốn. Chưa kể những người phụ nữ bị lừa đảo, bị ép buộc làm gái điếm. Chắc có bạn sẽ cho rằng lối kể chuyện của Michel Bussi quá dài dòng. Nhưng đối với mình Kho báu bị nguyền rủa không hề dài dòng. Kho báu bị nguyền rủa có lối kể mang nét hào hoa đậm chất Pháp, đầy tính nhân văn. Mình thích lối viết trinh thám mà không khô khan, nhẹ nhàng, mượt mà, văn chương của Michel Bussi. Bằng lối viết đó tác giả đã làm cho mình thật sự cảm thông và đồng cảm với thân phận người phụ nữ được khắc hoạ, nhấn mạnh trong Kho báu bị nguyền rủa. Bức tranh về thân phận người phụ nữ nói riêng, người di cư và nhập cư nói chung được khắc hoạ một cách chân thật, đầy cảm thông và nhân văn. Kho báu bị nguyền rủa không nhiều twist, bạn có thể dễ dàng đoán trước được diễn biến của câu chuyện nhưng đem lại rất nhiều trăn trở, suy nghĩ. Ngoài ra, Kho báu bị nguyền rủa còn đưa các bạn tới nhiều vùng đất rất thú vị. Theo như mình biết. Châu Âu hiện nay là châu lục có dân số già, do đó thiếu nguồn lao động trẻ. Trong khi đó lục địa đen Châu Phi là lục địa nghèo, khí hậu khắc nghiệt nhưng lại có lực lượng lao động tương đối rồi rào. Thế thì tại sao Châu Âu không giải quyết bài toán nhập cư từ Châu Phi để có nguồn lao động, giúp cả Châu Âu và Châu Phi cùng phát triển. Bởi những người Châu Phi nhập cư vào Châu Âu cũng chỉ mong là có được nguồn thu nhập, có nhiều tiền hơn để gửi về giúp đỡ gia đình nghèo khó ở quê nhà thôi mà. Họ có định phá hoại, làm tổn hại gì tới Châu Âu đâu. Tóm lại: Đây là quyển mà mình thích của Bussi, đem lại nhiều cảm xúc, sự cảm thông, đồng cảm, đầy tính nhân văn của Bussi. Binh Boog *** — Có chuyện gì không ổn sao, Leyli? Cô xinh đẹp. Cô có ba đứa con xinh đẹp. Bamby, Alpha, Tidiane. Mẹ con cô đã êm ấm rồi. — Êm ấm ư? Toàn bộ những điều đó chỉ là bề ngoài thôi. Vớ vẩn cả thôi. Không, ồ không, chúng tôi không tạo thành một gia đình tốt đẹp. Chúng tôi thiếu điều căn bản nhất. — Một người cha ư? Leyli khẽ bật cười. — Không, không. Một người cha, hay thậm chí là nhiều người cha, thì cả bốn chúng tôi đều không cần đến. — Vậy mẹ con cô còn thiếu điều gì nữa? Đôi mắt Leyli hé mở, giống như một bức rèm để lọt vào một tia nắng mặt trời và chiếu rọi một căn phòng tăm tối, biến bụi bặm thành những ngôi sao. — Ông thật tọc mạch quá, ông bạn thân mến ạ. Chúng ta chỉ vừa mới quen biết nhau, thế mà ông lại tưởng rằng tôi sẽ tiết lộ với ông bí mật lớn nhất của tôi sao? Ông không trả lời. Bức rèm trên đôi mắt Leyli đã khép kín trở lại, lại nhấn chìm căn phòng trong bóng tối. Chị quay về phía biển, nhả ra một làn khói thuốc để nhuộm đen những đám mây. — Còn hơn cả một bí mật, quý ông tò mò thân mến ạ. Đó là một lời nguyền. Tôi là một người mẹ xấu xa. Ba đứa con của tôi đã bị kết án. Hy vọng duy nhất của tôi là một trong số chúng, có thể là một trong số chúng, thoát được lời nguyền đó. Chị nhắm mắt lại. Ông vẫn hỏi tiếp: — Lời nguyền đó, ai đã gieo nó? Đằng sau cánh cửa chớp đóng kín tạo bởi hai mí mắt chị, sấm chớp đùng đoàng. — Ông. Tôi. Cả trái đất này. Không ai vô tội trong vụ này hết. Mời các bạn đón đọc Kho Báu Bị Nguyền Rủa của tác giả Michel Bussi & Nguyễn Thị Tươi (dịch).
Kết Hôn Với Người Chết
Bị ruồng bỏ bởi gã người tình xấu xa khi đang mang thai, một cô gái trẻ 19 tuổi, bước lên chuyến tàu đi về hướng Tây trong tuyệt vọng khi trong người chỉ còn 17 xu. Một cặp vợ chồng mới cưới, trở về quê nhà diện kiến gia đình và họ cũng đang chuẩn bị chào đón đứa con đầu lòng. Tựa như số mệnh đã an bài, họ gặp nhau trên chuyến tàu định mệnh. Tai nạn bất ngờ xảy ra, khiến cô gái trẻ vô tình bị nhận nhầm là vợ của người chồng xấu số, cô con dâu góa bụa của một gia đình giàu có. Dưới thân phận mạo danh, từ một cô gái không có gì, cuộc đời cô được bước sang một trang mới, một mái ấm yêu thương, một tình yêu đích thực. Nhưng cái kim trong bọc lâu ngày cũng có ngày lộ ra, một ngày gã người tình cũ xuất hiện cùng lá thư đe dọa. Chìm trong sợ hãi, hoảng loạn và căng thẳng triền miên, cô đã đi đến một quyết định vô cùng tàn nhẫn, vĩnh viễn không thể xoay chuyển… *** Ở “Kết hôn với người chết”, Woolrich đặt người đọc vào tâm trí của mỗi nhân vật và trải nghiệm những tình huống đầy căng thẳng, đặc biệt là đối với việc nhân vật chính thay thế người khác và sống trong sợ hãi. Cảm giác như bối cảnh của truyện là nơi sự căng thẳng lên ngôi và duy trì mãi. Tác giả đặt ra sự phân định và mâu thuẫn trong đạo đức và tâm lý của con người trước tấm lòng của người mẹ và sự phú quý vinh hoa. Có những khoảnh khắc là cả một cuộc đấu tranh tâm lý đầy kịch tính khiến cho trái tim của cả nhân vật và bạn đọc chìm trong cảm giác hối hận và tịch mịch. Câu chuyện mở ra với việc Helen bị người tình nhẫn tâm ruồng bỏ. Trong cơn tuyệt vọng, cô gặp được một cặp vợ chồng mới cưới vô cùng hạnh phúc tên là Patrice và Hugh trên một chuyến tàu về phía tây. Họ đang bắt chuyến tàu để về thăm mẹ của Hugh nhưng thật không may khi con tàu đã gặp sự cố giữa đường, chỉ còn Helen sống sót sau cơn nguy biến ấy. Lúc tỉnh lại ở bệnh viện, Helen phát hiện ra mọi người đã nhầm cô với Patrice. Lợi dụng điều ấy và cũng vì đứa con bé bỏng của mình, cô quyết định chấp nhận việc hoán đổi của số phận. Thế nhưng cuộc đời nào phải là một màu hồng tươi đẹp khi nhân tình cũ xuất hiện với những mối đe dọa khôn cùng. Nền tảng của câu chuyện không phải là điều gì quá lớn lao nhưng tác giả đã chứng minh được tài năng khai thác sắc sảo những điều không quá mới mẻ. Tôi nghĩ đây là một quyển trinh thám đầy mê hoặc dành cho những người mến mộ Woolrich vì những yếu tố khá gay cấn mà tác giả đã lồng ghép vào mỗi chương truyện. Đôi lúc, “Kết hôn với người chết” mang tới sự cao trào của những hoang tưởng nhưng đôi lúc cũng là những phút giây đáng sợ về những hình ảnh và ngôn từ mà tác giả đã gợi ra. Đây là quyển thứ hai tôi đọc của tác giả này và thực sự là bị mê văn phong mượt và đẹp của Woolrich. Cảm thấy phong cách viết rất đặc sắc và đặc biệt là ông rất biết cách tránh né việc miêu tả những tổn thương sâu sắc của các nhân vật chính, đặc biệt là nữ nhân vật. Và phải nói rằng cách xây dựng nhân vật trọng tâm hiện ra vô cùng chân thật dù là ở Helen có chút phi thường khi được vận mệnh sắp đặt những hoàn cảnh trớ trêu đến vậy. “Kết hôn với người chết” rõ ràng đã giữ được mạch truyện căng thẳng dồn dập liên tục cộng với việc các tình tiết diễn ra đều hợp lý đã khiến cho quyển truyện trở nên đầy hấp dẫn. Nhân vật phản diện cũng xuất hiện với những cách không thể hèn hạ và đáng ghét hơn, làm tôi nhớ đến các nhân vật trong các tác phẩm của Patricia Highsmith. (Trần Nguyễn Phước Thông, FB Trần Thông, 22-01-2020) Trần Thông *** Sau Cô Dâu Đen và Ám Ảnh Đen, một lần nữa lại dành sự khen ngợi và sự kính nể dành cho Cornell Woolrich. Ông đã viết ra một tác phẩm trinh thám nhưng đầy tính nhân văn và nghệ thuật. Nếu không được giới thiệu trước đây là tác phẩm trinh thám thì Boog còn tưởng mình đang đọc một tiểu thuyết tình cảm. Kết hôn với người chết thể hiện rất rõ cái văn chương mượt mà, trữ tình mà người ta hay gọi là “tình bể bình” của tác giả. Không hồi hộp gay cấn, nhịp của câu chuyện cũng không nhanh, yếu tố trinh thám của Kết hôn với người không được thể hiện ngay từ đầu nhưng nó vẫn đủ sức lôi cuốn khiến bạn đọc một cách say mê cuốn hút không nỡ bỏ quyển sách xuống. Có thể đọc đoạn đầu của câu chuyện bạn sẽ thắc mắc sao chưa thấy án mạng hay vụ án gì xảy ra nhưng khi đến giữa tác phẩm, khi câu chuyện được đẩy đến cao trào thì bạn sẽ vô cùng thích thú. Khác với Cô Dâu Đen hay Ám Ảnh Đen khi thủ phạm được lộ rõ hay tìm ra ở cuối tác phẩm, đối với Kết Hôn Với Người Chết thì hung thủ là một dấu hỏi lớn, vẫn mang đầy bí ẩn và bất ngờ, đố bạn có thể tìm được hung thủ đấy. Mặc dù xuất hiện rất ít trong tác phẩm nhưng nhân vật nam đáng ghét nhất trong tác phẩm cũng khiến bạn phải căm thù, muốn giết chết hắn. Boog sẽ cho nhân vật này vào Sổ Hận Thù không quên :)) Đối lập với kẻ đáng ghét thì tác giả cũng xây dựng một nhân vật rất đáng yêu. Mặc dù biết rõ sự thật nhưng anh vẫn dành một tình yêu rộng lớn, che chở, yêu thương, làm mọi việc vì cô gái đáng thương mà anh yêu. Cũng dành tình cảm rất lớn cho “cha mẹ chồng hờ” của cô gái. Họ yêu thương cô vô điều kiện, coi cô như con gái. Vẫn là một cái kết đầy bất ngờ mà bạn không bao giờ có thể nghĩ tới. Đánh giá: vẫn hay và đáng đọc. Câu chuyện rất nhân văn, đọc thấy trong cuộc sống vẫn còn có những người tốt. Tại ông viết trữ tình quá nên review trinh thám mà như review ngôn tình vậy :)) Binh Boog *** KẾT HÔN VỚI NGƯỜI CHẾT – Cornell Woolrich Người dịch: Nguyễn Thành Long Thể loại: trinh thám đen Quốc gia: Mỹ Cũng như Raymond Chandler, Cornell Woolrich chắc hẳn là cái tên mà hầu hết những ai đam mê, tìm hiểu về trinh thám cổ điển đều thuộc nằm lòng. Với hình mẫu nhân vật đầy cá tính, cốt truyện độc đáo, hấp dẫn, Woolrich được mệnh danh là bậc thầy trinh thám đen vào những năm 40 thế kỷ trước. Hàng loạt tác phẩm của ông đã được đưa lên màn ảnh rộng (trong đó không thể không kể đến “Rear window”, tác phẩm chuyển thể thành công nhất, từng mang về cho đạo diễn tài ba Alfred Hitchcock nhiều giải thưởng danh giá). Cùng với “Cô dâu đen”, “Kết hôn với người chết” thuộc số các tiểu thuyết tiêu biểu của Woolrich, đem lại cho ông vị trí không thể thay thế trong nền văn học trinh thám. Truyện mở đầu bằng một khung cảnh nên thơ, trữ tình với hương hoa thoang thoảng, những làn gió “mềm mại và nhẹ nhàng như nụ hôn của em bé” cùng tiếng xào xạc của những cành cây sum sê “đang trở mình và tiếp tục say ngủ” – một đêm hè bình yên điển hình ở Caulfield. Trong bối cảnh đó, “chúng tôi” xuất hiện. “Chúng tôi” là một đôi uyên ương, “chúng tôi” có một cuộc sống trong mơ, sở hữu khối tài sản trong mơ cùng ngôi nhà và khu vườn trong mơ. “Chúng tôi” yêu nhau, chắc chắn là vậy. Nhưng “chúng tôi” không hề hạnh phúc. Một trong hai, không sớm thì muộn, buộc phải ra đi, bỏ lại giấc mơ (đang dần biến thành cơn ác mộng) tươi đẹp phía sau. Vì sao? Vì giữa “chúng tôi” đã tồn tại một bóng ma, một con quỷ, không phải ai khác nhưng bởi chính “chúng tôi” tạo ra, và nó đang quay lại để ám “chúng tôi”, rút cạn sinh lực “chúng tôi” ngày này qua ngày khác. Nó ẩn hình nơi từng câu nói, hiện hữu rõ rệt trên khuôn mặt người đối diện, và vỡ toát ra trong từng nụ hôn, từng cử chỉ âu yếm “chúng tôi” dành cho nhau. Chương kế tiếp chuyển sang hình ảnh một cô gái trẻ đứng bất động, đờ đẫn trước cánh cửa đóng kín. Bóng dáng sầu khổ, tuyệt vọng và tàn tạ của cô hoàn toàn đối lập với sự im lìm, lạnh lùng của cánh cửa, mà ngay sau đó là chốn cư ngụ của kẻ đã nhẫn tâm ruồng bỏ cô cùng giọt máu của hắn mà cô đang mang trong mình, kẻ đã đáp trả tình yêu, danh dự, tiết hạnh và cả tuổi thanh xuân của cô bằng sự khinh bỉ, tờ bạc 5 đô la và cái vé tàu một chiều tống tiễn cô về quê. Tuyệt vọng, nhục nhã, bất lực, cánh cửa cuộc đời những tưởng đã vĩnh viễn khép lại trước mặt, để rồi trên chuyến tàu định mệnh đó, cô tình cờ gặp một đôi vợ chồng mới cưới, đang đắm chìm trong men say tình yêu, không bận lòng san sẻ chút ít hạnh phúc của mình cho đứa con gái quê nghèo khó, bụng mang dạ chửa, phải lê tấm thân tàn xác dại trở về nhà trong cô đơn và kiệt quệ. Họ làm quen với nhau, con tim cô tìm được chút hơi ấm, sự an ủi từ những người bạn mới nhiệt thành, tốt bụng. Rồi một tai nạn thảm khốc xảy ra (như một trò đùa của số phận) kết thúc sinh mạng của hàng trăm con người (trong đó có đôi vợ chồng trẻ), nhưng đồng thời mở ra cho hai mẹ con cô một tương lai mới, một cuộc đời mới: Cô là hành khách may mắn còn sống sót và, vì một hoàn cảnh vừa thú vị, vừa trớ trêu, bị nhận nhầm thành người vợ trẻ quá cố. Đứng giữa lằn ranh mỏng manh giữa sự thật và dối trá, đâu sẽ là sự lựa chọn của cô: chấp nhận thân phận mới, gạt bỏ hết quá khứ, đau khổ, tủi nhục, và quan trọng hơn, tìm được một mái ấm an toàn cho đứa con bất hạnh không cha, hay nghe theo tiếng gọi của lương tâm, để rồi quay về với kiếp sống vất vưởng, xác xơ, không xu dính túi, và thầm hy vọng cuộc đời sẽ lại ưu ái dành cho hai mẹ con cô cơ hội lần thứ hai? (Câu chuyện còn rất nhiều diễn biến bất ngờ phía trước, mà nếu nêu ra ở đây chắc chắn sẽ làm giảm hứng thú của những ai chưa đọc tác phẩm, vậy nên, ai muốn biết thì tự trải nghiệm nhé ^^) Là đại diện tiêu biểu cho thể loại trinh thám đen, “Kết hôn với người chết” không chú trọng yếu tố điều tra, suy luận logic mà chủ yếu tập trung vào việc xây dựng bối cảnh, bầu không khí “đen” cho tác phẩm – tức sự u ám, tăm tối đặc quánh trong căng thẳng, hồi hộp cùng áp lực đè nặng không phút ngơi nghỉ. Thẳng thắn mà nói, nội dung “Kết hôn với người chết” không có gì mới lạ (xét ở thời điểm hiện tại), nhưng điều này không hề làm vơi đi sức hút mãnh liệt từ tác phẩm, được tạo ra thông qua cách thức xây dựng cốt truyện tài tình với nhiều khúc quanh, bước ngoặt bất ngờ, kịch tính, kết hợp với giọng văn lúc chậm rãi, lúc dồn dập tùy theo nhịp độ câu chuyện và dòng chảy tâm lý bất tận của nhân vật. Mọi yếu tố trong tác phẩm đều được dung hòa với nhau một cách tinh tế, bổ trợ, tạo đà cho nhau phát triển, nối tiếp nhau một cách tự nhiên, cứ như tự bản thân câu chuyện đang “sống” (nhưng tuyệt nhiên không hề dễ đoán, bởi lẽ những bí ẩn, những sự thật bị che giấu vẫn được tác giả khéo léo giăng mắc xuyên suốt tác phẩm nhằm khơi gợi trí tò mò và níu chân người đọc đến tận trang cuối cùng). Nếu Stephen King là bậc thầy trong thể loại kinh dị, giật gân với khả năng biến những nguyên liệu thô sơ thành một câu chuyện hấp dẫn thì có lẽ khó có tác giả nào đủ sức vượt mặt Cornell Woolrich ở mảng trinh thám đen. Một điểm mạnh làm nên thương hiệu Woolrich đó là bút pháp miêu tả tài hoa với nhiều liên tưởng, so sánh thú vị, độc đáo, giàu chất thơ, giàu sức gợi hình, gợi cảm, lồng ghép trong đó là những suy tư, chiêm nghiệm sâu sắc về tình yêu, về kiếp nhân sinh. (Cá nhân mình cho rằng) Chính đặc điểm này đã mang tác phẩm của ông vượt ra khỏi khuôn khổ của một tiểu thuyết trinh thám giải trí thông thường để chạm đến ngưỡng mỹ học của văn chương hàn lâm (Dù mãi về sau mới biết được rằng Cornell Woolrich vốn chịu ảnh hưởng từ Fitzgerald nhưng thú thật mình đã nhận ra điều đó ngay từ lần đầu tiên đọc tác phẩm của ông, bởi cái chất văn “trong vắt như pha lê” không thể lẫn vào đâu được). Tóm lại, đối với những ai thích cảm giác vừa tò mò, hồi hộp khám phá những bí ẩn trong tiểu thuyết trinh thám, vừa được đắm mình trong biển ngôn từ lai láng của một tác phẩm trữ tình lãng mạn, “Kết hôn của người chết” chắc chắn là một lựa chọn không tồi. P/S: tác phẩm lần này được dịch và biên tập rất tốt (mình chỉ phát hiện duy nhất 1 lỗi mà thôi) Steven Nguyễn *** Điều đầu tiên khiến mình ấn tượng nhất khi bắt đầu đọc cuốn sách này, đó chính là chất văn mượt mà, giàu biểu cảm của bác Woolrich, với những câu văn đi sâu vào khám phá những ngóc ngách thầm kín nhất trong suy nghĩ và cảm nhận của nhân vật chính (và cũng nhiệt liệt khen ngợi dịch giả luôn, chuyển ngữ được như thế là quá tuyệt vời rồi ^^). Từ khi cô ấy là một cô gái bị bạn trai bỏ rơi, nghèo kiết xác (chỉ có 17 xu trong túi, cùng chiếc vé tàu hỏa một chiều), lại đang mang thai 8 tháng, sau đó bị nhận nhầm là con dâu nhà giàu sang, quyết định thuận theo sự nhầm lẫn này để kiếm cho mình và đứa con mới chào đời một mái ấm an toàn, đầy đủ; mặc cảm tội lỗi trước sự chào đón và tấm lòng hào phóng, rộng lượng của ba mẹ chồng giả; tình cảm mới nở dành cho người em chồng hờ; cho đến sự căng thẳng dồn nén cùng cảm giác nơm nớp lo sợ thân phận thật của mình bị phát hiện, nhất là khi tên bạn trai cũ quay trở về và tống tiền cô. Kết hôn với người chết - Cornell Woolrich Kết hôn với người chết – Cornell Woolrich Tất cả những cung bậc cảm xúc ấy, những suy nghĩ sâu kín của nhân vật đó, đều được Woolrich miêu tả một cách chân thực và vô cùng tài tình. Chính những miêu tả tuyệt hay này đã góp phần tạo nên và đẩy cao bầu không khí giật gân, căng thẳng, khó đoán của câu chuyện, khi độc giả nhận ra mình đang lặng thầm ủng hộ cho mọi sự được hanh thông và an toàn đối với nhân vật nữ chính, khi chúng ta có thể dễ dàng đồng cảm với tình huống dường như bất lực của nữ chính trước tên bạn trai cũ hám tiền. Và đúng với truyền thống viết truyện của bác Woolrich, sẽ luôn có một cú plot twist, dù to hay nhỏ, ở cuối truyện. Cá nhân mình thấy cuốn này không phải dạng quá ly kỳ, u ám như hai cuốn trước của bác mà mình đọc, là “Cô Dâu Đen” và “Ám Ảnh Đen”, vì thế cái plot twist của cuốn này cũng thuộc dạng vừa phải, nhưng theo mình là sẽ để lại nhiều dư âm và suy nghĩ hơn cho độc giả. P.S.: Tự dưng mình thấy cốt truyện cuốn này có nét giống giống với bộ phim tình cảm hài lãng mạn “While You Were Sleeping” (của Mỹ chứ không phải TV series của Hàn nha), có Sandra Bullock đóng vai chính ^^ Dĩ nhiên là cốt truyện của bộ phim tình cảm hài này thì tươi sáng hơn rất rất nhiều so với cuốn sách này rồi, không có giết người, tống tiền gì sất. Nhưng nếu bạn đã xem bộ phim này thì sẽ thấy có vài nét tương đồng đó, nhất là mọi chuyện cũng bắt đầu từ cái chuyện nhận nhầm người ha ha ha. Nguyễn Việt Ái Nhi *** Tác giả: Cornell Woolrich Phát hành: Phúc Minh Reviewer: Điền Yên ———– Lời đầu tiên phải nói đó là tôi thích tác phẩm này vô cùng bởi nó hay tới từng chi tiết, từng nhân vật. Ban đầu nhìn cái bìa sách, tôi chán ngán không muốn mua. Chắc tôi không hiểu được nghệ thuật đương đại nên cái bìa này với tôi y như một mớ bùi nhùi, lại còn hồng neon phát ớn. Nhờ tên tác giả Cornell Woolrich mà tôi quyết tâm bọc bìa lại rồi đọc sách. Đó thật là một quyết định đúng đắn bởi truyện hay kinh khủng. Kết hôn với người chết Kết hôn với người chết Đoạn này nằm trong giới thiệu sách nên tôi không sợ mình spoil: Một cô gái tên Helen, 19 tuổi, bị người tình bỏ rơi cùng đứa con trong bụng. Hắn còn gửi cho cô 5 đô la cùng 1 dải vé 1 chiều về quê, tỏ ý dứt quan hệ, thậm chí không thèm biên lấy một chữ. (Đoạn này tác giả viết hay cực luôn. Nếu không viết trinh thám, ông hoàn toàn có thể đi viết ngôn tình). Trên đường về quê, cô quen một cặp đôi mà người vợ cũng có thai sắp sinh giống cô. Thế rồi chuyến tàu gặp tai nạn, hai người đó chết, còn cô thì bị/được nhận nhầm thành cô gái kia – nay là con dâu của một gia đình cực kỳ giàu có. Tên thay đổi, cuộc đời thay đổi. Ở gia đình mới, cô được yêu thương hết lòng và dần tìm thấy hạnh phúc. Khốn nạn thay, thằng người yêu cũ không buông tha cho cô. Hắn phát hiện ra sự thật và mò đến tận nơi để tống tiền. Khúc này tôi đọc buổi tối mà phải nhịn chửi đến nội thương. Nếu bạn cảm thấy đời mình thật xui xẻo vì gặp phải kẻ xấu, hãy đọc “Kết hôn với người chết”, để biết mình còn hên chán khi chưa gặp phải thằng nào giống thằng Steven này, để biết trên đời còn khối tên cặn bã gấp vạn. Tôi thương xót cho nữ chính và khinh bỉ ghê tởm “nạn nhân”. Hắn là một con đỉa bẩn thỉu xấu xa hiếm thấy ngay cả trong tiểu thuyết. Tôi chắc chắn 100% rằng các độc giả nữ đều sẽ căm ghét hắn khi đọc truyện. Bị ép đến bước đường cùng, cô gái quyết định phải ra tay giết người. Đây mới là chi tiết hay nhất (dù toàn bộ truyện này, chi tiết nào cũng hay). Cho đến cuối truyện,bi kịch của nhân vật chính vẫn cứ dai dẳng, chết mòn và thủ phạm thì nằm ngoài tưởng tượng. Ngòi bút tài hoa bậc thầy của Woolrich lôi tôi hết từ cao trào nào đến cao trào khác, không sao bỏ sách xuống được. Vô cùng cuốn hút và gay cấn. Vừa lãng mạn vừa bi thương. Vụ án chiếm dung lượng rất ít nhưng cực kỳ ấn tượng. Sách không dài mà các nhân vật từ chính đến phụ đều được khắc họa rõ ràng. U tối và đầy trữ tình – nếu tôi phải đánh giá tác phẩm này một cách ngắn gọn. Sau Cô dâu đen, Ám ảnh đen và Kết hôn với người chết, tôi chính thức thành fan của Woolrich. Hóng Đêm ngàn mắt của ông. Dang Thi Quynh Anh   Mời các bạn đón đọc Kết Hôn Với Người Chết của tác giả Cornell Woolrich & Nguyễn Thành Long (dịch).