Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Mỗi Lần Gặp Em

“Được rồi, vì đang ở Anh nên con ước mình gặp được một chàng hiệp sĩ đẹp trai và lịch thiệp,” cô sửa lại. “Một người với tinh thần hiệp sĩ. Một người có công việc ổn định, ôn hòa và có một ngôi nhà với một căn phòng đủ rộng cho một buổi hòa nhạc piano. Và anh ấy sẽ yêu con như yêu chính bản thân. Nhiêu đó cũng không phải quá nhiều, phải không?” Năm 1999, Jessica Blakely – một cô gái người Mỹ không gặp may trong tình yêu – đã nhìn lên trời và ước được gặp một chàng trai có tấm lòng hào hiệp và coi cô bình đẳng vớianh. Điều ước đưa cô trở về năm 1260 và đến với Richard de Galtres, một hiệp sĩ được mọingười nể sợ, đồng thời là chủ nhân lâu đài Burwyck-trên- biển. Ban đầu, Richard không ưa Jessica bởi bản tính thẳng thắn và mạnh mẽ của cô. Nhưng anh từ từ phải lòng Jessica khi cô dần phá vỡ lớp vỏ bọc cứng rắn và giận dữ ở anh. *** Jessica Blakely không tin vào Định Mệnh. Tuy nhiên, khi đứng trên đỉnh chiếc cầu thang xoáy kiểu Trung Cổ và ngó xuống vực sâu ảm đạm phía dưới, cô phải tự hỏi mình, phải chăng từ trước đến nay, có ai đó đang chèo lái cuộc đời cô. Mọi thứ xảy ra không như cô nghĩ. Định Mệnh hẳn biết rõ cô chẳng có hứng thú gì với những tòa lâu đài trơ trọi, hoang vu hay những chàng hiệp sĩ trong những bộ áo giáp gỉ sét. Hẳn là như thế. Cô hít một hơi thật sâu và cố sắp xếp lại lần lượt tất cả những gì đã xảy ra, những gì đã khiến cô rơi vào hoàn cảnh hiện tại. Dường như chẳng có gì bất thường. Cô đi hẹn hò xem mặt rồi nhận lời mời cùng anh ta đến Anh trong kỳ nghỉ phép của khoa trường Đại học nơi anh ta dạy và rồi đầy háo hức lên máy bay với anh ta hai tuần sau đó. Chủ của trang viên xinh đẹp được bảo tồn từ thời nữ hoàng Victoria nơi hai người ở là Lãnh chúa Henry de Galtres. Jessica mê mệt ngôi nhà ngay từ cái nhìn đầu tiên. Nơi đây có những bữa tiệc sang trọng với những món ngon siêu phàm và được bao bọc trong lòng một vùng đồng quê bình dị. Vấn đề duy nhất là chẳng hiểu vì sao, Lãnh chúa Henry lại cho rằng tòa lâu đài đổ nát trong khuôn viên nhà mình là thứ gì đó rất cần được gìn giữ. Chỉ cần nhìn thấy nó là Jessica đã thấy lạnh hết cả sống lưng. Cô không hiểu tại sao và cũng không muốn tìm hiểu câu trả lời. Thay vào đó, cô để mình tận hưởng tất cả những tiện nghi hiện đại mà nhà Lãnh chúa Henry có. Và chắc chắn khi cô có thể buộc mình rời khỏi nơi được coi là căn nhà thứ hai này, cô có thể sẽ đi khắp London mua sắm bằng tiền tiết kiệm tại Harrods. Thế nhưng trước khi nhìn thấy những chiếc máy tính tiền, cô lại bị thôi thúc tìm nơi trốn trong lâu đài đổ nát ấy. Cuộc đời cô có điều gì đó vô cùng bất ổn. Một tờ giấy bốc mùi mốc meo suốt bảy thế kỷ đáp thẳng vào mặt khiến cô ho sặc sụa và phải phẩy tay trước mũi liên tục. Có lẽ lúc nãy, cô nên im lặng và tránh việc bày tỏ bất kỳ sự bất mãn nào trước Thượng Đế. Mọi thứ biết đâu sẽ tốt đẹp hơn nếu từ lâu cô biết giữ im lặng, có lẽ trước khi cô đồng ý với cuộc hẹn ấy. Cô nghĩ một lúc, nhưng rồi lại lắc đầu. Rắc rối của cô bắt đầu đã lâu, từ trước khi chuyến đi chơi với Archibald Stafford III diễn ra. Thật ra, cô có thể biết rõ từ khoảnh khắc nào cuộc đời cô đã lạc vào tay Định Mệnh. Đó là từ những buổi học piano. Khi cô 5 tuổi. Bạn sẽ chẳng bao giờ nghĩ rằng thứ mà tưởng chừng như rất vô thưởng vô phạt, rất ngây thơ, rất thân thiện với lũ trẻ lại dẫn một người phụ nữ theo con đường cô ấy chẳng có ý định đi. Nhưng Jessica chẳng tìm được một bằng chứng nào để phủ nhận điều đó. Những buổi học piano mang đến những học bổng nhạc lý, rồi dựng nên sự nghiệp âm nhạc cho cô, nhưng rồi không hiểu sao lại phá hủy các mối quan hệ xã hội, khiến cô không có sự lựa chọn nào ngoài việc chấp nhận lời mời mới nhất trong chuỗi những cuộc hẹn hò xem mặt vô vọng: Archie Stafford và đôi giày lười bóng lộn của anh ta. Archie là người bao trọn tất cả chi phí mời cô tới Anh trong một tháng. Anh ta đã giành được chuyến đi này nhờ chăm chỉ nịnh nọt trưởng khoa. Anh ta thực sự không hòa hợp với những người thường hội họp cùng trưởng khoa hay Lãnh chúa Henry ngồi hút xì gà từ nửa đêm cho tới lúc gà gáy, nhưng cũng có thể đó lại là những gì Archie khao khát. Jessica tự hỏi không hiểu anh ta cần một bạn hẹn tới mức nào mà lại mời cô đi cùng. Lúc anh ta ngỏ lời, cô còn bận nghĩ về những tách trà và bánh xốp nên không lo nghĩ gì về lời mời ấy. Một chuyến đi chơi do trường đại học tài trợ, điều đó đã khiến cô cảm thấy cực kỳ an tâm. Thật không may, làm khách của Archie nghĩa là phải nói chuyện với anh ta và đó là điều cô ước giá như mình có thể tránh trong ba tuần tới. Chỉ đến khi lên chuyến bay, cô mới khám phá ra anh ta đáng ghét đến mức nào. Cô tự nhủ sẽ không bao giờ để lộ hộ chiếu của mình cho bất cứ ai mà cô biết chưa đầy một tháng như trong trường hợp này nữa. Nhưng dù muốn hay không, cô vẫn bị kẹt với anh ta suốt chuyến đi này, có nghĩa là ít nhất thì cũng phải lịch sự trò chuyện. Hơn nữa, mẹ cô đã dạy phải luôn tỏ ra lịch sự. Tất nhiên, lịch sự không có nghĩa là cô không thể thỉnh thoảng trốn đi. Đó chính xác là những gì cô đang làm lúc này. Thật không may, trốn nghĩa là phải kiếm một nơi Archie sẽ không bao giờ nghĩ rằng cô sẽ ở đó. Sâu trong lâu đài thời Trung Cổ nhà Henry. Cô tự hỏi, liệu báo động có kêu không nếu cô làm đứt mấy sợi dây chão chắn đường. Cô nhìn sang bên trái và nghĩ sẽ có khá nhiều người nghe thấy tiếng chuông báo động nếu nó kêu lên. Và có lẽ trong cơn hoảng loạn, sẽ không có ai chú ý đến cô. Rõ ràng Lãnh chúa Henry kiếm tiền để sửa chữa nhà mình bằng cách thực hiện các chuyến tham quan lâu đài này. Những chuyến tham quan này có vẻ như rất thu hút. Đoàn người hiện tại cho thấy điều đó. Jessica nhìn những khách tham quan. Họ đi thành hàng như một đàn gia súc và có thể họ sẽ chạy loạn lên nếu cô làm họ giật mình. Họ khó chịu đứng sát lại với nhau, trầm trồ nhìn những món đồ gia truyền, cũng đang chen chúc nhau. Marcham là một điểm đến thu hút hàng đầu và Jessica dường như đã hòa mình vào đám đông nhộn nhịp ngay lúc mà cô cần sự bình lặng và yên tĩnh nhất. Cô đã tham quan lâu đài và biết được nhiều thứ hơn cả những gì cô kỳ vọng về lâu đài Burwyck-trên-biển và lịch sử kèm theo nó. Và một bài học nữa về những sự kiện phức tạp thời Trung Cổ là điều cuối cùng cô cần đến lúc này. “Đương nhiên, lâu đài tại Marcham, hay còn gọi là Merceham, tên gọi của nó vào những năm 1300, là một trong những tài sản nhỏ mà gia đình này sở hữu. Mặc dù đã được mở rộng trong nhiều năm và đại tu trong thời kỳ Victoria nhưng nó cũng chưa phải là của cải quý giá nhất của gia đình. Tài sản quý giá nhất của gia đình de Galtres nằm cách đây 150 cây số trên bờ biển phía đông. Nếu đi thêm đoạn nữa, các vị sẽ thấy một bức tranh vẽ tòa tháp.” Đám đông khán giả ngoan ngoãn đi sang bên trái trong khi hướng dẫn viên tiếp tục nói. “Như các vị có thể thấy trên bức tranh vẽ Burwyck-trên-biển, theo ý kiến của tôi, thì điểm đáng chú ý nhất trong cơ ngơi của gia đình này là việc tháp vòm không xây tại trung tâm của sân trong như ở lâu đài Pembroke mà xây phía tường ngoài hướng ra biển. Tôi cá là chủ nhân đời thứ ba của gia đình de Galtres không muốn tầm nhìn ra biển bị cản trở...” Jessica hoàn toàn đồng ý với anh ta nhưng bây giờ, cô không quan tâm đến việc ngắm biển. Nếu tầng hầm được chăng dây thừng để ngăn cách thì có nghĩa là nó không có khách du lịch và hướng dẫn viên. Dưới đó có thể đầy nhện và những bóng ma, nhưng cô phải liều thôi. Archie sẽ không bao giờ nghĩ đến việc tìm cô ở đó. Cô có thể làm ngơ những bóng ma. Lũ nhện cũng có thể bị giẫm bẹp. Cô hơi co vai lại, tháo móc sợi dây chão rồi đi xuống. Cô dừng lại dưới chân cầu thang và tìm kiếm một nơi nào đó phù hợp. Những bộ giáp đứng nghiêm im lặng dọc theo bên bức tường. Ánh sáng lờ mờ cùng đầy rẫy những sinh vật không tưởng cũng chẳng thể ngăn cản cô. Cô bước qua từng phiến đá lót nền cho đến khi thấy một chỗ có vẻ phù hợp, rồi ngồi vào giữa một hiệp sĩ dữ tợn đang vung một thanh kiếm và một vị khác cầm giáo vẻ đáng sợ. Phủi qua chút mạng nhện, cô khẽ tựa lưng vào bức tường đá. Đây là lần đầu tiên trong ngày cô cảm thấy may mắn vì đã mặc một bộ váy dày. Một bộ trang phục thời Trung Cổ phù hợp với môi trường xung quanh, nhưng dường như rất ngớ ngẩn cho một buổi trà chiều - buổi trà chiều mà cô xuống tầng hầm này để trốn. Cả buổi trà chiều và Archie. Cô đưa tay vào túi và lôi ra vài thứ để thư giãn. Cô đặt một bịch kẹo bơ lạc ướp lạnh trên sàn đá một cách cẩn thận. Những thứ này cô sẽ để dành ăn sau. Một lon nước ngọt nữa. Sàn nhà đủ lạnh để bảo quản nó. Sau đó, cô lôi máy nghe đĩa CD cầm tay ra, đeo tai nghe, thả lỏng và cuối cùng, thở dài nhắm mắt lại rồi nhấn nút Play. Cảm giác lạnh lẽo lan ra khắp sống lưng nhưng không phải là do bức tường đá. Bản giao hưởng số 7 của Bruckner vào đúng thời điểm có sức ảnh hưởng như thế đối với cô. Jessica hít một hơi thật sâu và chuẩn bị cho những điều sắp đến. Bản giao hưởng bắt đầu một cách nhẹ nhàng. Cô biết rồi nó sẽ dần mạnh mẽ vàlớn hơn cho tới khi bao bọc lấy cô, làm cô không thở được. Cô cảm thấy hơi thở của mình bắt đầu gấp gáp và phải lau lòng bàn tay lên bộ váy. Bản nhạc vẫn hay như 139 lần trước cô nghe nó. Đây là thứ âm nhạc đến từ thiên đ... Chít chít. Jessica gần như hóa đá. Cô định mở mắt ra, nhưng cô biết chắc cô sẽ chỉ nhìn thấy một con chuột to bự bên cạnh mình. Lúc đó, cô sẽ ra sao? Đồ ăn vặt của cô vẫn còn trong bọc và vì nó cũng chẳng được tính là đồ ăn nên một con chuột muốn gì cơ chứ? Cô hướng sự chú ý của mình vào bản giao hưởng. Đó là London Philharmonic, một trong những ban nhạc yêu thích của cô. Kẹt, kẹt, kẹeeeeeeeeet. Một cái cửa chớp han gỉ chăng? Có cửa chớp trong tầng hầm? Không biết nữa. Cô không định mở mắt ra nhìn. Có lẽ có cái cửa nào đó gần đây và nó bị gió rít do những vị khách du lịch đi loanh quanh. Hoặc có thể đó là một cánh cửa sập vào ngục tối. Cô ngay lập tức phủ định cái ý nghĩ ấy, vì đó không phải là chỗ cô muốn tới. Cô nhắm mắt chặt hơn. Thật may là cô đã quen với việc tách mình ra khỏi những phiền nhiễu. Nếu không thì tiếng ồn này đã làm hỏng buổi chiều của cô. Mời các bạn đón đọc Mỗi Lần Gặp Em của tác giả Lynn Kurland.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Giọt Máu Ái Tình (2 Tập)
Tóm tắt & Review (Đánh Giá) sách Giọt Máu Ái Tình (2 Tập) của tác giả Việt Đông. Tên sách: Giọt máu ái tình - Cuốn 1,2 Tác giả: Việt Đông Nơi xuất bản: Sài Gòn Năm xuất bản: 1935 *** Việt Đông là bút danh. Ông tên thật là Lưu Thoại Khải. Hiện vẫn chưa biết năm sinh và mất, thân thế cùng quê quán của ông. Căn cứ vào tư liệu hiện còn thì Việt Đông bắt đầu viết văn từ năm 1930. Từ năm 1931 về sau, ông cùng Ellen Anh Hoa viết chung một loạt tác phẩm với độ dày mỗi cuốn 32 trang và dự định ra mắt bạn đọc mỗi tuần một cuốn. Những tác phẩm này, ông tập hợp trong bộ Việt Đông văn tập ký tên là Văn khoa học sĩ. Chi tiết trên được nhà văn ghi rõ ở trang cuối cuốn tiểu thuyết Tiếng súng lục liên, do nhà in Đức Lưu Phương, Sài Gòn, ấn hành năm 1931. Theo thông tin quảng cáo ở một số bìa sách thì rất có thể ông là chồng của nữ sĩ Ellen Anh Hoa, tức Huỳnh Thị Anh Hoa và hai người có viết chung một số tiểu thuyết như Ai người hẹn ngọc; Duyên chàng nợ thiếp; Thân gái dặm trường; Con ở chúa nhà ...   Kể cả những tác phẩm viết chung với Ellen Anh Hoa thì Việt Đông đã góp mặt cho văn xuôi Quốc ngữ Nam bộ hồi trước 1945 một khối lượng tác phẩm truyện và tiểu thuyết có thể nói là thật đáng kể, đồ sộ với 67 cuốn lớn nhỏ (có thể còn nhiều hơn, vì hiện chưa tìm được hết, bởi trên trang cuối các tiểu thuyết đã xuất bản, nhà văn có quảng cáo những tác phẩm sẽ xuất bản), với dung lượng ngắn nhất là 12 trang và dài nhất đến 116 trang. Những tác phẩm này thuộc nhiều thể loại khác nhau, được viết trong khoảng 08 năm, từ 1930 đến 1938. Do ông có dự định và bước đầu đã thực hiện được dự định ấy là ra bộ Việt Đông văn tập, mỗi tuần một cuốn, ký tên là Văn khoa học sĩ, nhằm đáp ứng yêu cầu và thị hiếu của số đông công chúng độc giả bấy giờ nên có nhà nghiên cứu cho rằng ông là “nhà văn thị trường” Về cách dựng chuyện và kể chuyện trong tác phẩm của Việt Đông có thể nói là ít có gì đặc sắc; cốt truyện thường dung dị, giản đơn, có khi trơn tuột. Đây cũng là nét chung của nhiều ngòi bút văn xuôi Quốc ngữ Nam Bộ hồi đầu thế kỷ cho đến 1945. Bởi đối tượng tiếp nhận, người đọc phần đông là tầng lớp bình dân như phu xe, chị bán hàng… mà nhà văn có viết như thế thì mới phù hợp với thị hiếu công chúng. Việc xây dựng nhân vật và khắc hoạ tâm lý nhân vật trong nhiều tác phẩm cũng chưa được nhà văn chú tâm khai thác đúng mức. Đây là điểm hạn chế lớn nhất của ngòi bút Việt Đông. Ngôn ngữ kể chuyện trong nhiều tác phẩm thì thường kể với giọng văn không ổn định, mang nhiều giọng: lúc thì trơn tuột, mộc mạc, rất giản dị như lời nói thường ngày; lúc thì cầu kỳ gọt giũa, dùng nhiều điển cố, điển tích; câu văn có lúc viết theo lối biền ngẫu ngày xưa nên phần nào ít phù hợp với hiện thực và tính cách nhân vật được nhà văn phản ánh. Riêng về đoản thiên tiểu thuyết và chuyện thần tiên thì tình tiết tưởng tượng ly kỳ, gay cấn, éo le, ít nhiều cũng gợi được sự tò mò và hấp dẫn cho người đọc. Như trên đã giới thiệu, số lượng truyện và tiểu thuyết của Việt Đông thì nhiều, nếu không muốn nói là đồ sộ, nhưng tư duy nghệ thuật, bút pháp kể chuyện của ông thì không mấy nổi bật, chưa tạo được dấu ấn riêng. Đọc truyện và tiểu thuyết của ông, người đọc cảm thấy nhàn nhạt, có khi nhàm chán. Đó cũng là lý do để cắt nghĩa tại sao tác phẩm và tên tuổi của Viết Đông chưa được người đọc nhắc đến nhiều và ít được các nhà văn học sử, các nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu nếu so với các cây bút khác cùng thời như Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Chánh Sắt, Phú Đức, Tân Dân Tử chẳng hạn. Nhìn chung, điều đáng quý là những tiểu thuyết của Việt Đông dù viết theo thể loại nào ít nhiều cũng đều có tính giáo dục, khuyến thiện trừng ác, sống đạo đức, khơi gợi lòng yêu nước, lòng tự hào về quê hương với những truyền thống đạo lý tốt đẹp. *** Tóm tắt Cuốn 1 Giọt Máu Ái Tình kể về câu chuyện của hai gia đình giàu có ở Sài Gòn trong những năm đầu thế kỷ 20. Gia đình Trần Văn Khải là một gia đình danh giá, có nhiều đất đai và nhà cửa. Gia đình Nguyễn Văn Hiếu cũng là một gia đình giàu có, có nhiều tiền bạc và quyền lực. Vào một ngày nọ, Trần Văn Khải và Nguyễn Văn Hiếu gặp nhau trong một cuộc đấu thầu. Cả hai đều muốn giành được quyền khai thác một khu đất vàng ở Sài Gòn. Trong cuộc đấu thầu, Trần Văn Khải đã giành chiến thắng. Nguyễn Văn Hiếu rất tức giận và muốn trả thù Trần Văn Khải. Ông ta đã sai người giết chết Trần Văn Khải. Sau khi Trần Văn Khải qua đời, vợ ông ta là bà Trần Thị Mai đã phải gồng gánh gia đình. Bà đã phải bán hết nhà cửa và đất đai để nuôi các con. Hai con trai của Trần Văn Khải là Trần Văn Liêm và Trần Văn Lợi đã trưởng thành. Trần Văn Liêm là một người đàn ông tài giỏi và có chí hướng. Ông ta đã thành lập một công ty xây dựng và trở nên giàu có. Trần Văn Lợi là một người đàn ông yếu đuối và nhu nhược. Ông ta đã bị Nguyễn Văn Hiếu lợi dụng và trở thành con rối của ông ta. Cuốn 2 Trong cuốn 2, Trần Văn Lợi đã kết hôn với con gái của Nguyễn Văn Hiếu là Nguyễn Thị Hoa. Ông ta đã bị Nguyễn Văn Hiếu ép buộc phải kết hôn với Hoa để đổi lấy một số quyền lợi kinh doanh. Trần Văn Liêm đã yêu Hoa từ lâu. Ông ta đã rất đau khổ khi biết tin Hoa sẽ kết hôn với Trần Văn Lợi. Sau khi kết hôn, Trần Văn Lợi và Nguyễn Thị Hoa đã có một đứa con trai. Tuy nhiên, hôn nhân của họ không hạnh phúc. Trần Văn Lợi vẫn yêu Hoa nhưng Hoa lại không yêu ông ta. Trong khi đó, Trần Văn Liêm đã kết hôn với một người phụ nữ khác. Ông ta đã có một cuộc sống hạnh phúc bên vợ và con cái. Cuối cùng, Nguyễn Văn Hiếu đã bị trừng trị vì những tội ác của mình. Ông ta đã bị bắt và bỏ tù. Review Giọt Máu Ái Tình là một tiểu thuyết tình yêu và báo thù. Tác phẩm đã khắc họa một cách chân thực những mâu thuẫn và xung đột trong xã hội Việt Nam thời kỳ đầu thế kỷ 20. Tác phẩm có những điểm mạnh sau: Truyện có cốt truyện hấp dẫn, lôi cuốn người đọc. Nhân vật được xây dựng sinh động, có tính cách và tâm lý phức tạp. Ngôn ngữ trong truyện giàu chất thơ, mang đậm màu sắc của văn học lãng mạn. Tuy nhiên, tác phẩm cũng có một số điểm hạn chế như: Một số tình tiết trong truyện còn thiếu logic. Nhân vật Nguyễn Thị Hoa được xây dựng chưa thực sự thuyết phục. Nhìn chung, Giọt Máu Ái Tình là một tác phẩm đáng đọc đối với những ai yêu thích thể loại tiểu thuyết tình yêu và báo thù. Đánh giá Giọt Máu Ái Tình là một trong những tác phẩm tiêu biểu của văn học Việt Nam giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám. Tác phẩm đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng độc giả bởi cốt truyện hấp dẫn, nhân vật sinh động và ngôn ngữ giàu chất thơ. Tác phẩm đã phản ánh một cách chân thực những mâu thuẫn và xung đột trong xã hội Việt Nam thời kỳ đầu thế kỷ 20. Đó là mâu thuẫn giữa giai cấp giàu nghèo, giữa cái thiện và cái ác, giữa tình yêu và thù hận. Tác phẩm cũng thể hiện tư tưởng nhân đạo của tác giả. Tác giả lên án những thế lực xấu xa, những kẻ gây ra đau khổ cho người khác. Đồng thời, tác giả ca ngợi tình yêu chân chính, tình mẫu tử và tình cảm gia đình. Giọt Máu Ái Tình là một tác phẩm văn học có giá trị. Tác phẩm đã góp phần làm phong phú thêm nền văn học Việt Nam. Mời các bạn mượn đọc sách Giọt Máu Ái Tình (2 Tập) của tác giả Việt Đông.
Tạ Ơn Thượng Đế
Tóm tắt & Review (Đánh Giá) sách Tạ Ơn Thượng Đế của tác giả Jean Vautrin & Vũ Đình Phòng (dịch). Bức tranh thơ mộng này thuật lại cuộc đời của ba thế hệ người Cajun, những người tiên phong rời nước Pháp đến định cư ở Lousiana. Những nhân vật này rất mạnh mẽ, phóng khoáng, cực đoan: Edius Raqun, người tiên phong cứng đầu, bà vợ Bazelle và cô con gái Azeline. Rồi đến chàng rể tương lai, Farouche Ferraille Crowley, người sống ngoài vòng pháp luật. Còn cả Palestine Northwood, thủy thủ từ Nantucket, và còn nhiều nhân vật khác của câu chuyện bắt đầu ở những nhánh sông và kết thúc ở New Orleans, vào thời điểm nhạc jazz xuất hiện. Lối hành văn của tác giả mô phỏng thổ ngữ ở Lousiana. *** Giải Goncourt, giải thưởng văn học danh giá của nước Pháp, vừa được trao cách đây vài giờ cho tác giả Hervé Le Tellier với tác phẩm «L'anomalie», được xuất bản bởi Gallimard. Lần gần nhất nhà xuất bản này có sách đoạt giải Goncourt là vào năm 2016 với «Chanson Douce» (Người lạ trong nhà) của tác giả Leïla Slimani. --- Giải Goncourt (Prix Goncourt) là một giải thưởng văn học Pháp được sáng lập theo di chúc của Edmond de Goncourt vào năm 1896. Hội văn học Goncourt thành lập chính thức năm 1900 và giải đầu tiên được trao ngày 21 tháng 12 năm 1903. Giải Goncourt, được sáng lập để trao mỗi năm cho «tác phẩm văn xuôi xuất sắc nhất trong năm», nhưng hầu như chỉ trao cho tiểu thuyết. Nó là giải thưởng văn học Pháp được mong muốn nhất. Mặc dù tiền thưởng của giải chỉ là 10 euro, nhưng sự nổi tiếng mà Goncourt đem lại cho cuốn sách sẽ là một phần thưởng lớn thay thế. Các thành viên của viện Goncourt họp vào các thứ ba đầu tiên mỗi tháng trong phòng khách của họ tại tầng hai nhà hàng Drouant ở Paris (Place Gaillon, quận 2). Tên người được giải sẽ công bố ngày 3 tháng 11 sau bữa ăn trưa tại nhà hàng (Năm nay, do ảnh hưởng của Covid-19 nên thời gian công bố đã được lùi lại). Giải chỉ trao cho mỗi nhà văn một lần. Duy có Romain Gary năm 1956 nhận giải với tiểu thuyết «Racines du ciel» (Rễ trời) và năm 1975 nhận một giải nữa với «La vie devant soi» (Cuộc sống ở trước mặt), nhưng dưới bút danh Émile Ajar. --- Một số cuốn sách đoạt giải đã được xuất bản tại Việt Nam: 1905: Những kẻ văn minh (Les Civilisés) - Claude Farrère 1916: Khói lửa (Le Feu) - Henri Barbusse 1919: Dưới bóng những cô gái đương hoa (À l'ombre des jeunes filles en fleurs) - Marcel Proust 1933: Thân phận con người (La Condition humaine)- André Malraux 1936: Sự tha thứ muộn màng (L'Empreinte du dieu) - Maxence Van der Meersch 1948: Những gia đình cự tộc (Les Grandes Familles)- Maurice Druon 1951: Bờ biển Syrtes (Le Rivage des Syrtes) - Julien Gracq 1956: Rễ trời (Les Racines du ciel) - Romain Gary 1970: Chúa tể đầm lầy (Le Roi des aulnes) - Michel Tournier 1974: Cô thợ thêu (La Dentellière) - Pascal Lainé 1975: Cuộc sống ở trước mặt (La Vie devant soi) - Émile Ajar 1977: Câu chuyện New York (John l'Enfer) - Didier Decoin 1978: Phố những cửa hiệu u tối (Rue des Boutiques obscures) - Patrick Modiano 1984: Người tình (L'Amant) - Marguerite Duras 1985: Những cuộc hôn thú man dại (Les Noces barbares) - Yann Queffélec 1987: Đêm thiêng (La Nuit sacrée) - Tahar Ben Jelloun 1988: Triển lãm thuộc địa (L'Exposition coloniale) - Erik Orsenna 1989: Tạ ơn Thượng Đế (Un grand pas vers le bon Dieu) - Jean Vautrin 1990: Chiến trường vinh quang (Les Champs d'honneur) - Jean Rouaud 1991: Những người con gái dòng Chúa chịu nạn (Les Filles du Calvaire) - Pierre Combescot 1995: Di chúc Pháp (Le Testament français) - Andreï Makine 1996: Chiếc máy bay tiêm kích Zéro (Le Chasseur Zéro) - Pascale Roze 1997: Chiến trận (La Bataille) - Patrick Rambaud 1998: Nỗi niềm (Confidence pour confidence) - Paule Constant 1999: Tôi đi đây (Je m'en vais) - Jean Echenoz 2000: Ingrid Caven - Jean-Jacques Schuhl 2001: Brésil Đỏ (Rouge Brésil) - Jean-Christophe Rufin 2003: Người tình của Brecht (La Maîtresse de Brecht) - Jacques-Pierre Amette 2004: Mặt trời nhà Scorta (Le Soleil des Scorta) - Laurent Gaudé 2005: Ba ngày ở nhà mẹ (Trois jours chez ma mère) - François Weyergans 2006: Những kẻ thiện tâm (Les Bienveillantes) - Jonathan Littell 2007: Alabama Song - Gilles Leroy 2008: Nhẫn thạch (Syngué sabour. Pierre de patience) - Atiq Rahimi 2009: Ba phụ nữ can đảm (Trois femmes puissantes) - Marie NDiaye 2010: Bản đồ và vùng đất (La Carte et le Territoire) - Michel Houellebecq 2012: La Mã sụp đổ (Le Sermon sur la chute de Rome) - Jérôme Ferrari 2013: Hẹn gặp lại trên kia (Au revoir là-haut) - Pierre Lemaitre 2014: Không khóc (Pas pleurer) - Lydie Salvayre 2016: Người lạ trong nhà (Chanson douce) - Leïla Slimani 2017: Chương trình nghị sự (L'Ordre du jour) - Éric Vuillard   Mời các bạn mượn đọc sách Tạ Ơn Thượng Đế của tác giả Jean Vautrin & Vũ Đình Phòng (dịch).
Câu Chuyện New York
Tóm tắt & Review (Đánh Giá) sách Câu Chuyện New York của tác giả Didier Decoin & Viễn Nguyên (dịch). Didier Decoin sinh năm 1945, bắt đầu con đường cầm bút với nghề làm báo rồi trở thành nhà văn có tên tuổi ở Pháp. Năm 1995, Didier Decoin được bầu làm tổng thư ký Viện Hàn Lâm Goncourt. Tác phẩm mang tên "John l’Enfer" (John Địa Ngục) - qua bản dịch của chúng tôi - "Câu chuyện New York" - đã được giải thưởng Goncourt năm 1977. Một nhà phê bình văn học viết trên báo Aurore bấy giờ đánh giá: “... Đối với tôi, đó là một trong những cuốn tiểu thuyết hay nhất tôi đã đọc trong mùa ấy”. Dịch giả Viễn Nguyên​ *** Didier Decoin viết nhiều truyện dài và kịch bản đã chuyển thành phim. "Khi chiếc xe tải của hãng truyền hình NA đến hiện trường xảy ra tai nạn, đám đông đã tự động tản ra làm hai nhóm; trên lề đường nhốn nháo, ồn ào như thể một đàn ong vỡ tổ. Những người được "may mắn" chứng kiến tận mắt tai nạn - đứng hơi lùi về phía sau. Nhóm những kẻ chạy đến quá muộn đứng gần hơn, bàn tán dựng lại cảnh bi thảm bên chỗ nạn nhân nằm. Họ ước đoán những cơ may sống sót và đưa ra các lời khuyên: "Có thể y bị trật khớp, có phần dập nát" "Đừng đụng vào y, cứ như thế chờ cảnh sát cơ động đến; không được di chuyển, không được cởi mũ y ra." "Máu chảy từ các lỗ mũi thì đó là dấu hiệu xấu rồi! Sao không gập một chiếc áo vét-tông đặt dưới gáy kẻ khốn khổ ấy?"... Còi ôtô cảnh sát New York rú lên từ xa, phía đầu công viên Row, gió nóng hầm hập thổi, uốn cong các cần ăng-ten mềm dẻo."... Tác phẩm này mang tên John l'Enfer (John Địa Ngục) - qua bản dịch của Nhà xuất bản Lao Động - "Câu Chuyện New York" - đã được giải thưởng Goncourt năm 1977. Xin trân trọng giới thiệu. *** TÓM TẮT Câu Chuyện New York là một tiểu thuyết của nhà văn Didier Decoin, được xuất bản năm 1977 và giành giải thưởng Goncourt. Truyện kể về cuộc đời của John, một thanh niên người Pháp sinh ra ở New York. John là một đứa trẻ mồ côi, được một gia đình người Pháp nhận nuôi khi còn nhỏ. Anh lớn lên ở Pháp, nhưng luôn cảm thấy mình là người xa lạ ở đất nước này. Sau khi tốt nghiệp đại học, John quyết định trở về New York để tìm kiếm nguồn gốc của mình. Anh bắt đầu cuộc sống ở thành phố này với tư cách là một nhà văn. Tại New York, John gặp gỡ nhiều người, từ những người nghèo khổ đến những người giàu có, từ những người thành đạt đến những người thất bại. Anh bắt đầu hiểu được sự phức tạp và đa dạng của thành phố này. John cũng bắt đầu khám phá quá khứ của mình. Anh tìm hiểu về cha mẹ đẻ của mình, về những người đã nuôi nấng anh và về những người đã ảnh hưởng đến cuộc đời anh. Trải qua những trải nghiệm ở New York, John bắt đầu tìm thấy chính mình. Anh trở thành một người đàn ông trưởng thành, có bản sắc riêng. Nhân vật John: Nhân vật chính của truyện. Anh là một người đàn ông trẻ tuổi, đang tìm kiếm bản thân và nguồn gốc của mình. Madame de Saint-Sauveur: Bà là người phụ nữ đã nuôi nấng John khi còn nhỏ. Bà là một người phụ nữ giàu có và quyền lực, nhưng cũng rất yêu thương John. Monique: Một cô gái người Pháp mà John yêu. Cô là một người phụ nữ xinh đẹp và thông minh, nhưng cũng rất bí ẩn. Larry: Một người đàn ông người Mỹ mà John gặp ở New York. Anh là một người đàn ông thành đạt và phóng túng, nhưng cũng rất tốt bụng. Cốt truyện Câu Chuyện New York là một tiểu thuyết về sự tìm kiếm bản thân và nguồn gốc. Truyện kể về cuộc đời của John, một thanh niên người Pháp sinh ra ở New York. Anh lớn lên ở Pháp, nhưng luôn cảm thấy mình là người xa lạ ở đất nước này. Sau khi tốt nghiệp đại học, John quyết định trở về New York để tìm kiếm nguồn gốc của mình. Tại New York, John gặp gỡ nhiều người, từ những người nghèo khổ đến những người giàu có, từ những người thành đạt đến những người thất bại. Anh bắt đầu hiểu được sự phức tạp và đa dạng của thành phố này. John cũng bắt đầu khám phá quá khứ của mình. Anh tìm hiểu về cha mẹ đẻ của mình, về những người đã nuôi nấng anh và về những người đã ảnh hưởng đến cuộc đời anh. Trải qua những trải nghiệm ở New York, John bắt đầu tìm thấy chính mình. Anh trở thành một người đàn ông trưởng thành, có bản sắc riêng. Đánh giá Câu Chuyện New York là một tiểu thuyết xuất sắc của Didier Decoin. Truyện có một cốt truyện hấp dẫn, những nhân vật được xây dựng tốt và một thông điệp nhân văn sâu sắc. Truyện kể về một câu chuyện tìm kiếm bản thân và nguồn gốc. Truyện đã khắc họa một cách chân thực và cảm động hành trình của John trong việc tìm kiếm chính mình. Truyện cũng đã gửi gắm một thông điệp nhân văn sâu sắc về sự trưởng thành và tìm thấy bản thân. Review Câu Chuyện New York là một cuốn tiểu thuyết rất đáng đọc. Truyện có một cốt truyện hấp dẫn, những nhân vật được xây dựng tốt và một thông điệp nhân văn sâu sắc. Dưới đây là một số điểm nổi bật của truyện: Cốt truyện hấp dẫn: Truyện kể về một câu chuyện tìm kiếm bản thân và nguồn gốc. Cốt truyện của truyện được xây dựng một cách logic và chặt chẽ, với nhiều tình huống bất ngờ và hấp dẫn. Nhân vật được xây dựng tốt: John là một nhân vật được xây dựng rất tốt. Anh là một người đàn ông trẻ tuổi, có tính cách phức tạp và đa dạng. Những nhân vật khác trong truyện cũng được xây dựng rất tốt, với những tính cách và số phận riêng. Thông điệp nhân văn sâu sắc: Truyện gửi gắm một thông điệp nhân văn sâu sắc về sự trưởng thành và tìm thấy bản thân. Truyện cho thấy rằng, mỗi người cần phải trải qua những thử thách và trải nghiệm để có thể tìm thấy chính mình. Nếu bạn đang tìm kiếm một cuốn tiểu thuyết hấp dẫn và ý nghĩa thì đây chính là cuốn sách dành cho bạn. Mời các bạn mượn đọc sách Câu Chuyện New York của tác giả Didier Decoin & Viễn Nguyên (dịch).
Bài Ca Núi Anpơ
Tóm tắt & Review (Đánh Giá) sách Bài Ca Núi Anpơ của tác giả Vasil Bykov & Văn Phú (dịch).   Nhiều thế hệ các nhà văn Xô-viết đã khai thác đề tài về cuộc chiến tranh vệ quốc vĩđại, soi rọi nó từ nhiều góc độ khác nhau, và đã tạo nên những tác phẩm xuất sắc của nền văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa viết về chiến tranh. Sau Phađêep. Erenbua, Sôlôkhốp, Ximônốp, v.v… những năm gần đây độc giả Xô-viết đánh giá cao các tác phẩm của Bônđarep, Tsakopxky, Bưcốp... và một loạt các tác giả trẻ khác. Trong lớp nhà văn kể trên, Vaxin Bưcốp, người Bieldrutxia (Bạch Nga), có một vị trí đặc biệt, và sở trường về truyện vừa. Ông đã được thưởng Huân chương Sao đỏ. Sinh năm 1924 ở Vilepcko, Bưcốp đã bước vào tuổi 18 đồng thời với cuộc chiến tranh khốc liệt chống phát xít. Cả thời thanh niên, Bưcốp đã lăn lộn trong chiến hào, và dấu ấn của những cuộc chiến đấu ấy còn in đậm suốt đời trong sáng tác của ông. Bản thân Bưcốp đã từng bị thương nặng, ngất lịm lâu đến nỗi đã được xếp vào hố chôn cùng với những người hy sinh, nhưng may mắn sao, ông đã tỉnh lại và được đưa về cứu chữa. Có lẽ vì thế, những trang miêu tả chiến đấu trong tác phẩm của ông hết sức chân thật, nóng bỏng. Ông không bao giờ nhìn chiến tranh bằng con mắt tĩnh tại, hoặc muốn đơn giản hóa hiện thực. Không phải ngẫu nhiên, nhà phê bình văn học E. Xi-Đôrốp đã viết: «Tất cả các tác phẩm của V. Bưcốp đều được soi rọi trong một ảnh sáng chân lý khốc liệt mang tính bi kịch: Có những giờ phút lịch sử mà con người chỉ có thể bảo tồn và xác định được những gì còn là chất người ở trong mình bằng cách trả giá cao nhất. đó là hy sinh mình hẳn về thể chất, để tạo nên được một chiến công!». Và chính Vaxin Bưcốp cũng đã phát biểu quan niệm sau đây về sáng tác của mình: «Điều trước tiên và chủ yếu mà tôi quan tâm là hai yếu tố đạo đức, có thể thâu tóm đơn giản như sau: Con người là gì khi đứng trước sức mạnh hủy diệt của một hoàn cảnh phi nhân đạo? Con người có năng lực làm được gì, khi mọi khả năng giành quyền sống đã bị vắt kiệt đến tận đáy? ...». Như vậy, đối với ông, cái kết cục cuối cùng của nhân vật không quan trọng bằng ý thức chủ đạo của con người hành động, con người tự vượt lên khỏi hoàn cảnh tưởng như không lối thoát của mình. Do quan niệm như vậy, Bưcấp không ngần ngại đầy nhân vật của mình vào những thử thách thắt nút, đến mitc, mọi giá trị tinh thần, đạo đức phải được phơi bày đến đây. Lúc bình thường, những nhân vật của Bưcốp không hề là những người xuất sắc hoặc có tính cách gì đặc biệt, thậm chí còn khá nhiều yếu điểm, khuyết điểm. Nhưng khi linh cách của họ được tôi luyện qua hoàn cảnh chiến đấu, họ trở nên mạnh mẽ, cao thượng, và sẽ tới lúc, họ làm nên những kỳ tích phi thường, đến chính họ cũng không ngờ. Đó là chủ kiến của Bucop về con người bình thường, – có thể nói là lầm thường. Tính bi kịch cũng là nét nổi bật trong các tác phẩm của Bưcốp. Hầu như tác phẩm của ông cũng mang đậm tính bi kịch: Từ Tiếng bầy sếu kêu (1960) đến Phát tên lửa thứ ba (1962)— tác phẩm đã gây ra khá nhiều tranh cãi về phẩm chất con người Xô-viết – đến Bài ca núi Anpơ (1964)— một mối tình quốc tế cảm động của những người tù - rồi tới Điểm cao đáng nguyền rủa (1968). Xốtnhicốp (1970). Đài kỷ niệm (1976), chất là kịch trong những tình huống mà nhân vật phải trải qua, càng ngày càng đậm, và làm người đọc phải suy nghĩ sâu sắc. Nhưng, ưu điểm của Bưcốp là ở chỗ tính bi kịch này không làm yếu con người trong tác phẩm của ông. Nó chỉ càng thúc đẩy con người vươn lên. Tới những tính cách mạnh mẽ, những quyết định quả cảm, và vì thế nó có tinh chất tích cực, tính chất tiến công. Nói khác đi, nó đẩy nhân vật của Bưcốp vươn tới chủ nghĩa anh hùng ngay cả trong điều kiện không thuận lợi nhất. Trong cuộc chiến đấu vừa với nội tâm, vừa với ngoại cảnh ấy, không một người nào được quyền sống vô ích và chết vô ích. Mỗi cá nhân phải trả lời trước tập thể, trước cả lịch sử nữa, về những hành động của mình, dù anh ta ở trong một hoàn cảnh biệt lập đi chăng nữa. Anh ta phải vận dụng mọi ý chí, kinh nghiệm, xử trí mọi quan hệ theo lương tâm và trách nhiệm cao nhất của mình. Chính đó là nét đặc trưng trong nhân vật của Bưcốp, mà nhà lý luận mỹ học V. Borep gọi là “tính tích cực lạc quan trong nhân vật bi kịch, đẩy vọt nhân vật lên tới tầm vóc tiến công”. Giới thiệu hai truyện vừa của V. Bưcốp được dư luận Liên Xô khá chú ý là Bài ca núi Anpơ và Phát tên lửa thủ ba( 1), chúng tôi mong giới thiệu thêm với bạn đọc Việt Nam một phong cách viết về chiến tranh, về chủ nghĩa anh hùng thầm lặng của người chiến sĩ, không phải trong chiến thắng vẻ vang, mà ngay trong những giây phút khó khăn, nặng nề, thậm chí tạm thời thất bại; giây phút mỗi người phải đối mặt với sự hy sinh và cái chết, tự đấu tranh với bản thân để giữ được và phát huy những gì cao đẹp, trong sáng nhất trong mình. NHÀ XUẤT BẢN TÁC PHẨM MỚI *** TÓM TẮT Bài ca núi Anpơ là một truyện vừa của nhà văn Vasil Bykov, được xuất bản năm 1964. Truyện kể về câu chuyện tình yêu giữa hai người tù chiến tranh, một người Nga và một người Đức, tại một trại tù ở dãy núi Anpơ. Nhân vật Nikolai Kovaliov: Một người lính Hồng quân bị bắt làm tù binh. Anh là một người đàn ông mạnh mẽ và kiên cường, nhưng cũng rất tình cảm. Inga: Một cô gái Đức bị bắt làm tù binh. Cô là một người phụ nữ xinh đẹp và dịu dàng, nhưng cũng rất kiên cường và dũng cảm. Cốt truyện Kovaliov và Inga gặp nhau trong một trại tù ở dãy núi Anpơ. Họ nhanh chóng bị thu hút bởi nhau, nhưng tình yêu của họ gặp phải rất nhiều khó khăn. Họ phải đối mặt với sự thù địch của những tù nhân khác, những người không muốn nhìn thấy một người Đức và một người Nga yêu nhau. Họ cũng phải đối mặt với sự nghi ngờ của chính bản thân mình, khi họ không thể tin rằng một người như họ có thể yêu một người như người kia. Dù vậy, tình yêu của họ vẫn vượt qua mọi thử thách. Họ đã cùng nhau vượt qua những ngày tháng khó khăn trong trại tù, và họ đã cùng nhau trốn thoát. Họ đã đến được một vùng đất tự do, nơi họ có thể sống cùng nhau và xây dựng một tương lai mới. Tính bi kịch Bài ca núi Anpơ là một truyện ngắn mang đậm tính bi kịch. Tình yêu của Kovaliov và Inga phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, và họ đã phải hy sinh rất nhiều để được ở bên nhau. Họ đã phải rời bỏ quê hương, gia đình và bạn bè của mình. Họ cũng đã phải đối mặt với sự thù địch của những người khác. Tuy nhiên, tính bi kịch trong truyện cũng không làm giảm đi sức hấp dẫn của nó. Tình yêu của Kovaliov và Inga là một tình yêu đẹp và cao thượng, và nó đã vượt qua mọi thử thách để tồn tại. Đánh giá Bài ca núi Anpơ là một truyện ngắn xuất sắc của Vasil Bykov. Truyện đã khắc họa một cách chân thực và cảm động câu chuyện tình yêu giữa hai người tù chiến tranh. Truyện cũng đã thể hiện được sức mạnh của tình yêu, khi nó có thể vượt qua mọi thử thách. Review Bài ca núi Anpơ là một truyện ngắn rất đáng đọc. Truyện có một cốt truyện hấp dẫn, những nhân vật được xây dựng tốt và một thông điệp nhân văn sâu sắc. Truyện sẽ mang đến cho bạn những cảm xúc sâu lắng và những suy ngẫm về tình yêu, chiến tranh và con người. Dưới đây là một số điểm nổi bật của truyện: Cốt truyện hấp dẫn: Truyện kể về một câu chuyện tình yêu giữa hai người tù chiến tranh, một người Nga và một người Đức. Chuyện tình của họ gặp phải rất nhiều khó khăn, nhưng cuối cùng họ đã vượt qua tất cả và được ở bên nhau. Nhân vật được xây dựng tốt: Kovaliov và Inga là hai nhân vật được xây dựng rất tốt. Họ là những người có tính cách mạnh mẽ, kiên cường và tình cảm. Thông điệp nhân văn sâu sắc: Truyện gửi gắm một thông điệp nhân văn sâu sắc về tình yêu, chiến tranh và con người. Tình yêu có thể vượt qua mọi thử thách, ngay cả trong những hoàn cảnh khó khăn nhất. Nếu bạn đang tìm kiếm một truyện ngắn hấp dẫn và ý nghĩa, thì Bài ca núi Anpơ là một lựa chọn tuyệt vời. *** Điều trước tiên và chủ yếu mà tôi quan tâm là hai yếu tố đạo đức, có thể thâu tóm đơn giản như sau: Con người là gì, khi đứng trước sức mạnh hủy diệt của một hoàn cảnh phi nhân đạo? Con người có năng lực làm được gì, khi mọi khả năng giành quyền sống đã bị vắt kiệt đến tận đáy?... V. BƯCỐP Những năm gần đây độc giả Xô Viết đánh giá cao các tác phẩm của Bondarep, Tsakopxky, Bưcốp… Trong lớp nhà văn kể trên, Vaxin Bưcốp, người Biêlðrutxia (Bạch Nga), có một vị trí đặc biệt và sở trường về truyện vừa. Ông đã được thưởng Huân chương Sao đỏ. Sinh năm 1924 ở Vitepxkơ, Bưcốp đã bước vào tuổi 18 dòng thời với cuộc chiến tranh khốc liệt chống phát xít. Cả thời thanh niên, Bucốp đã lăn lộn trong chiến hào, và dấu ấn của những cuộc chiến đấu ấy còn in đậm suốt đời trong sáng tác của ông. Có lẽ vì thế, những trang miêu tả chiến đấu trong tác phẩm của ông hết sức chân thật, nóng bỏng. Ông không bao giờ nhìn chiến tranh bằng con mắt tĩnh tại, hoặc muốn đơn giản hóa hiện thực. Nhiều tác phẩm của ông đã được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới. Trong số đó nổi bật nhất là những cuốn: Tiếng bầy sếu kêu (1960), Phát tên lửa thứ ba (1962), Bài ca núi Anpơ (1964), Điểm cao đáng nguyền rủa (1968), Xôtnhicốp (1970), Đài kỷ niệm (1976)...   GIÁ: 17 Đ Mời các bạn mượn đọc sách Bài Ca Núi Anpơ của tác giả Vasil Bykov & Văn Phú (dịch).