Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Một Người Chân Chính - Boris Polevoy

Năm 1954, khi từ bưng biền về hoạt động bí mật ở Sài Gòn, tôi đến cửa hàng Albert Portail ở đường Catinat mua sách báo ngoại văn. Tình cờ tôi thấy một số sách Liên Xô dịch ra tiếng Pháp của nhà xuất bản Xã hội Pháp (Editions Sociales) bày bán tự do. Tôi lựa được một cuốn tiểu thuyết rất hay: “Một người chân chính” (Un homme veritable) của nhà văn Xô viết Bôris Pôlêvôi. Tôi bắt đầu dịch ngay trong những thời gian rảnh rỗi, nhất là vào ban đêm. Lúc đầu tôi định chuyển thể để có thể đăng trên các báo Sài Gòn hoặc ra sách, như kiểu anh Năm Châu chuyển thể vở “Người mặt cháy”. Nhưng dưới sự kiểm duyệt rất khắc nghiệt của địch nên không thể qua mặt được. Tôi liền gửi đăng trên báo Sông Chung (sau này là báo Trung Lập) của Việt kiều ở Phnôm Pênh. Sau đó tôi sửa chữa lại lần nữa bản dịch gửi ra Hà Nội. Vợ tôi (chị Lê Đoan) lúc đó là thư ký tòa soạn báo Phụ Nữ Việt Nam đã đưa bản dịch cho Nhà xuất bản Thanh Niên. Cuốn sách được in 2 lần, mỗi lần với số lượng lớn 15.000 bản. Nhà xuất bản còn đề nghị tác giả Bôris Pôlêvôi gửi ảnh và lời tựa cho cuốn sách kèm với bản tự thuật của ông. Vì tôi dịch cuốn sách từ tiếng Pháp, chớ không phải tiếng Nga, nên phải nhờ Giáo sư Phạm Huy Thông hiệu đính theo nguyên bản tiếng Nga. Anh Phạm Huy Thông lại có dịp gặp cả tác giả Bôris Pôlêvôi và anh hùng Xô viết Alếchxây Mêrétxép nên việc xuất bản cuốn “Một người chân chính” càng có giá trị thắt chặt quan hệ anh em giữa Liên Xô và Việt Nam. Đây là bản dịch rất sớm các tác phẩm văn học của Liên Xô. Vì cuộc kháng chiến chống Mỹ kéo dài, tôi rất tiếc không gặp được Bôris Pôlêvôi và anh hùng Alếchxây Mêrétxép, chỉ có liên hệ thư từ với Bôris Pôlêvôi. Chính tác giả đã gởi cho tôi nhiều tác phẩm văn học của Liên Xô và cả sách học tiếng Nga để tôi tự học khi còn ở chiến khu. Bôris Pôlêvôi còn khuyên tôi nên dịch cuốn “Tấm kiếng Parabôn” của Alếchxây Tônstôi, tôi cũng đã dịch và in thành truyện nhiều kỳ (feuilleton) trong tuần san “Hòa bình trung lập” của Việt kiều ở Phnôm Pênh. Cuốn “Một người chân chính” có tính giáo dục, rèn luyện thanh niên rất cao, gần như cuốn “Thép đã tôi thế đấy”. Bởi vì phi công Alếchxây Mêrétxép sau khi bị bắn hạ trên bầu trời Đức chiếm đóng, gãy hai chân, đã bằng hai tay bò suốt 18 ngày đêm vừa đói vừa rét, để về căn cứ Hồng Quân. Sau khi lắp chân giả, anh lại bay nhiều ngày tấn công địch đến thắng lợi cuối cùng trong chiến tranh chống Phát xít. Anh được phong Anh hùng lực lượng võ trang Liên Xô và được bầu vào Ban Chấp hành “Hội đồng Hòa bình thế giới” chính anh đã lên tiếng nhiều lần ủng hộ cuộc kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam trên các diễn đàn Quốc tế. Tôi có ý định tái bản cuốn “Một người chân chính” vì cuốn sách là một tác phẩm có giá trị văn học, có giá trị giáo dục thanh thiếu niên, ngay cả trong thời kỳ đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam. Người dịch Minh Đô (Phạm Dân). *** LỜI TÁC GIẢ Tôi chưa sang thăm nước Việt Nam. Nhưng tôi có cảm tưởng là mình đã từng sống ở đấy, đã quen biết cảnh thiên nhiên giàu đẹp của đất nước này, với những khu rừng nhiệt đới, những con sông hùng tráng và những thung lũng phì nhiêu, những người Việt Nam tuy tầm vóc không cao lắm, nhưng gần cảnh vật và những con người ấy, không ai có thể coi là bé nhỏ. Những năm trước đây, khi nhân dân Việt Nam đang tiến hành cuộc đấu tranh thần thánh và anh dũng chống bọn thực dân được trang bị đẩy đủ thì những người Xô viết chúng tôi đã theo dõi quá trình các trận chiến đấu anh dũng của các bạn với tấm lòng kính phục và thông cảm sâu sắc. Nhân dân chúng tôi biết rõ giá trị của lòng dũng cảm, tinh thần can đảm và lòng yêu mến tự do. Người anh hùng họ biết kính phục tinh thần anh dũng của những người anh hùng khác. Vì vậy người Việt Nam ở xa chúng tôi, đã trở thành người bạn gần gũi và thân thiết. Chúng tôi rất vui mừng trước mỗi thắng lợi chống thực dân của các bạn và đã gửi đến đất nước các bạn lời chào hòa bình. Ngày nay với tấm lòng kính phục anh em, chúng tôi rất yêu mến những người Việt Nam quang vinh đang nắm trong tay vận mệnh của mình để xây dựng một cuộc sống hạnh phúc. Tôi hy vọng Alếchxây Mêrétxép, nhân vật có thực trong cuốn sách của tôi, một người Xô viết bình thường sẽ được gặp những người bạn tốt trong hàng ngàn vạn người lao động của nước Việt Nam mới. Chính vì ở nước các bạn cũng biết rõ giá trị tinh thần anh dũng chân chính, nên Alếchxây Mêrétxép đã đến với các bạn như tình anh em. Mạc tư khoa (Mascơva) 2-1960 Bôris Pôlêvôi *** LỜI TỰ THUẬT CỦA TÁC GIẢ   Tôi sinh ngày 17 tháng 3 năm 1908 tại Mátxcơva, nhưng tôi lớn lên ở Tưve (bây giờ gọi là Calinin); cho nên tôi có thể có lý do để tự coi mình là một công dân Calinin. Cha tôi xưa là luật gia. Ông chết vì bệnh lao năm 1916. Tôi gần như không còn nhớ gì hết về ông, nhưng cứ phán đoán theo tủ sách rất tốt ông để lại, trong đó có đầy đủ các nhà văn cổ điển Nga và nước ngoài, và theo lời mẹ tôi nói lại, thì đối với thời ông, ông là một người có đầu óc tiến bộ và có học vấn cao rộng. Sau khi cha tôi mất, mẹ tôi vào làm việc ở một nhà thương xưởng máy, làm thầy thuốc, và mẹ con chúng tôi dọn đến ở trong một xưởng dệt lớn của bọn buôn bán Marôdốp. Tôi ở đấy suốt thời thơ ấu và thời niên thiếu của tôi. Chúng tôi ở trong chỗ gọi là “nhà nhân viên”, nhưng bạn học và bạn chơi của tôi là các con cái thợ thuyền, và vì mẹ tôi làm việc ở nhà thương nên công việc bận rộn bù đầu và chả mấy khi gần gũi con được, có những khi tôi cứ cả ngày ở trong các nhà ngủ công cộng của công nhân hay ở vùng ngoại ô quanh đấy. Tôi học hành không đến nỗi quá kém ở trường, nhưng cũng không hào hứng quá độ, và vào ngày giờ rảnh, tôi hoặc ra giữa dòng sông Tưmaca - một dòng nước hôi thối chảy ngang qua xưởng - và hoặc đắm chìm trong sách vở trong thư viện của cha. Tuy bận bịu, mẹ tôi cũng cố gắng hướng dẫn tôi đọc sách và khuyên nhủ tôi đọc sách của những tác giả mà mẹ tôi ưa thích nhất. Những cuốn sách đầu tiên tôi đọc là Gôgôn, Sêkhốp, Nêcưraxốp, Pimialốpski. Nhà văn tôi thích nhất là Goócki. Khi còn là sinh viên, cha mẹ tôi đều rất tôn sùng ông, và tủ sách của gia đình gồm hầu tất cả những sách của ông xuất bản trước cách mạng. Thời còn bé, tôi lại còn có một chiều hướng thích thú khác nữa, là yêu thiên nhiên. Học lớp tư, tôi đã là một “người lãnh đạo” nhóm các nhà sinh vật học trẻ tuổi và đã tham dự những cuộc gặp gỡ của thanh thiếu niên thành phố và của thanh thiếu niên Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Liên bang Xô viết Nga. Ở nhà tôi lúc nào cũng có chứa những khách lạ: một lần, có con ưng không biết tại sao lạc đến bay lới phới trong sân xưởng và đụng phải dây điện tín gẫy cánh; một lần khác, có con quạ con bị ngã từ trên ổ xuống được tôi cứu thoát khỏi móng mèo, có con nhím và có cả con rắn nước mà tôi dọn dẹp chỗ cho ở giữa hai khung cửa sổ, trong một đường rãnh nhỏ đã đào riêng cho nó. Trong thành phố bấy giờ có xuất bản một tờ báo địa phương: tờ Sự thật Tưve. Trong những năm hai mươi [1] có thành lập nên trong xưởng một mạng lưới quan trọng các thông tín viên công nhân. Tòa báo đặt trong căn nhà sắp xếp dụng cụ cứu hỏa. Và lũ bé con chúng tôi vô cùng kính phục nhìn những kẻ ra vào căn nhà gạch nhỏ ấy. Những thông tín viên công nhân mà! Những người viết bài trong báo mà! Chủ tịch của tổ chức đó, bác thợ nguội Gurianốp, là một trong những người được trọng vọng nhất nhà máy. Chắc hẳn là từ thuở xa xăm ấy đã chớm nở trong tôi cái chiều hướng thích thú đối với nghề viết báo, bấy giờ tôi đã coi như nghề hay nhất, quan trọng vô cùng, lại có cái khía cạnh đôi chút huyền bí. Tôi đang học lớp sáu khi báo Sự thật Tưve đăng bài báo nhỏ đầu tiên của tôi. Bài, theo như tôi còn nhớ được, có bảy dòng; nó kể chuyện một nhà thơ nông dân có tiếng tên là Đưrốtgin, đến thăm trường. Báo đăng bài đó cuối trang tư và tôi nhớ là đâu không có ký tên. Nhưng tôi thì tôi biết là ai viết bài đó, nên tôi không bao giờ rời số báo có đăng bài đó cho đến lúc nó rách tan từng mảnh trong túi tôi. Từ đó, tôi viết đều đặn trong báo Sự thật Tưve: bắt đầu là phản ánh mọi việc gì lôi thôi ở thành phố, rồi vào những đề nghiêm chỉnh hơn; cuối cùng, khi tòa soạn chú ý đến tôi, tôi được giao cho làm những phóng sự nho nhỏ về thời sự ở thành phố trong các xưởng, các nhà máy. Tôi tiếp tục học phổ thông, rồi tôi vào trường kỹ thuật công nghiệp; tôi chuyển ngành hóa học và cắm đầu vào phân tích chất lượng và số lượng. Nhưng tôi đã mơ màng tới những phòng tòa soạn phảng phất mùi mực in; trong những giờ nghe giảng, tôi viết trộm những bài báo hay những thiên phóng sự về những đề khá là xa với những đề mà giáo sư đang diễn đạt. Cứ như thế dần dần tôi đi đến làm cái nghề làm báo Xô viết, cái nghề mà tôi luôn vẫn coi như ngành văn chương nhiều hứng thú hơn tất cả các ngành khác. Báo Sự thật Tưve bấy giờ là một tờ báo rất là sinh động: Nhờ báo biết nắm lấy đúng lúc và “cho ra” cái gì có vẻ mới, hay và có giá trị trong công tác lao động xã hội chủ nghĩa ở xí nghiệp và ở thôn xóm. Làm việc báo chí, tôi quen quan sát cẩn thận, suy nghĩ về các sự việc, và chỉ viết về những vấn đề mà tôi biết thật đầy đủ. Tôi bỏ những tháng nghỉ ngơi của tôi để làm việc cho nhà báo, cố gắng lợi dụng thì giờ ấy để mà quan sát. Tấm gương huy hoàng của Goócki, mà tôi đọc tác phẩm từ bé, soi sáng đường đi cho tôi chẳng khác ngọn hải đăng. Tôi học được tinh thần quan sát là chính ở nơi ông. Một mùa hè nọ, tôi định sẽ cho tòa soạn một thiên phóng sự về những xí nghiệp làm nghề rừng và những xí nghiệp làm nghề thả bè trên sông trong vùng Tưve. Tôi đi tuốt đến quận Xêligiarốpski. Ở đó, tôi tới những xí nghiệp làm nghề rừng, tôi lên bè trôi sông và tôi làm việc ở đó, cầm tay lái, giữ tay chèo ở phía sau bè. Cứ thế là từ nguồn sông Vonga tôi xuống đến tận Calinin, rồi lại còn xuống thấp hơn thế nữa, đến tận Rưbinscơ, nơi đó kết thúc thật là mỹ mãn, lịch trình của tôi vừa lúc những bè cây cặp đúng bến. Trong khi rong ruổi như vậy, báo đăng loạt bài của tôi tựa là Trên những bè trôi sông. Tôi viết những bài đó ban đêm, gần ngọn lửa nhỏ đốt ở giữa nhà lều trên bè. Một mùa hè khác, tòa soạn báo Thôn xóm Tưve giao cho tôi làm một thiên phóng sự về tình hình chủ nghĩa xã hội thâm nhập đời sống các thôn xóm chưa tổ chức thành nông trang. Tôi đến làng Míchsina một nơi cùng tận trong tỉnh Tưve, làm nghề sắp xếp sách trong thư viện và viết một loạt bài báo về đời sống trong làng về những bước đầu tiên của lao động tập thể. Năm 1927, tập bài báo đầu tiên của tôi ra đời. Các bạn tôi trong tòa báo của thanh niên cộng sản Thế hệ trẻ không bảo gì tôi cả mà cứ gửi nó đến cho Mácxim Goócki ở Xorente. Khi hay biết được, tôi cuống cuồng cả lên. Bắt nhà đại văn hào phải mất công đọc các sáng tác chẳng ra gì mấy đó, mà tôi lại nhận thức được vô cùng rõ ràng là thật là còn non nớt, thì theo tôi thật là một việc xúc phạm. Cho nên tôi ngạc nhiên lạ lùng khi nhận được một cái gói to lùm lùm đề tên tôi, có dán tem nước ngoài, chữ viết to và cứng cáp lắm. Tự tay viết đến sáu trang giấy, Goócki nghiên cứu tỉ mỉ và rất đỗi khoan dung các tác phẩm tuổi trẻ đó của tôi. Ông khuyên tôi nên làm việc không ngừng, học tập các nhà văn cổ điển mà mài giũa văn như “anh thợ tiện mài giũa kim khí”. Bức thư ấy của nhà đại văn hào đối với tôi thật là bằng không biết bao nhiêu năm học tập. Tôi đã từng phen suy nghĩ về mỗi chữ ông viết, ra sức rút ra những kết luận đúng đắn và hữu ích. Goócki đã giúp tôi hiểu được rằng nghề làm báo và nghề viết văn là những nghề khó khăn, đòi hỏi phải học tập và lao động nhiều hơn bất cứ nghề nào khác. Tôi hiểu rằng không thể nào làm được những nghề ấy theo lối tài tử được, phải bỏ hết tâm lực vào, và chỉ có thế mới mong trở nên được một người lao động thực sự trong ngành báo chí bônsêvích. Thời ấy, tôi học xong trường kỹ thuật, vừa vào làm việc ở xưởng nhuộm, nơi in những thứ vải gọi là “vải Ấn độ”. Xưởng này là một bộ phận của nhà máy liên hợp Vô sản. Chẳng bao lâu, tôi đứng đầu một nhóm thông tín viên công nhân ở đó. Công việc của tôi ở xưởng và công tác xã hội của tôi ở nhà máy chẳng để cho tôi mấy thì giờ để làm cái việc tôi thích thú hơn cả, là làm báo. Mà sự ưa thích của tôi thì lại cứ ngày càng rõ. Cuối cùng, suy nghĩ chín chắn rồi, tôi thôi việc ở xưởng để vào làm biên tập viên tờ báo của thanh niên trong tỉnh, là tờ Thế hệ trẻ. Ở đó có một tập thể biên tập viên tốt, sau đó nhiều người đã trở nên những người làm báo có giá trị. Hoạt động thật là sôi nổi. Quỹ tờ báo nhỏ bé, rõ là không đủ cho sáu hay tám trang báo mà chúng tôi cứ hàng tuần cho ra hai kỳ. Cho nên phần chính công việc là phải do những nhà thông tín viên trẻ tuổi làm công không giúp cho. Tinh thần phát huy sáng kiến của báo đó đã khiến cho báo được từng phen khen ngợi trên những cột báo của Sự thật. Tôi đã làm việc ở tòa báo Thế hệ trẻ rồi, khi báo thôi, làm việc cho báo địa phương của Calinin là tờ Sự thật Vô sản, cứ thế không lúc nào ngừng mãi cho tới chiến tranh. Tôi viết những thiên phóng sự cùng những bài báo, và tôi phụ trách các mục kinh tế và văn hóa. Tôi được kết nạp Thanh niên năm 1930; năm 1940 tôi gia nhập Đảng Cộng sản, Nhờ trường học lớn của Đảng bônsêvích mà tôi trở nên được một nhà văn. Vừa tiếp tục cộng tác biên tập, tôi vừa viết truyện, nhưng, nghe đúng theo lời khuyên nhủ của Goócki, tôi chỉ cho đăng một phần nhỏ thôi trên báo hay trong tập niên lịch của vùng, là tập Ngày nay. Năm 1939, tập san Tháng Mười đăng cuốn tiểu thuyết đầu tiên của tôi: Xưởng nóng hổi. Tôi định cố tóm thâu trong cuốn sách đó toàn bộ kết quả của những điều tôi đã quan sát được về tình hình phát triển của phong trào thi đua xã hội chủ nghĩa trong những xí nghiệp ở Calinin và về hoàn cảnh trong đó phát sinh ra được những sáng kiến của những kẻ phát minh. Tôi đã tự mắt mình quan sát tất cả những cái đó và tôi đã viết phóng sự nhiều về việc này. Sách, sở dĩ thời ấy được đôi chút hoan nghênh, đó là nhờ trước hết ở sự vĩ đại của những sự việc mà sách viết ra, kể đến và của những con người đã là những vai chính của truyện. Tôi muốn được nhấn mạnh nhất là vào một điểm, là đề truyện và nhân vật trong truyện đều là từ trong đời sống mà lấy ra; những ai công tác từ lâu trong các xưởng chế tạo dụng cụ vận chuyển ở Calinin đều đã nhận ra ngay bạn mình trong đám nhân vật trong truyện, và, rốt cuộc, anh là vai nam chính trong truyện đã mời tôi dự lễ cưới chị là vai nữ chính. Hôm lễ, đã đùa khá nhiều về cái điều đó: chính là nhân vật trong tiểu thuyết bắt buộc phải làm cho xong hẳn công việc của tác giả, để cho tác phẩm được kết thúc có hậu, dầu không ly kỳ chi mấy. Công tác lâu năm trong báo chí đã khiến tôi viết được những cuốn tiểu thuyết đầu tiên của tôi, nhưng chính công tác của tôi trong tờ Sự thật, mà tôi là thông tín viên chiến tranh khi cuộc chiến tranh dân tộc vĩ đại bùng nổ, đã là bổ ích nhất cho sự nghiệp nhà văn của tôi. Có người đôi khi hỏi tôi: - Cố nhiên là anh làm báo thành ra bị trở ngại nhiều trong công tác viết văn của anh; cái đời nhà làm báo vốn rồn rập, cứ bắt là phải viết về những đề tài nhất định phải gửi bài đến những ngày giờ hẹn trước, chẳng kể tâm tình mình mỗi lúc thế nào, rồi lại kèm vào đấy nữa là phải viết đúng là bao nhiêu hàng chữ. Những câu hỏi loạt ấy không khiến tôi khó chịu, chỉ khiến tôi buồn cười, vì chính là công tác trong báo chí bônsêvích đã đưa tôi tới con đường văn chương. Làm báo giúp tôi biết rút ra cái chủ yếu, ghi cái gì là mới, là đã cộng sản rồi trong tâm tình của những người đương thời. Là thông tín viên chiến tranh của báo Sự thật, tôi lúc nào cũng ở những điểm quyết định của mặt trận mênh mông, nơi quyết định số mạng của Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của chúng ta. Tôi đã thu thập được ở đó một khối lượng tài liệu vô giá. Mọi người đã biết rằng những vai chính trong những cuốn sách của tôi: Một Người chân chính và Người Xô viết chúng ta, đều là những nhân vật có thật. Phần lớn tên thật ngoài đời thế nào, tên trong sách của tôi cũng là thế, đôi khi có thay đổi rất ít mà thôi. Ý đầu tiên của hai cuốn sách này là do ở tòa báo Sự thật mà ra. Sự việc xảy ra như thế này này. Tháng 2 năm 1942, có đăng một bài tựa là: Thành tích của Mátvây Cuzơmin. Bài ấy, tôi đã viết vội vã, sau khi đưa ma vị anh hùng ấy. Đó là chuyện một nông dân tập thể, đã bát tuần, thuộc nông trang tập thể Bình minh, trồng gai, cụ nông dân này đã lập lại cử chỉ anh hùng của Ivan Xuxanin. Bài viết vội và không có giá trị chi mấy. Lần đầu tôi ở mặt trận về, anh chủ bút báo Sự thật gọi tôi đến và trách tôi viết về một thành tích đáng kính phục như vậy một cách quá ư vội vã, y như một phóng viên nhà báo. - Thật tiếc là lẽ ra có thể kể câu chuyện này một cách khác hẳn, - anh trách tôi như vậy. Rồi, với thói quen của anh là hay tổng quát, anh nói thêm: - Tôi đã bảo tất cả các anh thông tín viên chiến tranh, và tôi xin hết điều căn dặn anh: Cứ ghi cho đầy đủ chi tiết những công trạng của những người Xô viết mà các anh có cái may mắn được chứng kiến. Đó là bổn phận công dân của các anh, và, hơn thế nữa, đó là bổn phận đảng viên Đảng Cộng sản của các anh. Nghĩ coi: trong cuộc chiến tranh này, nhân dân Liên Xô đã vượt qua về dũng cảm tất cả các vị anh hùng của tất cả các thời đại xưa cũ. Và để cho không quên chi hết về những thành tích hiển hách ấy, để cho mọi người Xô viết biết rõ đồng bào mình đã đánh phát xít như thế nào, đã thắng nó như thế nào, thì phải ghi tất cả, tất cả. Tôi liền mang theo một tập vở to, đóng bìa cứng, và tôi bắt đầu ghi vào đó thật là rành mạch địa chỉ các vị anh hùng hay những người đã chứng kiến những sự việc quan trọng, nhất là những tấm gương anh dũng mà tôi biết được. Là thông tín viên chiến tranh, tôi bay nhảy từ góc mặt trận này đến một góc mặt trận khác, khi thì tôi tới cùng quân du kích, khi thì tôi vào rừng, nơi các biệt đội nhảy dù chuẩn bị đánh chớp nhoáng phía sau lưng địch, rồi tôi lại trở về chiến tuyến ở Stalingơrát, về tuyến lồi Cuốcscơ ở Goócxun Sépchengơrat, tới sông Visla, tới sông Naixơ, tới sông Spưtê, và đâu đâu tôi cũng đã được chứng kiến cái bản lĩnh anh hùng của người Xô viết, đã làm phai mờ cả những thành tích hiển hách của các bậc anh hùng xưa: Ivan Xuxanin, Mácpha, Côgina, Côsơca người thủy thủ Xêbastôpôn, và biết bao nhiêu người nữa mà lịch sử ta, văn chương ta còn nhớ tên, nhớ tuổi. Suốt thời chiến tranh như thế là tôi đã ghi chép được sự việc về sáu mươi nhăm câu chuyện thuộc loại ấy. Một trong những câu chuyện ấy kể lại buổi gặp gỡ kỳ lạ với trung úy Vệ quốc Marétxép, phi công ở một phi trường lâm chiến, gần Oren, thời tấn công đánh lấy thành phố ấy. Đó là đề tài cuốn Một Người chân chính. Tôi đã rút ra từ những điều tôi đã ghi chép được hai mươi bốn câu chuyện tôi cho là quan trọng hơn cả, điển hình hơn cả, bộc lộ rõ hơn cả tinh thần của con người Xô viết. Và tôi đã viết thành những bài truyện ngắn, tập hợp lại trong một cuốn sách lấy tựa là Người Xô viết chúng ta. Giờ đây, xong chiến tranh rồi, tôi cứ tiếp tục làm việc theo đúng phương châm ấy, là kể những cái mà tôi đã chứng kiến. Trong truyện lấy tên là Trở về, tôi đã cố gắng trình bày bằng một hình thức nghệ thuật một mẫu đời của một anh thợ đúc nổi tiếng ở Mátxcơva. Đề tài của cuốn tiếu thuyết Vàng cũng là lấy ra từ trong đời sống thực sự: nó kết liễu vào lúc tấn công trên mặt trận Calinin, đầu năm 1942. Cái quan tâm đến sự xác thực đó, không phải là một cái gì riêng cho một mình tôi chút nào. Đời sống của chúng ta, trong chế độ xã hội chủ nghĩa, cứ ngày một đổi thay hoài; nó tiến lên, nó cung cấp cứ mỗi ngày, mỗi giờ, cho nhà văn những đề vừa giản dị vừa say mê, lấy ở kinh nghiệm hàng ngày thấy có. Người Xô viết, được lý tưởng của chủ nghĩa cộng sản dìu dắt, đạt đến đỉnh cao của sự vĩ đại trong lao động cũng như trong chiến đấu. Những công lao cao cả làm nên vì Tổ quốc, ta cố suy diễn đặt để nó ra thì thật là rất khó, ngay đối với một nghệ sĩ có trí tưởng tượng mãnh liệt nhất. Nhưng đời sống Xô viết chúng ta thì cung cấp cho nhà văn biết bao nhiêu tâm tình thật vô cùng là phong phú. Công tác làm báo luôn luôn đưa chúng tôi tiếp xúc với những người đáng lưu ý nhất của thời buổi này, và cho phép chúng tôi được thấy những người ấy trong lao động và trong đấu tranh. Nghề làm báo khiến cho mắt chúng tôi sắc hơn, tai chúng tôi thính hơn. Riêng về bản thân tôi, thì những sự việc mà đời sống hiến dâng cho, thay thế vào chỗ trí tưởng tượng văn chương của tôi bị thiếu sót. Những nhân vật mà tôi phác họa ra, mà đời sống vượt tràn ra khỏi những trang sách của tôi, hoàn thành cái gì còn chưa hoàn chỉnh trong sách tôi: chúng tôi đã cùng nhau gặp gỡ nhau lại với anh Marétxép ở Vácxava, không phải với danh nghĩa nhân vật và tác giả tiểu thuyết, mà lần này với danh nghĩa cùng là đại biểu Liên Xô tại Đại hội thế giới lần thứ hai của các Chiến sĩ Hòa bình. Malích Gápđulin, nhân vật truyện Một anh hùng ca ra đời hiện lãnh đạo Viện Văn học trong Viện Hàn lâm khoa học nước Cadắc và chị nông dân ở Pôntava, chị Uliana Bialôgơrút, người đã cứu được lá cờ của một trung đoàn chiến xa, trong truyện Lá cờ của trung đoàn của tôi, thì sau chiến tranh đã được tặng thưởng huân chương về kết quả chị đã thu được trong vụ mùa củ cải. Được chứng kiến hạnh phúc của những con người ấy, hoạt động say mê của những con người ấy, lao động sáng tác của những con người ấy, lòng ta thật là vui sướng không cùng không tận. Làm nhà văn ở xứ sở của chủ nghĩa xã hội, là được hướng một hạnh phúc lớn lao không bờ bến. Bôris Pôlêvôi Mátxcơva Tháng 11 năm 1950   Mời các bạn đón đọc Một Người Chân Chính của tác giả  Boris Polevoy.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Chuyện Chàng Nàng - Marc Levy
Một lần nữa, ông vua của tiểu thuyết lãng mạn đương đại Pháp “bỏ bùa” độc giả bằng một câu chuyện tình giản dị mà đầy hóm hỉnh. Chuyện chàng nàng (tựa tiếng Pháp: Elle et lui) là cuốn tiểu thuyết mới nhất của Marc Levy, ra mắt vào giữa năm 2015 tại Pháp. Tác phẩm là câu chuyện tình đầy bất ngờ và bình dị của một nữ diễn viên người Anh và một nhà văn Mỹ. Hai con người cô đơn tìm đến Paris như một cách lẩn trốn. Không ngờ, thủ đô ánh sáng lại ban cho họ một tình yêu ngọt ngào.   Mia là một nữ diễn viên nổi đình nổi đám ở Anh. Cô bất ngờ phát hiện chồng mình là David đang phản bội. Nhưng trớ trêu thay, lúc này Mia và David đang đóng vai chính trong bộ phim sắp công chiếu. Nếu mọi chuyện bại lộ, sự nghiệp của Mia sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Quá mệt mỏi khi phải đóng vai một người vợ hạnh phúc trước công chúng, Mia quyết định đến Pháp sống cùng cô bạn thân Daisy để chạy trốn nỗi cô đơn đang dày vò trái tim cô. Còn chuyện tình cảm của Paul, anh chàng nhà văn có chút tiếng tăm người Mỹ cũng chẳng có gì khá khẩm. Sau những thất bại tình trường trong quá khứ anh đang có tình cảm với một nữ dịch giả người Hàn Quốc. Nhưng khoảng cách nửa vòng Trái đát làm Paul cảm thấy cô đơn. Người đàn ông Mỹ hóm hỉnh trải qua từng ngày trầm mặc ở Paris như để gặm nhấm nỗi cô đơn.   Do sự sắp xếp của vợ chồng đôi bạn thân của Paul mà anh và Mia gặp nhau trên một trang website kết bạn. Ban đầu, cặp đôi nhân vật chính chỉ định gặp gỡ, tán gẫu cùng nhau như những người bạn bình thường. Nhưng duyên phận luôn ẩn chứa những bất ngờ.   Paul và Mia tìm thấy một sức hút khó cưỡng ở đối phương. Dù lý trí đã nhiều lần phủ nhận tình yêu đó, nhưng con tim họ vẫn rung động. Cả hai vẫn yêu dẫu chưa hiểu rõ về nhau. Tình yêu mới dần chữa lành những vết thương lòng trong quá khứ của hai con người tội nghiệp.   Sẽ có một điều bất ngờ nho nhỏ dành cho những độc giả thân thiết của Marc Levy. Họ sẽ gặp lại Arthur và Lauren - cặp đôi nhân vật chính của tiểu thuyết Nếu em không phải một giấc mơ ở... tương lai.   Họ chính là người “chơi xỏ” anh chàng Paul hóm hỉnh bằng cách đưa thông tin của Paul lên website kết bạn. Nói một cách hài hước thì vợ chồng Arthur chính là ông tơ - bà nguyệt đưa Paul đến với Mia. Chuyện tình như định mệnh của cặp đôi Arthur và Lauren cũng được Marc Levy nhấn nhá một cách khéo léo trong Chuyện chàng nàng, như một phần bè phối hòa âm cùng chuyện tình của Paul và Mia.   Bằng ngôn ngữ giản dị, hóm hỉnh Marc Levy đã mang đến cho độc giả yêu thích dòng tiểu thuyết lãng mạn một câu chuyện tình duyên dáng và lung linh. Với lối kể đa chiều giàu chất điện ảnh, tác giả mang đến cho chúng ta một cuốn tiểu thuyết nhẹ nhàng, giàu cảm xúc mang hơi hướng của những bộ phim lãng mạn và hài hước đậm chất Hollywood như Letter to Juliet hay 27 lần cưới…   Chuyện chàng nàng là cuốn tiểu thuyết thứ mười lăm trong sự nghiệp của Marc Levy. Ông đã khéo léo lồng ghép những một phần cuộc đời mình vào nhân vật chàng kiến trúc sư Paul. Đọc tác phẩm, độc giả có dịp trải nghiệm hình ảnh một Paris cổ kính, duyên dáng và kiêu kỳ xuất hiện một cách tinh tế qua từng con chữ của nhà văn tài năng người Pháp. Để khi gấp sách lại ta như muốn chạy ngay đến phố Montmartre của Paris. Mời các bạn đón đọc Chuyện Chàng Nàng của tác giả Marc Levy.
Tên Tôi Là Đỏ - Orhan Pamuk
AudioBook Tên Tôi Là Đỏ   Cuốn sách là một hỗn hợp sắc bén giữa truyện vụ án, ngụ ngôn hậu hiện đại, tiểu thuyết lãng mạn lịch sử, và đặc biệt là ấn tượng về vẻ đẹp vĩnh hằng, huyền bí của Istanbul. Tên tôi là Đỏ có thể lay động gì tới đông đảo độc giả Việt Nam? Một câu trả lời thật khó mà cặn kẽ. Bởi bản thân cuốn tiểu thuyết này đã chứa đựng những thách thức. Không phải bề dày đồ sộ của gần 600 trang sách khổ lớn. Cũng không phải một câu chuyện vụ án ly kỳ có tới 3 án mạng bi thảm xảy ra. Các chương sách sẽ lôi tuột độc giả hướng về Istanbul của bốn trăm năm về trước, để lắng nghe lời thì thầm sâu thẳm của đô thành này, để thấu hiểu những mâu thuẫn trong quá khứ và hiện tại của Istanbul, cùng vẻ đẹp vĩnh hằng của nó. Tùy theo hành trình khám phá của độc giả, có nhiều câu chuyện đan xen trong cuốn sách đa tầng ý nghĩa này. Nhưng ấn tượng nhất là Istanbul, với đủ góc độ từ kinh thành tráng lệ cho tới những con phố nhỏ tối tăm. Đô thành ấy chứa đựng một bề dày văn hóa mà tiêu biểu là những cuốn sách của các nhà tiểu họa đạo Hồi, những người nhìn cuộc sống từ trên đỉnh cao của Thượng đế, dày công lặp lại hình thái nghệ thuật truyền thống, với họ, "cái Đẹp của thế giới thuộc về Allah". Một trong những chương sách gây sức hút nhất trong cuốn tiểu thuyết là chương 51. Trong đêm khuya thanh vắng, giữa một đêm mùa đông buốt giá, nhà tiểu họa già Osman đắm mình trong Quốc khố, lật giở những trang sách mình mơ ước suốt mấy chục năm qua. Một họa sĩ bậc thày với những ngón tay già nua bị tê cóng vì lạnh đang hào hứng bước vào thế giới của những xúc cảm tinh tế và đẹp đẽ của hàng nghìn trang sách quý. Ông không hay biết rằng say mê của mình đang đánh thức cả một bề dày quá khứ nhỏm dậy, và trong khoảnh khắc vui sướng tột độ ấy, Osman đã lấy cây kim từng đâm chọc mắt một nhà tiểu họa bậc thày để ấn vào mắt mình, với thái độ can đảm, bình tĩnh và kiên quyết. Các nhà tiểu họa Hồi giáo bao giờ cũng ẩn giấu trong mình khao khát được mù, sau nhiều năm cống hiến. Điểm nổi bật trong Tên tôi là Đỏ là sự đa thanh của các giọng điệu. 59 chương sách không có chương nào để lẫn hai giọng điệu đan xen. Mỗi người có một tiếng nói riêng. Cả con chó, cả xác chết, cả màu sắc… đều cất lên thứ ngôn ngữ riêng của mình. Đan cài trong những vụ án mạng, những giọng điệu xếp hàng thẳng dẫn dụ độc giả trôi vào một thế giới đầy màu sắc. Những tiếng nói không bị hạn chế tầm nhìn đã va đập dội vào nhau, là chất liệu làm nên một bầu không khí tin cậy về độ trung thực song lại mới mẻ đáng kinh ngạc với một cuốn tiểu thuyết lịch sử. Một điều sung sướng khác: câu hỏi lớn dành cho Orhan Pamuk, vì sao giải Nobel Văn học cao quý lại đến với đất nước Thổ Nhĩ Kỳ nhỏ bé sẽ được chính độc giả giải mã trong cuốn sách dày dặn này. Không phải sự đầu tư vô cùng lớn lao của Pamuk với chi tiết của hàng nghìn bức tiểu họa được dày công nghiên cứu. Cũng không hẳn là một cái nhìn giằng co căng thẳng giữa Đông và Tây luôn hiện diện trong các sáng tác của ông. Vượt lên trên đó là bản sắc văn hóa của Thổ Nhĩ Kỳ, là tình yêu của nhà văn đối với một thành phố đầy thăng trầm và biến động. Chính điều đó làm nên sức lay động trong cái nhìn sâu thẳm về lịch sử Thổ Nhĩ Kỳ, trên hành trình truy tìm linh hồn đau khổ của thành phố quê hương của Pamuk. Có thể nói, chính Istanbul cùng số phận của mình đã tạo nên Pamuk, một trong những tiếng nói mới mẻ và độc đáo nhất trong văn chương đương đại. Tên tôi là Đỏ được lấy từ một chương sách là một cảm hứng bất tận trong cuốn tiểu thuyết này. Như đã nói, tác phẩm là một thách thức đối với độc giả, không phải vì câu chuyện vụ án chỉ được giải mã ở phần kết, mà người đọc sẽ cảm nhận và ngấm dần một nền văn hóa vốn đang bị lãng quên, nơi giao thoa giữa châu Âu và châu Á. Trên hành trình khám phá ấy, điều bất ngờ đó là một cái nhìn gần gũi và thân thuộc như trong bất kỳ xã hội nào: những mối tình tuyệt đẹp, những đè nén tâm lý, những khát khao đầy bản năng… mà điểm khác biệt chính là cách giải quyết vấn đề ấy, với những lý giải của văn hóa và tôn giáo của đô thành Istanbul thế kỷ 16. Tác phẩm là một cột mốc văn học với giải thưởng Nobel 2006, là kiệt tác xứng đáng để giới thiệu tên tuổi của Pamuk đến với thế giới, trong đó có độc giả Việt Nam. Mời các bạn đón đọc Tên Tôi Là Đỏ của tác giả Orhan Pamuk.
Âm Thanh Và Cuồng Nộ - William Faulkner
Âm thanh và cuồng nộ là cuốn tiểu thuyết thứ 4 của William Faulkner, được ấn hành lần đầu tiên vào ngày 07.10.1929, là tác phẩm đã đưa ông đến đỉnh cao của sự thành công, được đông đảo công chúng biết đến. Nhan đề Âm thanh và cuồng nộ được trích từ một câu thơ của William Shakepeare trong vở bi kịch Macbeth, cảnh 5, hồi 5, đó là một định nghĩa về cuộc đời “ It is tale told  by an idiot, full of sound and fury, signifying nothing”. Trong tiểu thuyết Âm thanh và cuồng nộ, William Faulkner đã sử dụng lối kết cấu của tiểu thuyết dòng ý thức để diễn tả nội dung tác phẩm. Tuy nhiên điều mà người đọc nhận thấy ở tác phẩm này đó là sự chống đối lại kết cấu truyền thống của tiểu thuyết dòng ý thức. Các sự kiện trong tác phẩm này không đi theo một trình tự nhất định, cốt truyện đơn giản song lại bị bẻ vụn ra, xáo tung lên, lắp ghép một cách hỗn loạn. Thêm vào đó, W.Faulker còn cố tình đánh lạc hướng người đọc bằng cách lặp đi lặp lại tên gọi của các nhân vật trong truyện: ông  Jason Compson là chồng của bà Caroline Bascomb,  bà lại có ông em là Maury Bascomb. Hai vợ chồng nhà Compson có cô con gái là Caroline (Hay Caddy) và ba cậu con trai là Quentin, Jason và Maury (sau này đổi tên là Benjamin hay Benjy). Caddy lấy chồng, sinh ra đứa con gái, lại lấy tên là Quentin để tưởng nhớ người anh xấu số của mình. Như vậy trong câu chuyện xuất hiện hai cặp nhân vật có tên là Jason và Quentin. Âm thanh và cuồng nộ là tiểu thuyết Gothic của thời hiện đại, mang đậm hơi thở của Hoa Kì trong nỗi đau của buổi giao thời. Nó thể hiện những đóng góp của Faulkner trong việc đổi mới và cách tân tiểu thuyết Gothic. Đó là sự kết hợp  một cách nhuần nhuyễn  các yếu tố của tiểu thuyết trinh thám và tiểu thuyết lịch sử tạo cho câu chuyện thành công ở nhiều phương diện, không những đóng góp cách tân đối với văn chương, nghệ thuật mà còn ở phương diện lịch sử và tư tưởng. Mời các bạn đón đọc Âm Thanh Và Cuồng Nộ của tác giả William Faulkner.
Cao Lương Đỏ - Mạc Ngôn
AudioBook Cao Lương Đỏ   Đây là tuyển tập một số truyện ngắn, truyện dài đặc sắc của văn học đương đại Trung Quốc. Trong đó, tác phẩm Cao lương đỏ - truyện vừa của Mạc Ngôn là tiêu biểu nhất. Tác phẩm từng được giải thưởng văn học Mao Thuẫn, và được đạo diễn Trương Nghệ Mưu dựng thành phim. Bộ phim cũng làm vinh danh cho nền điện ảnh Trung Quốc khi đoạt được hai giải thưởng phim quốc tế.  *** Nhân vật chính của câu chuyện là Từ Chiếm Ngao - một anh hùng dân tộc xuất thân từ một thổ phỉ trong thời kỳ Nhật xâm lược Trung Quốc. Mối tình kỳ lạ giữa Từ Chiếm Ngao và Cửu Nhi có một sức quyến rũ khó tả đối với độc giả. Họ đã gặp nhau trong một hoàn cảnh đặc biệt: Từ Chiếm Ngao là môt trong những phu kiệu đưa Cửu Nhi về nhà chồng, nàng bị gả ép cho con trai một gia đình giàu có nhưng mắc bệnh hủi. Bất ngờ đoàn phu kiệu bị bọn cướp chặn đường trấn lột và có ý định bắt cóc cô dâu. Từ Chiếm Ngao đã dũng cảm chống lại bọn cướp có vũ khí. Tình cảm của hai người nảy nở sau biến cố bất ngờ đó. Từ Chiếm Ngao đã bí mật giết chết cả bố chồng và người chồng bị hủi của Cửu Nhi, giải thoát cho nàng khỏi số kiếp bất hạnh. Họ trở thành một cặp đôi bí mật. Cửu Nhi cũng trở thành một nữ anh hùng, cùng Từ Chiếm Ngao tập hợp nghĩa quân chống lại giặc xâm luợc quê hương và bà đón nhận một cái chết thật nhẹ nhàng, thanh thản… Các nhân vật trong Cao lương đỏ cá tính, khí phách, sống ngang tàng và cũng đầy niềm lạc quan như những ngọn cao lương thẳng tắp vút lên trên bầu trời của Cao Mật - một nét điển hình của người dân vùng Cao Mật mà chúng ta sẽ gặp lại trong rất nhiều tác phẩm của Mạc Ngôn, ông đã lấy những hình mẫu chính từ mảnh đất mà ông được sinh ra và lớn lên để nhào nặn thành các tác phẩm bất hủ. *** Cao lương đỏ như một bản nhạc tuyệt vời ngợi ca tình yêu, sự tự do phóng khoáng của con người. Tác phẩm được kể bằng cái nhìn chủ quan của nhà văn, vừa khốc liệt, lại vừa bay bổng, cuốn hút độc giả hết trang này qua trang khác - một kiểu kể chuyện rất điển hình của Mạc Ngôn đó là sự hòa trộn giữa hiện thực và yếu tố kỳ ảo, phi thường. Ngay cả cái chết trong câu chuyện cũng thật lạ kỳ, thật phi thường, nhẹ bỗng. Cao lương đỏ là một tác phẩm lạ và rất đáng để độc giả thưởng thức.   Ngoài ra trong tuyển tập này, chúng ta còn được tiếp cận với các truyện ngắn của các cây bút nổi tiếng Trung Quốc như Vương Mông, Lão Khai, những câu chuyện mang những triết lý nhân văn sâu sắc, đồng thời rất gần gũi với chúng ta. Có thể nói, cuốn sách mỏng này sẽ đem lại cho độc giả những cảm xúc mới lạ.  Mời các bạn đón đọc Cao Lương Đỏ của tác giả Mạc Ngôn.