Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Vụ Án Mạng Bên Hồ

Namikishi Yunsuke một mình lái chiếc xe Cima bon bon len lỏi trên con đường dài tít tắp dẫn tới Khu biệt thự hồ Himegami. Anh tới nhập hội với nhóm các ông bố bà mẹ tổ chức một trại ôn luyện cho bốn đứa trẻ chuẩn bị kỳ thi quan trọng vào trường trung học nổi tiếng. Khu biệt thự nằm giữa một rừng cây rậm rạp xanh rì, những tưởng là một nơi nghỉ dưỡng yên tĩnh và lý tưởng. Vậy mà máu đã đổ, một cái chết bất ngờ ập đến, một vụ giết người khó hiểu… Bốn cặp vợ chồng đang ấp ủ những mưu tính quái đản. Làm thế nào để kẻ sát nhân lộ diện? Mặt hồ Himegami phẳng lặng phản chiếu bầu trời xanh kia, có ngày lại gợn sóng… Vụ án mạng bên hồ là tác phẩm trinh thám thể hiện xuất sắc nghệ thuật kể chuyện tài ba của Higashino Keigo. Độc giả thực sự bị cuốn vào trò chơi tâm lý gay cấn, vừa bồn chồn khi gặp những nút thắt này thì lại háo hức trước những manh mối gợi mở khác. Xuyên suốt câu chuyện sẽ là những tình huống móc nối nhau tựa như bí ẩn lồng trong bí ẩn, bất ngờ đến tận những trang sách cuối cùng. *** Giống như những tác phẩm trinh thám trước đây của Higashino Keigo, yếu tố trinh thám vẫn luôn là cái nền móng vững chắc để ông xây dựng vào đó những khía cạnh về xã hội và tâm lý của con người. Với “Vụ án mạng bên hồ”, đi cùng khả năng kể chuyện tài ba và nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật tài tình là khả năng tháo gỡ nút thắt trong một câu chuyện với những tình huống đầy nghiệt ngã khiến bất kỳ độc giả nào cũng phải ngả mũ thán phục về cách dẫn dắt người đọc của Higashino Keigo. Sự sắp đặt vấn đề tài tình chỉ trong bốn chương sách “Vụ án mạng bên hồ” của Higashino Keigo có nội dung xoay quanh bốn gia đình tổ chức một trại ôn luyện cho bốn đứa trẻ chuẩn bị kỳ thi quan trọng vào trường trung học nổi tiếng ở một khu biệt thự lý tưởng cách xa thành phố. Vụ án không được kể dưới con mắt của người điều tra theo cách thông thường mà được Keigo đi ngay vào câu chuyện kẻ thú tội và cách bốn cặp vợ chồng cùng nhau che giấu tội ác này. Nghệ thuật kể chuyện từ đầu đến cuối cuốn sách là những nút thắt buộc chặt rồi được gỡ và qua vô số những sự bất thường của những nhân vật trong truyện, người đọc cảm giác như mình đang thực sự bị cuốn vào một trò chơi tâm lý gay cấn. Tưởng chừng là cái kết của “Vụ án mạng bên hồ” khi kẻ giết người đứng ra nhận tội lại mở ra một câu chuyện khắc nghiệt hơn nhiều chờ đợi ở phía sau. Điểm sáng trong “Vụ án mạng bên hồ” chính là cái cách mà Higashino Keigo lựa chọn và sắp đặt vấn đề đầy sáng tạo, có tính gợi mở rất cao. Hai yếu tố quan trọng để quyết định sự thành công cho cuốn tiểu thuyết này của Keigo, đó là: Giới thiệu nhóm các ông bố bà mẹ có cùng ước mơ cho con vào học trường chuyên lớp chọn để con cái sau này đều có một tương lai xán lạn và sự kết nối thầm kín giữa họ – Chính hai yếu tố này là động cơ và là sự lý giải phù hợp cho sự phát triển hành động, suy nghĩ của nhân vật Namikishi Yunsuke xuyên suốt toàn bộ tác phẩm. Sự tài tình của Keigo không chỉ dừng lại ở việc tạo ra một vụ án hay tình tiết ly kỳ, mà còn là sự giằng xé tâm can độc giả. Họ sẽ không tìm thấy câu trả lời cho những câu hỏi chính Keigo đã đặt ra, cũng không tìm thấy sự phán xét cá nhân cách xử lý vấn đề của nhân vật là đúng hay sai từ Keigo. Thứ đọng lại trong lòng độc giả khi gấp lại cuốn sách là sự thấu hiểu mọi đắng cay ngọt bùi mà các nhân vật đã phải trải qua. Tất cả đều được Keigo sắp xếp tài tình, tròn trịa chỉ với bốn chương sách và chắc chắn ông đã giữ chân được độc giả của mình ở lại để đồng hành cùng “Vụ án mạng bên hồ” cho đến những trang cuối cùng. Một cuốn sách đậm tính thời sự Tính thời sự trong tác phẩm đáng bàn nhất có lẽ là việc các bậc phụ huynh sẵn sàng hy sinh tất cả mọi thứ để con mình có thể đỗ vào trường chuyên lớp chọn.  Higashino Keigo một lần nữa khẳng định tài năng đầy sáng tạo với những cốt truyện mới lạ, táo bạo khi lựa chọn một vấn đề tưởng chừng như quá thân thuộc với độc giả và khó để có thể khai thác thêm. Trong “Vụ án mạng bên hồ”, Keigo khai thác triệt để ranh giới khó phân biệt giữa tình thương và sự áp đặt. Bậc làm cha làm mẹ nào cũng hy vọng một tương lai tươi sáng, một cuộc sống ổn định cho con cái mình sau này. Ấp ủ mong muốn này, ở Nhật Bản nói riêng hay các nước phương Đông nói chung ngay từ nhỏ các bậc cha mẹ đều hướng con mình học trường chuyên lớp chọn với những cuộc đua khốc liệt và căng thẳng như “chọi gà’’. Cuối cùng, trên tất cả, phần thưởng cao nhất được vẽ ra trong thời niên thiếu: đỗ vào trường trung học nổi tiếng. Cuộc đua vào trường trung học phổ thông không phải là xem học sinh nào giỏi hơn, mà là so ví tiền của cha mẹ nào dày hơn, sự bất chấp vượt qua mọi rào cản của ai lớn hơn để con có điều kiện đi học chỗ tốt hơn. Ta tự hỏi bọn trẻ làm sao khác đi được, khi chúng đã được dưỡng dục cẩn thận như thế, được tuyển lựa khắt khe qua vòng này vòng kia và được gọt giũa kỹ lưỡng về mặt tư duy? Bọn trẻ sẽ làm bất cứ việc gì người khác yêu cầu, đạp đổ mọi chướng ngại vật để đạt được điều mà chúng tin là đúng. Qua đó, tác phẩm đã thể hiện một góc nhìn về những lý lẽ của các bậc phụ huynh để bắt con cái sống theo kỳ vọng ích kỷ của bản thân đã vô tình khiến những đứa trẻ bị huỷ hoại ngay từ khi còn nhỏ và có lẽ sẽ khó có khả năng nhận ra mình sai khi mắc lỗi. Kết: “Vụ án mạng bên hồ” của Higashino Keigo là một câu chuyện thiên về tâm lý và khiến độc giả phải theo dõi những biến hoá trong từng câu thoại của mỗi nhân vật. Hãy đến với tác phẩm để bạn có thể tự cảm nhận mọi xúc cảm của bản thân khi hòa mình vào câu chuyện của các nhân vật. Để tự vấn chính mình đâu là ranh giới của sự yêu thương bao bọc? Khi ta làm cha làm mẹ sẽ yêu thương con mình như thế nào cho “đúng cách”? ** Trước hết, hãy cứ phải nói rằng tôi là một người đọc đặc biệt không thích trinh thám. Số truyện tôi đọc về thể loại này tính đến hiện tại chắc cũng chỉ xoay quanh đâu đó số 10. Lý do thứ nhất khiến tôi không đọc trinh thám là vì não tôi nhảy số chậm, tôi chẳng bao giờ đoán ra được hung thủ là ai. Lý do thứ 2 là vì đã là trinh thám thì chắc chắn sẽ có kẻ thủ ác, mà đã có điều ác luôn khiến tôi sợ hãi. Tôi sợ không chỉ là hành động tội ác mà hơn hết, là những gì ẩn sâu bên trong lòng người. Thế giới này vốn đã quá phức tạp rồi. Thực cũng khá lâu rồi tôi không đọc truyện của Higashino Keigo. Biết đến tác giả từ Điều kỳ diệu của tiệm tạp hóa Namiya, tôi hoàn toàn bị thuyết phục vì những câu chuyện được ghép lại rất mượt và tinh tế. Đến Bạch dạ hành thì Keigo đã trở thành cái tên không thể bỏ qua đối với những người đọc say mê những câu chuyện tâm lý. Thế nhưng trong rất nhiều fan trinh thám thích thú với những tác phẩm của Higashino Keigo thì thật tiếc là tôi lại không thấy có gì đặc sắc cho lắm. Sau Hoa mộng ảo có cái kết khá kì cục, tôi quyết định thử lại một lần nữa với trinh thám của Keigo. Liệu Vụ án mạng bên hồ đây có phải tác phẩm khiến tôi quay đầu hay không? Vụ án mạng bên hồ của Higashino Keigo có nội dung xoay quanh 4 gia đình cho con tập trung ở khu vực xa thành phố để ôn thi. Vụ án không được kể dưới con mắt của người điều tra thông thường mà được tác giả đi ngay vào đối tượng thực hiện và những hoạt động xử lý sau đó. Từ đầu đến cuối câu chuyện là những nút thắt được buộc, được gỡ và qua vô số những sự bất thường của những nhân vật trong truyện, tôi cũng không bất ngờ với cái kết. Cái kết của Vụ án mạng bên hồ có thể chỉ là bắt đầu cho một câu chuyện khắc nghiệt hơn nhiều chờ đợi ở phía sau. Trong Vụ án mạng bên hồ, Higashino Keigo không khiến tôi bất ngời bằng những cú twist mà ở các nhân vật ông tạo nên. Những kẻ, vì lý do nào đó, vừa thực hiện hành vi liên quan đến tội ác giết người nhưng vẫn còn nhớ là ở đây (trong biệt thự) hình như không cho hút thuốc hay ngủ ở sofa không tốt. Người ta có suy nghĩ rằng, ngoại tình như một chất bôi trơn để tận hưởng cuộc sống. Khi đọc đến những chi tiết này, tôi đều khựng lại để thử nghĩ xem rốt cuộc mình đang đọc thứ gì. Thế nhưng, xét cho cùng thì sự suy đồi về nhân cách, về lối sống không chỉ có ở đất nước cách chúng ta 6 giờ bay. Tuy câu chuyện với thời lượng chủ yếu là nói về người lớn nhưng trọng tâm của họ lại xoay quanh những đứa trẻ. Những lý lẽ của họ luôn dựa trên cái trục là tốt cho con của mình. Fujima đã khiến tôi nghĩ “Ồ, có lẽ mình cũng được xếp vào kiểu phụ huynh đúng chuẩn (bình thường) khi luôn nghĩ bọn trẻ có quyền tự do với quyền lựa chọn của chúng”. Tôi ngẫm nghĩ và thấy anh ta nói cũng không quá sai. Thế nhưng, đến cùng thì những bậc cha mẹ cũng chỉ là những kẻ biện minh quá lỗi thời khi dùng những lý lẽ cũ rích để bắt con sống theo kỳ vọng ích kỷ của bản thân. Họ đã vô tình khiến những đứa trẻ bị huỷ hoại ngay từ khi còn nhỏ và có lẽ sẽ không bao giờ nhận ra mình có lỗi. Trong cả câu chuyện này, tôi thương những đứa trẻ thật sự. Vụ án mạng bên hồ của Higashino Keigo vẫn là câu chuyện thiên về tâm lý và khiến độc giả phải theo dõi những biến hoá trong từng biểu cảm của nhân vật. Sách khá mỏng và dễ đọc. Một câu chuyện có nhiều điều để suy ngẫm. Lá Xanh *** Đám mây trôi lơ lửng trên bầu trời trước mắt, trông như một vết bẩn bị vạch trên nền trời. Những mảng màu xanh tươi len lỏi giữa đám mây. Namikishi Yunsuke buông bàn tay trái khỏi vô-lăng, đưa lên bóp vai phải, rồi lại đổi tay cầm vô-lăng, bóp vai trái. Sau cùng anh lắc đầu sang hai bên, tạo ra những tiếng lục khục. Trên làn xe bên phải của đường cao tốc Chuo, chiếc Cima anh lái đang chạy quá hai mươi kilomet so với tốc độ quy định. Radio trên xe ra rả nhắc đến những cung đường bị tắc do dòng người đổ về quê dịp lễ hội Obon. Có vẻ năm nay tình trạng ùn xe đỡ hơn mọi năm. Chiếc xe xuống hết đường cao tốc, băng qua trạm thu phí, anh lấy điện thoại ra. Rồi anh tìm một số điện thoại lưu trên máy trong lúc dừng xe chờ đèn đỏ. Số điện thoại ấy được lưu dưới cái tên “ET”. Anh bấm gọi, nhưng đầu dây bên kia để chế độ trả lời tự động. Anh tặc lưỡi, đành cất điện thoại vào trong túi quần. Theo hướng dẫn trên màn hình chỉ đường, chiếc xe cứ thế mải miết chạy một hồi lâu. Chẳng mấy chốc sau đó, nó đã len vào một con đường nằm lọt thỏm giữa rừng cây. Con đường vẽ ra những đường cong mềm mại; ở những đoạn quang đãng, hai bên vệ đường lại mọc lên bảo tàng hay quán ăn nhỏ như thể thế chỗ của cây cối. Những căn nhà đó đều khoác lên mình dáng vẻ sang trọng theo phong cách của một đất nước xa lạ nào đó. Tấm biển báo cho biết khu biệt thự hồ Himegami còn cách bao nhiêu cây số hiện ra trước mắt. Trông thấy nó, Yunsuke bất giác thở dài. Con số thể hiện khoảng cách trên tấm biển đã giảm dần. Đến tấm biển cuối cùng với hàng chữ “Khu biệt thự hồ Himegami—rẽ trái ở đây”, anh xoay vô-lăng. Chiếc Cima màu xanh tím than rẽ vào con đường nhỏ bao quanh bởi rừng cây rậm rạp. Những con đường hẹp trong khuôn viên khu biệt thự nối nhau chạy dài như mê cung. Các căn biệt thự không nằm san sát nhau thành từng cụm, mà rải rác như tô điểm cho khu rừng sâu. Bên rìa con đường là một bãi đất trống. Ba chiếc xe ô tô đỗ sát nhau ở đó: một chiếc xe Mercedes-Benz màu xám bạc, một chiếc BMW màu tím than và một xe Wagon màu đỏ. Cả ba xe đều quay đèn hậu về phía mặt đường. Yunsuke cũng đỗ xe vào bãi đất đó, tay cầm túi và áo jacket màu trắng, bước ra ngoài xe. Anh đóng cửa, rồi mặc áo. Ngay bên cạnh bãi đất trống có một cái cầu thang dẫn xuống phía dưới. Một tòa biệt thự màu nâu cháy nằm phía trước cầu thang. Khu rừng trải rộng bao quanh khiến ngôi biệt thự đó trông như thể ngập chìm trong biển cả màu xanh lục. Yunsuke toan bước xuống cái cầu thang trông như thể mấy tảng đá lớn được ghép đại lại, chợt có tiếng phụ nữ loáng thoáng vọng đến tai. Theo phản xạ, anh quay mặt nhìn về hướng giọng nói phát ra, một cái sân tennis xuất hiện trong tầm mắt. Yunsuke chậm rãi đi về phía cái sân tennis đó. Bốn người cả nam và nữ đang ở bên trong khoảng sân chăng lưới thép. Họ đang hăng say chơi bóng hai chọi hai, hay còn gọi là đánh đôi nam nữ. Anh đứng ở gần lưới thép, tháo kính râm. Một người đàn ông và một người phụ nữ đứng cạnh nhau, quay lưng về phía anh. Đội bên kia chuẩn bị phát bóng, người phụ nữ mảnh dẻ đứng ở đầu sân bên kia vung vợt lên vào tư thế chuẩn bị. Cô toan tung quả bóng thì nhìn thấy Yunsuke, liền lập tức dừng lại. Thấy cô dừng tay, ba người còn lại không ai bảo ai đồng loạt hướng mắt nhìn về phía anh. “Tôi xin phép một chút.” Cô nói với những người kia, tay cầm vợt và bóng, vòng ra ngoài sân tennis, đi về phía Yunsuke. Hai người đứng đối diện nhau qua tấm lưới thép. “Anh đến sớm hơn em nghĩ.” Cô thở hổn hển. “Anh xong việc sớm.” Ba người kia cũng đi về phía này. “Chồng cô à?” Người phụ nữ vóc người nhỏ nhắn hỏi. Gương mặt cô ta tròn xoe, trang điểm đậm. “Vâng.” Người phụ nữ mảnh khảnh khẽ gật đầu. “Tôi là Namikishi.” Yunsuke cúi đầu. “Cảm ơn mọi người luôn giúp đỡ Minako và Shota nhà tôi.” “Anh đừng khách sáo, chúng tôi giúp đỡ lẫn nhau mà.” Người đàn ông áng chừng trên dưới năm mươi tuổi nói. Anh ta đeo trên đầu một món đồ màu trắng nổi bật. Cái băng-đô giữ cho chiếc kính màu xanh vàng không bị tuột ra. “Tôi là Fujima. Còn đây là vợ tôi, Kazue.” “Chào cô.” Yunsuke cúi đầu chào. “Đây là anh Sakazaki. Sakazaki Yotaro.” “Tôi là Sakazaki.” Người đàn ông đánh cặp với Minako ban nãy chào hỏi anh. Anh ta khoảng trên dưới bốn mươi tuổi, theo ước đoán của Yunsuke. Gương mặt rắn rỏi ngự trên thân hình săn chắc. Sakazaki quay sang Fujima. “Anh Namikishi cũng đến đây rồi, chúng ta ngừng chơi thôi nhỉ. Với lại cần sửa soạn cho bữa tối nay nữa.” “Anh nói phải. Để cho mọi người có thời gian tắm táp.” Fujima nói với vợ mình. “Em thì cần nằm ngả lưng một chút.” “Em không biết lượng sức gì cả, có tuổi rồi mà còn thế. Đáng lẽ không nên chơi đấu đôi.” “Nhưng cũng vui mà.” Kazue nhìn sang Minako, ánh mắt như mong mỏi sự đồng tình của cô. Minako gật đầu hưởng ứng. Sakazaki ở bên cạnh dọn đồ, nhưng không quên buông lời khen ngợi. “Vợ anh tiến bộ nhiều đấy. Động tác của cô ấy hoàn toàn khác trước đây.” “À, thế ư? Vậy là tôi có thể tự tin thêm một chút rồi.” “Thôi đi Sakazaki, cô ấy mà lên mặt thì phiền cho tôi đấy.” Sakazaki và Minako bật cười. Yunsuke đứng ở ngoài sân tennis, mắt nhìn xuống chân mình. Mời các bạn đón đọc Vụ Án Mạng Bên Hồ của tác giả Higashino Keigo & Nguyễn Phương Chi (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Nhân Chứng Câm - Agatha Christie
Cách đây không lâu Agatha Christie, nữ nhà văn Anh nổi tiếng, chuyên viết truyện trinh thám, đã qua đời, hưởng thọ trên chín mươi tuổi. Truyện đầu tay của bà xuất hiện năm 1920. Suốt trên sáu mươi năm cầm bút, bà đã viết hàng mấy trăm truyện về tiểu thuyết trinh thám. Nhiều nước trên thế giới đã dịch in tuyển tập của bà, hoặc dựng thành phim. Agatha Christie khác với một số khá đông các nhà văn viết truyện trinh thám phương Tây. Bà không lạm dụng những sự việc rắc rối bí ẩn hoặc bất ngờ để làm chốt dẫn truyện. Bà chú ý đi sâu vào tâm lý con người. Nhân vật các truyện của bà bao giờ cũng được đặt vào những tình huống tâm lý xã hội phức tạp. Câu chuyện phát triển theo sự diễn biến của tâm cảnh các nhân vật và được giải quyết qua cách nhìn nhận thấu đáo cơ sở tâm lý xã hội của những hành động phạm pháp. Ngôn từ các nhân vật trong các truyện của bà rất phong phú thể hiện được tính cách nguồn gốc xã hội của họ, từ giới thượng lưu đến bọn lưu manh đao búa, đồng thời vẫn giữ vẻ độc đáo, gọn gàng, chính xác của tiếng Anh hiện đại. Do đó, như nhà nữ phê bình người Mỹ Ruth Penison đã viết: "Những truyện của Agatha Christie đã phác họa cho các thế hệ mai sau một bức tranh sinh động và chính xác về xã hội nước Anh hiện tại mà bà am hiểu rất tường tận." *** Ngày 1 tháng 5, tiểu thư Arundell từ trần sau một cơn đau ngắn ngủi. Cái chết của tiểu thư không gây ra bất kỳ một chút kinh ngạc nào ở cái thị trấn thôn dã Market Basing nhỏ nhoi này, nơi tiểu thư đã sống từ năm mười sáu tuổi. Thực ra cô gái già này đã quá tuổi bảy mươi, và ai cũng biết là sức khỏe của bà khá mỏng manh. Mười tám tháng trước, bà đã bị một cơn đau gan giống hệt cơn vừa mới rước bà đi. Nếu cái chết của tiểu thư Arundell không làm ai ngạc nhiên thì tờ di chúc của bà lại không phải như vậy. Những ý nguyện cuối cùng của nữ chủ nhân biệt thự Littlegreen đã gây ra ở những người thân của bà biết bao cảm xúc rất khác biệt: kinh ngạc, vui mừng, chê bai, giận dữ và thất vọng. Trong nhiều tuần, thậm chí nhiều tháng ở Market Basing người ta không nói đến chuyện gì khác cả. Mỗi người phát biểu một cách, từ ông John, bác hàng khô, nhà bảo vệ quyền gia đình đến bà Lampri, cô hàng thuốc lá, ai cũng lặp đi lặp lại cả ngày rằng: "Chắc có gì ám muội đây! Các vị cứ nhớ lấy lời tôi!". Chuyện tiểu thư Arundell viết tờ di chúc này, ngày 21 tháng 4 nghĩa là chỉ ít ngày trước khi chết, cũng đủ để khuấy động tâm trí người ta lên rồi. Hơn nữa, nếu ta biết rằng những người thân cận nhất của Emily Arundell đã đến Littlegreen nghỉ lễ Phục sinh thì sẽ dễ dàng hiểu rằng những giả thuyết tai tiếng nhất đã được phát ra, đem đến cho cuộc sống buồn tẻ của cư dân Market Basing một trò giải khuây thú vị. Người ta ngờ rằng bà Wilhelmina Lawson, tùy nữ của tiểu thư Emily Arundell đã biết nhiều về vụ rắc rối này mà không định nói ra. Tuy thế bà Lawson vẫn khẳng định là mình không biết gì hơn những người khác, và còn tỏ ra sững sờ khi đọc tờ di chúc. Nhiều người nghi ngờ tính thành thực của bà ta. Dù sao thì cũng có một người duy nhất biết đích xác bí mật này: Đó là người chết. Theo thói quen, tiểu thư Arundell chỉ hỏi ý kiến bản thân mình để soạn thảo những ý nguyện cuối cùng của mình và bà cũng tránh bộc lộ cho công chứng viên của bà biết những lý do đã buộc bà đổi ý vào giờ chót. Sự giữ kín này của tiểu thư Arundell là điểm nổi bật về tính cách của bà. Là sản phẩm điển hình của thời Nữ hoàng Victoria, bà có những ưu điểm cũng như những khuyết điểm của thời đại. Bề ngoài kiêu kỳ trong bà ẩn giấu một trái tim vàng. Lời nói của bà ngấn gọn, nhưng hành vi của bà biểu lộ một tâm hồn nhân hậu. Và trong thâm tâm bà bảo tồn nhiều điều tế nhị. Các tùy nữ không tồn tại được lâu ở Littlegreen: tiểu thư Arundell vừa hành hạ họ không thương tiếc, vừa đối đãi rộng lượng với họ. Hơn nữa còn bày tỏ công khai là bà hết sức tôn sùng gia đình dòng họ mình. Thứ Sáu trước ngày Chủ nhật Lễ Phục sinh, Emily Arundell ngồi ở tiền sảnh nhà mình và ra chỉ thị cho bà Lawson. Thời con gái, Emily Arundell rất xinh đẹp. Hiện nay cô gái già này vẫn giữ được dáng dấp thanh nhã, cũng còn rất năng động. Nước da bà khá vàng, cho ta biết bà vẫn phải thực hiện chế độ ăn kiêng. Tiểu thư Arundell nói với bà tùy nữ: - Này u! U đã thu xếp cho họ chỗ nghỉ ở đâu rồi? - Quả là con tin... con hy vọng đã xếp sắp ổn rồi... Bác sĩ Tanios và phu nhân ở phòng gỗ sồi, Theresa ở phòng sơn xanh, còn cậu Charles ở phòng ngày xưa dành cho trẻ con... Tiểu thư Arundell ngắt lời bà ta: - Tốt hơn cho Theresa ở phòng trẻ con, còn phòng xanh để cho Charles. - Vâng, vâng... con xin lỗi... con tưởng phòng trẻ con là thích hợp hơn với... - Theresa ở đó sẽ rất tốt. Tiểu thư Arundell thuộc thế hệ coi phụ nữ là thứ yếu. Trong mắt bà, nam giới là bộ phận quan trọng trong xã hội. - Con tiếc rằng các con nhỏ của bà Tanios không đến. - Bà Lawson nói thì thào, giọng buồn buồn. Bà rất yêu trẻ nhưng lại tỏ ra kém khả năng cai quản chúng. - Bốn vị khách là vừa đủ cho chúng ta rồi. - Tiểu thư Arundell vặc lại, bà rất nuông chiều các cháu bà, còn họ chẳng chịu nghe lời bà chút nào. U Lawson thở dài nói: - Bella Tanios là một người mẹ hiền từ. - Phải, Bella, rất tốt. - Tiểu thư Arundell chấp nhận. ... Mời các bạn đón đọc Nhân Chứng Câm của tác giả Agatha Christie.
Tên Trộm Xác Người - James Bradley
Tên Trộm Xác Người là tác phẩm thứ ba của nhà văn người Úc James Bradley, sinh năm 1967. Ông được nhật báo Sydney Morning Herald hai lần phong tặng danh hiệu là một trong “Những tiểu thuyết gia trẻ người Úc tài ba nhất”. Hiện ông sinh sống ở Sydney. Câu chuyện kể về Gabriel Swift, một sinh viên y khoa ngành phẫu thuật. Anh tới London vào năm 1826 để theo học với Edwin Poll, một bác sĩ phẫu thuật lớn. Từ những giao dịch mua bán tử thi, Swift dần lún sâu vào con đường tội lỗi do sự dụ dỗ của Lucan, kẻ nhiều quyền lực nhất trong số những tên đào trộm xác chết của thành phố và cũng là tên trùm cai quản hoạt động này. Bị bác sĩ Poll đuổi học, Gabriel bị cuốn vào thế giới ngầm tàn ác và bí ẩn của thủ đô London thời kỳ Georgian, trở thành một tội phạm. Dù sao, sự cứu rỗi đã đến với Swift ở phần cuối sách. Quyển tiểu thuyết dựa một phần vào sự kiện có thật về hai tên giết người hàng loạt Burke và Hare hồi đầu thế kỷ 19 ở Anh và các hoạt động mua bán xác người của các bệnh viện hay trung tâm phẫu thuật lúc bấy giờ. Truyện không phân theo chương nên khó theo dõi nếu bạn đọc không đọc liền một mạch. Rất cảm ơn sự ủng hộ của các bạn. Sài Gòn, tháng 4/2015 ★★★ “Chúng ta chào đời cùng người chết Thấy chăng, họ quay về, và mang chúng ta theo.” — T.S. Eliot, Four Quartets ★★★ “Nhiều tháng sau khi bạn đã khép lại trang sách cuối, những câu chữ của James Bradley vẫn còn đọng trong tâm trí bạn: Đẹp, hấp dẫn và không thể nào quên.”  — Markus Zukas, tác giả quyển The Book Thief “Một thiên tiểu thuyết lãng mạn kinh dị đầy chất cổ điển.”  — Daily Telegraph “Một quyển truyện kinh dị trần trụi, khơi gợi suy tư… Khi bạo liệt, khi đầy triết lý, quyển truyện này đầy ắp không khí.”  — Big Issue ★★★ London, 1826-1827 Họ nằm trong những cái bao tời như nằm trong tử cung của mẹ; gối chạm cằm, đầu ép xuống, như thể chết chỉ đơn giản là quay về với nhục thể mà từ đó chúng ta sinh ra, và đây là sự thụ thai lần thứ hai. Một sợi thừng sau gối giữ họ trong tư thế đó, một sợi khác cột đôi tay họ, rồi miệng bao khép lại bên trên họ và được cột ràng lần nữa, toàn thể trông như một gói đồ nén chặt, đã được ngụy trang một cách dễ dàng, vì nếu bị người bên ngoài nhìn thấy, một thứ hàng hóa như thế sẽ thu hút cả một đám đông. Thế rồi một con dao cắt phăng sợi thừng cột bao, và người này nhấc lên, người nọ kéo, chúng tôi lôi những thứ bên trong bao ra, đặt họ duỗi dài lên mặt bàn, trần truồng và giá lạnh, như một con bê hoặc một em bé chuồi ra khỏi lòng của mẹ, sợi dây và cái bao được giữ lại, vì một lát sau chúng tôi sẽ dùng lại chúng, để thu dọn những mảnh xác bị cắt rời. Chúng tôi cùng giữ chặt họ, kéo thẳng thi thể họ ra lần nữa. Dù tứ chi của họ không mềm quặt mà cũng không cứng lại, bất chấp sự giá lạnh vẫn còn nấn ná bên trong, tình trạng cứng đờ của họ đã bị phá vỡ bên cạnh nấm mồ khi họ bị bẻ gập lại và cột ràng để nhét vào bao. Lúc này, họ duỗi ra dưới bàn tay nắm giữ của chúng tôi, di chuyển với sự dễ uốn nắn lạ lùng của một thân hình nằm giữa cái chết và tình trạng thối rữa. Đấy là một công việc ghê tởm, thế nhưng sự ghê tởm không nằm ở việc đứng gần người chết mà ở sự thân mật nó đòi hỏi từ chúng tôi, sự cận kề với xác thịt và vật chất của thi thể họ. Khi họ đã được uốn nắn xong, nằm tái nhợt và trần truồng trên bàn, chúng tôi bắt tay vào việc. Trước hết chúng tôi lật úp họ xuống, để lộ phần lưng và mông lốm đốm tím và xanh giống như những vết bầm do máu đã tụ lại suốt nhiều giờ sau khi chết. Nếu lớp thịt bắt đầu thối rữa, sẽ có những chỗ phồng dộp, mềm, nhũn nước và tái nhợt, có thể vỡ toang nếu bị chạm vào, nhưng khi đó, lớp da cũng ẩm ướt do thứ chất lỏng giống như mồ hôi rỉ ra từ chúng. Đôi khi, những người liệm xác sẽ nút kín những lỗ hậu môn, và nếu thế, những vật đó phải được lấy ra khỏi xác. Sau đó, với giẻ lau, nước và dấm, chúng tôi bắt đầu rửa ráy cho họ, đôi tay cẩn thận di chuyển qua lớp da của họ, mùi dấm lẫn vào những thứ mùi u ám hơn bám vào họ, chúng tôi tiết chế những cử động nhưng không phải không lau chùi một cách nhẹ nhàng. Khi đã làm xong phần lưng và hai cẳng chân, chúng tôi lật họ trở lại, lau từ bàn chân lên háng, từ háng lên ngực, hai cánh tay và hai bàn tay, cuối cùng tới bộ mặt. Ở đây chúng tôi làm việc cẩn trọng nhất, lau quanh những đầu xương và chỗ nhô lên với những tấm giẻ gấp gọn, quanh đôi gò má, quanh phần trũng quanh mắt. Đôi khi hai mí mắt vẫn còn hé mở, cứng đờ, đôi mắt bên dưới mờ đục và không màu sắc như mắt của những người rất già. Khi lau rửa xong xuôi, chúng tôi xuống sân lấy nước, xà bông và dao cạo. Nước lạnh, dùng cho thi thể lạnh. Thế rồi, kéo thẳng lớp da chùng, chúng tôi bắt đầu cạo; trước tiên là phần da đầu và mặt, tóc ướt được tách thành từng lọn để lộ ra phần u lên của cái sọ; sau đó là lồng ngực và hai nách; rồi cuối cùng là bộ phận sinh dục, lưỡi dao cạo soàn soạt lướt trên lớp da. Đôi khi chúng tôi cắt phạm vào họ, nhưng chẳng có chút máu nào chảy ra, vết đứt tái nhợt và trống rỗng. Tôi không thể nói do đâu chúng tôi biết rằng đây là công việc cần phải được tiến hành trong im lặng. Chỉ biết cách thức là thế, phải luôn là thế. Vào những lúc khác chúng tôi di chuyển quanh họ như thể họ không nằm đó, nói cười với nhau trong lúc lôi kéo, cắt và dọn dẹp những mảnh thịt, gạt chúng sang bên một cách ngẫu nhiên giống như gạt sang bên một cuốn sách hay cái áo khoác đang nằm ở nơi ta định ngồi xuống. Nhưng lúc này chúng tôi lặng lẽ làm việc, không nói nhiều hơn mức cần thiết. Như thể việc rửa ráy người chết này chính là một nghi lễ: giống như người ta rửa sạch những thứ nhớt nhau từ lòng mẹ trên thân hình một em bé, chúng tôi chùi sạch mùi âm ty địa ngục khỏi những xác chết bị đánh cắp đó, đưa chúng mới tinh khôi vào thế giới. Khi công việc đã hoàn tất, mấy cái bao đã được gấp lại gọn gàng, mấy cái xô đã trút sạch nước, những tấm giẻ đã được vắt và phơi, bắt đầu tới việc tính tiền. Thầy chúng tôi kỹ lưỡng nhất trong việc lưu giữ sổ sách tiền nong, và số tiền trả cho Caley và Walker phải được ghi lại: tám đồng tiền vàng cho một xác đàn ông hay phụ nữ đã trưởng thành, hay thứ chúng tôi gọi là một cái lớn; bốn đồng tiền vàng cho một đứa trẻ con, hay một cái nhỏ; một siling mỗi phân Anh cho thứ mà chúng tôi gọi là một bào thai, hay một em bé dài chưa tới một bộ Anh. Và cứ vậy, trong lúc tôi lau sàn, Robert lặng lẽ tính toán trên cuốn sổ cái, ghi lại những khoản thanh toán, kiểm lại số tiền còn tồn trong hộp đựng tiền, gương mặt giấu sau một tấm mặt nạ lặng buồn mà anh luôn khoác lên khi nghĩ rằng mình không bị ai quan sát. ... Mời các bạn đón đọc Tên Trộm Xác Người của tác giả James Bradley.
Giả Thuyết Thứ 7 - Paul Halter
Một ngày nọ ở Luân Đôn, có hai người đàn ông tài ba danh giá quá chẳng để làm gì, đã chơi tung đồng xu để thách thức tài trí nhau. Theo đó người thắng phải gây ra một vụ án mạng kiểu gì cũng được, sao cho bản thân mình có đầy đủ chứng cứ ngoại phạm, còn các manh mối phạm tội sẽ đổ dồn vào người thua. Một âm mưu thoạt nhìn chỉ để cho vui, cuối cùng như hơi độc thổi bung ra trong không khí, xé toang lồng ngực bao nhiêu người khác, lại cũng làm ngạt thở chính mình. Bởi vì mạng người chưa và không bao giờ là thứ nên đem ra làm trò đùa cợt. Paul Halter, nhà văn trinh thám người Pháp, sở hữu gia tài gồm hơn 30 tiểu thuyết cùng các giải thưởng trong nước và quốc tế. Ông được ưu ái mệnh danh là “Bậc thầy của những căn phòng khóa kín”. Truyện của ông độc đáo vì đã xây dựng được những câu đố và âm mưu tội ác gần như không tưởng. Dùng tiểu thuyết “chuyên chở thông điệp xã hội, khám phá các vấn đề nhân đạo và triết học” cũng trở thành một điểm nhấn khó phai khi nói về Paul Halter. *** Khoảng 10 giờ tối, cảnh sát Edward Watkins đi ngang cung điện St. James như ông vẫn làm nửa tiếng một lần vào những buổi tối phải trực thế này. Nhiều năm qua, ông đã đều đặn thực hiện đúng lộ trình đó mà không gặp sự cố gì. Thi thoảng chạm trán một tay say xỉn có phần ngỗ ngược không thể bỏ qua, nhưng đám đó cũng chỉ đếm trên đầu ngón tay. Khu vực này rất yên bình, yên bình như cuộc đời cảnh sát viên của ông, khi ông đã đi mòn gót, tâm trí chỉ nghĩ về thời khắc nghỉ hưu sắp tới bên người vợ yêu quý của mình. Một cuộc đời chẳng có biến cố gì, thực vậy - cho tới đêm 31 tháng Tám năm 1938. Hai bàn tay đan chéo sau lưng, chiếc mũ cát kéo sụp xuống đầu, thứ âm thanh duy nhất ông nghe được là tiếng bước chân của chính mình trong cái khu vực đang say ngủ, chìm trong bóng đổ của những tòa nhà gớm ghiếc cao ngất bao quanh. Đêm khá lạnh và màn sương nhẹ lững lờ buông xuống phần mặt tiền đầy vẻ hăm dọa. Ông rẽ xuống phố King, đi được nửa chừng thì dừng lại ngó qua vai, như một việc rất bình thường. Đúng lúc ấy, ông nghe tiếng bước chân ở đâu kia phố King, ngay chỗ ngã tư với phố Bury. Nhưng khi vòng trở lại, ông chỉ thấy cái bóng của một kẻ qua đường, hắt lên bức tường cách đó hơn chín mét nhờ một ngọn đèn đường năm ở góc ngã tư. Cảnh sát Watkins đứng yên vài giây, miệng há hốc. Mặc dù chỉ thấy cái bóng trong một thoáng, ông cũng đủ nhận ra một điểm dị thường: Nó có cái mũi dài lạ lùng. Không phải dài hơn mức bình thường vài phân, mà dài một cách quái đản, dễ chừng bằng cả vành mũ rộng mà kẻ đó đang đội. Quỷ quái gì vậy? Một gã cải trang thành chim chăng? Edward Watkins đứng yên thêm vài giây nữa, tâm trí quay cuồng. Khi trấn tĩnh lại, ông rảo bước tới góc phố Bury và nhìn dọc xuống lối đi, vừa kịp thấy nhân vật kia sắp rẽ phải vào một hẻm ở quãng giữa phố, nơi hình như có thêm nhân vật khác đã đến từ trước. Watkins chưa xác định được nhân dạng của kẻ thứ hai, nhưng thoáng thấy thứ gì đó rất giống áo choàng. Diễn biến tiếp theo khá nhanh. Nhân vật kia, có lẽ bị đánh động bởi tiếng chân bước của viên cảnh sát, quay phắt lại đối diện với ông và, lộ rõ vè ngạc nhiên, nó vọt nhanh vào ngõ hẹp. Trong những tình huống bình thường, viên cảnh sát sẽ lập tức bám theo. Nhưng những gì ông vừa thấy - và đặc biệt là vào thời điểm đó - lạ lùng đến mức phải mất vài phút quý giá tâm trí ông mới phục hồi được. Nhưng các giác quan thì không hề phản bội ông và hình ảnh dị thường kia vẫn rõ rệt trong tâm trí: áo choàng dài đến mắt cá chân, đôi tay đeo găng, chiếc mũ rộng vành, và thay vì khuôn mặt, lại chình ình một chiếc mặt nạ trắng ởn mà ở chính giữa là cái mũi dài ít nhất cũng hơn ba mươi phân. Mặc dù chưa bao giờ nhìn thấy hình ảnh ấy bằng xương bằng thịt, nhưng ông đã xem đủ minh họa để hiểu ra: Ông vừa nhìn thấy một bác sĩ dịch hạch. Một bác sĩ dịch hạch. Đã từng có dịch hạch ở Luân Đôn. Những câu chuyện về bệnh dịch khủng khiếp vụt qua tâm trí ông: Người chết nhiều như ruồi trên đường phố, quằn quại trong đau đớn, thân thể đầy mụn mủ, mí mắt thâm đen, gương mặt teo tóp. Xác chất đống lên xe đẩy, rồi trút xuống hào sâu bên ngoài thành phố, nơi một sự hoảng loạn không tên ngự trị, nơi gần như không thể trốn chạy, và nơi người sống trong những ngôi nhà bị nhiễm bệnh chết vì đói hơn là vì dịch hạch. Viên cảnh sát xua dòng ý nghĩ hắc ám ấy đi và định thần lại. Ba trăm năm nay không còn dịch hạch ở Luân Đôn, đã có nhiều hiện pháp hiện đại để kiểm soát nó. Hơn nữa, các bác sĩ không còn lang thang trên đường phố trong bộ trang phục kỳ dị này nữa. Người ông vừa nhìn thấy hoặc là một người đi dự tiệc hoặc một dạng tội phạm nào đó đang chuẩn bị ra tay. Không, như thế thật vô nghĩa. Có nhiều cách kín đáo hơn để che giấu nhân dạng. Vậy thì là gì chứ? ... Mời các bạn đón đọc Giả Thuyết Thứ 7 (Dr. Twist #6) của tác giả Paul Halter.
Kẻ Giết Người Đội Lốt - Erle Stanley Gardner
Theo GUINNESS, quyển sách ghi các kỷ lực thế giới, Erle Stanley Gardner được ghi nhận là tác giả sách bán chạy nhất của mọi thời đại. - Erle Stanley Gardner có trên 150 tác phẩm trinh thám tin cậy, đáng giá và hợp thời đại. - Erle Stanley Gardner, người đã tạo nên nhân vặt truyền kỳ luật sư Perry Mason, cô thư ký tinh ý Della Street, và viên thám tử tài ba Paul Drake. - Erle Stanley Gardner, tác giả duy nhất có sách bán chạy hơn cả bốn tác giả nổi tiếng khác cộng lại gồm: Agathe Chistie, Harold Robbins, Barbara Cartland và Louis L’amour   *** Một số tác phẩm đã được xuất bản tại Việt Nam:   1. Móng vuốt bọc nhung (Đôi tất nhung) [Perry Mason #1 - The Case of the Velvet Claws] (1933) 2. Cháu gái người mộng du [Perry Mason #8 - The Case of the Sleepwalker's Niece] (1936) 3. Vị giám mục nói lắp [Perry Mason #9 - The Case of the Stuttering Bishop] (1936) 4. Kẻ hùn vốn [Perry Mason #17 - The Case of the Silent Partner] (1940) 5. Con vịt chết chìm (Mười tám năm sau) [Perry Mason #20 - The Case of the Drowning Duck (Le Canard Qui Se Noie)] (1942) 6. Cô gái có vết bầm trên mặt [Perry Mason #25 - The Case of the Black-Eyed Blonde (La Blonde au Coquard)] (1944) 7. Lá thư buộc tội [Perry Mason # 44 - The Case of the Runaway Corpse] (1954) 8. Viên đạn thứ hai [Perry Mason #45 - The Case of the Restless Redhead] (1954) 9. Con mồi táo bạo [Perry Mason #54 - The Case of the Daring Decoy] (1957) 10. Kẻ mạo danh [Perry Mason #64 - The Case of the Spurious Spinster] (1961) 11. Người đàn bà đáng ngờ [Perry Mason #69 - The Case of the Mischievous Doll] (1963) 12. Vụ Án Hoa Hậu Áo Tắm [Perry Mason #78 - The Case of the Queenly Contestant] 13. Kẻ Giết Người Đội Lốt [Perry Mason #40 - The Case of the Grinning Gorilla] (1952) 14. Tiếng Chó Tru Trong Đêm [Perry Mason #04 - The Case of the Howling Dog] (1934) 15. Người Được Minh Oan [Perry Mason #27 - The Case of the Half-Wakened Wife] (1945) 16. Người Đàn Bà Đáng Sợ [Perry Mason #53 - The Case of the Lucky Loser] (1958) *** Vào sáng thứ hai, mười giờ kém năm, Perry Mason, cặp dưới nách một gói bọc giấy màu nâu, một tay gỡ cái mũ phớt và ném về phía bức tượng bán thân Blackstone vốn là thứ trang điểm cái giá sách phía sau bàn làm việc của ông. Chiếc mũ phớt lười biếng quay mấy vòng rồi chụp thẳng xuống vầng trán cẩm thạch của vị luật sư lừng tiếng, tạo cho ngài một vẻ ngang tàng quái đản. Della, cô thư kí riêng của Mason đang mở thư tín buổi sáng bên bàn, vỗ tay hoan hô. “Chà, lần này thực sự thành công lắm!” Mason đồng tình với niềm kiêu hãnh kiểu trẻ con. “Blackstone chắc là phải nhảy chồm lên ở dưới mồ,” Della nhận xét. Mason mỉm cười. “Ông ấy đã quen từ lâu rồi. Năm mươi năm gần đây tất cả các luật sư chỉ có làm mỗi việc là chất mũ của mình lên vầng trán cao thượng của Blackstone. Điều đó là đặc trưng trong thời đại chúng ta.” “Đó là điều gì chứ?” “Ném mũ.” “Tôi sợ là không hiểu được hết ý nghĩa.” “Vài thế hệ trước,” Mason giải thích với cô, “các luật sư từng là những người chán ngắt hiếm thấy. Đặt tay lên vạt áo vét, họ nói những diễn từ cầu kì theo mọi quy tắc của nghệ thuật hùng biện. Các văn phòng của họ nhất thiết phải được trang điểm bằng tượng bán thân của Blackstone. Thế nhưng các luật sư trẻ được thừa kế các bức tượng cùng với đồ đạc văn phòng và hàng đống bộ luật thì phát cáu bởi cái vẻ tự mãn khoa trương đông cứng trên bộ mặt bằng đá của lão già này.” “Chắc là anh cần phải đến gặp nhà phân tâm học, sếp ạ,” Della nói. “Có lẽ đối với anh Blackstone tượng trưng cho cái gì đó mà anh cố sức chống chọi lại một cách vô thức. Thế cái gói gì chỗ anh thế?” “Có quỷ mới biết nó,” Mason đáp. “Theo tôi, tôi cố sức chống chọi các định kiến u tối. Tôi đã trả mất năm đôla - tôi có ý nói cái gói ấy.” Trong giọng Della che giấu lòng bao dung dịu dàng sau vẻ giận dỗi giả tạo, “Tôi hi vọng anh không định ghi khoản đó vào chi phí công vụ chứ?” “Tất nhiên, tôi sẽ ghi. Chứ khác đi thì theo cô các chi phí chung là cái gì?” “Và anh thậm chí không biết cái gì bên trong đó ư?” “Tôi mua nó mà không giở ra.” “Tôi sẽ hơi khó quyết toán, nếu phải ghi vào cột chi năm đôla vì cái gói mà không rõ có gì nằm trong đó. Điều gì đã xui khiến anh như thế?” “Nói chung,” Mason thốt ra, “sự thể là thế…” Ông mỉm cười. “Nào tiếp theo là gì?” Della hỏi, cũng không đủ sức kìm nổi nụ cười. “Cô nhớ cái cô Helen Cadmus nào đó không? Cái tên ấy không nói với cô điều gì sao? “ “Một cái tên khá lạ,” cô nói. “Tôi có cảm giác… Khoan, đó có phải là cô gái đã tự tử, nhảy xuống biển từ tàu buồm của một nhà triệu phú nào đó?” “Phải, phải, chính cô ta. Benjamin Addicts, một triệu phú khá bất thường, nghỉ ngơi trên chiếc tàu buồm của mình. Giữa biển khơi, cô thư kí của ông ta, Helen Cadmus biến mất không để lại dấu vết. Người ta phỏng đoán là cô ta đã nhảy ra ngoài thành tàu. Mà trong cái gói này… Nào chúng ta cùng xem điều gì viết ở đây.” Mason lật cái gói lại và đọc, “Đồ vật riêng của Helen Cadmus. Văn phòng mõ tòa.” Della thở dài. “Đã bấy nhiêu năm tôi là thư kí riêng của anh… và thậm chí đôi khi tôi có cảm giác rằng tôi đã biết anh khá rõ, nhưng rồi lại xảy ra gì đó như kiểu này, và tôi lại nhận thức rằng anh vẫn là ẩn số đối với tôi. Trời ơi, anh lấy thứ đó ở đâu và vì cái gì mà bỏ ra những năm đôla cơ chứ?” “Mõ tòa khá thường xuyên đưa ra đấu giá đủ thứ vớ vẩn khác nhau chất đống trong văn phòng ông ta. Và hôm nay trong gian nghị án đã có cuộc đấu giá, còn tôi lại vô tình có mặt không xa chỗ đó. Ở đấy diễn ra những cuộc đấu giá khá hăng, tất cả tranh giành các chế tác kim hoàn, các bức tranh quý hiếm, bộ đồ ăn bằng bạc và đủ mọi thứ khác nữa. Sau đó người ta đưa ra đấu giá cái gói này, và chẳng có ai thèm trả giá. Cô cũng biết mõ tòa - ông ta là một bạn tốt của tôi. - Thế là tôi nháy mắt cho ông ta, và đề nghị đặt giá đầu tiên là năm đôla, nhằm kích động công chúng. Và cô biết sao không? Tôi chưa kịp trấn tĩnh thì họ đã dúi cái gói cho tôi rồi, thành ra trong ví tôi bớt đi năm đôla.” “Thế có gì bên trong ấy?” Della tò mò. “Ta cùng xem,” Mason đề nghị. Ông mở con dao díp, cắt dây buộc và mở tờ giấy bọc ra. “Ái chà chà! Giống như chúng ta có được cuốn ngữ pháp tiếng Anh, cuốn từ điển, vài sách giáo trình tốc kí, mấy cuốn nhật kí và quyển album với những tấm ảnh.” “Có thế mà mất những năm đôla!” Della kêu lên. “Ta ngó qua album ảnh xem,” Mason nói. “Chà! Đây có những tấm ảnh mà ai cũng muốn xỉa năm đôla mua nó.” Della đi lại gần và ngó qua vai ông. “Nếu đó được gọi là quần áo tắm,” cô nhận xét, “thì tôi…” “Thế nhưng giống như nó chính là thế,” Mason đáp. “Bộ đồ tắm từ ba mảnh vải hình vuông, bằng cách thần diệu nào đó đã bám được vào các đường nét uyển chuyển của thân hình khá đáng yêu. Tôi cho rằng đó chính là Helen Cadmus.” “Cô ta không che giấu quá nhiều khỏi những con mắt người lạ,” Della nói. “Chắc gì người lạ nào đó đã chụp, có lẽ một cô bạn nào đó của cô ta biết sử dụng máy ảnh, may mắn tóm được khuôn hình gây ấn tượng mạnh. Ồ, ở đây còn cả một tập những bức ảnh của lũ khỉ nữa.” ... Mời các bạn đón đọc Kẻ Giết Người Đội Lốt của tác giả Erle Stanley Gardner.