Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Miền Đất Hứa Của Tôi - Khải Hoàn Và Bi Kịch Của Israel

Miền đất hứa của tôi là cuộc phiêu lưu cá nhân của một người Israel, băn khoăn trước ngập tràn biến cố lịch sử trên quê hương mình. Đây là một hành trình vượt không gian và thời gian của một người sinh ra tại Israel, nhằm khám phá câu chuyện đại sự của dân tộc mình. Thông qua lịch sử gia đình, lịch sử cá nhân và các bài phỏng vấn sâu, Shavit đã cố gắng tiếp cận câu chuyện sâu xa hơn và những câu hỏi sâu sắc hơn về Israel, về sự định hình tương lai của người Do Thái. Đây là một trong những cuốn sách quan trọng và có tác động mạnh mà Ari Shavit viết nhằm phục hồi cảm giác về thực tính của Israel và say sưa với nó, để khôi phục lại sự hùng vĩ của một thực tế đơn giản trong cái nhìn đầy đủ về các sự kiện phức tạp. Miền đất hứa của tôi gây ngạc nhiên về nhiều mặt, nhất là việc nó tương đối ít chú trọng tới việc cung cấp cho người đọc các thông tin về chính trị. Shavit, nhà bình luận trong ban biên tập của Haaretz, có một tư duy độc lập, không bị ảnh hưởng bởi bất kỳ học thuyết nào. Ông viết không để ca ngợi hay đổ lỗi, dù trong quá trình ấy ông đã làm cả hai điều này, thay vào đó, với sự uyên bác và tài hùng biện; ông viết để quan sát và phản ánh. Đây là cuốn sách ít thiên vị nhất về Israel. Một cuốn sách Phục quốc Do Thái nhưng không bị kích động bởi chủ nghĩa phục quốc. Nó nói về toàn thể trải nghiệm Israel. Shavit đắm mình trong toàn bộ lịch sử của đất nước mình. Dù một số  sự kiện trong đó làm ông tổn thương, song không gì là xa lạ đối với ông. Ông đã viết một chương xuất sắc về chính trị gia tham nhũng nhưng đầy sức hút, Aryeh Deri, và sự trỗi dậy trên chính trường của tôn giáo dòng Sephardi tại Israel, qua đó minh họa rõ nét tầm hiểu biết của mình. Tuy nhiên thật may đây không phải là một cuốn hồi ký; nó là một cuộc điều tra được viết với văn phong gần gũi. Shavit khám phá xã hội của ông với sự tỉ mỉ của một người đàn ông cảm thấy bản thân mình gắn với số phận của nó, và ông không ngần ngại nói về sự tan rã của nước cộng hòa Israel trong những năm gần đây. Theo quan sát của ông “Trong vòng chưa đầy 30 năm, Israel đã trải qua bảy cuộc nổi loạn trong nước khác nhau: cuộc nổi dậy của người định cư, các cuộc nổi dậy hòa bình, cuộc nổi dậy vì tự do tư pháp, cuộc nổi dậy phương Đông, cuộc nổi dậy của dòng Chính thống cực đoan, cuộc nổi dậy của chủ nghĩa khoái lạc cá nhân và cuộc nổi dậy của người Israel gốc Palestine.” Ông lo lắng, có lẽ có phần hơi quá, rằng đất nước ông đang tan rã: “Quốc gia khởi nghiệp này phải tự khởi động lại”. Chắc chắn là không có tình tiết giảm nhẹ nào cho sự bất bình đẳng kinh tế và xã hội mà ông mô tả, hoặc những xáo trộn hoàn toàn các chính sách định cư trong vùng lãnh thổ mà Israel có một mối quan tâm khẩn cấp và lâu dài trong việc di tản. Nhưng những lời khuyên và khích lệ của Shavit rằng “luận điểm cũ về nghĩa vụ và sự cam kết đã được thay thế bằng một luận điểm mới về sự phản kháng và chủ nghĩa khoái lạc”, và “thách thức trước mắt là thách thức giành lại quyền lực quốc gia”, là u ám và khắc nghiệt hơn so với giọng văn đầy nhiệt huyết và phóng khoáng trong cuốn sách. Và khái niệm “quyền lực quốc gia” thì đi kèm với những mối liên hệ không mấy hấp dẫn. Vùng đất hỗn loạn và ồn ào trong Miền đất hứa của tôi sẽ không thể được chữa lành chỉ với những cố gắng đơn thuần để đưa nó trở lại bình thường như trước đây. *** NHỮNG DẤU CHẤM HỎI Những gì tôi còn nhớ được là nỗi sợ hãi. Nỗi sợ hãi mang tính sinh tồn. Nơi tôi lớn lên - Israel giữa thập niên 1960 - đầy nghị lực, nhiệt huyết, và hy vọng. Nhưng tôi luôn cảm thấy đằng sau những ngôi nhà đẹp đẽ với bãi cỏ phía trước nhà của tầng lớp thượng lưu thành phố quê hương tôi là một đại dương tăm tối. Tôi lo sợ có ngày đại dương tăm tối đó sẽ trào dâng và nhấn chìm tất cả chúng tôi. Một trận sóng thần như trong thần thoại sẽ đập vào bờ và cuốn Israel của tôi đi. Nó sẽ thành một Atlantis(1) nữa, chìm sâu dưới đáy biển. Một sáng tháng 6 năm 1967, khi tôi chín tuổi, tôi đến bên cha dang cạo râu trong nhà tắm. Tôi hỏi ông, liệu người Ả-rập có thắng không. Liệu người Ả-rập có chinh phục Israel của chúng ta hay không? Liệu họ có ném tất cả chúng ta xuống biển không? Vài ngày sau, Chiến tranh Sáu ngày(2) bắt đầu. Tháng 10 năm 1973, tiếng còi báo động của thảm họa bắt đẩu rền rĩ. Tôi đang bị cúm, phải nằm trên giường sau buổi trưa ngày lễ Yom Kippur(3) yên tĩnh, khi những chiếc phản lực F-4 đang xé nát bầu trời. Chúng bay ở độ cao 500 feet(4) trên mái nhà chúng tôi hướng đến kênh đào Suez, chống lại lực lượng xâm lược Ả-rập bất ngờ đánh chiếm Israel. Nhiều chiếc, trong đó đã không bao giờ trở lại. Lúc đó tôi 16 tuổi, sững sờ khi nghe tin quân đội Israel thua trận tại sa mạc Sinai và Cao nguyên Golan. Trong 10 ngày kinh hoàng này, dường như nỗi sợ hãi ban sơ của tôi đã được chứng minh. Israel đang nguy nan. Những bức tường của Ngôi đền Thứ ba(5) của người Do Thái đang rung lắc. Tháng 1 năm 1991, Chiến tranh vùng Vịnh lần thứ nhất bùng nổ. Tel Aviv bị tên lửa SCUD của Iraq bắn phá. Có người còn lo lắng về khả năng Israel bị tấn công bằng vũ khí hóa học. Trong nhiều tuần, người dân Israel mang theo mặt nạ phòng độc khi đi lại. Thi thoảng, khi có cảnh báo là đầu đạn tên lửa đã được bắn ra, chúng tôi liền đeo mặt nạ chui vào những căn phòng bịt kín. Mặc dù sau đó hóa ra không phải, nhưng có điều gì đó khủng khiếp về thứ nghi lễ kỳ quái này vẫn đọng lại. Tôi lắng nghe âm thanh còi báo động, và hoang mang nhìn vào đôi mắt kinh hãi của người thân nhốt trong những chiếc mặt nạ chống độc do Đức sản xuất. Tháng 3 năm 2002, một làn sóng khủng bố làm Israel lo lắng. Hàng trăm người chết khi những đối tượng đánh bom cảm tử Palestine tấn công các xe buýt, câu lạc bộ đêm, và trung tâm mua sắm. Một đêm, khi tôi đang viết bài nghiên cứu về Jerusalem thì nghe một tiếng nổ lớn. Tôi nhận ra chắc là ở quán bar trong khu nhà tôi. Tôi chộp lấy tập giấy viết và lao ra phố. Ba chàng trai – ngồi trong quán trước những vại bia vơi một nửa - đã chết. Một phụ nữ nhỏ nhắn chết gục trong góc. Những người bị thương thì đang gào thét và khóc lóc. Khi nhìn vào địa ngục xung quanh trong ánh đèn sáng rực của quán bar đã nổ tung, tôi - một nhà báo - tự hỏi: Cái gì sẽ đến? Chúng tôi có thể chịu đựng được sự điên rồ này bao lâu nữa? Liệu có lúc nào sinh lực sống đầy tự hào của người Israel chúng tôi sẽ phải đầu hàng các thế lực gây chết chóc đang cố gắng hủy diệt mình? Chiến thắng quyết định trong cuộc chiến năm 1967 đã xua tan những nỗi sợ trước chiến tranh. Sự phục hồi vào các thập niên 1970 và 1980 đã chữa lành vết thương sâu của năm 1973. Tiến trình hòa bình thập niên 1990 đã hàn gắn thương tích năm 1991. Sự thịnh vượng cuối thập niên 2000 đã che đậy nỗi kinh hoàng của năm 2002. Chính xác là do ít hiểu biết, nên người Israel chúng tôi cứ khăng khăng tin vào bản thân, tin vào quốc gia-dân tộc và tương lai của mình. Nhưng qua nhiều năm, nỗi sợ hãi câm lặng của tôi vẫn không bao giờ qua di. Dù bàn bạc hay biểu đạt nỗi sợ hãi này là điều kiêng ky, nhưng nó vẫn luôn đeo bám tôi mọi nơi. Các thành phố của chúng tôi dường như được xây trên cát trượt. Nhà ở của chúng tôi dường như không bao giờ vững chắc hoàn toàn. Ngay cả khi dân tộc tôi trở nên mạnh mẽ và giàu có hơn, tôi vẫn cảm thây nó dễ bị tổn thương. Tôi nhận ra chúng tôi thường xuyên bị nguy hiểm đe dọa. Vâng, cuộc sống của chúng tôi tiếp tục sôi động, giàu có, và hạnh phúc về nhiều mặt. Israel tạo nên một cảm giác an toàn xuất phát từ thành công về vật chất, kinh tế, và quân sự. Sinh lực sống hằng ngày của chúng tôi thật thần kỳ. Nhưng vẫn luôn tồn tại nỗi sợ, rằng một ngày nào đó cuộc sống thường nhật sẽ tê liệt như ở Pompeii(6). Quê hương yêu dấu của tôi sẽ vụn nát khi đội quân Ả-rập khổng lồ hoặc lực lượng Hồi giáo hùng mạnh vượt qua hàng phòng thủ và xóa sổ sự tồn tại của nó. Những gì tôi còn nhớ được là sự chiếm đóng. Chỉ một tuần sau khi tôi hỏi cha, liệu các nước Ả-rập có chinh phục Israel không, thì Israel đã chinh phục những vùng đất người Ả-rập cư trú ở Bờ Tây và Gaza. Một tháng sau, cha mẹ, em trai và tôi bắt đầu một chuyến đi gia đình đến các thành phố bị chiếm đóng là Ramallah, Bethlehem, và Hebron. Đi qua nơi nào chúng tôi cũng thấy dấu tích của những chiếc xe jeep, xe tải và xe quân sự Jordan bị cháy. Những lá cờ trắng đầu hàng treo trên hầu hết các ngôi nhà. Một số con phố bị chặn lại bằng những xác xe hơi Mercedes đen vốn sang trọng nhưng đã biến dạng do xe tăng Israel nghiến lên. Nỗi sợ hãi hiện ra trong đôi mắt những dứa trẻ Palestine bằng và ít tuổi hơn tôi. Cha mẹ chúng xem ra đã bị đánh bại và bẽ mặt. Trong vài tuần, người Ả-rập hùng mạnh đã biến thành nạn nhân, còn người Israel bị nguy cấp lại trở thành kẻ chinh phục. Quốc gia Do Thái giờ đây hân hoan chiến thắng, tự hào và say sưa với cảm giác cuồng nhiệt về sức mạnh. Khi tôi ở tuổi vị thành niên, mọi thứ còn tốt đẹp. Chúng tôi hiểu chung chung rằng việc chiếm đóng quân sự là nhân đạo. Israel hiện đại đã mang đến sự tiến bộ và phồn vinh cho các vùng đất Palestine. Giờ đây, những người láng giềng lạc hậu của chúng tôi đã có điện, nước máy, và sự chăm sóc y tế mà họ chưa bao giờ có trước đây. Họ cần phái nhận thức được rằng cuộc sống của họ chưa bao giờ tốt đến vậy. Chắc chắn họ biết ơn vì những gì chúng tôi dành cho họ. Và khi hòa bình được thiết lập, chúng tôi sẽ trả lại phần lớn các lãnh thổ đã chiếm đóng. Nhưng lúc này, mọi thứ trên Đất Israel đều ổn cả. Trên khắp đất nước, người Ả-rập và Do Thái chung sống, bình yên, và sung túc. Chỉ khi đi lính tôi mới hiểu được có điều gì đó không ổn. Sáu tháng sau khi gia nhập lữ đoàn dù ưu tú của Lực lượng Phòng vệ Israel (IDF),(7) tôi được điều động đến chính những thành phố bị chiếm đóng mà mình đã đi qua lúc còn bé 10 năm trước. Giờ thì tôi bị phân công làm những nhiệm vụ bẩn thỉu: kiểm tra, quản thúc tại gia, giải tán biểu tình bằng bạo lực. Điều làm tôi tổn thương nhất là đột nhập vào những ngôi nhà, lôi các chàng trai ra khỏi giường ấm nệm êm đi thẩm vấn lúc nửa đêm. Thứ quái quỷ gì đang xảy ra thế này, tôi tự hỏi. Tại sao tôi lại bảo vệ tổ quốc mình bằng cách hành hạ những thường dân đã bị tước đoạt quyền và tự do? Tại sao Israel của tôi lại chiếm đóng và đàn áp dân tộc khác? Vì vậy, tôi trở thành người phản chiến. Trước tiên, với tư cách một người hoạt động xã hội trẻ tuổi và sau là nhà báo, tôi đã hăng hái đấu tranh chống lại sự chiếm đóng. Trong thập niên 1980, tôi phản đối việc thiết lập các khu định cư trên lãnh thổ Palestine. Thập niên 1990, tôi ủng hộ sự thành lập nhà nước Palestine do Tổ chức Giải phóng Palestine (PLO)(8) lãnh đạo. Trong thập niên đầu tiên của thế kỷ 21, tôi tán thành việc Israel đơn phương rút khỏi Dải Gaza. Nhưng hầu hết các chiến dịch chống lại sự chiếm đóng mà tôi tham gia cuối cùng đều thất bại. Gần nửa thế kỷ sau chuyến đi đầu tiên của gia đình tôi ở Bờ Tây bị chiếm đóng, Bờ Tây vẫn bị chiếm đóng. Như khối u ác tính, chiếm đóng trở thành một phần không tách rời trong sự tồn tại của nhà nước Do Thái. Nó cũng đổng thời trở thành một phần không tách rời trong cuộc đời tôi với tư cách một người Israel. Mặc dù tôi phản dối sự chiếm đóng, nhưng tôi cũng chịu trách nhiệm về sự chiếm đóng này. Tôi không thể phủ nhận sự thật hoặc chạy trốn sự thật là dân tộc mình đã trở thành một dân tộc đi chiếm đóng. Mãi đến vài năm trước, tôi đột nhiên nhận ra rằng nỗi sợ hãi mang tính sinh tồn liên quan đến tương lai dân tộc mình không tách rời tổn thương về đạo đức liên quan đến chính sách chiếm đóng của đất nước mình. Một mặt, Israel là dân tộc duy nhất ở phương Tây đi chiếm đóng dân tộc khác. Mặt khác, Israel là dân tộc duy nhất ở phương Tây bị đe dọa sự tồn tại. Cả sự chiếm đóng lẫn sự đe dọa đều khiến tình trạng của Israel trở nên đặc biệt. Đe dọa và chiếm đóng trở thành hai trụ cột trong tình trạng của chúng tôi. Phần lớn các nhà quan sát và phân tích phủ nhận tính hai mặt này. Những người cánh tả đề cập sự chiếm đóng và không chú ý đến sự đe dọa, trong khi những người cánh hữu chú tâm vào sự đe dọa và bỏ qua sự chiếm đóng. Nhưng sự thật là nếu không kết hợp cả hai yếu tố trong một thế giới quan, thì không thể hiểu hết Israel hay cuộc xung đột Israel-Palestine. Bất kể cách tư duy nào không gắn với hai điểm cốt lõi này, chắc chắn đều không đầy đủ và vô dụng. Chỉ có cách tiếp cận thứ ba mới thực tế, xem xét cả việc đe dọa và chiếm đóng, biết phải trái và nhìn nhận đúng lịch sử Israel. Tôi sinh năm 1957 tại thành phố đại học Rehovot. Cha tôi là nhà khoa học, mẹ là nghệ sĩ, và trong số những người sáng lập ra tổ chức Zion(9) có các cụ của tôi. Giống như phần lớn thanh niên Israel, tôi đi nghĩa vụ quân sự ở tuổi 18, tham gia lực lượng nhảy dù, và khi hoàn thành nghĩa vụ, tôi học triết tại Đại học Hebrew ở Jerusalem, nơi tôi tham gia phong trào hòa bình và sau đó là phong trào nhân quyến. Từ năm 1995, tôi viết cho tờ báo tự do hàng đầu của Israel, Haaretz. Mặc dù tôi luôn ủng hộ hòa bình và ủng hộ giải pháp hai quốc gia,(10) nhưng tôi dần nhận thấy những khiếm khuyết và thành kiến của phong trào hòa bình. Hiểu biết của tôi về sự chiếm đóng và đe dọa khiến tiếng nói của tôi có phần khác với mọi người trên truyền thông. Là người phụ trách chuyên mục, tôi thách thức các giáo điều của cả cánh hữu lẫn cánh tả. Tôi biết rằng không có câu trả lời đơn giản cho Trung Đông, và cũng không có giải pháp tình thế cho mâu thuẫn Israel-Palestine. Tôi nhận ra tình huống của Israel là vô cùng phức tạp, có lẽ thậm chí còn bi thương nữa. Trong thập niên đầu tiên của thế kỷ 21, Israel đã hành động hiệu quả. Khủng bố lắng xuống, công nghệ cao bùng nổ, cuộc sống hằng ngày sôi động. Về mặt kinh tế, Israel đã trở thành mãnh hổ. Để tồn tại, đất nước này đã trở nên mạnh mẽ, đầy sinh lực, sáng tạo và thích hưởng thụ. Nhưng đằng sau ánh sáng rực rỡ của câu chuyện thành công phi thường, lo lắng đang dâng trào. Mọi người bắt đầu lên tiếng hỏi những câu mà suốt đời tôi đã luôn tự hỏi. Giờ không chỉ là chính trị phe tả hay phe hữu nữa. Cũng không chỉ là thế tục đối lập với tôn giáo. Có điều gì đó sâu xa hơn đã xảy ra. Nhiều người Israel không an lòng với Israel mới nổi. Họ tự hỏi liệu mình còn thuộc về quốc gia Do Thái nữa hay không. Họ đã mất niềm tin vào khả năng chịu đựng của Israel. Một số đã lấy hộ chiếu nước ngoài; một số gửi con đi du học. Tầng lớp thượng lưu nhìn thấy một lựa chọn khác bên cạnh lựa chọn Israel. Dù phần lớn người Israel vẫn yêu quê hương và mừng vui với phúc lành của dân tộc, nhưng nhiều người đã mất niềm tin vững chắc vào tương lai đất nước. Khi thập niên thứ hai của thế kỷ 21 bắt đầu, có năm vấn đề khác nhau gây hoài nghi về khát vọng sống tham lam của Israel: quan niệm rằng xung đột Israel-Palestine có thể không giải quyết được trong tương lai gần; lo ngại rằng quyền bá chủ chiến lược khu vực của Israel bị thách thức; e sợ rằng tính hợp pháp của nhà nước Do Thái bị xói mòn; quan ngại rằng xã hội Israel vốn đã biến đổi sâu sắc giờ lại bị phân chia và phân cực, nền tảng dân chủ-tự do của đất nước đang sụp đổ; và nhận thức rằng chính phủ yếu kém của Israel không thể giải quyết triệt để những thách thức nghiêm trọng như chiếm đóng và rạn nứt xã hội. Mỗi vấn đề ở đây đều ẩn chứa một mối đe dọa đáng kể, nhưng ảnh hưởng chung của chúng còn gây ra nỗi sợ hãi khủng khiếp hơn. Nếu hòa bình không khả thi, liệu chúng tôi có chống lại được một xung đột kéo dài một thế hệ khi ưu thế về chiến lược bị đe đọa, tính hợp pháp đang mất dần, bản sắc dần chủ đang rạn nứt, và những mâu thuẫn nội bộ đang chia rẽ chúng tôi? Trong khi vẫn đổi mới, quyến rũ và mạnh mẽ, Israel đã trở thành một quốc gia bị nghi ngờ. Cảm giác lo lắng cứ lơ lửng trên mảnh đất này, như cái bóng lớn của một ngọn núi lửa sắp phun trào. Đây chính là lý do tôi dấn thân vào chuyến đi này. Sáu mươi lăm năm sau khi thành lập, Israel quay lại những câu hỏi chủ chốt. Một trăm lẻ sáu năm sau khi ra đời, chủ nghĩa Zion giờ dang đối mặt với những mâu thuẫn cơ bản của mình. Thách thức giờ đây vượt xa vấn đề chiếm đóng, và củng sâu sắc hơn hẳn vấn đề hòa bình. Điều mà tất cả chúng tôi phải đối mặt là câu hỏi về ba khía cạnh của Israel: Tại sao? Là gì? Sẽ thế nào? Câu hỏi này về Israel không thể trả lời bằng các bài bút chiến. Vì rất phức tạp, nên nó cũng không tự trở thành vấn đề để tranh cãi và phản đề được. Cách giải quyết duy nhất là kể câu chuyện về Israel. Đây chính là điều tôi cố gắng làm trong cuốn sách này. Theo cách riêng và qua lăng kính chủ quan, tôi đã cố gắng nhìn nhận sự tồn tại của chúng tôi trong một tổng thể, theo cách tôi hiểu. Cuốn sách này là cuộc phiêu lưu cá nhân của một người Israel, bối rối trước biến cố lịch sử ngập tràn trên quê hương mình. Đây là một chuyến đi trong không gian và thời gian của một người sinh ra tại Israel, nhằm khám phá câu chuyện rộng lớn của dân tộc mình. Thông qua lịch sử gia đình, lịch sử cá nhân, và các bài phỏng vấn sâu, tôi sẽ cố gắng nói đến câu chuyện rộng hơn và câu hỏi sâu hơn về Israel. Điều gì đã xảy ra trên quê hương tôi trong hơn một thế kỷ, đưa chúng tôi đến nơi mình đang sống? Chúng tôi đã đạt được điều gì ở đây và vấp phải sai lầm nào ở đây, và chúng tôi đang hướng tới đâu? Cảm giác lo âu sâu sắc của tôi có cơ sở không? Nhà nước Do Thái có thật sự lâm nguy không? Có phải người Do Thái chúng tôi đang mắc kẹt trong một bi kịch tuyệt vọng, hay chúng tôi vẫn có thể hồi sinh, tự cứu mình, và lấy lại được đất đai mà chúng tôi vô cùng yêu quý? (1) Atlantis là hòn đảo hư cấu được nói đến trong tác phẩm của triết gia Hy Lạp cổ đại Plato viết khoảng năm 360 trước công nguyên (TCN). Mặc dù sống trong một xã hội văn minh, nhưng con người ở đây trở nên tham lam, nhỏ nhen, suy đồi về đạo đức, nên các vị thần đã nổi giận, dùng lửa và động đất nhấn chìm Atlantis xuống biến sâu. Lưu ý: Toàn bộ chú thích trong sách là của người dịch, trừ các chú thích ghi rõ (BT) là của người biên tập. (2) Chiến tranh diễn ra từ 5-10/6/1967 giữa Israel và các quốc gia Ả-rập lân cận là Ai Cập, Jordan, và Syria. Israel chiến thắng áp đảo (nhờ yếu tố bất ngờ, kế hoạch chiến đấu sáng tạo) giành quyến kiểm soát Dải Gaza, bán đảo Sinai của Ai Cập, Bờ Lây và Đông Jerusalem của Jordan và Cao nguyên Golan của Syria. (3) Còn gọi là Ngày chuộc tội/Ngày lễ sám hối. Là ngày lễ thiêng liêng nhất trong năm của Do Thái giáo. Đế chuộc tội và ăn năn, người Do Thái dành 25 giờ ăn chay, chuyên tâm cầu nguyện và thường xuyên tham gia các nghi lễ ở giáo đường Do Thái. (4) 500 feet tương đương 152,4 m. (5) Trong lịch sử người Do Thái, Ngôi đền Thứ nhất do vua Solomon xây dựng vào khoảng thế kỷ 10 TCN, sau đó bị phá hỏng vào khoảng năm 587 TCN. Ngôi đền thứ hai được xây dựng vào năm 516 TCN và lai bị phá hỏng vào khoảng năm 70 sau CN. Ngôi đền Thứ ba chưa dược xây dựng. Nó vẫn nằm trong mong ước của người Do Thái. (BT) (6) Pompeii, thành phố La Mã cổ đại bị phá hủy và chôn vùi hoàn toan khi núi lửa Vesuvius phun trào năm 79, tình cờ được khám phá năm 1748 (sau 1.700 năm) nham thạch đã xóa sạch mọi sự sống, hơn 2.000 người chết, hơi nóng khủng khiếp khiến cơ thế họ ngừng hoạt động gần như ngay lập tức. (7) Viết tắt của “Israel Defense Forces”. (8) Palestine Liberation Organization, thành lập năm 1964 Hội nghị Thượng đỉnh Ả-rập năm 1974 công nhận PLO là “đại diện hợp pháp và duy nhất của nhân dân Palestine.” Năm 1993, PLO đã công nhận nhà nước Israel và Israel đã công nhận PLO là đại diện hợp pháp của nhân dân Palestine. (9) Zion là một phong trào chính trị ủng hộ sự phát triển nhà nước Israel; đây cũng là tên ngọn đồi phía đông thành phố Jerusalem, từng là trung tâm văn hóa-chính trị cúa người Do Thái dưới thời Vua David. Sau khi Vương quốc Judea thất thủ năm 70, Zion trở thành biểu tượng cho hy vọng phục quốc của người Do Thái. (10) Giải pháp cho cuộc xung đột Israel-Palestine, thành lập hai nhà nước của hai dân tộc: nhà nước Palestine độc lập tồn tại cùng nhả nước Israel ở bờ Tây sông Jordan.   Mời các bạn đón đọc Miền Đất Hứa Của Tôi- Khải Hoàn Và Bi Kịch Của Israel của tác giả Ari Shavit.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Ông Già và Biển Cả
Tóm tắt & Review (Đánh Giá) sách Ông Già và Biển Cả của tác giả Ernest Hemingway & Mặc Đỗ (dịch). VỀ NHỮNG NHÂN DANH, ĐỊA DANH TRONG SÁCH NÀY Để văn dịch được thật sự phổ cập và những bản dịch được hoàn toàn quốc ngữ hóa như của Trung Hoa, Nhật Bản, dịch giả đề nghị áp dụng trong bản dịch này việc phiên âm những nhân danh, địa danh. Phương pháp đề ra chưa chắc đã hoàn hảo; dù sao ta cứ bước một bước đầu. NGUYÊN TẮC CHUNG Nhân danh, địa danh của nước nào thì phải cố gắng phiên âm theo đúng âm của nước đó. Những danh từ đã quá quen thuộc nên giữ lại. Thí dụ: Anh, Pháp, Nga, Mỹ… Nhưng nếu phiên âm đúng hơn và sẽ tiện dụng hơn thì nên đổi: Pari hơn Balê. PHƯƠNG PHÁP Viết dính các âm. Viết rời nếu danh từ gốc viết rời. Cố giữ để khỏi xa với cách viết (theo mẫu tự latinh) của danh từ gốc. Thí dụ: không thay S bằng X (Sanhtơny chớ không Xanhtơny). Không phân biệt cách đọc S và X, nhưng để phiên âm vần CH (Pháp) hay SH (Anh) dùng vần SH. Thí dụ: Shinông. Chấp nhận âm S câm. Thí dụ: Côngstăngtanh, Stăngbun. Chấp nhận thêm những vần không dùng trong Việt ngữ nhưng người Việt phát âm được: Bl, Br, Cl, Cr, Đr, (đơrơ), F (phơ), F1 (phơlơ), Fr (phơrơ), J (thay cho vần GI để khi đọc khỏi lẫn, thí dụ: Anjêri dễ đọc hơn Angiêri vì có thể lầm thành Angi-êri), Kl (Cơlơ), Kr (cơrơ), Z. Cố gắng phiên âm đầy đủ các âm của danh từ gốc, nhưng tránh dùng dấu Việt ngữ để nhấn mạnh nếu không cần thiết lắm, tuy gặp danh từ gốc cố ý nhấn mạnh vẫn cần giữ cho đúng với nguyên tắc chung. Thí dụ: Odessa có thể viết Ôđesa, nhưng Madagascar phải viết Mađagátca. *** LỜI NGƯỜI DỊCH Đem kinh nghiệm bản thân gửi vào tác phẩm, chủ đích nghệ thuật đó Ernest Hemingway đã giải bày trong cuốn The Snows of Kilimanjaro: một nhà văn khi hấp hối nhớ lại những mẩu đời của mình đã toan để dành đưa vào trong truyện. Toàn thể những tác phẩm đã xuất bản của Hemingway đều là những vang bóng của những quảng thời gian mà chính tác giả đã từng sống. Thời thơ ấu ở Michigan (In Our Time), kỳ đại chiến thứ nhất trong quân đội Ý (A Farewell to Arms), huấn luyện viên võ thuật (Fifty Grend), dự đấu bò tại Tây Ban Nha (The Undefeated), sáu năm sống cuộc đời ly hương tại Montparnasse, Paris (The Sun Also Rises), tham gia nội chiến Tây Ban Nha trong hàng ngũ dân chủ (For Whom The Bells Toll), Cuốn Ông già và Biển cả (The Old Man and the Sea) chúng tôi trình bày cùng độc giả, rút ở những nhận xét tại chỗ hồi ông ở Key West, tận cùng mỏm Florida, thường đi theo dân chài ra khơi. Bằng chứng vào cuộc đời và những tác phẩm của Hemingway ta có thể nói không ngoa rằng nếu ông ở yên một chỗ ông sẽ không thể viết được. Trong một cuộc du lịch tại Phi-châu, ông và bà vợ cùng đi trên một chiếc máy bay riêng và mất tích giữa rừng rậm, báo chí thế giới đã sửa soạn bài ai điếu thì hai vợ chồng ông lại tìm về được không một chút thương tích. Tuy Hemingway sống rất nhiều, nhân vật trong tiểu thuyết của ông thường biểu lộ tâm trạng trơ trọi của con người bất phùng thời. Trơ trọi vì kiêu hãnh từ chối đầu hàng, không chịu phó mặc cho số phận. Ông lão đánh cá trong thiên truyện này là một thể hiện đặc sắc của sự trơ trọi kiểu Hemingway. Bị người đời rẻ rúng ông lão vẫn cương quyết đi con đường của mình cho trọn, chống trả kịch liệt cho đến thành công, rồi lại đem hết sức tàn ra đương đầu với Định Mệnh, không một lời ta oán, tin ở mình cho đến cùng. *** Tóm tắt Câu chuyện kể về Santiago, một ông già đánh cá già nua và nghèo khó, đã 84 ngày liền không bắt được con cá nào. Những người bạn đánh cá khác đã bỏ đi, chỉ còn lại Santiago tiếp tục ra biển một mình. Một ngày nọ, ông già đã câu được một con cá kiếm khổng lồ. Con cá quá lớn đến nỗi thuyền của ông già bị kéo ra xa bờ hàng trăm dặm. Santiago đã phải chiến đấu với con cá suốt ba ngày ba đêm, và cuối cùng ông đã bắt được nó. Tuy nhiên, khi con cá bị kéo lên thuyền, những con cá mập đã đến và ăn thịt nó. Khi Santiago trở về bờ, ông chỉ còn lại bộ xương của con cá. Review "Ông già và biển cả" là một câu chuyện về lòng can đảm, sự kiên trì và ý chí chiến thắng. Santiago là một người đàn ông kiên cường và bất khuất, không bao giờ bỏ cuộc trước khó khăn. Ông đã chiến đấu với con cá kiếm suốt ba ngày ba đêm, và cuối cùng đã bắt được nó. Câu chuyện cũng là một bài thơ về vẻ đẹp của biển cả và thiên nhiên. Hemingway đã miêu tả biển cả một cách sống động và chân thực, thể hiện sự tôn trọng và ngưỡng mộ của ông đối với thiên nhiên. "Ông già và biển cả" là một tác phẩm kinh điển của văn học Mỹ. Câu chuyện đã được dịch ra hơn 50 ngôn ngữ và được chuyển thể thành phim nhiều lần. Đánh giá chung "Ông già và biển cả" là một tác phẩm văn học xuất sắc, mang đến cho người đọc những cảm xúc sâu sắc và những bài học ý nghĩa. Câu chuyện là một bức tranh tuyệt đẹp về cuộc sống và sự đấu tranh của con người, và là một lời ca ngợi cho tinh thần kiên cường và ý chí chiến thắng. Những điểm nổi bật Cốt truyện hấp dẫn, lôi cuốn Nhân vật Santiago được xây dựng thành công Miêu tả thiên nhiên sống động và chân thực Mang đến những cảm xúc sâu sắc và những bài học ý nghĩa Kết luận "Ông già và biển cả" là một tác phẩm văn học đáng đọc, mang đến cho người đọc những trải nghiệm tuyệt vời. Mời các bạn mượn đọc sách Ông Già và Biển Cả của tác giả Ernest Hemingway & Mặc Đỗ (dịch).
Đi Tìm Gobi
Tóm tắt & Review (Đánh Giá) sách Đi Tìm Gobi của tác giả Dion Leonard & Nguyễn Thu Thảo (dịch). Giống như một điều kì diệu, “Đi tìm Gobi” kể về câu chuyện gặp gỡ thần kỳ giữa Dion - vận động viên điền kinh người Scotland và người bạn chó đặc biệt khi anh tham gia chạy đua quãng đường 250 km trên sa mạc Gobi (Trung Quốc). Không giống Sahara ở châu Phi, sa mạc Gobi có nhiều cồn cát, đồng bằng sỏi và núi đá hùng vĩ, gió ở đây có thể thổi mạnh lên đến 140 km/giờ. Nhưng Dion đã không hề cô đơn trong cuộc hành trình khó khăn khi một chú chó nhỏ đã chạy theo anh suốt đường đua và dính lấy anh như hình với bóng. "Tôi biết nếu nó chạy theo tôi sẽ ảnh hưởng đến cuộc đua của tôi, nhưng tôi không biết tại sao mình không thể từ bỏ nó được" – Dion chia sẻ. Tuy chỉ về thứ hai, nhưng với Dion, anh đã tìm thấy một món quà quý giá hơn cả, đó là chú chó Gobi - một người bạn đường đáng yêu và trung thành. Cuốn sách tập trung miêu tả những khó khăn, khắc nghiệt mà vận động viên chạy bộ gặp phải trên hành trình của mình, và hơn hết là ý chí bền bỉ, nhẫn nại để từng bước chinh phục hành trình ấy. Không đi sâu vào cách thức tập luyện, không đưa ra bất kì lời khuyên về chuyên môn nào, Finding Gobi chinh phục trái tim độc giả bởi câu chuyện nhân văn đan xen trong đó. *** ĐÊM QUA, Ê KÍP LÀM PHIM ĐÃ ĐÓNG MÁY. Ngày mai đại diện nhà xuất bản sẽ đến. Cả người tôi vẫn còn ê ẩm do dư âm của chuyến hành trình dài bốn mươi mốt giờ qua. Cho nên tôi và Lucja đã quyết định chuyến chạy bộ đầu tiên của năm sẽ chỉ chạy nhẹ nhàng thôi. Với lại, chuyến này không chỉ dành riêng cho hai chúng tôi thôi đâu. Còn cả Gobi nữa. Chúng tôi thong thả chạy qua quán bar, phi xuống con đường ngay bên cạnh Cung điện Holyrood. Dưới nền trời trong xanh, đồi cỏ mọc trên đường chân trời Edinburg hiện ra trước mắt. Đó là đồi Arthur’s Seat - Ngai vàng của vua Authur. Đến tôi còn chẳng nhớ nổi mình đã chạy lên ngọn đồi này bao nhiêu lần, mặc dù bạn biết đấy, ngọn đồi luôn tỏ ra hung bạo. Nào là những cơn gió táp vào mặt, buộc anh phải lùi bước. Nào là mưa đá sắc như dao cứa vào da thịt anh. Những ngày như thế, tôi lại thèm cái nóng 49 độ của sa mạc. Nhưng hôm nay, trời không gió cũng chẳng mưa đá. Khi chúng tôi leo lên, ngọn đồi cũng chẳng cau có khó chịu như mọi khi, như thể đang muốn khoe mình dưới bầu trời quang mây hiếm hoi. Gobi như biến thành một cô chó khác khi chúng tôi giẫm lên cỏ. Cô nhóc vốn nhỏ con đến mức tôi có thể dễ dàng cắp bên nách, nay lại lồng lộn như sư tử, kéo tôi chạy phăng phăng lên sườn đồi. “ Wow !” Lucja trầm trồ. “Coi nó tràn đầy năng lượng chưa kìa!” Không chờ tôi đáp, Gobi đã quay lại, thè lưỡi, hai mắt sáng bừng , tai vểnh, ngực ưỡn ra. Ái chà, chừng như nó hoàn toàn hiểu lời Lucja vậy. “Em chưa biết đó thôi,” tôi đáp, tăng tốc lên một chút để nới lỏng dây xích. “Chỉ khi về núi rừng nó mới như vậy.” Chúng tôi chạy ngày một xa, sắp đến đỉnh đồi rồi. Sao tôi lại đặt tên cho Gobi theo tên một sa mạc ấy nhỉ ? Sườn núi Thiên Sơn hiểm trở, lạnh lẽo mới là nơi chúng tôi gặp nhau lần đầu tiên cơ mà. Gobi quả là một nhà leo núi thực thụ. Càng đi, trông cô nhóc càng lí lắc hơn. Chẳng mấy chốc, cái đuôi ngắn ngủn của Gobi vẫy nhanh như chớp, nó lắc lư thân mình vì một niềm vui đơn thuần. Khi Gobi quay đầu lại lần nữa, tôi thề là tôi đã thấy nụ cười toe toét của nó. Nhanh lên nào! Cô nhóc giục. Tiến lên! Từ trên đỉnh đồi, tôi đắm mình trong những khung cảnh quen thuộc. Cả Edinburgh trải rộng dưới chân chúng tôi; xa hơn là Cầu Forth, những quả đồi ở Lomond, rồi từng dặm đường mòn West Highland Way dài chín mươi sáu dặm tôi từng chinh phục. Tôi còn trông thấy cả bắc Berwick nữa, trọn một đường chạy marathon chuẩn1* đây. Tôi mê cảm giác chạy dọc bờ biển, kể cả vào những ngày phải đánh vật với gió từng dặm đường một. 1* Đường chạy marathon chuẩn có cự li 26,2 dặm Anh, tức là khoảng 42,2 kilômét. Tôi đã ở đây được hơn bốn tháng rồi. Dù đã quen, nhưng ở đâu đó vẫn có chút khang khác. Phải chăng vì có Gobi. Cô nhóc quả quyết đã đến lúc xuống núi, rồi lôi tôi xềnh xệch xuống sườn đồi. Không phải bằng đường mòn chúng tôi đã đi lên mà lao thẳng xuống. Tôi nhảy qua những bụi cỏ và tảng đá to cỡ chiếc vali. Lucja vẫn duy trì tốc độ chạy kế bên tôi. Gobi dẫn đường đầy điêu luyện. Tôi và Lucja nhìn nhau rồi cùng bật cười, tận hưởng khoảnh khắc chúng tôi hằng mong mỏi. Khoảnh khắc cả gia đình chạy cùng nhau. Chạy không phải lúc nào cũng vui. Với tôi mà nói, chạy chưa bao giờ vui. Có lẽ sẽ có khen thưởng và thỏa mãn, nhưng không phải là thứ niềm vui có thể bật cười thành tiếng như giờ khắc này. Gobi muốn chạy tiếp, vì vậy chúng tôi để nhóc ta kéo đi. Nhóc ta dẫn chúng tôi đến bất cứ nơi nào nhóc ta muốn, lúc quay lên đồi, lúc chạy xuống đồi. Không theo kế hoạch huấn luyện hay lộ trình định trước nào. Không lo âu. Không câu nệ. Chỉ là một giây phút vô tư lự, và cũng vì thế mà tôi vô cùng thấy cảm kích. Sáu tháng đã qua, tôi thấy mình cần điều đó lúc này. Tôi đã đối mặt với những thứ tôi chưa từng dám nghĩ tới chỉ bởi vì cô cún Gobi này, nhúm lông nâu bé tí tẹo đang chạy phăng phăng, làm bả vai tôi như muốn trật đến nơi. Tôi từng đối mặt với nỗi sợ hãi chưa từng biết đến. Tôi từng tuyệt vọng, loại tuyệt vọng có thể biến bầu không khí xung quanh bạn trở nên ảm đạm và mất đi sức sống. Tôi từng đối mặt với cái chết nữa. Nhưng đó chưa phải là tất cả. Còn rất nhiều chuyện tôi muốn kể cho bạn nghe. Về một cô chó nhỏ đã thay đổi chính tôi theo cái cách mà đến giờ tôi mới chớm hiểu. Mà có lẽ tôi sẽ chẳng bao giờ hiểu thấu được. Tuy vậy, tôi vẫn biết: Đi tìm Gobi là một trong những thử thách khó khăn nhất đời tôi. Và được Gobi chọn là một trong những hạnh phúc lớn nhất. *** Tóm tắt Câu chuyện kể về chuyến đi của Dion Leonard, một người đàn ông Scotland, đến Trung Quốc để chạy marathon. Trong chuyến đi này, anh đã gặp gỡ một chú chó con lạc đàn tên Gobi và quyết định nhận nuôi nó. Tuy nhiên, sau khi hoàn thành marathon, Dion phải trở về Scotland, còn Gobi vẫn ở lại Trung Quốc. Dion không thể quên Gobi, vì vậy anh đã quyết định quay trở lại Trung Quốc để tìm kiếm chú chó. Chuyến đi của anh gặp nhiều khó khăn và nguy hiểm, nhưng cuối cùng anh cũng tìm thấy Gobi. Review "Đi tìm Gobi" là một câu chuyện cảm động về tình bạn giữa người và động vật. Dion Leonard là một người đàn ông mạnh mẽ và kiên cường, nhưng anh cũng có những lúc yếu lòng và cô đơn. Gobi đã mang đến cho anh sự yêu thương và động viên, giúp anh vượt qua những khó khăn trong cuộc sống. Câu chuyện cũng là một lời ca ngợi sức mạnh của tình yêu thương. Tình yêu thương giữa Dion và Gobi đã vượt qua mọi trở ngại, giúp họ tìm thấy nhau và cùng nhau vượt qua những thử thách. Một số điểm nổi bật trong cuốn sách Câu chuyện cảm động về tình bạn giữa người và động vật. Lời ca ngợi sức mạnh của tình yêu thương. Cốt truyện hấp dẫn và lôi cuốn. Lối viết chân thực và giàu cảm xúc. Kết luận "Đi tìm Gobi" là một cuốn sách đáng đọc cho những ai yêu thích thể loại hồi ký và câu chuyện về động vật. Cuốn sách sẽ mang đến cho bạn những phút giây xúc động và suy ngẫm về ý nghĩa của tình yêu thương. Mời các bạn mượn đọc sách Đi Tìm Gobi của tác giả Dion Leonard & Nguyễn Thu Thảo (dịch).
Chuyến Du Hành Ngược Thời Gian
Tóm tắt & Review (Đánh Giá) sách Tập Truyện Ngắn Khoa Học Viễn Tưởng Thế Giới: Chuyến Du Hành Ngược Thời Gian của Nhiều Tác Giả. CHUYẾN DU HÀNH NGƯỢC THỜI GIAN, tập truyện ngắn khoa học viễn tưởng thế giới, nhiều người dịch. Tập sách gồm 14 truyện ngắn của các nhà khoa học viễn tưởng Liên Xô, Mỹ, Ba Lan, Bun-ga-ri, Tiệp khắc, Anh, Nhật về các lĩnh vực khác nhau của khoa học: vũ trụ, sinh vật, y học, người máy v.v... *** Trong thời đại cách mạng khoa học kỹ thuật bùng nổ của thế kỷ XX, truyện khoa học viễn tưởng - một khu vực đề tài văn học đang còn rất mới và đầy sức sống - được bạn đọc đặc biệt ưa thích và càng ngày càng hứa hẹn một tương lai phát triển rực rỡ. Ở nhiều nước, bên cạnh Hội nhà văn còn có Hội các nhà khoa học viễn tưởng, hàng năm có các giải thưởng khoa học viễn tưởng quốc tế và khu vực, các tác phẩm khoa học viễn tưởng được nhiều nhà xuất bản in hàng loạt thành những tủ sách riêng. Ở Việt Nam, cùng với bước tiến của khoa học kỹ thuật và trình độ văn hóa, giáo dục của nhân dân lao động được nâng cao, đọc sách khoa học viễn tưởng ngày càng trở thành một nhu cầu, một hứng thú đối với đông đảo bạn đọc, nhất là thanh niên và trí thức. Để đáp ứng nhu cầu đó, tiếp theo các cuốn “Trinh vân tiên nữ”, “Bóng dáng thời xưa”, “Gió vĩnh cửu” v.v... Nhà xuất bản Lao động lần này cho ra mắt tập sách Khoa học viễn tưởng mới: “Chuyến du hành ngược thời gian”. Đây là một trong những cố gắng đầu tiên giới thiệu với bạn đọc Việt Nam thế giới Khoa học viễn tưởng thông qua một thể loại văn học nhỏ về số trang nhưng hấp dẫn: truyện ngắn. Tập sách bao gồm 14 truyện ngắn của các nước có truyền thống khoa học viễn tưởng rất mạnh hiện nay, như Liên Xô, Mỹ, Ba Lan, Bun-ga-ri, Tiệp Khắc, Anh, Nhật Bản, với những tác giả nổi tiếng mà tên tuổi đã trở nên quen thuộc trong bạn đọc khoa học viễn tưởng thế giới, như Rư-bin (Liên Xô), A-di-mốp (Mỹ), Nhe-xơ-vát-ba (Tiệp Khắc) v.v... Nội dung tập truyện đề cập đến nhiều lĩnh vực khác nhau của khoa học: vũ trụ, sinh vật, y học, người máy v.v... nhưng không quá đi sâu vào các chi tiết kỹ thuật nặng nề. Truyện khoa học viễn tưởng không chỉ mang đến cho người đọc những hiểu biết về khoa học hiện đại và những dự kiến của nó trong tương lai (viễn tưởng). Dù viết về người máy hoặc những chuyến du hành lên các hành tinh khác hay xuôi ngược trong thời gian đằng sau các chi tiết ly kỳ hấp dẫn, vẫn nổi lên cái chủ yếu: con người. Con người của thời đại chúng ta, của thế kỷ XX sôi động với những suy tư, ước mơ, lo âu, hy vọng với những vấn đề đạo đức và thời sự rất hiện thực và gần gũi. Qua lăng kính phóng đại của trí tưởng tượng của các nhà viễn tưởng, chúng ta vẫn thấy rất rõ tinh thần lạc quan, nhân đạo, lòng tin vào khoa học, vào tương lai tiến hóa nhân loại trong tác phẩm của các nhà văn các nước xã hội chủ nghĩa (“Trái đất gọi”, “Giáo sư Béc-nơ thức giấc”...) và tính ích kỷ, vô nhân đạo, lợi dụng khoa học phục vụ mục đích lợi nhuận trong xã hội tư bản (“Những kẻ buôn đau đớn”, “Lịch sử một tai họa”, v.v...). Đề tài bạo loạn, chiến tranh và hòa bình cũng được trăn trở qua nhiều tác phẩm. Truyện khoa học viễn tưởng, vì vậy, ngoài giá trị nhận thức khoa học, còn có giá trị giáo dục rất lớn mà người đọc có thể ngẫm nghĩ thật sâu và tiếp nhận. Nhà xuất bản Lao động xin giới thiệu với bạn đọc “Chuyến du hành ngược thời gian”, và mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp phê bình của bạn đọc để có thể làm tốt hơn những tập sách sau.   NHÀ XUẤT BẢN LAO ĐỘNG *** Tóm tắt Tập truyện ngắn khoa học viễn tưởng thế giới "Chuyến du hành ngược thời gian" gồm 14 truyện ngắn của các nhà văn nổi tiếng đến từ nhiều quốc gia khác nhau, như Liên Xô, Mỹ, Ba Lan, Bun-ga-ri, Tiệp khắc, Anh, Nhật Bản. Các truyện trong tập sách đề cập đến nhiều lĩnh vực khác nhau của khoa học, từ vũ trụ, sinh vật, y học, người máy đến các vấn đề xã hội và triết học. Review Tập truyện là một bức tranh phong phú và đa dạng về khoa học viễn tưởng thế giới. Các truyện trong tập sách được viết theo nhiều phong cách khác nhau, từ hiện thực đến kỳ ảo, từ hài hước đến nghiêm túc. Một số truyện trong tập sách được đánh giá cao bởi tính sáng tạo và độc đáo, như "Chuyến du hành ngược thời gian" của Rư-bin (Liên Xô), "Người đàn ông từ tương lai" của A-di-mốp (Mỹ), "Chuyến bay đến quá khứ" của Nhe-xơ-vát-ba (Tiệp khắc), "Người máy" của Rô-bốt-xki (Liên Xô). Một số truyện khác lại mang tính triết lý sâu sắc, như "Chuyến đi của một người đàn ông" của Xta-ni-sláv-ski (Liên Xô), "Người máy và con người" của Ha-ri-son (Mỹ), "Thế giới của người máy" của Đô-mốt-xki (Liên Xô). Một số điểm nổi bật trong tập sách Sự đa dạng về chủ đề và phong cách Tính sáng tạo và độc đáo Tính triết lý sâu sắc Một số nhận xét về tập sách "Tập truyện là một món ăn tinh thần bổ ích cho những ai yêu thích khoa học viễn tưởng." - Một độc giả "Tập truyện là một bức tranh phong phú và đa dạng về khoa học viễn tưởng thế giới." - Một nhà phê bình văn học Kết luận Tập truyện "Chuyến du hành ngược thời gian" là một tuyển tập truyện ngắn khoa học viễn tưởng đáng đọc cho những ai yêu thích thể loại này. Tập sách mang đến cho độc giả những câu chuyện hấp dẫn, lôi cuốn và giàu ý nghĩa.   Mời các bạn mượn đọc sách Tập Truyện Ngắn Khoa Học Viễn Tưởng Thế Giới: Chuyến Du Hành Ngược Thời Gian của Nhiều Tác Giả.
Bán Mạng
Tóm tắt & Review (Đánh Giá) sách Bán Mạng của tác giả Yukio Mishima.   Tóm tắt Bán Mạng là một cuốn tiểu thuyết hài hước đen, châm biếm kể về hành trình đi tìm cái chết của Yamada Hanio, một người viết quảng cáo cho Tokyo Ad. Nhìn bề ngoài, Hanio có cuộc sống đáng ngưỡng mộ: trẻ trung, đẹp trai và công việc ổn định, lương cao. Thế nhưng thực tế trong nội tâm của Hanio là sự choáng ngợp bởi viễn cảnh vô nghĩa của cuộc đời, anh cố gắng tự tử để cầu mong được thấy một thế giới trải rộng và tự do, tuyệt vời phía trước nhưng bất thành. Vẫn ôm khát khao về một cái chết ngọt ngào, thoát khỏi thực tại, Hanio nghỉ việc và đăng tin rao bán mạng sống của mình trên mục rao vặt của một tờ báo. Từ đó cuộc sống Hanio bị đảo lộn và xoay chuyển, khi anh bắt đầu chấp thuận các lời đề nghị ngày càng kỳ quái của những người có nhu cầu mua mạng sống, mặc cho mục đích của họ lố bịch cỡ nào. Review Bán Mạng là một cuốn tiểu thuyết độc đáo và gây tranh cãi, được viết theo phong cách hài hước đen, châm biếm. Cuốn sách đã được dịch ra nhiều thứ tiếng và được coi là một trong những tác phẩm kinh điển của văn học Nhật Bản hiện đại. Cốt truyện của cuốn sách khá đơn giản, xoay quanh hành trình đi tìm cái chết của nhân vật chính, Yamada Hanio. Tuy nhiên, thông điệp mà tác giả muốn truyền tải lại vô cùng sâu sắc và ẩn chứa nhiều tầng ý nghĩa. **Thứ nhất, Bán Mạng là một lời phản ánh về sự vô nghĩa của cuộc sống hiện đại. Hanio, một người đàn ông trẻ tuổi, có tất cả những thứ mà xã hội coi là thành công: công việc tốt, thu nhập cao, ngoại hình đẹp trai. Thế nhưng, anh vẫn cảm thấy cuộc sống của mình vô nghĩa và trống rỗng. Anh không tìm thấy niềm vui hay ý nghĩa trong bất cứ điều gì. **Thứ hai, Bán Mạng là một lời châm biếm về chủ nghĩa tư bản hiện đại. Hanio, một người đàn ông bình thường, đã bị cuốn vào vòng xoáy của chủ nghĩa tiêu dùng và vật chất. Anh trở nên phụ thuộc vào những thứ vật chất bên ngoài để tìm kiếm niềm vui và ý nghĩa cho cuộc sống. **Cuối cùng, Bán Mạng là một câu chuyện về sự giải thoát. Hanio, sau khi trải qua những cuộc phiêu lưu kỳ lạ và gặp gỡ những người kỳ lạ, cuối cùng đã tìm được sự giải thoát cho bản thân. Anh chấp nhận cái chết như một thực tế nằm ngoài tầm kiểm soát của con người, và khi làm vậy, anh tìm thấy sự bình yên và hạnh phúc. Cuốn sách được viết với một giọng văn hài hước và châm biếm, nhưng cũng không kém phần sâu sắc. Tác giả đã sử dụng những tình huống và nhân vật kỳ lạ để phản ánh những vấn đề thực tế của xã hội. Đánh giá chung Bán Mạng là một cuốn tiểu thuyết đáng đọc đối với những người yêu thích văn học Nhật Bản và những người muốn tìm hiểu về những vấn đề sâu sắc của cuộc sống. Cuốn sách sẽ khiến bạn phải suy ngẫm về ý nghĩa của cuộc sống, sự vô nghĩa của chủ nghĩa tư bản hiện đại và sự giải thoát khỏi những thứ vật chất bên ngoài. Một số điểm cộng của cuốn sách: Cốt truyện độc đáo và gây tranh cãi. Thông điệp sâu sắc và ẩn chứa nhiều tầng ý nghĩa. Giọng văn hài hước và châm biếm. Một số điểm trừ của cuốn sách: Một số chi tiết có thể khiến người đọc khó chấp nhận. Kết thúc của cuốn sách có thể gây thất vọng cho một số người. Kết luận Bán Mạng là một cuốn tiểu thuyết độc đáo và đáng đọc. Cuốn sách sẽ mang đến cho bạn những giây phút giải trí thú vị và những suy ngẫm sâu sắc về cuộc sống. *** ĐƯỢC VIẾT THEO thể loại hài hước đen, châm biếm, Bán Mạng kể về hành trình đi tìm cái chết của Yamada Hanio, một người viết quảng cáo cho Tokyo Ad. Nhìn bề ngoài, Hanio có cuộc sống đáng ngưỡng mộ: trẻ trung, đẹp trai và công việc ổn định, lương cao. Thế nhưng thực tế trong nội tâm của Hanio là sự choáng ngợp bởi viễn cảnh vô nghĩa của cuộc đời, anh cố gắng tự tử để cầu mong được thấy một thế giới trải rộng và tự do, tuyệt vời phía trước nhưng bất thành. Vẫn ôm khát khao về một cái chết ngọt ngào, thoát khỏi thực tại, Hanio nghỉ việc và đăng tin rao bán mạng sống của mình trên mục rao vặt của một tờ báo. Từ đó cuộc sống Hanio bị đảo lộn và xoay chuyển, khi anh bắt đầu chấp thuận các lời đề nghị ngày càng kỳ quái của những người có nhu cầu mua mạng sống, mặc cho mục đích của họ lố bịch cỡ nào. Hình ảnh Hanio rao bán cuộc đời mình là sự phản kháng cuối cùng của một người đàn ông dưới chủ nghĩa tư bản hiện đại, không sợ cái chết, chấp nhận cái chết như một thực tế nằm ngoài tầm kiểm soát của con người, và khi làm như vậy, anh tìm được sự giải thoát khỏi sự vô nghĩa của cuộc sống đời thường. *** YUKIO MISHIMA (1925-1970) Tên thật là Hiraoka Kimitake. Thuở nhỏ, Mishima được dạy dỗ theo truyền thống khắc kỷ như quân đội. Sau khi tốt nghiệp đại học, dầu đỗ vào ngạch công chức cao cấp Bộ Tài chính, ông đã từ chức sau một năm sống đời “sáng vác ô đi tối vác về” để chọn con đường viết văn gian nan gai góc hơn. Là người có lý tưởng tôn quân bảo hoàng, ông đã cùng các bạn đồng chí hướng đánh chiếm doanh trại của quân đội Nhật ở Ichigaya ngày 25/11/1970 nhằm kêu gọi binh lính ở đó hành động, gây áp lực lên dư luận để sửa đổi hiến pháp cho phép Nhật Bản tái vũ trang. Giữa sự thờ ơ của mọi người, Mishima đã mổ bụng tự sát. Mời các bạn mượn đọc sách Bán Mạng của tác giả Yukio Mishima.