Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Yêu Phải Tiểu Thư 0 Điểm (Lục Phong Tranh)

Trên sàn nhà trọ để mấy thùng giấy, Bạch Thư Duy đang đóng gói những thùng cuối cùng, làm bạn với anh trừ khúc nhạc thính phòng du dương của Chopin, còn có một bình rượu đỏ mùi trái cây thơm ngào ngạt, anh vừa uống vừa đóng gói rất thoải mái.

Đây là đêm cuối cùng anh ở Newyork. Ngày mai, anh phải trở về Đài Loan.

Trong phòng hầu hết đều trống rỗng, có thể tặng thì cũng đã tặng, không thể tặng đã đóng hết vào thùng chuẩn bị mang về Đài Loan. Tủ treo quần áo trống rỗng, ngay cả hộc tủ vốn bày đầy sách cũng chỉ còn dư lại 2, 3 quyển.

Anh đem nhưng thùng giấy đã được đóng hoàn chỉnh đặt ở vị trí gần cửa, để sáng sớm ngày mai người của công ty dọn nhà Quốc Tế tới dễ dàng chuyển đi.

Chuông điện thoại vang lên, hai chân thon dài nhanh chóng vượt qua mấy thùng giấy, Bạch Thư Duy rốt cuộc tìm được điện thoại dường như bị chìm ngập trên nền nhà, anh vươn tay ra lấy điện thoại rồi bấm nút nghe. Tìm mua: Yêu Phải Tiểu Thư 0 Điểm TiKi Lazada Shopee

Bạn đang đọc truyện tại ThíchTruyện.VN

“Hel¬lo.” Giọng nói tràn đầy từ tính.

“Thư Duy, là mẹ đây……. Con ngày mai trở về Đài Loan đúng không?”

“Đúng, trưa mai máy bay cất cánh, có phải muốn con giúp mẹ mang thứ gì về hay không?”

“Không không không……. Không cần, mẹ muốn nói cho con một chuyện, mẹ đang ở Thụy Sĩ, sau khi con về đến nhà phải tự chăm sóc bản thân đó.”

“Thụy Sĩ?” Nếu như anh nhớ không lầm thì mẹ không phải đang ở Pháp sao? Mà không, đó là chuyện mấy ngày trước, bây giờ bà nên kết thúc chuyến du lịch và bình an trở về Đài Loan mới đúng, tại sao ở Thụy Sĩ?

“Ha ha, kế hoạch thay đổi, dì Trần của con nói lần này mẹ đến Paris dì sẽ làm hướng dẫn viên du lịch, ngồi máy bay lâu làm cái mông đau muốn chết, lần sau nếu bay xa như vậy mẹ sợ sẽ không chịu nổi. Cho nên mẹ tạm thời quyết định, thừa dịp lần này ra ngoài đi du lịch mấy quốc gia luôn, mấy ngày nữa mẹ còn muốn đi Đan Mạch, chờ chơi đủ rồi lấy dũng khí chịu đau cái mông bay về Đài Loan.”

Coi, những người phụ nữ yếu đuối này thật có sức sống. Bạch Thư Duy vô cùng bái phục không quên dặn dò “Đừng đùa giỡn nữa, phải chú ý an toàn, biết không?”

Mẹ Bạch ở đầu kia điện thoại không chấp nhận, tức giận nói “Làm như mẹ là đứa trẻ ba tuổi vậy. Đừng quên, mẹ là mẹ của con.” Trả lời hùng hôn.

Aizzz…. Cũng vì biết mẹ là mẹ con nên con mới lo lắng. Bạch Thư Duy lầu bầu ở trong lòng.

Mẹ của anh cái gì cũng tốt, cũng rất biết hưởng thụ cuộc sống của mình, dù chỉ sống một người nhưng cuộc sống thường ngày cũng không có tẻ nhạt, hoàn toàn không cần lo lắng bà sẽ bị chứng u uất. Cũng nói, mấy năm này bà tự dưng si mê đi du lịch nên cuộc sống của bà còn có mục tiêu, ba ngày hai bữa thu xếp đồ đạc của mình rồi lên đường. Mỗi lần nhận được điện thoại, anh mới biết mẹ lại đi ra ngoài.

Nhưng đừng nhìn mẹ anh chu du các nước thì có kiến thức rộng rãi. Quên đi, đây chính là điều sẽ làm cho mọi người bị hù dọa đến khi chảy mồ hôi lạnh ướt sũng cả người.

Lấy chuyện an toàn của bản thân để nói, lúc anh đang ở Đài Loan thì trong nhà chưa từng bị ăn trộm ghé qua. Không ngờ anh chỉ xuất ngoại du học chưa tới nửa năm, ăn trộm đã chiếu cố đến ba lượt. Lý do không có gì khác là mẹ anh đi ra ngoài quên khóa cửa hoặc không thì chìa khóa cắm ở trên cửa không rút ra. Thật may lúc ăn trộm ghé thăm thì mẹ đều không ở nhà, nếu không thì hậu quả rất nghiêm trọng.

A…. nói đến chuyện an toàn của bản thân... Bạch Thư Duy đột nhiên nghĩ đến vì bị ăn trộm mà cửa trước và cửa sau đều đã đổi khóa, mẹ anh lại không có ở đó, anh không có chìa khóa thì làm thế nào vào được nhà?

“Đợi chút, mẹ đại nhân yêu quý của con ơi, xin hỏi con về bằng cách nào? Con không có chìa khóa nhà.” Anh không muốn đi ngàn dặm xa xôi về nhà, ban đêm lại phải tá ngoài lề đường.

“Dưới miếng lót đạp chân trước cửa có để sẵn một cái chìa khóa.” Mẹ Bạch xong cười sảng khoái.

“What?? Mẹ lại để chìa khóa ở dưới miếng lót đạp chân trước cửa.” Bạch Thư Duy kêu to, hoàn toàn không vui vẻ mà cảm thấy tê rần hết da đầu.

Mẹ cũng không ngẫm lại xem, lần gần nhất bị ăn trộm chính là vì tên trộm cầm chìa khóa ở dưới miếng lót đạp chân trước cửa, không cần tốn nhiều sức vẫn vào được nhà. Nhưng trộm không lấy thứ gì đáng giá chỉ ăn sạch thức ăn trong tủ lạnh, không ngờ bà vẫn không rút ra được bài học, vẫn tiếp tục để chìa khóa dưới miếng lót đạp chân trước cửa. Vậy chẳng hóa ra là muốn nhà mình thành khách sạn còn trộm thành quản gia nhà sao?

“Aizzz…. Đừng lo lắng… Con chưa nghe nói qua sao? Chỗ nguy hiểm nhất chính là chỗ an toàn nhất, mẹ cũng không phải là ngu ngốc mơ mơ màng màng. Tất cả mọi chuyện mẹ đều đã tính toán kỹ.”

Nghe giọng nói của mẹ vui vẻ như một cô gái, trên mặt Bạch Thư Duy xuất hiện ba đường vạch đen ——”Con thật sự không biết nên nói mẹ mơ mộng hay là ngu ngốc.”

“Có đứa con nào lại không tin tưởng mẹ mình giống như con không hả?” Mẹ Bạch đáp lại ngay.

“Xin lỗi, con cho rằng thành thật là một đức tính tốt.” Anh tức giận nói.

Thôi được, coi như ăn trộm muốn vào nhà, hai mẹ con bọn họ một ở Thụy Sĩ một ở Newyork, muốn ngăn cản cũng không ngăn cản được, suy nghĩ lạc quan hơn thì coi như ăn trộm có thể dọn sạch tất cả mọi thứ trong nhà cũng mang không mang đi được ngôi nhà. Thà về nhà mà không có giường còn hơn không có nhà để về.

A….. Anh có phải đang tự an ủi bản thân? Bạch Thư Duy tự mình đánh trống lãng lắc đầu.

Sau đó mẹ nói thêm ba bốn câu trò chuyện bình thường, anh cúp điện thoại rồi đặt xuống ngay chỗ đang đứng, tiếp tục đóng thùng còn đang dang dở.

Cầm những quyển sách còn sót trên giá sách xếp lại, đang chuẩn bị bỏ vào thùng giấy thì trong quyển sách mang từ Đài Loan sang tình cờ rơi ra một tấm hình.

Thấy thế, Bạch Thư Duy nhặt lên.

Nhớ là lúc đó chụp vội, ống kính bị chấn động lại không tập trung nên hình ảnh rất mơ hồ, cộng thêm bị ngược sáng nên không nhìn được rõ người trong hình là ai. Chỉ có thể thấy thân hình mảnh mai nên đoán đó là một cô gái, mặc đồng phục nữ sinh trung học, nghiêng người ngồi trên ghế và chống cằm.

Nhưng Bạch Thư Duy dường như không tốn hơi sức suy nghĩ thì tên cô gái đã hiện lên trong lòng.

Đây là Kha Dụ Phân mười tám tuổi, một cô gái trung học nghiêm túc, cứng nhắc, khô khan không hề thú vị.

Trước buổi lễ tốt nghiệp một ngày, bạn cùng lớp mang theo máy ảnh tới trường học, mọi người tò mò vuốt vuốt một hồi rồi cười cợt đùa giỡn tranh đoạt nhau cầm xem, không biết người nào nhấn nút shutter(*nút chụp). Vô tình chụp trúng Kha Dụ Phân đang ngồi ở xa xa.

Tấm này hoàn toàn không tốt và bị ném vào thùng rác, đến khi Bạch Thư Duy len lén nhặt lên, bỏ vào túi áo đồng phục mang về nhà.

Đối với anh mà nói, Kha Dụ Phân mười tám tuổi mơ hồ giống như tấm hình này, nhưng Kha Dụ Phân mười tuổi lại như một gốc cây nhỏ rắc rối khó gỡ, đâm rễ sâu trong lòng anh.

Anh nhớ cô, nhớ mùa hè năm ấy, lần đó bọn họ gặp nhau...

Mùa hè năm 1994,

Bạch Thư Duy mười tuổi, mấy ngày trước mới cùng mẹ dời đến thị trấn nhỏ này, vì để quen thuộc với nơi ở mới nên mỗi ngày anh đều ra ngoài một mình để thám hiểm mọi ngõ ngách.

Quần áo anh mặc vô cùng đơn giản, đồ anh mặc vô cùng quái gở. Quần short jean đã mòn và hơi bẩn, còn có mang theo một đôi dép lê để đi cho thuận tiện, mang theo một ít đồ ăn để có thể bổ sung năng lượng khi cần, còn ngậm một cây kẹo que ngon lành và bắt đầu lên đường thám hiểm.

Gặp Kha Dụ Phân chính vào một buổi chiều, sắc trời âm u như muốn trời mưa, không khí hơi ẩm ướt oi bức, hầu như mọi người đều núp ở trong nhà bật máy lạnh, chỉ có nhà thám hiểm bé nhỏ Bạch Thư Duy một mình đi xưng quanh công viên. Vô tình phát hiện cái xích đu anh thích nhất ở phía trước, nhưng đang đứng ở đó là một nữ sinh y hệt công chúa vô cùng xinh đẹp.

Tóc được chải rất chỉnh tề, mặc một cái áo đầm trắng như tuyết rất mộng ảo, dưới chân mang một đôi giày da trắng sáng giống như có thể nhìn thấy cái bóng của cô ấy. Khác với trên người anh là quần cụt dép... Oa ô, hoàn toàn khác biệt một trời một vực.

Nghe tiếng bước chân nữ sinh đó đột nhiên xoay đầu lại, đó là một gương mặt trắng trẻo mềm mại giống như một đứa con nít, hai má giống như bánh màn thầu mới ra lò, mềm mại non nớt, bộ dáng cực kỳ ngon miệng. Mắt tròn vo mi giống như bóng đèn dùng để trang trí cây thông noel trong nhà, cực kỳ sáng.

Nhưng cô xem ra hơi chột dạ, đôi mắt nhìn anh không ngừng xoay vòng, lông mi yêu kiều cong lên rung động không ngừng.

“Tôi…Tôi…Tôi...” Ấp a ấp úng thật lâu cuối cùng cô cũng không nói được cái gì, hơi chột dạ rồi bỏ chạy như một làn khói.

“A… Cô ta nhìn thấy quỷ hả?” Bạch Thư Duy gãi gãi đầu, bối rối không hiểu “Hay là trên xích đu có bẫy?”

Để tránh bị lừa, anh mở lớn mắt nhìn chằm chằm chỗ xích đu nữ sinh đó mới rời khỏi một lúc lâu. Khi xác nhận không có bất kỳ sự khác lạ nào, anh đặt mông ngồi lên, chân mang dép bắt đầu đung đưa, xích đu bắt đầu chuyển động theo ý anh.

Chỉ lát sau, Bạch Thư Duy đã đẩy xích đu lên thật cao, nhanh chậm đu đưa trong không khí làm tản đi thời tiết làm người ta khó chịu này. Anh khép hờ mí mắt hưởng thụ cảm giác đón gió, nhiều lần cảm thấy mình đã bay vào trong đám mây.

Rồi lại cao một chút, có lẽ anh thật có thể bay vào trong đám mây trở thành đứa trẻ nằm ở trên mây đầu tiên trên thế giới. Đến lúc đó khẳng định giống như minh tinh màn bạc, khắp nơi có người tìm anh ký tên. Bạch Thư Duy vui vẻ khi mơ đến điều đó.

Anh đang mơ đến giấc mơ tốt đẹp đó thì nữ sinh lúc nãy bỗng nhiên xuất hiện, mà đến thật khéo giống như khúc gỗ đâm thẳng vào phía trước bàn đu dây.

Thấy thế, Bạch Thư Duy trừng lớn mắt.

Ngu ngốc, cô không thể đứng ở đó, anh đu dây sẽ đụng vào cô!

“A….. Tránh ra! Né ra chỗ khác nhanh!” Trên xích đu Bạch Thư Duy vội vàng rống to, vẫy vẫy cánh tay muốn cô mau tránh ra, hai chân càng liều mạng cản xích đu lại, hy vọng có thể cô ấy không bị xích đu đụng phải.

Có lẽ quá nóng lòng, đột nhiên thay đổi trọng tâm nên anh không kịp phản ứng, cả người từ trên xích đu rớt xuống dưới té chỏng vó, cái ót còn bị xích đu đang đu lên gõ cho một cái.

“A……. Đau...” Bạch Thư Duy nằm dưới đất đau đến nhe răng trợn mắt, trong lòng lại cảm thấy thật xui xẻo.

Đợi chút, cô ấy không sao chứ?

Nghĩ đến nếu anh hại nữ sinh kia bị thương, về nhà nhất định mẹ sẽ cho anh ăn gậy trúc bầm dập tới no, anh không dám ở trên đất một giây đồng hồ nào nữa, nhịn đau nâng người lên, lấm lét nhìn trái phải tìm bóng dáng của nữ sinh kia.

Người nào?

Kỳ quái, rốt cuộc đã chạy đi đâu? Một người đang yên đang lành làm sao có thể vô duyên biến mất được? Chẳng lẽ cô là... Quỷ?

Nghĩ đến đây, Bạch Thư Duy run cầm cập không dám nghĩ tiếp, trong lòng vô cùng rối rắm.

“Aizzz… Tớ hỏi cậu, tại sao khi tớ ngồi xuống thì đứng yên, xích đu này lại bị hư hả?”

Nghe giọng nói của nữ sinh, Bạch Thư Duy giống như bị sét đánh. Đầu thuận theo tiếng nói quay đầu lại, quả nhiên nhìn thấy nữ sinh đó hù dọa làm anh chảy mồ hôi lạnh ướt sũng cả người, đang vô tư ngồi trên xích đu anh mới vừa chơi, trên đất có một cái bóng thật dài của cô.

A… Có bóng... A di đà Phật, cô ta có bóng.

Nhưng vừa nghĩ tới mình bị cô dọa sợ, Bạch Thư Duy lại trưng ra cái mặt thối đối mặt với cô.

“Cậu có biết cậu mới vừa làm một chuyện rất nguy hiểm hay không? Nếu tớ không dừng lại thì đầu cậu đã nở hoa rồi đó. Tớ nói với cậu, về sau tuyệt đối không được đứng trước mặt xích đu hoặc sau lưng xích đu, có nghe không?” Anh vô cùng bực tức cảnh cáo cô.

“Tại sao? Sẽ làm nó hư sao?” Mắt to tròn vo nháy nháy, nữ sinh này trưng ra vẻ mặt vô tội nhìn anh rồi đưa tay sờ sờ xích đu “Bây giờ nó bị hư rồi phải không? Bởi vì nó không di chuyển mà.”

Bạch Thư Duy không biết nên khóc hay cười “Ở đây không phải là khu vui chơi của trẻ con, xích đu trong công viên là phải tự mình đu, không thể tự chạy như trò chơi chạy bằng điện.” Anh hơi hoài nghi không biết nữ sinh này là ngu đần hay là người ngoài hành tinh.

Tức giận đứng dậy phủi đất ở trên người, xoa xoa chỗ té đau, anh nhảy cò cò một chân đi tìm chiếc dép bị thất lạc. Làm ơn, anh cũng quần áo chỉnh tề đó nhé.

“Cậu dạy cho tớ chơi xích đu được không?”

Anh nghiêng đầu qua, vẻ mặt cổ quái nhìn cô, ngón tay chỉ chỉ mình thì nhìn thấy cô gật đầu, anh cảm thấy vô cùng không thể tưởng tượng nổi “Không thể nào, cậu không biết chơi xích đu?”

Nữ sinh đó thành thật lắc đầu rồi ngước cằm lên, dịu dàng nhưng cũng rất quật cường.

“Tớ học rất nhanh nên cậu qua dạy tớ đi.” Không đợi anh đồng ý, mặt mày cô đã hớn hở bước nhanh về phía anh, không để anh cự tuyệt, cô lôi kéo tay của anh đi về phía xích đu.

Cơ thể cô tỏa ra mùi thơm dìu dịu, quần áo giày dép cũng đều sạch sẽ, không giống anh. Anh vốn ăn mặc rất tùy tiện, mới vừa nãy còn bị té nên quần áo bám bụi bẩn, hơn nữa, tay của cô thật mềm... Lần đầu tiên được một nữ sinh tuổi xấp xỉ nắm tay, Bạch Thư Duy đột nhiên cảm thấy mình không thể suy nghĩ gì, chỉ có thể lảo đảo đi theo.

Độc giả có thể tìm mua ấn phẩm tại các nhà sách hoặc tham khảo bản ebook Yêu Phải Tiểu Thư 0 Điểm PDF của tác giả Lục Phong Tranh nếu chưa có điều kiện.

Tất cả sách điện tử, ebook trên website đều có bản quyền thuộc về tác giả. Chúng tôi khuyến khích các bạn nếu có điều kiện, khả năng xin hãy mua sách giấy.

Nguồn: thuviensach.vn

Đọc Sách

Ngài Tổng Thống
"Ngài Tổng thống" là sự sáng tạo của nhà văn tiểu thuyết Asturias Guatemala, là một trong những tiểu thuyết quan trọng của Asturias. Cuốn sách năm 1898 ~ 1920 của chọn quản Estrada Cabrera như một nguyên mẫu, với một phim hoạt hình theo phong cách cường điệu một mùa nhựa thô tục, kỳ lạ khung, xảo quyệt, tàn ác bạo chúa hình ảnh, trong khi mô tả trong Người dân ở đây ly hợp chiếm ưu thế, trong đó sự thiếu hiểu biết rộng rãi, nghèo đói, đau khổ, bầu không khí khủng khiếp. Dựa trên nghiên cứu này cho thấy thực tế sâu sắc về các vấn đề xã hội hơn so với phạm vi bảo hiểm rộng điển hình của nghệ thuật, trong việc giảm gần nửa thế kỷ sau khi công bố mặc ngày hôm nay, công tác này vẫn còn nhận ra rằng không có thiếu ý nghĩa xã hội quan trọng. "Ngài Tổng thống", với Ust Lal 彼特里 các "đám tang của nhà độc tài", Gabriel Garcia Marquez của "Phụ huynh của suy giảm", Jose Luis Garcia Sanchez " Tyrant Banderas 'đồng gọi là "chống độc tài bốn tiểu thuyết Mỹ Latinh." Miguel Angel Asturias, 1967 người chiến thắng của giải Nobel Văn học. *** Văn học Mỹ Latin được giới thiệu ở miền Bắc Việt Nam trước hết bởi tính chất cách mạng (xã hội) của nó. Đó là thơ văn từ nền văn học Cuba: Thơ An-giê-ri – Quy-ba (nhiều dịch giả, NXB Văn học, 1960; về sau, riêng tác giả Nicolas Guillén còn được Xuân Diệu tuyển dịch một tập: Thơ Nicôla Ghiden, NXB Văn học, 1981), tiểu thuyết Béc-ti-li-ôn 166 [Bertillion 166], Giải nhất về tiểu thuyết do cơ quan trao đổi văn hoá giữa các nước châu Mỹ Latin, của José Soler Puig (Đức Ngọc dịch, NXB Văn học, 1962), kịch Đồng mía, Giải nhất văn học Cuba, của Paco Alfonso (Trần Công Tá dịch, NXB Văn học, 1965), truyện ngắn nhiều tác giả: Truyện ngắn Cuba (Lê Xuân Vũ dịch, NXB Văn học, 1964), về sau, còn hai tuyển tập truyện ngắn Cuba khác cũng được tuyển dịch: Giờ thì em không còn sợ nữa (nhiều người dịch, NXB Văn học, 1980) và Mặt đất và bầu trời (nhiều người dịch, NXB Lao động, 1984). Ngoài nền văn học dân tộc Cuba, thời gian này còn xuất hiện tác phẩm của các tác giả Mỹ Latin khác. Từ nền văn học Chile, thơ của Pablo Neruda (Thơ Pabơlô Nêruđa, Đào Xuân Quý dịch, NXB Văn học, 1961). Từ nền văn học Brazil, tiểu thuyết Những con đường đói khát của Amado (Huy Phương dịch, NXB Văn hóa, 1960). Từ nền văn học Guatemala, tiểu thuyết Ngài tổng thống của Asturias (Đặng Thế Bính, Vũ Cận dịch, NXB Văn học, 1964). Và, từ nền văn học Venezuela, tiểu thuyết Năm người im lặng của Miguel Otero Silva (Vũ Chính dịch, NXB Văn học, 1968)... *** MIGUEL ANGEL ASTURIAS (19/10/1899 – 09/06/1974) Giải Nobel Văn chương 1967 Miguel Angel Asturias là nhà thơ, nhà văn, nhà viết kịch người Guatemala gốc Indian Bắc Mỹ, học luật tại Đại học Guatemala, dân tộc học và thần học ở Sorbon, làm báo và dạy học, sớm tiếp xúc với các đại diện của phong trào siêu thực; năm 1929 công bố tập thơ trữ tình đầu tiên Ánh sao, năm 1933 viết Ngài Tổng thống, một tác phẩm u ám về chế độ độc tài ở Châu Mỹ Latinh. Trong những năm tình hình chính trị ở Guatemala tương đối dễ thở, M. Asturias vào ngành ngoại giao, làm tham tán Đại sứ ở Mexico, Argentina, đại sứ ở Salvador… Năm 1946, ông xuất bản cuốn Những người Maya được coi là tác phẩm lớn nhất của ông. Năm 1956, tổng thống than Hoa Kỳ lên nắm quyền đã tước quyền công dân của M. Astuiras và buộc ông phải di tản sang Buenos Aires, sau đó sang châu Âu. Ông vẫn tiếp tục hoạt động báo chí và sáng tác văn học. Năm 1966 lại xảy ra đảo chính ở Guatemala, bạn của M. Asturias trở thành Tổng thống, ông được chỉ định làm Đại sứ ở Pháp. Cùng năm này M. Asturias được trao tặng giải thưởng Lenin “Vì hoà bình giữa các dân tộc”, và năm sau ông được trao giải Nobel vì những tác phẩm xuất sắc bám rễ sâu xa vào những truyền thống văn hoá và huyền thoại của dân tộc Maya và thổ dân Mỹ Latinh. Asturias được coi là người mở đầu chủ nghĩa hiện thực huyền ảo Mỹ Latinh. Năm 1970, trong bối cảnh chế độ chính trị bắt đầu siết chặt lại, M. Asturias từ chức Đại sứ và tập trung thời gian, sức lực cho các hoạt động văn học cho đến cuối đời. Tác phẩm của M. Asturias đến với độc giả miền Bắc Việt Nam từ trước khi ông đoạt giải Nobel. Tiểu thuyết Ngài Tổng thống được các dịch giả Đặng Thế Bính và Vũ Cận chuyển ngữ, nxb Văn học xuất bản năm 1964. Ở Miền Nam, tạp chí VĂN số 109 ngày 01/07/1968 dành riêng để viết về M. Asturias và đăng các tác phẩm của ông; năm 1969, nxb Phù Sa (Sài Gòn) xuất bản tiểu thuyết Ngài Tổng thống qua bản dịch của Tâm Linh. Sau 1975, tác phẩm Mắt những người đã khuất (2 tập) của ông được nxb Văn học ấn hành năm 1986 qua bản dịch của Nguyễn Vĩnh. Ngoài ra một số truyện ngắn của ông cũng được dịch và đăng rải rác trong các tuyển tập và tạp chí Văn học nước ngoài. *** "Kêu vang kêu vang kêu vang ...... ......" Kinh Chiều chuông thì thầm như một lời cầu nguyện vang lên trên thành phố, đám đông người ăn xin cầu xin cuối ngày, kéo cơ thể kiệt sức mình để buộc các vuông, tập hợp dưới mái hiên của nhà thờ qua đêm. Xung quanh quảng trường được bao phủ bởi lính gác, bảo vệ an ninh của Tổng thống Cộng hòa. Trong bóng tối, Pala Đại tá Les quan hệ cha con, thậm chí, lỏng lẻo dưới hiên nhà, dừng lại ở một người ăn xin bên cạnh một 名叫佩莱莱, học trò đùa lời nói bậy của ông kêu lên: Carter, Pellet "Mẹ!" Levin từ mặt đất như Fengleyiban nhảy về phía đại tá, bột đá là kết quả của cuộc đời. Đại tá lỏng Caliente là tâm tình của tổng thống, cái chết đột ngột của ông cho tổng thống để loại trừ bất đồng chính kiến ​​cung cấp một cơ hội tốt. Vì vậy, dưới thời Tổng thống sắp đằng sau hậu trường, một khung-up âm mưu chính trị bắt đầu. Đầu tiên, khi cảnh sát bắt giữ tại hiện trường của những người ăn xin tội, tra tấn, buộc họ phải thừa nhận rằng kẻ giết người là không Peilai Lai Adams tướng và rau quả nhưng Fabio Carvajal Masters. Sau đó, Chủ tịch triệu tập một tâm Angel, nói cho anh ta vì một số lý do đặc biệt, các nhà chức trách sẽ bất tiện uy tín đạo đức Qana món ăn Adams tướng trong tù, vì vậy số phận của Tổng Thiên thần Canales lặng lẽ tiết lộ gió thúc đẩy anh ta bỏ trốn. Thiên thần lâu dài với một khuôn mặt thiên thần, đẹp trai, làm việc như hiệu trưởng, nhà ngoại giao, nghị sĩ, thị trưởng, và sau đó trở thành chủ tịch của những tên côn đồ thuê côn đồ. Ông đã ra lệnh cho Canales trở về nhà và thấy rằng có đã được giám sát chặt chẽ Phi hiến binh. Khi anh lang thang nhân dịp ngần ngại ngần ngại, tôi đột nhiên thấy một căn phòng đi ra một cô gái trẻ xinh đẹp, đó là những gì con gái nói chung Camilla Canales. Thiên thần đã có cơ hội đến trong một từ, về cha cô đã gặp, ông nói với các nhà chức trách sẽ bắt giữ ông vào ngày thứ hai, khuyên anh suốt đêm. Canales cân lại chấp nhận đề nghị của Angel. Vào ban đêm, với một vài tên côn đồ Thiên thần Canales đến gần nhà phục kích, ông đã có hai mục đích này đi, đầu tiên chuẩn bị một dòng, giám đốc một nhà riêng để ăn cắp một trò hề đêm đột kích, bao gồm các tướng bỏ chạy: và thứ hai ý định Jiaxizhenzuo, bắt cóc con gái của chung, vì ông nhận chung của ân sủng, và do đó con gái của ông cũng được hưởng các quyền nhất định. Tuy nhiên, xung quanh điệp viên gendarme tìm thấy tăng lên rất nhiều so với ngày khi họ tiếp cận các thiên thần nhà chung thức tỉnh này, tổng thống đã gửi cho anh bí mật mách không thực sự muốn đưa Fabio món ăn Adams là một lối thoát, nhưng bỏ chạy khi ông dự định sẽ tận dụng lợi thế nó giết công cụ trong âm mưu này, ông cũng là một bị khai thác. Đối với điều này không hạnh phúc hạnh phúc trong tâm trí của mình, xác định theo kế hoạch ban đầu để hoạt động bất kể hậu quả, để giúp sự nguy hiểm nói chung. Ông dẫn đầu đám đông leo trên mái nhà của các tướng nhà, cắt điện. Camilla thấy rằng phong trào, hét lên "kẻ trộm," điệp viên cảnh sát quân sự xung quanh nhà, nghe nói đến họ chỉ đơn giản là cướp phá tài sản trong phòng tối, Canales tướng bỏ chạy trong tình trạng lộn xộn, nhưng Thiên thần đưa thẻ Mira chuyển đến một căn phòng bí mật. Camilla bởi các kích thích, một số ngày trong Thông Thiên Học nhầm lẫn giữa Awoke sau đó khóc. Thiên thần đã nói với cô ấy để giữ không tự nhiên, vì vậy cô không thể không nhìn thấy lòng từ bi và sự dịu dàng. Ông đã cẩn thận để chăm sóc an ủi cô ấy, và sau đó đi cùng mình để tìm nơi ẩn náu với một số người chú của mình, nhưng các tướng Canales anh trai của anh liên quan vì sợ hãi, không có ai sẵn sàng chấp nhận cô. Desperate Camilla bệnh nặng, sắp chết. Thiên thần chỉ trong vài ngày đã được sản xuất cho các cô gái tình yêu chân thành vô tội của Chúa, cảm thấy rằng cuộc sống của họ không thể sống thiếu cô ấy. Ngày của ông canh gác Camilla xung quanh, và cuối cùng theo người hiểu biết lời khuyên Thaumaturgy già trước khi đám cưới của cô với giường của Camilla, hy vọng bởi sức mạnh của tình yêu vượt qua cái chết. Chắc chắn, một phép lạ đã xảy ra. Camilla ngày một tốt hơn với nhau, và cuối cùng đã hồi phục hoàn toàn. Chủ tịch triệu tập thiên thần nghe tin, một mặt ông đã cảnh báo thảm họa gây tử vong, mặt khác cho phép các tờ báo lớn đăng tải tin tức về đám cưới, và nói dối với họ trong dinh tổng thống được tổ chức đồ dùng cá nhân chủ trì của ông Chủ tịch một buổi lễ lớn. Thiên thần đã làm cho nó tất cả bằng cách nào đó. Tổng Canales lớn lên ở vùng nông thôn sau khi chạy trốn biểu ngữ thành công của sự công chính, đề xuất ý tưởng của một loạt các cải cách dân chủ, đa số người nghèo khổ nhận được phản ứng nhiệt tình, các thành phần của quân nổi dậy. Nhưng một ngày kia tướng cuộc hôn nhân đọc bài báo tin tức được công bố, cao chót vót cơn giận dữ hết hạn, các phiến quân cũng sẽ sụp đổ. Thạc Carvajal tại thủ đô là phí và bị kết án bị bắn vu. Chủ tịch ác người nước ngoài cốt lung lay tất cả thành công, nhưng anh không bỏ cuộc. Ngay Thiên thần nghe nhiều tin đồn rằng ông đã bí mật chống lại tổng thống, hỗ trợ cuộc cách mạng nói chung Canales. Thiên thần đã nghe rất đáng lo ngại, và nhanh chóng đi đến chủ tịch Bianbai. Tổng thống nói rằng nó thậm chí không nghe lời vu khống, ngược lại, vẫn nghĩ rằng đánh giá cao anh ấy, và quyết định gửi đại sứ của mình tại Hoa Kỳ. Thiên thần vui mừng rằng điều này là để thoát khỏi đất nước, đi từ chủ tịch của trời cho con thú. Ông và chia tay vợ, đồng ý và sớm đoàn tụ ở nước ngoài, họ hào hứng đi xe lửa đến bài mới của mình. Hóa ra ngay khi anh ta sắp rời đi, một nhóm binh lính lên tàu ông bị bắt, đưa vào ngục tối. Thiên thần tôi phát hiện ra rằng đây là một cái bẫy do tổng thống. Tin tức của chồng Thời gian bay của mình, Camilla buồn bã ở nhà, kết quả là luôn luôn tin tức. Ngay sau đó cô đã sinh ra một cậu bé, cuộc sống không có nơi nương tựa do, cô đã buộc phải chuyển nơi ở đến các vùng nông thôn. Thiên thần đã bị tra tấn trong ngục tối chỉ có một hơi thở, mỗi ngày suy nghĩ Camilla, nhờ sức mạnh của tình yêu kiên trì sống sót. Tuy nhiên, các nhà chức trách để gửi một giả ra một tù nhân và Angel cùng một tế bào, sau khi lừa đảo niềm tin của mình, nói với anh một tin nhắn giả mạo: Camilla vì chồng bị bỏ rơi, lòng hận thù, bất đắc dĩ cho tình nhân của tổng thống. Thiên thần nghe tuyệt vọng, Qijueshenwang. Hoạt động đánh giá cao Theme Điều này, hơn 20 triệu từ tiểu thuyết của phương tiện biểu hiện nghệ thuật chủ đề chống độc tài, phong cách thể hiện tư tưởng và nghệ thuật của tác giả. Chế độ độc tài châu Mỹ Latin trong lịch sử hiện đại là một trong những hiện tượng xã hội nổi bật nhất. Kể từ những năm 1920, các nước Mỹ Latinh có để thoát khỏi ách thuộc địa từ độc lập cho đến khi bắt đầu của văn học Asturias, gần 100 năm, "caudillos học thuyết" (hùng quân sự cai trị độc tài) như bệnh dịch hạch thường phổ biến ở mảnh Continental, một trở ngại nghiêm trọng đối với tiến bộ xã hội và phát triển kinh tế của quốc gia. Asturias bản địa của Guatemala, đã bị tàn phá bởi một số nhà độc tài. Các nhà văn tự là trong quy tắc tối Cabrera trải qua tuổi thơ và tuổi trẻ của mình trong. Để sử dụng cảnh sát thảm sát thám tử độc tài, bỏ tù và đàn áp của người dân, gây khủng bố trên khắp cả nước, Asturias cha vì ông từ chối phản bội lương tâm của họ bị bệnh, thấy nhẹ nhõm trở lại với nhiệm vụ luật sư làng, tất cả để Asturias trẻ Asturias lại ấn tượng khó quên. Sau đó, ông bước vào trường đại học tích cực tham gia cuộc đấu tranh chống chế độ độc tài, buộc phải lưu vong ở châu Âu vào năm 1932, khi hành lý của mình điền vào "người ăn xin chính trị" bản thảo. Asturias và những kẻ độc tài tử, và văn chương là vũ khí hữu ích nhất mà ông đã tham gia cuộc đấu tranh cuộc sống. Tuy nhiên, tiểu thuyết của ông không vì thế dòng chảy trong chính trị đơn giản. Các tác giả có mô tả này "Ngài Tổng thống", mục đích sáng tạo: "Có những tiểu thuyết chính trị phơi bày, tuy nhiên, tất cả mọi thứ có thể thấy rõ phía sau hình ảnh của một Tổng thống sống của Cộng hòa Mỹ Latinh, để xem loại trông giống như một thực tế hiện đại tôn thờ sức mạnh ma thuật cổ đại. (Tổng thống) là một người đàn ông của Thiên Chúa, Superman (không phân biệt có hay không điều này là đúng, chúng tôi miễn cưỡng), ông đã thay thế các chức năng của các tù trưởng bộ tộc trong xã hội nguyên thủy, với một số vị thần, như Thiên Chúa và đôi mắt trần nhìn thấy không nhìn thấy. "Đó không phải là quan niệm chung của các tác phẩm của một nhà độc tài bị buộc tội vi phạm cá nhân, nhưng sự phê phán nhân đạo với sự kết hợp của phân tích xã hội, cố tình tạo ra một tác phẩm văn học bạo chúa độc tài điển hình Mỹ Latinh. Ông là chuyên quyền và kẻ phản bội, mà còn cho hàng ngàn năm để đánh lừa các lực lượng của mê tín và sức mạnh siêu nhiên của quần chúng trong ngụy trang. Công việc là như một trung tâm, một phân tích sâu sắc về nguyên nhân gốc rễ của ý thức xã hội và bản chất của chế độ độc tài. Nghệ thuật Cuốn tiểu thuyết mang tên "Ngài Tổng thống", trên thực tế các công trình chỉ chơi năm lần con số này, tác giả phác thảo một mực mưu ngấm ngầm rất hạn chế, khuôn mặt kiêu ngạo độc ác, và trong nhiều chương, người đọc chỉ từ các nhân vật khác lời nói và hành động, tâm lý và mô tả số phận của họ để xác định chúng như ma quái độc tài bí mật thống trị bóng tối. Ông là vô hình, nhưng ở khắp mọi nơi, tất cả mọi người đang sống trong trái tim của các vị thần. Với cuốn tiểu thuyết này để trở thành thạc sĩ, với tình hình thực tế cách này, hình ảnh của bạo chúa bỏ sương mù bí ẩn. Hơn nữa, để làm nổi bật công việc của đề tài này, nhà văn dành rất nhiều sự khéo léo. Hoàng hôn cuốn tiểu thuyết giống như một câu thần chú như chuông nhà thờ bắt đầu đáng sợ, làm cho bầu không khí tôn giáo mạnh mẽ, một thảm họa trên là màn đêm buông xuống. Nhiều người trong khóc bút của tác giả, rên rỉ, khóc, chiến đấu, nhưng vẫn không thể phá vỡ bầu không khí ngột ngạt của khủng bố. Nhà độc tài vẫn tuyệt vời, thái quá khát máu, nạn nhân vô tội vẫn không được trợ cấp. Là kinh chiều chuông, câu chuyện đã kết thúc. Cuốn sách này được thiết kế giống như một bầu không khí ảm đạm của sự đàn áp dưới sự cai trị của ma quỷ của địa ngục. Fiction là một nhân vật quan trọng Cara de Angel, tên của ông có nghĩa là "thiên thần mặt" các tác giả đã viết thường, ông luôn luôn nhắc nhở "Anh ấy là như thế, như Sa-tan, xuất hiện xinh đẹp, trái tim nham hiểm" hàm ý Thiên thần có một tính cách kép, như Kinh Thánh rằng đối với "thượng đế" không trung thành "ma quỷ." Với sự phát triển của cốt truyện, một chút của nhân loại Thiên thần phục hồi trong tâm trí, anh bắt đầu mơ về cuộc sống của một con người thực sự, và nhà độc tài không rõ ràng, bị mất điều khiển chương trình, đã được đưa vào một hầm ngục cho đến khi chết. Điều này cũng giống Kinh Thánh rằng Thiên Chúa sẽ thiên thần nổi loạn đã giảm xuống địa ngục, để những câu chuyện của bản án cấp phát diệt vong gần như giống hệt nhau. Asturias Kinh Thánh ám chỉ khéo léo vay thể hiện ý nghĩa nhất định, viết nổi loạn của nhân loại chống lại cái ác, làm sâu sắc hơn rất nhiều các tác phẩm chủ đề. Cuốn sách tác giả lặng lẽ về tất cả mọi thứ trên bề mặt, trên thực tế, mỗi từ của mỗi câu với một thích mạnh mẽ và không thích là. Tiểu thuyết kết thúc bi thảm mọi người đọc làm dấy lên sự phẫn nộ chống lại chế độ độc tài, mà còn làm cho mọi người nhận thức được để chống chọi lại số phận, Gan Đặng Nucai là không có lối thoát. Để diệt trừ bệnh ung thư Fengyun chế độ độc tài ở châu Mỹ Latinh, chúng ta phải đập tan xiềng xích của sự mê tín và thuyết định mệnh. Đây là nghệ thuật của những lời nói dối thành công của cuốn tiểu thuyết. *** Miguel Angel Asturias (Miguel Ángel Asturias 1899-1974) nhà văn Guatemala và nhà thơ. Sinh ra tại Guatemala. Cuộc sống của ông đã viết được mười tiểu thuyết, bốn bài thơ và một số vở kịch, cũng như ở Guatemala trong lịch sử văn học hiện đại đóng một vai trò quan trọng ở châu Mỹ Latinh. Năm 1899, Asturias sinh ra ở Guatemala City. Sinh ra và lớn lên ở các cư dân lục địa Ấn Độ đã trải qua thời thơ ấu và thanh niên. Sau đó, trở về thủ đô, học nghề luật sư là một luật sư sau khi tốt nghiệp đại học. Mời các bạn đón đọc Ngài Tổng Thống của tác giả Miguel Ángel Asturias & Đặng Thế Bính (dịch) & Vũ Cận (dịch).
Kẻ Lừa Dối
Hai cái xác không quần áo trong phong cô gái gọi cao cấp cùng những cuốn băng video hành nghề của cô ta liên quan gì tới một tài liệu quân sự tuyệt mật và thời kỳ Đông – Tây Đức còn chìa cắt ? Tại sao nguyên một con tàu vũ khí của nhóm khủng bố IRA khét tiếng bị “bắt sống” giữa biển khơi ? Và ai dám mạo nhận Nữ Hoàng Anh ban sắc chỉ tự phong cho mình chức Thống đốc một vùng lãnh thổ. Sau khi đã làm tan rã một tập đoàn ma tuý Columbia ? Chỉ một người trả lời được những câu hỏi ấy. Đó là Sam McCready. Kẻ Lừa Dối khét tiếng trong nghề song lại trung hậu, đáng yêu nhất trong đời. Và số phận của con người ấy ra sao !!?? ***   Mời các bạn đón đọc Kẻ Lừa Dối của tác giả Frederick Forsyth & Trần Hưng (dịch).
Cuộc Đời Bác Sĩ Arrowsmith
Cuốn sách Cuộc Đời Bác Sĩ Arrowsmith bao gồm các bình luận xã hội đáng kể về tình trạng và triển vọng của y học ở Hoa Kỳ trong những năm 1920. Arrowsmith là một người tiến bộ, thậm chí là một kẻ nổi loạn, và thường thách thức tình trạng hiện có của mọi thứ khi anh ta thấy nó muốn. Cuốn tiểu thuyết Cuộc Đời Bác Sĩ Arrowsmith này đã truyền cảm hứng cho nhiều thế hệ sinh viên tiền y và y khoa. Có rất nhiều đau khổ trên đường đi liên quan đến các quyết định sự nghiệp và cuộc sống. Trong khi kể chi tiết việc Arrowsmith theo đuổi những lý tưởng cao đẹp của nghiên cứu y học vì lợi ích của nhân loại và lòng tận tụy quên mình trong việc chăm sóc bệnh nhân, Lewis đã ném ra nhiều cám dỗ và sự tự lừa dối ít cao thượng hơn trong con đường của Arrowsmith. Sự hấp dẫn của sự an toàn tài chính, sự công nhận, thậm chí cả sự giàu có và quyền lực khiến Arrowsmith rời khỏi kế hoạch ban đầu để theo bước người cố vấn đầu tiên của mình, Max Gottlieb, một nhà vi khuẩn học tài giỏi nhưng có tính mài mòn. Trong cuốn tiểu thuyết, Lewis mô tả nhiều khía cạnh của đào tạo y tế, thực hành y tế, nghiên cứu khoa học, gian lận khoa học, đạo đức y tế, sức khỏe cộng đồng và xung đột cá nhân / nghề nghiệp vẫn còn phù hợp cho đến ngày nay. Sự ghen tuông nghề nghiệp, áp lực thể chế, lòng tham, sự ngu ngốc và sự cẩu thả đều được miêu tả một cách châm biếm, và bản thân Arrowsmith cũng đang bực tức tự cho mình. Nhưng cũng có sự cống hiến không mệt mỏi, và tôn trọng phương pháp khoa học và trí tuệ trung thực. *** Sinclair Lewis sinh ở Sauk Centre, Minnesota trong gia đình một bác sĩ. Học tiểu học tại Minnesota, sau đó học Đại học Yale. Tại đây Lewis in thơ và tham gia vào ban biên tập tạp chí văn học của trường. Trong kì nghỉ hè rảnh rỗi, Lewis viết cuốn tiểu thuyết The Village Virus (Virus nhà quê), mười lăm năm sau được phát triển thành tác phẩm danh tiếng Main Street (Phố chính). Năm 1912, cuốn sách đầu tiên của Lewis Hike and the Aeroplane (Cuộc dạo bộ và chiếc máy bay) được in dưới bút danh Tom Grame. Năm 1914, ông in tiểu thuyết Our Mr. Wrenn: The Romantic Adventures of a Gentle Man (Ông Wren của chúng ta) và tiếp tục viết nhiều truyện giải trí nhưng không được chú ý. Trong 15 năm sau đó, ông lang thang qua 40 tiểu bang nước Mỹ và nhiều nước trên thế giới để kiếm sống, tìm việc làm và thu thập tài liệu viết văn. Nguồn cảm hứng sáng tạo thực sự của Sinclair Lewis được khơi dậy chính là từ những ngày tháng sống trong toa xe ngủ tại nông trại Vermont ở Minnesota và các nhà trọ ở thành phố Kansas hoặc Savannah. Tất cả sự phong phú của cuộc sống qua các câu chuyện kể và sự tiếp xúc với giới bình dân và nhiều tầng lớp xã hội khác đã mang lại cho nhà văn nguồn tư liệu vô tận để miêu tả cuộc sống thật sinh động. Sinclair Lewis trở nên nổi tiếng thật sự bắt đầu từ tiểu thuyết Main Street (Phố chính, 1920) - cuốn sách gây nên hai luồng dư luận trái ngược nhau: một bên ca ngợi hết lời, một bên phê bình kịch liệt. Tác phẩm đỉnh cao trong sự nghiệp sáng tác của ông là Babbitt (1922). Với hai cuốn tiểu thuyết này Lewis đã tạo ra hai hình tượng điển hình trong văn học cận đại Mỹ: Babbitt điển hình cho người Mỹ tiểu tư sản tầm thường, nhạt nhẽo, ba hoa, và hám lợi; Main Street điển hình cho cuộc sống tỉnh lẻ, hẹp hòi, ngột ngạt ở các thị trấn, thành phố nhỏ của nước Mỹ. Năm 1925 cuốn Arrowsmith được trao giải Pulitzer nhưng ông không nhận. Còn giải Nobel năm 1930 dành cho Sinclair Lewis bị một số báo chí Mỹ phản ứng, coi là không xứng đáng vì cho rằng Lewis bôi nhọ nước Mỹ trong các tác phẩm của mình. Tiểu thuyết World So Wide (Thế giới quả là rộng lớn, 1951) là tác phẩm cuối cùng của ông. Cuối đời nhà văn nghiện rượu nặng và mất tại Roma ở tuổi 65. HARRY SINCLAIR LEWIS là con một bác-sĩ ở vùng quê, sinh tại Sauk Centre, Minnesota, năm 1885. Thuở thơ- ấu và niên-thiếu, ông ở Middle West và sau học tại Đại Học Đường Yale; ở đây ông làm chủ bút tờ văn-học tập-san. Sau khi tốt-nghiệp năm 1907 ông đến New York viết báo một thời-gian, rồi làm việc trong bộ biên-tập của nhiều tờ báo ở nhiều nơi từ East Coast tới California. Sau khi đã viết một số truyện đăng trong các tạp chí và xuất-bản được cuốn truyện đầu tay, Our Mr. Wrenn (1914) ông bỏ nghề viết báo. Tuy nhiên, Main Street (1920) mới thực là tác-phẩm thành công đầu tiên của ông, và cuốn Babbitt (1922) làm cho ông nổi danh thêm. Năm 1926, ông được thưởng giải Pulitzer về cuốn Arrowsmith (1925) , nhưng ông từ chối danh-dự này. Tuy nhiên, ông nhận giải Nobel người ta tặng ông năm 1930 và ông chính thức đến Stockholm để lãnh thưởng. Trong khoảng cuối đời ông, ông thường hay ở tại Âu-Châu và tiếp-tục viết cả hai thứ tiểu-thuyết và kịch. Năm 1950, sau khi hoàn thành cuốn truyện cuối cùng, World so Wide (1951) , ông dự định làm một vòng du-lịch xa rộng, nhưng ông bị đau và bắt buộc phải ở tại Rome mấy tháng để làm thơ. Ông mất tại đây năm 1951.   *** Một buổi chiều tháng Năm, nghị- sĩ Almus Pickerbaugh đương dùng cơm chiều với Tổng-Thống Hoa-Kỳ. Tổng-Thống nói, “Khi tuyển-cử xong rồi, tôi mong Bác-sĩ sẽ nhận một chức trong nội-các... chức Bộ- Trưởng Y-Tế đầu tiên của Hoa-Kỳ!" Chiều hôm đó, Bác-sĩ Holabird đọc diễn-văn trong một cuộc hội-họp những tư-tưởng-gia trứ danh do Hội Liên-Hiệp Văn-hóa tổ- chức. Trong số những “Nhân Vật Chỉ Vui có Hạn" lên diễn đàn có Bác-sĩ Aaron Sholtheis, Tân Giám-Đốc Viện McGurk và Bác-sĩ Angus Duer, Giám-đốc Dưỡng-đường Duer kiêm Giáo-sư giải-phẫu tại Y-Khoa Đại-Học-Đường Fort Dearbron. Bài diễn-văn lịch-sử của Bác-sĩ Holabird được vô-tuyến truyền-thanh đi cho hàng triệu thính-giả nhiệt-thành yêu khoa-học nghe. Cũng chiều hôm ấy, Bert Tozer ở tại Wheatsylvania tại North Dakota, đương dự một khóa lễ bán tuần. Chiếc xe hơi mới hiệu Buick của ông đậu bên ngoài nhà thờ đợi ông, và ông hoan-hỷ một cách khiêm-nhường, nhũn-nhặn nghe mục-sư giảng: "Thượng-đế đã dạy rằng: những kẻ chính-trực, ngay cả những ‘Đứa Con Của Ánh Vinh-Quang’, sẽ được thưởng một phần thưởng vĩ-đại và sẽ đi trên đường hỷ- lạc, còn những kẻ hay nhạo báng, những ‘Đứa Con của Ác Quỷ’ sẽ bị sát hại và quăng xuống hang sâu vực thẳm, và bị quên lãng trong chốn chợ đời tấp nập". Cũng chiều hôm ấy, Gottlieb ngồi im một mình không nhúc-nhích, trong một căn buồng tối tăm bé nhỏ trên lầu cao một ngôi nhà trong con đường ồn-ào nhộn-nhịp. Chỉ có đôi mắt của Ông là còn linh-động. Cũng chiều hôm ấy, một làn gió nóng miền nhiệt-đới thổi vật-vờ trong kẽ lá của dặng cây gồi nơi mà di-hài của Gustaf Sondelius đã tan ra cùng than bụi, và một quãng đất lún xuống trong một mảnh vườn ghi dấu mộ phần của Leora. Cũng chiều hôm ấy, sau một bữa cơm chiều vui vẻ khác thường với Latham Ireland, Joyce thú-nhận, "Vâng, nếu em ly-dị hẳn với anh ấy rồi, có lẽ em sẽ lấy anh. Em biết! Chẳng bao giờ anh ấy nhận thấy anh ấy có tính tự- tôn tự- đại kinh-khủng, tự cho mình là con người duy nhất ở đời bao giờ cũng có lý, không bao giờ lầm-lẫn cả!" Cũng chiều hôm đó, Martin Arrowsmith và Terry Wickett nằm dài trên một con thuyền xấu xí, một con thuyền bất tiện hết chỗ nói, trôi xa-xa ra giữa hồ. Martin nói, “Tôi cảm thấy như bây giờ tôi mới thật sự bắt tay vào làm việc. Cái thuốc ký-ninh mới này có lẽ khá lắm. Chúng mình còn phải vất-vả vài ba năm nữa may ra mới chế được thứ thuốc hoàn hảo – mà cũng rất có thể chúng mình sẽ thất bại!”   Mời các bạn đón đọc Cuộc Đời Bác Sĩ Arrowsmith của tác giả Sinclair Lewis & Bảo Sơn (dịch).
Những Lá Thư Ngày Thứ Tư
Sau cái chết bất ngờ của vợ chồng Jack và Laurel, các con của họ đã tìm được những lá thư mà Jack từng viết cho Laurel vào mỗi ngày thứ Tư hàng tuần trong suốt những năm dài họ chung sống. Đó là những bài thơ dễ thương Jack dành riêng cho vợ, là lời xin lỗi chân thành của Jack về tính khí nóng nảy của mình, là tình cảm không thể thành lời đối với những đứa con, là những buồn vui trong cuộc sống thường ngày... Những lá thư thấm đẫm tình yêu thương ấy đã giúp họ vượt qua sóng gió trong cuộc sống, khiến tình yêu của họ được thắt chặt và bền vững đến tận ngày cả hai cùng nhắm mắt lìa đời. Chính những lá thư vừa hóm hỉnh vừa sâu sắc ấy đã giúp con trai họ là Malcolm lần ra được bí mật lớn nhất của đời mình, đồng thời chúng còn là cầu nối để anh tìm lại tình yêu đích thực với Rain. Những lá thư ngày thứ Tư khắc họa nên một câu chuyện đời thường dễ thương và gần gũi, qua đó Jason F. Wright đã gửi gắm những thông điệp chân thành về tình yêu thương gia đình, về nét đẹp của những điều giản dị trong cuộc sống và về giá trị của lòng vị tha. Khép lại câu chuyện, độc giả sẽ bắt đầu muốn viết “Những lá thư ngày Thứ Tư” của riêng mình bởi những giá trị thiêng liêng mà quyển sách mang lại. *** NHỮNG LÁ THƯ NGÀY THỨ TƯ: "NƠI HỒI SINH TÌNH YÊU SAU CÁI CHẾT…" Jason Wright là tác giả của tiểu thuyết Christmas Jars bán chạy nhất nước Mỹ. Tiểu thuyết: Những lá thư ngày thứ tư ẩn chứa thông điệp về lòng vị tha, tình yêu thương, kể cả khi họ không còn trên thế gian này nữa. Trong cuộc sống, điều gì tạo nên mật ngọt nuôi dưỡng tình yêu và cuộc hôn nhân của những đôi vợ chồng đã bước sang tuổi xế chiều? Tình yêu và sự mãnh liệt của tình yêu có thể hồi sinh sau cái chết? Thông điệp: “Những lá thư ngày thứ tư kể về một câu chuyện ấm nồng, nhân văn như thế. Jack và Laurel là cặp vợ chồng hạnh phúc trong suốt nhiều năm trời. Mỗi ngày sống bên nhau Jack đều viết cho vợ những bức thư tràn đầy tình yêu thương, sự lãng mạn, ngọt ngào. Những bức thư viết tay ấy không được gửi đi cho đến khi cả hai người đột ngột qua đời. Tình yêu làm cho con người luôn cảm giác về sự bất tận của khoảng cách. Rồi một ngày thật hi hữu, Laurel lên cơn đau tim và đột tử. Jack trong nỗi đau mất vợ, nỗi đau của căn bệnh ung thư giai đoạn cuối, cũng vô tình mất trong ngày định mệnh ấy. Nhưng điều kì lạ, Jack và Laurel mất đi, vẫn đầy ắp tình thương yêu của của họ hiện hữu trong cuộc sống của những đứa con khi bất chợt tìm thấy những lá thư họ viết cho nhau. Những bức thư lúc ấy không chỉ là thông điệp về tình yêu mà còn là bài học sâu sắc, vô giá cho họ phải biết trân trọng từng giá trị bé nhỏ của cuộc sống khi còn được bên nhau, còn được yêu thương trên thế gian này. Và tình yêu khác mất đi, một tình yêu sau này sẽ hồi sinh và sẽ gìn giữ những giá trị quý giá đó. Bức thư “Mùa thứ 5” có thể nói lên tình yêu rút ruột mà Jack dành cho vợ yêu quý của mình: 24 tháng Mười Hai, 1958 Mùa Thứ Năm Gửi vợ của anh, Lauren nhân dịp Giáng sinh lần thứ mười chúng ta ở bên nhau, 1958 Mỗi mùa xuân mang đến cuộc sống mới, năng lượng và cây cối sinh sôi. Mùa hạ mang đến ánh nắng, sự ấm áp, dễ chịu, và dài lâu. Mùa thu mang đến bức tranh sơn dầu với màu sắc tinh tế chuyển biến nhẹ nhàng Mùa đông mang đến sức mạnh thủy chung, vẻ đẹp của màu trắng tinh khiết. Và mang em đến với anh. Em là tất cả những gì Thiên nhiên ban tặng, là một ơn lành, một món quà từ Thượng đế. Em là mùa thứ năm. Bức thư “Mùa thứ 5” có thể nói lên tình yêu rút ruột mà Jack dành cho vợ yêu quý của mình: 24 tháng Mười Hai, 1958 Mùa Thứ Năm Gửi vợ của anh, Lauren nhân dịp Giáng sinh lần thứ mười chúng ta ở bên nhau, 1958 Mỗi mùa xuân mang đến cuộc sống mới, năng lượng và cây cối sinh sôi. Mùa hạ mang đến ánh nắng, sự ấm áp, dễ chịu, và dài lâu. Mùa thu mang đến bức tranh sơn dầu với màu sắc tinh tế chuyển biến nhẹ nhàng Mùa đông mang đến sức mạnh thủy chung, vẻ đẹp của màu trắng tinh khiết. Và mang em đến với anh. Em là tất cả những gì Thiên nhiên ban tặng, là một ơn lành, một món quà từ Thượng đế. Em là mùa thứ năm. Những bức thư viết tay thấm đẫm yêu thương ấy được đặt vào câu chuyện như một điểm nhấn tạo nên những giá trị nhân văn cho câu chuyện cảm động trên. Nội dung cuốn tiểu thuyết được mô tả trong một khung cảnh đẹp đẽ, thơ mộng của vùng thung lũng Shenandoah, bang Virginia khi nhà văn Jason đang tìm cảm xúc để viết tiểu thuyết Những Lá thư ngày Thứ Tư.  *** Nhận xét “Jason là một tài năng thiên phú trong việc sáng tác ra những tiểu thuyết hấp dẫn. Dĩ nhiên tôi sẽ viết thư cho người vợ 44 tuổi của tôi vào mỗi ngày Thứ Tư” ––Kieth Merrill, đạo diễn điện ảnh đạt giải OSCAR “Một câu chuyện đáng yêu: đầy tính khích lệ, trong sáng, khôi hài, lôi cuốn cùng một kết thúc có hậu làm thỏa mãn độc giả.” ––Nhà xuất bản Weekly “Đó là một câu chuyện tình yêu lãng mạn với những giá trị tuyệt vời. Qua câu chuyện của họ, chúng ta sẽ thấy phép màu vẫn tồn tại!” –– Glenn Beck, phát thanh viên của chuyên mục trò truyện trên radio và đài CNN *** Lời cảm ơn   Xin được gửi lời cảm ơn đến những người luôn toàn tâm vì công việc: Kodi, Beverly, Sandi Lou, Sterling, Ann, Jeff, Terilynne, John, Adrienne, Lauren, Jon, Wilma, Stephanie, Amanda, Marshall, Katy, Emma, Ethan và Bailey. Cũng xin cảm ơn Monica, Kerri, Caren, Kalley, Nancy, Taylor, Ramona, Jeanette, Laurel, Matt, Christa, Laura, Janeal, Randa, Nicole, Cammy, Amanda, Cindy và Kathi. Thêm một lời cảm ơn đặc biệt đến Allyson Condie vì đã kiên nhẫn xem những trang bản thảo chưa hoàn chỉnh của tôi. Xin được chân thành cảm ơn sự giúp đỡ hết lòng của các anh chị em tại Nhà xuất bản Shadow Mountain, điển hình là Chris Schoebinger vì đã có một tầm nhìn chiến lược; Lisa Mangum vì phần biên tập tinh tế; Sheryl Dickert Smith vì kiểu thiết kế trang bìa đầy sáng tạo; Gail Halladay vì một khả năng tiếp thị đáng kinh ngạc; Tonya Facemyer vì tài năng đánh máy lão luyện; Angie Godfrey vì đã giữ cho tâm trí tôi luôn gắn bó với công việc và cuối cùng là Sheri Dew vì đã chấp nhận rủi ro đề xuất việc xuất bản. Cảm ơn người quản lý của tôi, Laurie Liss, vì những điều cô đã chia sẻ và tình bạn đáng quý mà cô dành cho tôi. Xin được dành lòng biết ơn vô hạn đến gia đình Schwartz và Faulkner vì đã cho tôi mượn nhà trong những ngày cuối tuần khi tôi cần sự yên tĩnh để sáng tác. Cảm ơn những con người tuyệt vời của Woodstock, bang Virginia, vì đã nhiệt tình hỗ trợ tôi trong công tác nghiên cứu và vì đã nồng nhiệt chào đón gia đình tôi gia nhập vào cộng đồng của họ. Xin gửi lời cảm ơn đầy yêu thương đến những đứa con của cha là Oakli, Jadi, Kason và Koleson vì đã chịu hy sinh “những ngày vui vẻ của cha và con” khi cha đang vật lộn để hoàn thành quyển tiểu thuyết này. Hẹn gặp các con ở Công viên W.O. Riley. Cảm ơn người vợ yêu dấu và tận tụy của anh, Kodi, vì đã luôn ở bên anh, kiên nhẫn đọc những bản thảo chưa hoàn chỉnh của anh, thay anh nhận phần lớn trách nhiệm nuôi dạy con cái, và vì hình ảnh em luôn nhắc nhớ trong anh để xây dựng nên nhân vật Laurel Cooper một cách chân thực nhất. Mời các bạn đón đọc Những Lá Thư Ngày Thứ Tư của tác giả Jason F. Wright.