Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Thành Phố Và Lũ Chó

Lũ chó trong Thành phố và lũ chó là danh xưng mà học viên các lớp trên của Trường Quân sự Leoncio Prado “tặng” cho các học viên lớp mới vừa chân ướt chân ráo bước vào trường năm đầu. Và đám lính tò te ấy, lũ “chó con”, ngơ ngác, sợ sệt, “chửa biết gì”, rất nhanh chóng được nếm mùi vị thật của Trường Quân sự, mùi bạo hành, thứ bạo hành mà khi chúng lớn hơn, bản thân trở thành học viên lớp lớn, chính chúng sẽ đem áp dụng với đám “chó con” nhỏ tuổi hơn. Những năm niêu thiếu quan trọng nhất của “lũ chó” đã trôi qua trong môi trường nghiệt ngã của ngôi trường quân sự, một nhà tù để chúng trưởng thành về mọi mặt, cả mặt sáng và mặt tối. Tình yêu, tình dục, tình bằng hữu, ý thức về trung thực, trách nhiệm và phẩm giá, tất cả rồi sẽ nảy nở và hình thành trong cái lò lửa đó, theo cách giống như tất cả chúng ta song cũng theo một cách riêng, rất riêng của lũ “chó con” trường quân sự dưới ngòi bút duyên dáng, sinh động, sục sôi khí lực của một trong những nhà văn hàng đầu Mỹ latinh.   Khi Thành phố và lũ chó được ấn hành lần đầu tiên ở Peru vào năm 1962, tác phẩm đã  gây xì căng đan đến độ có một ngàn bản sách đã bị đốt trong một buổi lễ chính thức diễn ra tại Trường quân sự Leoncio Prado. Cũng năm đó, cuốn sách được trao giải Biblioteca Breve, một giải thưởng tặng cho tác phẩm hư cấu hay nhất bằng tiếng Tây Ban Nha.     ***********     Nhận định   “Cuốn tiểu thuyết đầy bạo lực nhất của Mario Vargas Llosa” - Lời bình của ấn bản tiếng Tây Ban Nha, NXB Alfaguara *** LỜI GIỚI THIỆU Năm 1962, khi còn là bản thảo, Thành phố và lũ chó[1] đã được nhận Giải thưởng Thư viện Ngắn gọn của Nhà xuất bản Seix Barral, cho đến hiện nay vẫn là một trong những nhà xuất bản danh tiếng nhất Tây Ban Nha và Mỹ Latinh. Ngay khi vừa được xuất bản, năm 1963, cuốn tiểu thuyết đã được trao giải thưởng của Giới phê bình Tây Ban Nha và gây nên chấn động chưa từng thấy trong dư luận xã hội và trong giới học giả, nhanh chóng được dịch ra ba mươi thứ tiếng và ngày nay được đánh giá là tác phẩm kinh điển trong nền văn học không chỉ của đất nước Perú mà còn của Mỹ Latinh nói chung. Trong nền văn học bằng tiếng Tây Ban Nha ở Mỹ Latinh, nhà văn nổi tiếng người Guatemala, Miguel Angel Asturias, giải thưởng Nobel Văn chương năm 1967, và nhà văn người Cuba, Alejo Carpentier, được coi là những người khởi đầu và đặt nền móng lý luận cho chủ nghĩa hiện thực huyền ảo (realismo mágico hoặc realismo maravilloso), một khám phá độc đáo của văn học Mỹ Latinh hiện đại[2]. Còn nhà văn Perú Mario Vargas Llosa lại là một trong những người đi tiên phong, đóng góp to lớn vào sự nghiệp cách tân thi pháp tiểu thuyết, mà vấn đề cốt lõi là sử dụng thời gian đa tuyến, một kỹ thuật hết sức mới mẻ thời bấy giờ, đồng thời cũng sáng tạo ra những kỹ thuật kể chuyện có hiệu quả để nắm bắt và phản ánh hiện thực như mê cung của đất nước ông. Trong Thành phố và lũ chó, thời gian đa tuyến được tác giả sử dụng thông qua kỹ thuật tự sự đa chủ thể: thời gian “trong cốt truyện” thông qua chuyện kể của ngôi thứ ba (người kể chuyện) theo diễn biến từ đầu đến cuối - từ khi học viên Cava bị Nhóm bạn giao cho việc ăn cắp đề kiểm tra môn hóa, vô tình làm vỡ cửa kính, nhà trường phạt các học viên gác đêm hôm đó không được đi chơi ngoài trường vào thứ Bảy và Chủ nhật; quá bức xúc, học viên Arana (Nô Lệ) liền tố giác khiến Cava bị đuổi học, rồi bản thân Nô Lệ sau đó bị bắn chết trong cuộc diễn tập quân sự… Bên cạnh đó là thời gian “ngoài cốt truyện”, diễn ra qua lời kể của các nhân vật chính: Trăn, Alberto (tức Nhà Thơ), Báo Đen gồm những hồi ức về gia đình, bản thân (ngược chiều với thời gian cốt truyện, kể về những sự việc đã qua, một thứ flashback), thời gian tâm lý gồm tình yêu chớm nở, tình cảm với con chó cái… Toàn bộ cuốn tiểu thuyết được chia làm hai phần và phần vĩ thanh, mỗi phần có tám chương, mỗi chương thường có bốn hoặc năm phân đoạn, hai chương có đến mười phân đoạn. Một phần ba cuốn tiểu thuyết (ba mươi sáu trong số tám mươi mốt phân đoạn) được kể ở ngôi thứ nhất dưới dạng độc thoại nội tâm của ba nhân vật chính với thời gian và không gian bị đảo lộn, xáo trộn, khiến cốt truyện dù đơn giản cũng trở nên ly kỳ, hấp dẫn. Các đoạn độc thoại này không được nói rõ của nhân vật nào, độc giả phải tự luận ra, hơn nữa chúng lại kết hợp rất khéo léo, khi thì trực tiếp khi thì gián tiếp với ngôi thứ ba, kỹ thuật kể chuyện này được M. Vargas Llosa tự gọi là “phương pháp bình thông nhau”, ví dụ trong đoạn độc thoại sau đây của Alberto: “Mình có thể sẽ đi mà nói với bố, bố ơi cho con hơi mươi đồng sol đi và ngay bây giờ mình đã thấy rõ, hai mắt bố sẽ đẫm lệ và bố sẽ cho mình bốn mươi hoặc năm mươi đồng, nhưng việc đó sẽ chẳng khác gì nói với bố, con tha thứ cho những việc bố đã làm với mẹ và bố vẫn có thể cứ làm ba cái trò đĩ thoã của mình đi với điều kiện là phải tiếp tục cho con tiền thưởng hậu hậu vào.” Dưới chiếc khăn quàng bằng len của mẹ cho từ mấy tháng trước, đôi môi của Alberto cử động liên tục mà không hề phát ra âm thanh nào… Cấu trúc phức tạp này đòi hỏi nhà văn phải vững tay nghề và, cùng với một cốt truyện ly kỳ, cấu trúc này đã giữ được mạch hồi hộp thích thú cho độc giả và buộc họ phải tham gia tích cực vào diễn biến của câu chuyện, phải chăm chú theo dõi, tự sắp xếp lại không gian và thời gian của các lời kể thì mới có thể nắm chắc được nội dung. Yếu tố kỹ thuật kể chuyện này hoàn toàn mới lạ trong nền tiểu thuyết Mỹ Latinh thời kỳ đó, và trở thành yếu tố kỹ thuật cơ bản của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo Mỹ Latinh. Và chính Mario Vargas Llosa là một trong những người đầu tiên vận dụng nhuần nhuyễn ngay từ cuốn tiểu thuyết đầu tiên của mình. Ngoài ra, khả năng sử dụng ngôn ngữ đời thường, kể cả những từ lóng, thậm chí thô tục của lứa tuổi mới lớn; nghệ thuật xây dựng tính cách nhân vật; sự kết hợp hài hòa giữa những trang miêu tả các sự kiện đầy bạo lực với những trang hết sức trữ tình về tình yêu của những thanh niên mới lớn, tình yêu thuở học trò, những trang miêu tả sương mù bảng lảng đầy chất thơ và chất u ám tăm tối ở khu vực La Perla nơi trường quân sự được xây dựng và ẩn hiện thường xuyên chất hài hước chế giễu sâu cay; tất cả làm nên giá trị nghệ thuật độc đáo và hết sức mới mẻ của tác phẩm này. Nét mới mẻ và độc đáo còn ở ngay nội dung tác phẩm. Thành phố và lũ chó là bản cáo trạng lên án nền giáo dục quân phiệt, quan điểm phân biệt chủng tộc, đẳng cấp xã hội, triết lý kẻ mạnh áp chế kẻ yếu còn ngự trị trong xã hội và trong trường quân sự. Là di sản của chế độ thực dân-phong kiến của Tây Ban Nha, chế độ gia trưởng, vai trò các trưởng lão, các thủ lĩnh (Caudillo) còn tồn tại lâu dài trước sự phát triển mạnh mẽ của chủ nghĩa tư bản. Các thế lực quân sự, nhằm đào tạo ra một thế hệ quân nhân mù quáng tôn thờ chế độ gia trưởng, chế độ độc tài quân sự, đã lập ra hệ thống trường quân sự nơi nền giáo dục dựa trên chính bạo lực và dối trá, nơi triết lý kẻ mạnh ngự trị trên hết. Bằng chính trải nghiệm của bản thân, Vargas Llosa đã đề cập đến một đề tài hết sức mới mẻ: nền giáo dục quân phiệt đầy bạo lực. Và Trường Quân sự Leoncio Prado cũng chính là xã hội Perú thu nhỏ với mọi tệ nạn xã hội, đầy rẫy tệ phân biệt chủng tộc, phân biệt đẳng cấp xã hội, nguồn gốc văn hóa. Lên án nền giáo dục bạo lực đối với thế hệ thanh niên mới lớn trong trường quân sự, Thành phố và lũ chó cũng mang tính dự báo và kết án chế độ độc tài quân sự đã hình thành ở một số nước và sau đó, suốt thập niên 60 và 70 của thế kỷ trước, đã thống trị một cách tàn bạo ở hầu hết các nước Mỹ Latinh. Đây cũng là một đề tài được nhiều nhà văn nổi tiếng, từ M Angel Asturias, Alejo Carpentier, Augusto Roa Bastos, Ernesto Sabato… đến G. García Márquez đều đã viết và đạt thành tựu quan trọng. Nhưng nếu các nhà văn khác viết về các nhà độc tài, các trưởng lão, thì Vargas Llosa khai thác đề tài nền giáo dục, đào tạo ra bọn độc tài. Thành phố và lũ chó còn hấp dẫn bởi vì lần đầu tiên văn chương đề cập đến đời sống tinh thần và vật chất của lứa tuổi mới lớn trong trường quân sự, tình bạn, tình yêu. Họ là nạn nhân của một xã hội thối nát, của lối giáo dục tàn bạo, nên sống buông thả, bài bạc, đĩ điếm, ăn trộm, vô kỷ luật, tàn nhẫn với nhau, theo đuổi lối sống tình dục bản năng của tuổi chưa trưởng thành (tình dục đồng giới, tình dục với thú vật như gà mái, chó cái), thậm chí còn gây tội ác. Vargas Llosa mạnh dạn bóc trần những tệ nạn đó, lên án và chế giễu chua cay những kẻ đại diện cho chế độ xã hội dựa trên bạo lực và giả dối. Lập trường chống chế độ quân phiệt, chống giai cấp tư sản, chống tư tưởng ỷ thế kẻ mạnh, chống bạo lực tàn bạo của Vargas Llosa trong tác phẩm này đã làm cháy lên tinh thần phản kháng và thức tỉnh ý thức phải đổi mới trong xã hội Perú, như García Márquez từng nói:”… đảo ngược hẳn lại thực tế.” Mới mẻ, đặc sắc từ đề tài, quan điểm tiếp cận thực tế đến phong cách, nghệ thuật kể chuyện cùng những yếu tố kỹ thuật mới, Thành phố và lũ chó được liệt vào một trong những tác phẩm văn học mở đầu cho cuộc bùng nổ của tiểu thuyết Mỹ Latinh. Cùng với Gabriel García Márquez, Julio Cortázar, Carlos Puentes, Mario Vargas Llosas được coi là những nhà văn xuất sắc nhất của Mỹ Latinh từ nửa cuối thế kỷ XX cho đến hiện nay. M. Vargas Llosa sinh ở Arequipa, Perú, năm 1936, cho đến năm lên mười mới biết mặt bố vì trước đó bố mẹ ông đã ly thân. Từ chỗ được mẹ yêu chiều, khi về sống với bố và mẹ lúc này đã tái hợp, ông phải đối mặt với thái độ hà khắc của bố, từ đó nảy sinh xung đột bố- con, và nỗi khát khao được sống tự do. Ông bị đưa vào học Trường Quân sự Leoncio Prado. Chính trong môi trường bạo lực này, tố chất và năng khiếu văn chương của ông đã được nảy nở: ông viết thư hộ cho bạn, viết truyện tình bán cho bạn học. Ngay khi ra trường, ông tham gia viết báo và nhận ra sự nghiệp đời mình chỉ có thể gắn với chữ nghĩa. Năm 1953 ông vào học ở khoa Văn và Luật trường Đại học San Marcos và bắt đầu viết truyện ngắn; năm 1959 các truyện này được tập hợp trong tập Các vị chỉ huy, giành giải thưởng Leopoldo Alas. Sau đó, ông yêu và kết hôn cùng Julia Urquidi, người dì dâu của chính ông. Năm 1955, cùng với vợ, ông sang châu Âu học tập theo học bổng Javier Prado và lấy bằng Tiến sĩ Triết học và Văn chương; đồng thời tìm thấy môi trường thích hợp cho hoạt động văn học. Những chi tiết trong tiểu sử này đã được ông đưa vào một số tiểu thuyết nổi tiếng như Lầu xanh (La casa verde, 1966), Đối thoại trong quán La Catedral (Conversacion en La Catedral, 1969) và Dì Julia và nhà văn quèn (La tía Julia y el escribidor, 1977, hai cuốn sau đã được dịch ra tiếng Việt). Ngoại trừ một giai đoạn có tham gia hoạt động chính trị, thậm chí là ứng viên tổng thống năm 1990, phần lớn cuộc đời cho đến hiện nay ông dành cho văn học và báo chí. Ông có sức sáng tạo mạnh mẽ: hàng chục tiểu thuyết nổi tiếng như Pantaléon và các nữ du khách (Pantaleón y las visitadoras, 1973); Cuộc chiến tranh nơi tận cùng thế giới (La guerra del fin delmundo, 1981), Câu chuyện của Mayta (Historia de Mayta, 1984), Ai đỡ giết Palomino Molero? (iQuién mató a Palomino Molero?, tiểu thuyết hình sự, 1986), Người nói chuyện (El hablador, 1987), Ca ngợi người mẹ kế (Elogio de la madrastra, 1988), Người Lituma ở dây Andes (Lituma en los Andes, 1993), Những quyển vở của ông Rigoberto (Los cuadernos de don Rigoberto, 1997), Lễ hội của dê (La fiesta del chivo, 2000), Thiên đường nơi góc phố (El paraíso en la otra esquina, 2003), và ở tuổi 70, năm 2006, lần đầu tiên ông viết cuốn tiểu thuyết tình yêu Trò nghịch của gái hư (Travesuras de la nina mala). Ngoài ra ông còn một số lượng rất lớn sách tiểu luận về văn học, triết học, chính trị và nhiều tác phẩm sân khấu. Năm 2010 vừa qua, Mario Vargas Llosa được trao giải thưởng Nobel Văn chương. Bên cạnh đó, ông từng đoạt tất cả các giải thưởng quan trọng nhất ở đất nước Perú và các nước nói tiếng Tây Ban Nha: giải thưởng Cervantes, giải thưởng Hoàng tử Asturias về văn chương - hai giải thưởng danh giá nhất trong các nước nói tiếng Tây Ban Nha - giải thưởng của các nhà xuất bản quan trọng nhất Barral và Planeta, giải thưởng của các nước khác của Mỹ La tinh, của Ý, Pháp, Mỹ, Anh, Đức… Và, như ông tự nói: giải thưởng lớn nhất trong đời chính là niềm đam mê và lòng quyết tâm theo đuổi nghề văn. Lê Xuân Quỳnh   *** "Thành phố và lũ chó" là tác phẩm đầu tay của nhà văn người Tây Ban Nha gốc Peru Mario Vargas Llosa - người đoạt giải Nobel Văn học 2010. Bối cảnh của câu chuyện là trường quân sự có thật mang tên Leoncio Prado ở Lima, Peru. Tại đây, những đứa trẻ 14-15 tuổi đã phải nhập học và trải qua cuộc sống lính khắc nghiệt. Những năm tháng quan trọng nhất trong thời niên thiếu của lũ trẻ sống dưới dưới sự tàn khốc của chế độ quân phiệt Peru. Những học viên mới của trường bị gọi là “chó con”. Chúng phải trải qua thử thách là những trò hành hạ mà lũ “chó con” năm trước áp đặt. Trong môi trường khép kín và đầy thiết quân luật, trường học trở thành nơi lũ trẻ đe nẹt, hành hạ lẫn nhau. Ngoài ra, đây cũng trở thành nơi chúng hút hít và vụng trộm giải tỏa những nhu cầu sinh lý của những cậu trai đang lớn. Nội dung chính của tác phẩm tập trung vào một hội nhóm bí mật của đám học viên năm thứ tư. Chúng thường tổ chức các vụ trộm cắp, trao đổi những phi vụ bí mật trong trường. Một lần, Cava, một trong ba thành viên của nhóm, nhận nhiệm vụ đánh cắp đề thi môn Hóa. Vụ việc vỡ lở, toàn bộ học viên của khóa bị cấm trại cho đến khi tìm được thủ phạm. Cava bị một học viên khác trong trường tố giác và sau đó là những kế hoạch trả thù của nhóm hội bí mật với người bạn học này. Tác phẩm từng gây chấn động lớn trong xã hội ngay khi ra đời năm 1963 vì lên án chế độ quân sự của Peru. Đã có cả nghìn bản sách bị chính các sĩ quan của ngôi trường này đốt bỏ. Tuy nhiên, cuốn sách cũng được đánh giá cao về giá trị văn chương và đã đoạt giải Biblioteca dành cho tác phẩm hư cấu hay nhất của giới phê bình Tây Ban Nha. Nhà văn Mario Vargas Llosa khi ấy mới 23 tuổi. Song Ngư *** Đã từng lướt qua không biết bao nhiêu lần và cũng đã từng muốn mua không biết bao nhiêu lần nhưng lần nào cũng đang trong lúc cạn ngân sách nên đành bấm bụng quay đi. Sau một hồi quên lãng thì lại đọc ké hết cả quyển trong quán Cà phê. Và cảm xúc sau khi đọc xong là Cực kì muốn đọc lại. Đau đớn thay là khi ấy Quyển này đã hết hàng, còn đau đớn hơn nữa khi biết là không hề có bản Ebook. Và vì không có Ebook, cũng không có Sách trong tay, thế nên bài Review này cũng không có bất cứ dẫn chứng nào. Mà cũng đừng ai hỏi bạn chẻ có quyển này hay không, hay hỏi mượn, hay đại loại là hỏi mua ở đâu, đơn giản là vì bạn chẻ cũng đang kiếm chỗ mua đây. FULL: AZW3 EPUB MOBI PDF

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Chiếc Ôm Từ Vệt Gió Quỷ - Lynk Boo
Gió Qủy...xuất hiện và biến đi trong chớp mắt. Sự quyến rũ đáng sợ này...chỉ có Gió Qủy mới đem tới. Là gió , cuốn đi mọi thứ, đem nhấn tất cả vào dòng xoáy...Là gió, nhẹ nhàng, thanh thoát và có bản chất của quỉ... Là gió, thứ vô hình đẹp đẽ nhưng không sao chạm vào được, lại tàn bạo đến mức chỉ khiến người ta chỉ muốn trốn chạy ... Có phải sự mâu thuẫn này khiến Gió Qủy càng thêm mê hoặc ? *** Quỳ xuống…Cột dây giày thật chặt và bắt đầu…chạy. Đông Vy bặm môi lao thật nhanh về phía trước, gió hất tung đám tóc lòa xòa, tiếng giày nện mạnh trên vỉa hè đầy nắng. Vài ngọn gió cuốn lá khô ném vào nắp cống .Vài người đi đường suýt bị cô gái nhỏ đâm sầm vào. Một tích tắc không để ý khiến cú nhấc chân của Đông Vy rơi ngay vào vũng nước còn đọng lại sau trận mưa lớn ban sáng. Cô gái nhỏ sững sờ khi thấy váy đồng phục phút chốc đã lấm những vệt nâu ẩm ướt. Ngày quái đản gì đây ! Ngủ muộn, lạc đường, lên nhầm bus…Đông Vy tức giận dậm mạnh chân khiến nước văng lên cao , đáp thật êm lên chiếc áo trắng tinh có phần nhăn nheo. Hay rồi…Với bộ dạng Lọ lem tèm nhem này, cô sẽ bị ném ra khỏi học viện danh giá kia mất ! Đông Vy lắc lắc đầu để những suy nghĩ tiêu cực kia rơi khỏi bộ não, Trung Anh sẽ không vì lí do trang phục nhếch nhác mà đuổi học cô nhưng có lẽ cô sẽ nhận được sự bài xích , khinh rẻ từ đám công tử, tiểu thư trong đấy… Cô gái nhỏ vừa ngán ngẩm vừa buồn bã, tâm trạng nặng nề kéo những bước chân của cô trở nên chậm dần…chậm dần …và đứng yên một chỗ… Vẫn mang dáng vẻ thẫn thờ đó cho đến khi thoáng thấy phía xa chiếc xe bus hai tầng đã tấp vào bến chờ. ... Mời các bạn đón đọc Chiếc Ôm Từ Vệt Gió Qủy của tác giả Lynk Boo.
Những Phiên Bản Nằm Nghiêng - Yến Linh
Những phiên bản nằm nghiêng giống như tự truyện của nhân vật Tôi. Tôi khi ấy vừa tròn 20 tuổi, đang là sinh viên năm thứ hai tại một thành phố lớn, yêu và sống cùng bạn trai tên V. Họ yêu nhau, nhưng cả hai chẳng thể bù đắp nổi khoảng trống và những vết thương lòng quá lớn trong mỗi người. Những bí mật về quá khứ tăm tối, ảm đạm, u buồn, những bi kịch gia đình hay cơ thể ốm đau bệnh tật của mình, cô tìm sự sẻ chia qua người bạn từ thời phổ thông tên N. N đã chọn cho mình một cuộc sống không dễ dàng - làm điếm, cũng giống như mẹ N - người đàn bà chỉ biết chạy theo những cuộc tình và gần như đã quên hẳn mình còn ba đứa con gái cùng mẹ khác cha của mình cần được quan tâm, chăm sóc. Dưới lớp son phấn, đôi mắt N luôn buồn thăm thẳm, nhưng đó là cuộc sống cô đã lựa chọn.   Tình yêu đầu của N đã bị chính mẹ N cướp mất, niềm tin sụp đổ, cô không còn sống mà chỉ là tồn tại, ngày qua ngày. Làm bạn với Tôi đối với N là một niềm an ủi, bởi vậy N không muốn nhân vật Tôi sống cuộc sống như cô. Tôi chấp nhận điều đó, bắt đầu cuộc sống như một sinh viên bình thường, dưới sự bảo bọc của N, như thể cô đang sống cho một phiên bản khác của N, và cả của chính cô nữa.   Và cô gặp V, yêu V như thể V là người sinh ra để cho cô yêu thương, chăm sóc. V cũng là người có hoàn cảnh đáng thương, cha mẹ bỏ đi tìm kế sinh nhai ở nơi khác và đều thiệt mạng. Nhưng tâm hồn anh không có những góc khuất, không có những ẩn ức như cô. Anh suy nghĩ đơn giản, thẳng thắn và hồn nhiên. Ở anh không có CON QUỶ DỮ giống như bên trong con người cô đã và đang tồn tại. Con quỷ dữ vẫn hành hạ, trêu ngươi và sống cùng cô biết bao năm tháng qua. Con quỷ dữ đã từng đánh lũ bạn cùng trường khi tụi nó dám lấy đứa em trai bệnh tật của cô ra làm trò đùa, con quỷ dữ đã từng hả hê khi thấy mẹ cô giáng một đòn váo gáy cha cô, chấm dứt những âm thanh kẽo cọt rên rỉ của chiếc giường nơi cha cô vẫn đè nghiến mẹ cô ra khi trở về nhà trong những cơn say rượu... Con quỷ đó luôn tồn tại và lớn dần trong con người ốm yếu bệnh tật của cô. Cô luôn giấu V những hộp thuốc, luôn giả bộ có những kì kinh nguyệt đều đặn – thứ cô đã chờ đợi từ hồi mười lăm tuổi, thứ cô luôn ao ước được chạm vào. Cô không thể làm vợ, làm mẹ.   Cuối cùng, khi xếp hành lý cho V đi công tác dài ngày, cô cũng xếp luôn hành lý cho mình. Hứa với V rằng sẽ quay trở lại, nhưng cô biết đây là nụ hôn cuối cùng dành cho V, cô đi tìm kiếm thứ mình đã mất. Cô quay lại những nơi trước kia đã từng đến và bỏ đi cùng cha mẹ, cô đi tìm cha. Cô muốn nói với cha những điều bấy lâu nay cô cất giữ trong lòng, thay vì chỉ viết những lá thư và đốt như trước nữa. Trong ánh hoàng hôn, khi mơ hồ nhìn thấy bóng hình cha ngồi trên chiếc ghế bành gần cửa sổ, cô như chết lặng, cô muốn nguyền rủa, kết tội cha, nhưng cô không làm được. Cô tin cha sẽ không bỏ mặc mình thêm lần nữa. Nhưng khi chiếc ghế bành xoay lại, rỗng không. Mọi thứ đều biến mất, ngôi nhà, chiếc ghế, khung cửa, ánh hoàng hôn, chỉ còn một mình cô với không gian trơ trọi ấy. Cô biết mình đã đi hết cuộc hành trình, cô khóc, cuối cùng cô đã khóc được, cô đã có thể thật sự sống, như chính bản thân mình, chứ không còn là một phiên bản nằm nghiêng nữa.  *** Hình như tôi đã tỉnh trong cơn mê. Mấy viên thuốc an thần uống vào tối qua không đem lại cho tôi giấc ngủ mong đợi. Chưa bao giờ chúng đem đến cho tôi giấc ngủ. Giấc ngủ tôi mọi đêm là khối tròn di chuyển trên sợi dây cước mỏng manh, treo ngang vực thẳm cheo leo. Khối tròn di chuyển được những xen-ti-mét đầu tiên, chúng sẽ trượt ngã. Rồi ở những xen-ti-mét tiếp theo cũng không khác đi. Vốn dĩ chúng không phải là những diễn viên xiếc đi trên dây chuyên nghiệp. Không ai biết khi trượt ngã, vực thẳm sẽ đón nhận chúng bằng những thứ gì? Chập chờn giữa tỉnh và mê, tôi đưa tay lay gọi V. Ánh đèn ngủ màu lam nhạt soi sáng góc ngủ. Không biết vì sao con cá sấu xanh lại nằm giữa chúng tôi. Tiếng quạt chạy đều đều. V vẫn còn ngủ. Thường tôi phải lay gọi nhiều lần V mới tỉnh giấc được. Công việc mỗi ngày kéo dài đến hơn mười giờ đêm vắt kiệt cơ thể anh. V thức giấc, khuôn mặt ngái ngủ nhìn tôi cười. Nụ cười để lộ hai chiếc răng cửa trẻ con to cộ không ăn nhập gì với những đường nét trên khuôn mặt. Anh sẽ đưa tay choàng qua người tôi, kéo tôi về phía anh. Mùi cơ thể đàn ông ập vào mũi. Da thịt mát lạnh hòa vào nhau. Thi thoảng, tôi sẽ đưa mũi khịt khịt với phát hiện rằng đêm qua V không tắm. Anh sẽ cười nụ cười biết lỗi của trẻ con. - Đêm qua anh về muộn, bị mưa ướt, lạnh buốt, không đủ can đảm để tắm. Tí nữa anh sẽ tắm mà. *** Mời các bạn đón đọc Những Phiên Bản Nằm Nghiêng của tác giả Yến Linh.
Phút Dành Cho Con - Kent Nerburn
“Phút dành cho con” là một quyển sách có thể giúp tất cả những cậu con trai xây dựng cuộc đời và là một quyển sách mà bất cứ một ông bố tận tụy nào cũng có thể tự hào khi mang tặng con trai mình.” — AMERICAN BOOKSELLER “Phút dành cho con” được tác giả Kent Nerburn viết dành tặng con trai của mình, đồng thời cũng là những thông điệp sống hữu ích và cần thiết cho tất cả chúng ta. Đây là tác phẩm được viết bằng một phong cách tuyệt vời với sự thông thái ẩn chứa trong mỗi trang sách. Với niềm yêu thương con dạt dào, với những trải nghiệm nhất định về cuộc sống, tác giả đã dành tặng cho con trai mình những lời khuyên hữu ích thông qua cuốn sách. Quá trình trưởng thành của một người đàn ông cũng như mọi vấn đề của cuộc sống được tác giả nhìn nhận sâu xát và chân thực qua những lời khuyên dành cho con trai mình. Mỗi lá thư mang một chủ đề khác nhau: Tri thức - học hành; Tiền bạc và sự giàu có; Bi kịch và nỗi đau; Giá trị của tình bạn, tình yêu; cả những vấn đề mà một người đàn ông trưởng thành cần quan tâm như Bí ẩn của Tình dục, Ma túy và rượu bia, Hôn nhân v.v… đều được nhìn nhận và chia sẻ chân thành. Trong cuốn sách này, ta có thể thấy tác giả ngoài việc đề cập đến những kỹ năng và trải nghiệm của mình: tình yêu dành cho ngôn ngữ, niềm tin vào tầm nhìn tiến bộ của loài người, sự phức tạp của những nỗi sợ hãi còn là sự chia sẻ niềm tin cuộc sống, về điều kỳ diệu của tình yêu, của nghệ thuật, của những chuyến du hành… Những thông điệp nhẹ nhàng nhưng sâu sắc được nhắn nhủ, được kể lại qua những câu chuyện thú vị. Một cuốn sách hay với giọng văn sâu sắc, đầy chất thơ rất đáng để chúng ta chiêm nghiệm, học hỏi và dành tặng cho cậu con trai yêu quý của mình! Sách được biên dịch từ cuốn sách Letters to my son của tác giả, Tiến sĩ Kent Nerburn, do First News thực hiện. *** Cha viết cuốn sách này với tư cách một người cha. Con sẽ không hiểu được điều này có ý nghĩa như thế nào cho đến khi con cũng có con trai. Con chưa thấy được niềm vui và tình yêu vô bờ đằng sau trái tim của một người cha khi nhìn đứa con trai của mình. Con cũng chưa hiểu được niềm hân hoan tột cùng đã khiến một người đàn ông muốn vượt qua bản thân để có thể đặt vào tay con trai mình những điều tốt đẹp và hy vọng nhất. Trở thành một người cha là đặc ân đồng thời cũng là một gánh nặng. Có những điều mà một đứa con trai phải được tiếp nhận từ chính người cha của mình, nếu không thì nó sẽ chẳng bao giờ được hướng dẫn một cách rõ ràng. Đó là những cảm nhận về tuổi trưởng thành, giá trị của bản thân và trách nhiệm với thế giới xung quanh. Nhưng mà, làm sao để truyền đạt những điều này bằng ngôn ngữ? Chúng ta đang sống ở thời điểm thật khó để bộc lộ những lời nói xuất phát từ trái tim. Cuộc sống của ta đang bị vô vàn những điều tầm thường che lấp, những nghĩ suy và lo toan cơm áo đời thường đã làm mất đi những khoảng lặng trong tâm hồn. Vì vậy, cha phải nói thật với con điều này. Cha không có lời giải cho tất cả những thách thức mà chúng ta phải đối mặt. Nhưng cha hiểu những thách thức này. Khi cha nhìn con chiến đấu, khám phá và nỗ lực tiến lên phía trước, cha như thấy hình ảnh mình đang được phản chiếu trong đôi mắt và những gì con đang trải nghiệm. Cha cũng như con, phải học cách để đi, để chạy, cả để vấp ngã. Cha cũng có mối tình đầu. Cha đã trải qua cảm giác sợ hãi, tức giận cũng như phiền muộn, và có nhiều lúc cha đã thấy ấm áp khi bàn tay ai đó đang đặt lên vai mình. Cha cũng đã từng rơi những giọt nước mắt cho niềm vui và cho cả nỗi buồn. Cha đã từng trải qua cảm giác cô độc trước cuộc sống và không thiếu những khoảnh khắc muốn bùng cơn thịnh nộ. Có những lúc cha cảm thấy mình không còn đủ sức để bước tiếp trên cuộc đời, cha bước qua mọi người một cách hờ hững, ngay cả với những người đang cần cha giúp đỡ. Nhiều lúc cha thấy mình làm được nhiều điều hơn mình được yêu cầu, nhưng cũng có lúc cha cảm thấy mình là một kẻ bất tài và thua cuộc. Dường như trong cha vừa có ánh sáng của sự vĩ đại đồng thời cũng có bóng tối của những tội ác lương tâm. Bởi vì, cha cũng là một người đàn ông, giống như con vậy. Mặt trời sẽ chiếu sáng trên đầu con giống như nó đã chiếu trên đầu cha, và những bài học trong cuộc sống sẽ đến với con giống như đã đến với cha, mặc dù con đường phía trước và thời gian phía trước của cha và con không như nhau. Và đó là những điều cuốn sách này sẽ đề cập đến. Cha muốn thông qua cuốn sách này mang đến cho con những bài học cha đã trải qua, nhờ đó con sẽ áp dụng được cho cuộc sống của mình. Nhưng nó không có nghĩa là con sẽ giống cha. Cha thật sự hạnh phúc nếu con được là chính con. Thời gian sẽ mang đến sự thật, và sự thật thì luôn vĩ đại hơn bất kỳ điều gì trên thế giới này. Trở thành cha của con là niềm vinh hạnh lớn nhất trong cuộc đời cha. Trong phút chốc cha cảm thấy như mình đã chạm tay vào những điều thần bí, và nó khiến cha thấy tình yêu đang ngày một mênh mông hơn. Nếu cha chỉ có một điều ước, cha ước mong con sẽ mang theo tình yêu đó bên mình. Cuộc sống này còn cần gì hơn thế? *** Mời các bạn đón đọc tác phẩm Phút Dành Cho Con của tác giả Kent Nerburn.
Số 31 Đường Giấc Mơ - Lisa Jewell
Một cuốn sách đem lại sự tự tin, tình yêu và cuộc sống. Nhiều năm nay, Leah và Toby sống cách nhau một con đường mà chưa hề chạm mặt nhau bao giờ… và Leah cực kỳ muốn nhìn trộm vào đằng sau cánh cửa ngôi nhà lập dị của Toby, nơi toàn những người thuê nhà kỳ quặc nhưng thú vị sinh sống. Cuối cùng, khi định mệnh mở cửa cho Leah bước vào ngôi nhà, cô ngạc nhiên nhận ra là có lẽ mình cũng cần Toby không kém gì Toby cần cô. Đôi lúc cuộc sống cần đến sự trợ giúp và với sự mơ mộng thấp thoáng cùng sức lôi cuốn đặc biệt, những giấc mơ của Toby và Leah đã có cơ may trở thành sự thật. Số 31 Đường Giấc Mơ - 31 Dream Street là cuốn tiểu thuyết sâu sắc, ấm áp đến diệu kỳ sẽ mê hoặc và làm tâm hồn bạn thấy bình yên. *** Thông tin tác giả: Lisa Jewell sinh năm 1968 tại London, là một trong những tác giả thành công của thể loại chicklit ở Anh. Tác phẩm tiêu biểu: Ralph's Party, Thirtynothing, After The Party, 31 Dream Street… Giải thưởng: giải Melissa Nathan Award For Comedy Romance (2008) dành cho cuốn 31 Dream Street. Lisa lớn lên ở miệt trên mạn bắc London cùng hai em gái, từng học và làm nhiều chuyên ngành khác nhau: ngành nghệ thuật tại Barnet College (2 năm), trong hai năm, ngành Minh họa thời trang và Truyền thông tại Epsom School of Art & Design (2 năm). Cô từng làm trợ lý PR trong 3 năm cho thương hiệu thời trang Warehouse; làm lễ tân và trợ lý giám đốc tại cửa hàng chính đóng trên đường Jermyn của nhãn hàng sơ mi cao cấp Thomas Pink trong bốn năm. Lisa viết tiểu thuyết đầu tay Ralph's Party năm 1996 vì lý do đánh cuộc. Tác phẩm được hoàn thành năm 1997 và được NXB Penguin xuất bản vào tháng 5.1998, trở thành tiểu thuyết đầu tay bán chạy nhất trong năm. Từ đó đến nay cô đã 11 tiểu thuyết và đều ở list sách bán chạy. Hiện cô đang sống ở Swiss Cottage, bắc London với chồng, Jascha, một tư vấn viên IT, hai con gái Amelie và Evie, cùng hai con mèo mướp màu ánh bạc, Jack và Milly. *** Leah nhìn qua khe hở giữa hai tấm rèm để nhìn ngôi nhà đối diện bên đường. Tách biệt với hàng xóm láng giềng cả bởi vị trí và diện mạo, số 31 đường Thợ Bạc là một ngôi nhà kỳ dị đứng lẻ loi. Ngôi nhà ba tầng được cặp vợ chồng người thợ bạc về hưu xây cách đây một trăm năm mươi năm trên một mảnh đất được họ chọn lựa bởi từ đó có thể thưởng ngoạn toàn bộ quang cảnh nông thôn vùng Hertfordshire. Để tận hưởng cảnh quan, họ đã đặt làm một hàng hiên bằng sắt uốn cầu kỳ bao lấy toàn bộ tầng một của ngôi nhà. Ngày nay, ai đó ngồi ở hiên nhà chả còn thưởng thức được gì hơn ngoài mấy khoảnh vườn của những ngôi nhà nông thôn tầm thường thời Victoria ngay đối diện, và tiếp sau đó là mấy tầng phía trên của ba khối nhà cao tầng thô thiển, mọc lên giữa hoang dại của vùng Enfield. Vợ chồng người thợ bạc, một cặp lập dị, đã chọn trang trí phía ngoài căn nhà bằng những thứ gạch men màu sắc rực rỡ mà họ thu thập ở các chợ trời trong những chuyến du lịch khắp nơi trên thế giới. Hai bên cửa chính có ốp gạch trang trí hình chim công, và vì vậy ngôi nhà được dân địa phương gọi một cách không chính thức là Nhà Chim Công. Thực tế là, để mô tả cho mọi người biết chính xác cô sống ở đâu tại East Finchley, Leah thường nói rằng – bạn biết đấy, ngay đối diện với Nhà Chim Công. *** Mời các bạn đón đọc cuốn tiểu thuyết Số 31 Đường Giấc Mơ của tác giả Lisa Jewell.