Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Em Là Sinh Mệnh Của Anh

- Nhiên chạy nhanh đi con, nhanh lên! Trên con đường mòn ven cánh rừng, người phụ nữ khoảng hơn ba mươi tuổi vừa khóc vừa nói với đứa bé bên cạnh mình, bàn chân chị ta nhuốm đầy bùn bẩn, gai đâm rách toạc cả gấu quần. Bầu trời đêm lạnh buốt, trên trời không có nổi một ngôi sao chỉ có những ánh đèn le lói phía bên kia con đường. Có tiếng bước chân dồn dập phía sau, người phụ nữ không còn giữ được bình tĩnh kéo đứa bé chạy thẳng vào cánh rừng nhưng dù có chạy thế nào chị ta cũng biết mình sẽ không thắng nổi mấy gã đàn ông liền kéo con bé vào một tảng đá. Gió thốc từng cơn vào mặt, mấy giọt nước mắt chưa kịp khô đã tiếp tục lăn xuống trên gò má trắng hồng. Chị ta nhắm nghiền mắt quỳ xuống cạnh đứa bé rồi nói: - Nhiên, con chạy sâu vào trong rừng, cứ thẳng đường này chạy sẽ thấy một ngôi nhà. Ở đó có hai người chờ con sẽ đưa con đến nơi an toàn, chạy nhanh lên! Đứa bé mặc bộ váy trắng, chân đi đôi giày búp bê, khuôn mặt tựa như một cô công chúa thút thít khóc giọng như lạc đi: - Mẹ, con không muốn xa mẹ, mẹ đi cùng con đi mẹ. Còn ba nữa, mẹ bảo ba sẽ đón mẹ con mình mà. Người phụ nữ không kìm được bật khóc nức nở: - Ba con....ba con bị....ba con không còn nữa rồi… Chị ta cố giữ chút bình tĩnh cuối cùng, đẩy đứa bé rồi nói tiếp: - Nhanh đi, con phải sống, con phải sống để trả thù cho ba mẹ. Chạy thẳng vào con đường này, nghe lời mẹ đi con. Con hãy nhớ những kẻ đã hại ba và mẹ, mẹ cầu xin con hãy nghe lời mẹ đi, con phải tiếp tục sống cho bằng được. Đứa bé níu tay người phụ nữ, những giọt nước mắt mặn chát chảy xuống, “Ba con không còn nữa rồi” đủ khiến một đứa bé mười ba tuổi hiểu thế nào là đau đớn tột cùng. - Tại sao vậy mẹ? Tại sao lại hại chúng ta vậy mẹ? Chẳng phải mấy ngày trước chúng ta còn sống hạnh phúc sao mẹ? Tại sao họ lại làm vậy với chúng ta? Chị ta kéo tay đứa bé khỏi tay mình, đưa cho nó một cặp da rồi nói: - Không còn thời gian nữa đâu Nhiên, con chạy đi, nhanh lên, có người sẽ giúp con. Nhanh lên Nhiên, chạy đi. Mẹ cầu xin con đấy, vì ba vì mẹ chạy đi con. Mẹ biết con gái của mẹ mạnh mẽ lắm mà. Chạy đi con! Nói rồi chị ta đẩy đứa bé rồi chạy thẳng về phía những ánh đèn đang tới gần, đứa bé không dám nhìn lại, ôm chiếc cặp da chạy thẳng về phía trước. Nó cứ cắm đầu chạy mải miết, ánh đèn pin cũng khuất dần phía xa. "Đoàng, đoàng.." Tiếng súng nổ từ xa khiến nó giật mình ngoảnh lại chỉ kịp nhìn thấy từ nơi ánh sáng hắt lại, bóng dáng quen thuộc mờ nhạt gục xuống, có tiếng hét lớn dù ở khoảng cách xa vẫn đủ nó nghe được loáng thoáng: - Còn đứa bé, phải bắt bằng được nó! Nó nhìn về phía sau, đau đớn nấc lên. Bàn chân nhỏ bé muốn quay lại ôm chặt người mẹ đáng thương vừa nằm xuống nhưng nó hiểu rằng giây phút này quay lại là tự đâm đầu vào chỗ chết chỉ còn biết chạy về phía trước. Ở ngay phía sau có tiếng hét yếu ớt trong tuyệt vọng: - Chạy đi Nhiên, nhất định phải trả thù cho ba mẹ. Đứa bé bấu chặt hai tay vào nhau, xoay người chạy rất nhanh, không còn tiếng dồn dập phía sau nhưng nó biết những kẻ áo đen vẫn đang lùng sục tìm nó, những giọt nước mắt vẫn mặn đắng trên gương mặt xinh xắn. Nó không còn nghĩ được gì chỉ cắm đầu chạy, mắt đã nhoà đi, trong lòng vẫn đang không ngừng gọi tên người mẹ đáng thương. Đột nhiên có ánh đèn chiếu rọi thẳng vào mặt, nó sợ hãi giật mình, tim đập thình thịch, tiếng thở phát ra rất mạnh, nó không còn giữ được bình tĩnh liền hét lên: - Cút đi! Ánh đèn pin hơi khựng lại, bất chợt tiến lại gần hơn bịt miệng nó rồi kéo ra một góc. Có lẽ chính bản thân nó cũng cho rằng cái sự sống mỏng manh này chẳng còn giữ được trong chốc lát, liền ra sức cắn chặt vào bàn tay đang giữ miệng mình. Chẳng biết nó đã dùng sức lực thế nào chỉ biết đến khi có mùi tanh ngập trong miệng nó mới buông ra, có thứ gì đó ướt át đang chảy trên khoé môi. Là máu! Từng giọt máu chảy xuống ướt cả chiếc váy trắng qua ánh đèn pin trở nên kinh hãi đến đáng sợ, nó chưa kịp định thần lại tiếp tục bị lôi đi. - Lên xe đi, nhanh lên không bọn chúng sắp đến rồi. Giọng nói ồm ồm phía sau mà từ ban nãy vẫn im lặng khiến nó giật mình, lúc này nó mới để ý kỹ người vừa bị nó cắn là một chàng trai khoảng mười tám hai mươi tuổi, dưới ánh đèn mờ nhạt chỉ thấy đôi mắt cậu ta rất sáng. Đứa bé thở hồng hộc, vẫn chưa hết bàng hoàng hỏi lại: - Anh là ai? Không phải do bọn kia sai đến sao? - Không, anh đến để giúp em, mau trèo lên xe anh đưa em đi. Bọn đó sắp đến rồi, nhanh lên! Nó nhìn lên, chiếc xe dream cũ kỹ đang được chàng trai dựng, trên tay vẫn còn vết thương vừa bị cắn máu đang rỉ ra, không còn nghĩ được gì nó liền vội vã trèo lên phía sau xe máy, lúc này đây là sự lựa chọn duy nhất. Chiếc xe nổ máy giòn tan, đứa bé một tay ôm chặt chiếc cặp da, một tay bám chặt vào cậu thanh niên lạ lẫm phó mặc số phận cho ông trời. Phía sau không gian yên tĩnh đến lạ thường, chiếc xe cứ thế tiến về phía trước. "Rầm" một tiếng động lớn phát ra, chiếc xe máy vừa lao thẳng vào một tảng đá không giữ được thăng bằng đổ xuống nền đất, đứa con gái vẫn ôm chiếc cặp, chưa kịp định thần điều gì đang xảy ra chỉ thấy cánh tay đau nhức, nó mở to đôi mắt nhìn, chiếc đèn pin văng ra xa, phía dưới thân nó ấm áp lạ kỳ. Một cánh tay to lớn đang ôm chặt phía bụng nó, cánh tay còn lại che phía trên đầu. Lúc này nó mới phát hiện ra chàng trai vừa nãy lại thêm một lần nữa cứu nó, bất chợt nó thấy một dòng đỏ chảy từ rất nhiều ở chỗ bàn tay vừa bị cắn, ngay tại vết cắn một hòn đá cắm thẳng vào sâu hoắm, vết máu cũ chưa khô vết máu mới lại chảy. Trời đã bắt đầu tờ mờ sáng, nó giương mắt nhìn bàn tay cậu ta hốt hoảng không biết phải làm gì lúc này cúi gằm xuống hỏi một câu thật vô nghĩa: - Anh có sao không? - Em có băng gạc không? Nó ngước đôi mắt to tròn, vẫn ướt long lanh lắc đầu. Cậu ta thở dài nhìn đứa con gái trước mặt hỏi lại một câu không liên quan: - Em năm nay bao nhiêu tuổi rồi? - Em…em…mười ba tuổi. Cậu ta ôm chặt bàn tay rồi nói: - Em cứ đi thẳng về phía trước một đoạn nữa là ra khỏi cánh rừng, chắc bọn đó tạm thời chưa đuổi theo em được nữa vì đường này rất khó tìm. Em đi trước đi! Đứa bé cậu thanh niên trẻ, bất chợt oà lên khóc, lúc này khi bình tĩnh lại nó mới thấy nỗi đau đớn đang gào xé tâm can mình. Cậu ta nhìn nó bối rối hỏi: - Em không sao chứ? - Em…em không còn ai bên cạnh mình nữa rồi. Tất cả đều bỏ em đi…ba em, mẹ em không còn ai nữa… Cậu ta nhìn đứa bé trước mặt, chiếc váy trắng đã nhuốm đầy bùn bẩn, khuôn mặt lấm lem mấy sợi tóc lơ thơ dính lên cả bờ môi nhỏ bé lòng chợt dấy lên nỗi xót xa vô hạn. Phải rồi một đứa trẻ mới mười mấy tuổi vài ngày trước còn đang hạnh phúc bất chợt phải chứng kiến cảnh cả nhà bị truy sát, mẹ bị bắn ngay trước mặt thì làm sao có thể bình tĩnh được? Đột nhiên đứa bé dừng lại, nó lấy miếng băng đô trên đầu rồi nói: - Anh đưa tay đây. Nói rồi đứa bé gái kéo tay cậu thanh niên đặt tấm băng đô lên tay cậu ta cuộn mấy vòng rồi buộc lại, vết thương trên bàn tay đã được băng bó xong, nó liền đứng dậy quệt nước mắt ôm chiếc cặp rồi hỏi: - Bây giờ anh đi đâu? Cậu ta không trả lời mà hỏi lại: - Em định đi đâu? Đứa bé chỉ tay về một góc rồi nói: - Mẹ em bảo em đến ngôi nhà kia, sẽ có người đón em, anh đi cùng em chứ? - Anh không đi được, nhưng đến đây là khá an toàn rồi. Em đi về đó đi, mau lên đi! Đứa bé cắn chặt môi, cúi gằm mặt hỏi lại: - Anh là ai? Tại sao anh lại giúp em vậy? Cậu ta đưa bàn tay còn lại vuốt mấy sợi tóc trên mặt nó rồi nói: - Anh chỉ là người qua đường, thấy em gặp chuyện thì giúp thôi, em đi mau đi, không lại không kịp. Nhanh lên, bay giờ chỉ tạm an toàn thôi bọn nó có thể đến bất cứ lúc nào. - Nhưng sao anh lại giúp em bất chấp cả nguy hiểm? Bọn chúng cũng có thể giết anh mà! - Không sao đâu, chúng không dám giết anh đâu. Em đừng hỏi nhiều nữa, mau đi đi, tìm người em cần có thể giúp em đi, anh chỉ giúp em được thế này thôi. Đứa bé nhìn cậu ta, xoay người bước đi từng giọt nước mắt đau đớn bắt đầu lăn xuống. Có lẽ khi càng bình tĩnh lại, nỗi đau bị giết cả nhà lại càng lớn hơn trong lòng: - Em hãy mạnh mẽ lên nhé, cô gái! Tiếng nói phía sau của cậu làm nó sững lại, nó ngoảnh mặt lại, đôi mắt đỏ hoe mím chặt môi gật đầu: - Cảm ơn anh, nhất định anh sẽ gặp mọi điều tốt lành nhất, em cảm ơn anh rất nhiều! Chàng trai ngập ngừng một lúc rồi hỏi tiếp: - Em có thể cho anh biết tên em không? Nó lấy tay quệt mấy giọt nước mắt rồi trả lời: - Em là Nhiên, Lưu Diệp An Nhiên! Nói rồi nó xoay người lại chạy về phía trước, không kịp nghe câu nói phía sau: - Còn anh tên là Văn, Nguyễn Đình Văn! *** Hà Nội, cuối tháng 4 năm 2016! Trời Hà Nội mới vào dịp đầu hè mà oi bức đến ngột ngạt. Tám giờ sáng, trời đã nắng lên đỉnh đầu, Nhiên cầm tập hồ sơ ngán ngẩm đến tột cùng. Mấy người ngồi xung quanh đang đọc tài liệu chuẩn bị phỏng vấn còn cô lấy bút vẽ vẽ lên tờ giấy trước mặt. Nhiên nhìn cô bé mặc chiếc áo trắng bên cạnh mình, có lẽ cô bé này ít hơn cô một hai tuổi, vẻ mặt non nớt nhưng đầy háo hức. Hơn một năm trước cô cũng từng có nhiều ước mơ, nhiều hoài bão như những người này nhưng đến giờ có lẽ đã quá rã rời mệt mỏi. Không biết cô đã chụp bao nhiêu cái ảnh, làm bao nhiêu hồ sơ, đến bao nhiêu công ty để phỏng vấn nhưng cuối cùng nếu không phải người ta không nhận thì cũng là chưa kịp thử việc xong cũng đã bị đè ép đến mức bỏ việc. Đến giờ phút này chẳng còn chút hứng thú nào với những lần xin việc thế này. Cô thở dài, nếu không phải Quân giục cô đi phỏng vấn ở đây có lẽ cô cũng không thèm đi dẫu biết rằng công ty này là mục tiêu mà bản thân cô đặt ra từ năm ấy. Nhiên chán nản vào nhà vệ sinh, chỉnh lại chút quần áo rồi tô son, nhìn bản thân trong gương bất chợt bật cười. - Này, nghe nói hôm nay Giám đốc đích thân phỏng vấn đấy, anh ta mà phỏng vấn thì… Nhiên nhìn ra ngoài, hai người phụ nữ trạc tuổi cô đang nói chuyện. Người phụ nữ mặc váy đỏ ôm trọn thân hình thanh mảnh tô son bình thản đáp lại: - Thì sao? Đàn ông suy cho cùng cũng là đàn ông, gặp người phụ nữ xinh đẹp thì cũng mềm lòng, huống hồ chúng ta có kinh nghiệm kiểu gì chẳng được vào. Người phụ nữ còn lại mặc bộ đồ công sở, chiếc váy ngắn khoe trọn đôi chân nõn nà lắc đầu đáp: - Thế thì cậu nhầm rồi, tôi được biết giám đốc này cực kỳ khó tính chưa bao giờ vì đối phương là phụ nữ kể cả có đẹp thế nào mà thiên vị đâu. Anh ta rất lạnh lùng và thậm chí trong công việc còn có thể gọi là tàn nhẫn thế nên đến nay đã gần ba mươi tuổi còn chưa có vợ. - Sao cậu biết? - Tôi có bạn làm ở công ty này, cậu ta thường than vãn với tôi mức lương ở đây rất hấp dẫn nhưng công việc rất áp lực vì giám đốc khó tính. Nhưng thật sự tôi rất muốn làm ở môi trường này nên mới rủ cậu đi phỏng vấn vì tôi được biết làm ở đây chỉ cần có năng lực thì đảm bảo sẽ không bị bạc đãi, ở đây rất công bằng không có chuyện cậu là cháu ông này, con ông kia mà sẽ được nhận đâu. Điện thoại của Nhiên bất chợt rung lên tắt ngang cuộc trò chuyện của hai người phụ nữ. Nhiên không dám ngẩng cao mặt cúi xuống ấn nút nghe, là Quân. Cô thở dài bắt máy: - Alo em đây. Đầu dây bên kia nhẹ nhàng hỏi: - Em sắp phỏng vấn chưa? Mấy giờ em về anh chờ cơm? - Sắp đến lượt em rồi, chắc em về sớm thôi. - Vậy anh chờ cơm em nhé. Cố lên nhé, anh tin em sẽ làm được, anh yêu em! Nhiên không dám thở dài, đoạn hội thoại cô vừa nghe lại càng khiến tâm trạng cô tệ hơn bao giờ nhưng lại không dám nói ra vì sợ Quân thất vọng. Anh đã cùng cô tìm việc suốt hơn một năm nay nhưng cuối cùng cũng chỉ là con số không tròn trĩnh. Cô tắt máy ra ngoài phòng chờ ngồi. Mời các bạn đón đọc Em Là Sinh Mệnh Của Anh của tác giả Phạm Vũ Anh Thư.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Mọi Ông Bố Đều Đã Từng Xếp Thứ Nhất - Azit Nexin
Tập truyện cười này gồm có: Bức thư đầu tiên Kiến trúc sư… đã xây nên châu Mỹ Mọi ông bố đều đã từng xếp thứ nhất Hãy quên tất cả những gì các em đã học! Có làm mới có ăn… Bài học luận lý Tôi không ngờ em lại như vậy!… Sự hối tiếc Người cha của tám cô gái Con chưa thể hiểu Cái xương Lễ sinh nhật Tôi đã làm quen với một thần đồng Nhiều giọt nước làm nên biển cả Chúng tôi bước sang năm mới bình an Con bé cẩu thả Một câu nói tục Hãy yêu nước Cần phải đọc một bài thơ như thế nào? Nhà trường và gia đình Con cái chúng ta giỏi thật! Em yêu quý! Khi nhà có khách Thật đáng hổ thẹn! Tình cảm gia đình Một lời nói dối Đêm văn nghệ thiếu nhi Cuộc thi truyện do trẻ em viết Có thể rất tuyệt! Thư của tác giả gửi các em *** Aziz Nesin, đọc là Azit Nexin hay Azit Nêxin, (tên khai sinh là Mehmet Nusret; 20 tháng 12 năm 1915 - 6 tháng 7 năm 1995) là một nhà văn châm biếm được ngưỡng mộ ở Thổ Nhĩ Kỳ và là tác giả của hơn 100 cuốn sách. Bút danh Aziz Nesin nguyên là tên cha ông, được ông sử dụng làm bút danh khi bắt đầu sáng tác. Ông đã sử dụng hơn năm mươi bút danh, như "Vedia Nesin", tên người vợ đầu, cho những bài thơ tình được xuất bản trên tạp chí Yedigün. Ông sinh tại Heybeliada, Istanbul dưới chế độ đế chế Ottoman năm 1915. Sau khi làm viên chức trong vài năm, ông trở thành người biên tập của một loạt tạp chí trào phúng châm biếm nghiêng về chủ nghĩa xã hội . Ông bị tống giam vài lần vì thái độ chính trị của mình. Aziz Nesin đã đưa ra một bản cáo trạng mạnh mẽ lên án sự áp bức và đối xử hung bạo với dân thường. Ông châm biếm bộ máy quan liêu và phơi bày sự bất công của nền kinh tế qua các tác phẩm được kết hợp giữa màu sắc địa phương và sự thật trần trụi một cách tinh tế. Aziz Nesin được trao tặng nhiều giải thưởng tại Thổ Nhĩ Kỳ, Ý, Bulgaria và Liên bang Xô Viết. Những tác phẩm của ông được dịch ra hơn 30 thứ tiếng. Trong nửa sau cuộc đời mình, ông được cho là tác giả Thổ Nhĩ Kỳ duy nhất sống hoàn toàn bằng thu nhập từ những cuốn sách của mình. Năm 1972, ông sáng lập Quỹ Nesin. Mục đích của Quỹ Nesin là mỗi năm đưa 4 trẻ em nghèo vào trụ sở của quỹ để che chở, nuôi dưỡng, giáo dục, đào tạo các em, bắt đầu từ bậc tiểu học cho tới khi các em hoàn thành bậc trung học, một trường dạy nghề hoặc cho tới khi các em có nghề nghiệp ổn định. Aziz Nesin đã tặng miễn phí cho Quỹ Nesin toàn bộ bản quyền tác giả của những tác phẩm của ông tại Thổ Nhĩ Kỳ và các nước khác, bao gồm tất cả những sách đã xuất bản của ông, tất cả các vở kịch được trình diễn, bản quyền tác giả cho những bộ phim, và toàn bộ các tác phẩm của ông được phát hay sử dụng trên đài phát thanh hoặc vô tuyến truyền hình. Aziz Nesin là một nhà hoạt động chính trị. Sau cuộc đảo chính quân sự năm 1980 do Kenan Evren cầm đầu, toàn bộ đất nước, kể cả giới trí thức, bị đặt dưới sự áp bức nặng nề. Aziz Nesin đã lãnh đạo một số trí thức trong hoạt động chống lại chính phủ quân sự, được biết đến với tên gọi Aydınlar Dilekçesi (Lời thỉnh cầu của trí thức). Ông đã dành trọn những năm cuối đời để chiến đấu chống lại trào lưu chính thống ngu dốt và cuồng tín. Ông đấu tranh cho quyền tự do ngôn luận, đặc biệt là quyền được chỉ trích đạo Hồi một cách không thỏa hiệp. Đầu thập niên 1990, ông bắt đầu dịch cuốn tiểu thuyết gây nhiều tranh cãi của Salman Rushdie với tựa đề Những vần thơ của quỷ Satan. Việc này đã khiến ông trở thành đích nhắm của những tổ chức Hồi giáo cực đoan đang được sự ủng hộ rộng rãi trong quần chúng tại Thổ Nhĩ Kỳ. Ngày mùng 2 tháng 7 năm 1993, trong lúc dự lễ hội văn hoá Alevi tại trung tâm Anatolian của thành phố Sivas, một đám đông tạo bởi những người Hồi giáo cực đoan đã tụ tập xung quanh khách sạn Madimak - nơi lễ hội đang được tổ chức. Họ kêu gọi một đạo luật Hồi giáo và cái chết dành cho những kẻ ngoại đạo. Sau nhiều giờ bao vây, đám đông đã đốt khách sạn. Khi ngọn lửa đã nhấm chìm những tầng thấp của toà nhà thì xe cứu hoả mới có thể tiếp cận, và Aziz Nesin cùng nhiều vị khác được cứu thoát. Tuy nhiên, 37 người đã thiệt mạng. Sự kiện này được xem như một đòn giáng mạnh vào quyền tự do ngôn luận và quyền con người tại Thổ Nhĩ Kỳ. Nó đào sâu thêm sự rạn nứt giữa phe tôn giáo và những người có tư tưởng ngoại đạo tại đất nước này. Ngày mùng 6 tháng 7 năm 1995, ngay sau khi ký tên cho một quyển sách, Aziz Nesin đã qua đời do một cơn đau tim. Thi thể ông được chôn cất tại một nơi bí mật trong khu đất của Quỹ Nesin mà không tổ chức bất kỳ nghi lễ nào, thể theo ước nguyện của ông. Mời các bạn đón đọc Mọi Ông Bố Đều Đã Từng Xếp Thứ Nhất của tác giả Azit Nexin.
Hồng Ngọc
Đôi khi sống trong một gia đình chất chứa nhiều bí mật là một gánh nặng khó khăn. Đó là suy nghĩ của một Gwendolyn mới bước vào thời thiếu nữ, cho đến ngày đột nhiên cô thấy mình ở giữa London cách đây hai thế kỷ. Và định mệnh đã gõ cửa: cô chính là điều bí mật lớn nhất của gia đình. Một chuyến đi kỳ dị đã mang cô gái trung học của thời đại cellphone, đầy khiếu hài hước sành điệu, xuyên qua mấy thế kỷ để gặp gỡ các kiểu cách của thời xưa, chếnh choáng trong trò chơi chưa hề biết luật của Hội Thập Nhị bí hiểm, đồng hành cùng Gideon, cậu trai khác hẳn cô, người mà thoạt tiên cô không biết sẽ có ý nghĩa như thế nào đối với đời cô. Trong hoàn cảnh đó, định mệnh không còn can thiệp: nếu chìm sâu vào một mối tình, mọi thứ sẽ càng không đơn giản đối với Gwen… *** Kerstin Gier chính là cây bút châu Âu có thể khiến người ta quên ngay Stephanie Meyer bằng một chuyện tình Romeo - Juliet quyến rũ xảy giữa các vùng thời gian, làm xáo động các độc giả hiện đại theo một cách khác biệt! Hồng ngọc (Rubinrot) đã trở thành hiện tượng xuất bản ở Đức trong khoảng 5 năm trở lại đây, được dịch ra khoảng 50 thứ tiếng và dựng phim năm 2013. *** Tặng Tuần lộc, Cá heo và Cú mèo, những bạn đồng hành luôn ở kề bên khi tôi viết, và tặng chiếc xe buýt nhỏ hai tầng màu đỏ đã làm tôi vui đúng lúc cần thiết. Công viên Hyde, London. 8 tháng Tư năm 1912. Anh ngó nghiêng nhìn quanh khi cô ngồi thụp xuống và òa khóc. Đúng như anh nghĩ, công viên giờ này vắng ngắt. Hồi đó còn lâu mới có mốt chạy tản bộ, còn thời tiết thì quá lạnh đối với những người vô gia cư ngủ trên ghế đá, trên mình đắp mỗi tờ báo mỏng. Anh cẩn thận lấy khăn bọc chiếc đồng hồ lại rồi đút vào ba lô. Cô ngồi rúm ró cạnh một gốc cây, trên thảm hoa nghệ tây đã úa tàn bên bờ Bắc hồ Serpentine. Vai cô run rẩy, tiếng cô nức nở như âm thanh tuyệt vọng của một con thú trúng thương. Anh không chịu nổi nữa. Nhưng kinh nghiệm khuyên anh tốt nhất nên để cô yên, vì vậy anh ngồi xuống nền cỏ ướt đẫm sương cạnh cô, đăm đăm nhìn ra mặt hồ phẳng lặng như gương, và đợi. Anh đợi cô dịu bớt nỗi đau, một nỗi đau có lẽ sẽ chẳng bao giờ hết đeo bám cô. Tâm trạng anh lúc này cũng như cô, nhưng anh cố cầm lòng. Anh không muốn cô phải lo lắng thêm cho cả anh. “Người ta đã phát minh ra khăn giấy chưa nhỉ?” Rốt cuộc cô sụt sịt, ngoảnh gương mặt đẫm nước mắt nhìn anh. “Ai biết được,” anh nói. “Nhưng nếu cần thì anh có một chiếc khăn tay thêu đúng kiểu cho em đây.” “G.M. Anh lấy trộm của cô Grace?” “Tự cô ấy cho anh. Công chúa cứ thoải mái xì mũi đi.” Cô cười gượng gạo khi trả lại chiếc khăn cho anh. “Em xin lỗi, giờ thì em đã hủy hoại nó hoàn toàn rồi.” “Chẳng sao đâu! Những lúc như thế này thì cứ phơi nắng cho khô rồi dùng lại!” Anh nói. “Quan trọng là em thôi khóc.” Ngay lập tức, nước mắt cô lại ứa ra. “Lẽ ra chúng mình không được bỏ rơi con trong hoạn nạn. Nó cần mình! Giờ thì chưa biết liệu cái trò mà mình bày ra có tác dụng hay không, mà cũng không còn cơ hội để biết nữa rồi.” Lời cô khiến tim anh đau nhói. “Nhưng nếu chết rồi thì mình còn giúp được con bé ít hơn.” “Nếu có thể đem con trốn đi đâu đó ra nước ngoài, dùng tên giả, tới khi nó đủ khôn lớn…” Anh cương quyết lắc đầu ngắt lời cô. “Ở đâu thì người ta cũng sẽ tìm ra mình, chuyện này đem ra bàn cả ngàn lần rồi. Mình đâu có bỏ rơi con trong hoạn nạn, mình đã chọn cách đúng đắn duy nhất: cho con một cuộc sống bảo đảm. Ít nhất là trong mười sáu năm tới.” Cô thoáng im lặng. Xa xa, ở một nơi nào đó từ phía Tây Carriage Drive vẳng lại tiếng ngựa hí, dù đã sập tối. [Chúc bạn đọc sách vui vẻ tại www.gacsach.com - gác nhỏ cho người yêu sách.] “Em biết anh có lý,” cuối cùng cô nói. “Nhưng thật đau lòng khi nghĩ chúng ta sẽ không bao giờ còn gặp lại con bé.” Cô đưa tay dụi đôi mắt sưng húp vì khóc. “Ít ra thì chúng ta sẽ chẳng có thì giờ mà buồn chán. Sớm muộn gì họ cũng tìm ra chúng ta, ngay cả ở thời điểm này, và Đội cận vệ sẽ truy bắt mình sát gót. Lão sẽ không dễ dàng vứt bỏ chiếc đồng hồ cũng như những kế hoạch của lão.” Anh mỉm cười khi trông thấy khao khát phiêu lưu lóe lên trong mắt cô, và anh biết, cuộc khủng hoảng đã tạm lắng. “Biết đâu mình còn ranh mãnh hơn cả lão, hoặc cỗ máy kia không hoạt động. Và thế là lão đành mắc kẹt.” “Được thế thì tốt. Nhưng nếu vậy thì chúng mình là những người duy nhất có thể làm phá sản kế hoạch của lão.” “Chỉ riêng lý do ấy đã chứng tỏ mình hành động đúng.” Anh đứng lên đập bùn bẩn trên quần bò. “Đi thôi! Đám cỏ chết tiệt này ướt sũng, mà em thì phải giữ gìn sức khỏe.” Anh kéo cô đứng lên và hôn cô. “Chúng mình làm gì bây giờ? Tìm một chỗ giấu đồng hồ?” Cô lưỡng lự nhìn cây cầu nối công viên Hyde và khu vườn Kensington. “Ừ. Nhưng trước hết mình phải vét sạch kho của Đội cận vệ và trữ tiền đã. Sau đó mình có thể đi tàu tới Southampton. Thứ tư tới, tàu Titanic sẽ bắt đầu chuyễn viễn du đầu tiên ở đó.” Cô bật cười. “Ý anh về giữ gìn sức khỏe là vậy đó! Được mà, em sẵn sàng.” Nhìn cô lại biết nở nụ cười khiến anh hạnh phúc, anh không kìm được, lại hôn cô lần nữa. “Thực ra anh nghĩ… em biết là các thuyền trưởng có quyền làm chủ hôn trên biển phải không, công chúa?” “Anh muốn kết hôn với em? Trên tàu Titanic? Anh điên rồi?” “Như thế sẽ rất lãng mạn.” “Nếu không tính đến vụ núi băng.” Cô tựa đầu vào ngực anh, giấu mặt vào chiếc áo khoác. “Em yêu anh vô cùng,” cô thì thào. “Em sẽ làm vợ anh chứ?” “Vâng,” cô đáp, vẫn vùi mặt trong ngực anh. “Nhưng với điều kiện muộn nhất là ở Queenstown, chúng mình sẽ xuống tàu.” “Công chúa, em sẵn sàng cho cuộc phiêu lưu tiếp theo chưa?” “Sẵn sàng, nếu anh cũng thế,” cô đáp khẽ. *** Một cuộc hành trình vượt thời gian ngoài tầm kiểm soát thường được báo trước vài phút, đôi khi vài giờ hoặc thậm chí vài ngày, thông qua cảm giác choáng váng trong đầu, trong bụng và/ hoặc trong chân. Nhiều người mang gien cũng tường thuật lại chứng đau đầu tương tự bệnh tiền đình. Cuộc vượt thời gian đầu tiên - còn gọi là cuộc vượt thời gian tự thân - diễn ra ở độ tuổi từ mười sáu đến mười bảy của người mang gien. Trích Biên niên sử Đội cận vệ, Tập II: Những định luật phổ quát. Mời các bạn đón đọc Hồng Ngọc của tác giả Kerstin Gier.
Chết ở Venice - Thomas Mann
Chết ở Venice là một cuốn sách quyến rũ đến bệnh hoạn. Ánh mắt của kẻ si tình, đã trở thành cái gương soi chiếu tuyệt đối của cái đẹp. Chàng thiếu niên trẻ tuổi hiện lên qua đôi mắt mê mẩn của Aschenbach thì trở nên tuyệt mỹ, không gì có thể cưỡng lại được. Đó không phải là thứ ái tình đơn thuần, và Mann ngay từ đầu cũng không chỉ viết về một câu chuyện tình yêu đơn phương tuyệt vọng. Mann đeo đuổi cậu bé niên thiếu xinh đẹp kia qua hết các đường phố ổ Venice, cũng để ngắm vẻ xinh đẹp như thiên thần của cậu. Từng chi tiết, đường nét trên khuôn mặt, thân thể cậu đều được nhìn ra bằng ánh mắt mê mụ kỳ lạ. Chỉ có cái tình của một nghệ sĩ đắm đuối cái đẹp mới có thể nhìn thấy và nâng niu từng chút từng chút đẹp đẽ đến như thế. Và đoạn cuối của cuộc hành trình, với cái chết lặng lẽ của Aschenbach, Chết ở Venice đã đạt đến sự tuyệt hảo của câu chuyện, lúc người nghệ sĩ hoàn toàn quy phục cái đẹp, bước vào của sự dấn thân vào mê đắm, con người không thể nào thoát ra được, chỉ có cái chết mới là tận cùng. Cái kết đỉnh cao này, dễ khiến người đọc liên tưởng đến cái chết của người đàn ông trong Tiếng cười trong bóng tối của Nabokov, khi đã đi đến tận cùng của si mê và cám dỗ. Ở cuốn sách mỏng này, người đọc có thể dễ dàng nhận ra cái chất đặc biệt của Mann, ấy là sự suy nghiệm đậm chất triết lý, với những quan điểm rõ ràng về nghệ thuật bằng lòng tôn sùng cái đẹp. Mann coi cái đẹp là nguồn cơn của sáng tạo, và vì thế cả đời mải miết đi tìm cái cùng sâu bản nguyên của cái đẹp. Ở kiệt tác đầu tay, Gia đình Buddenbrooks, là cái đẹp của sự những hào quang tàn lụi. Tới Núi thần lại là cái đẹp tuyệt đỉnh cô quạnh của thiên nhiên xa vắng, và lòng người mênh mang. Còn với Chết ở Venice, bên cạnh thành phố Venice xinh đẹp như hư ảo, chính Mann đã tìm ra cái con đường để phá hủy của những vòng vây triết lý khô cứng, nguyên tắc, để khai phá tận cùng bản năng thấm nhuần cái đẹp của một tâm hồn nghệ sĩ. Chết ở Venice được xuất bản lần đầu vào năm 1912, cùng thời gian đó, ông bắt tay vào viết cuốn tiểu thuyết đồ sộ Núi thần. Hai cuốn sách này có nhiều điểm khá tương đồng, dù xét về mặt ngôn ngữ, Núi thần đưa lại cảm giác tươi sáng dễ chịu hơn, và những suy niệm về tình yêu, lòng ham muốn nhục dục cũng như cái chết đều được miêu tả rõ ràng, chi tiết hơn, khác với sự dồn nén, ngột ngạt cực độ mà tác phẩm mang lại. Nếu nhà văn Aschenbach vì cuồng si cậu bé Tadzio mà ở lại Venice, thì chàng trai Hans Castorp cũng vì ham muốn một thiếu phụ người Nga mà ở lại núi thần. Đặc biệt, trong cả hai cuốn sách, Mann đều chọn những nơi có bối cảnh tuyệt đẹp để kể câu chuyện của mình, ấy cũng được xem là cái duy mỹ vô cùng của nhà văn. Núi thần hoàn thành sau Chết ở Venice hơn chục năm với nhiều lần sửa chữa, bỏ dở. Thomas Mann được trao giải Nobel năm 1929. *** Paul Thomas Mann là nhà văn Đức đã đoạt giải Nobel Văn học năm 1929 và Giải Goethe năm 1949. Ông được coi là nhà văn lớn nhất của Đức thế kỷ 20. Thomas Mann sinh ở Lübeck, Đức, là con trai thứ hai của Thomas Johann Heinrich Mann (thương gia và thành viên Hội đồng thành phố), và Júlia da Silva Bruhns (một người Brasil sang Đức năm lên 7 tuổi). Thomas có anh trai tên là Heinrich, cũng là một nhà văn nổi tiếng, một em trai và hai em gái. Thời nhỏ gia đình Mann sống sung túc, các con được học hành đến nới đến chốn. Năm 1891, cha Thomas Mann mất vì bệnh ung thư. Theo di chúc của cha ông, gia đình bán công ty và nhà ở Lübeck, mẹ ông và các con chỉ sống bằng tiền gửi tiết kiệm. Từ đây cả gia đình chuyển đến sống ở München - một trung tâm văn hóa và tri thức của nước Đức. Năm 19 tuổi Thomas Mann đã bắt đầu viết báo nhưng luôn mơ ước trở thành nhà văn như anh trai mình. Những truyện ngắn đầu tiên của ông in trong tập Der kleine Herr Friedemann (Ngài Friedemann bé nhỏ) xuất bản năm 1898. Năm 1901, Mann xuất bản tiểu thuyết đầu tiên Buddenbrooks - Verfall einer Familie (Gia đình Buddenbrooks) - kể về sự suy sụp của một gia đình ba đời buôn bán ở Lübeck trong bối cảnh cạnh tranh của chủ nghĩa đế quốc. Bộ tiểu thuyết đặc sắc này đã mang lại cho ông giải Nobel năm 1929. Thomas Mann là nhà văn có tư tưởng nhân đạo dân chủ tư sản, chống phát xít, đại diện cho truyền thống tốt đẹp của dân tộc Đức. Ông tập trung miêu tả quá trình suy sụp của giai cấp tư sản với một ngòi bút hiện thực, mỉa mai, chú trọng phân tích tâm lý, đi sâu vào các khía cạnh bệnh hoạn, cái phù du và cái chết. Văn của Mann chính xác, từ ngữ gọt giũa kĩ lưỡng, đòi hỏi người đọc phải tập trung suy nghĩ, ông dùng nhiều từ ngữ nước ngoài, sử dụng nhiều kiến thức về triết học, tôn giáo, lịch sử, văn hóa, nghệ thuật, y học, xã hội học, phân tâm học. *** T   HOMAS MANN (1875 - 1955) là văn hào Đức nổi tiếng đầu thế kỷ XX với bút pháp hiện thực sinh động, ẩn giấu nụ cười mỉa mai thâm thúy. Mùa hè năm 1911 Thomas Mann đến nghỉ mát ít ngày trên hòn đảo Lido thuộc Venice, và một loạt sự kiện cùng ấn tượng ở đó đã tạo cảm hứng cho nhà văn sáng tác truyện dài này. Đầu tiên chỉ là một ý tưởng hoàn toàn ngẫu húng, nhưng rồi câu chuyện tự nó có sức sống riêng, tự nó phát triển theo Logich của riêng mình để dẫn đến một kết cục tất yếu. Cũng như đa số các tác phẩm của Thomas Mann, Chết ở Venice không phải là một cốt truyện hoàn toàn hư cấu: gã lái đò gondola kỳ quái, cậu bé Tadzio và cả gia đình, chuyến đi không thành vì hành lý bị thất lạc, trận dịch tả, anh nhân viên văn phòng du lịch thật thà, tay nghệ sĩ hát rong hung ác -tất cả đều có thật ngoài đời, nhà văn chỉ cần đặt vào trong tác phẩm. Cả nhân vật chính Aschenbach cũng có hình mẫu thực, trong bài nói chuyện On Myself đọc trước sinh viên trường đại học Princeton ở Mỹ năm 1940 tác giả đã thú nhận, ban đầu ông dự định viết khác hẳn. Ông muốn viết về mối tình muộn màng Goethe (1749 -1832) dành cho cô Ulrike von Levetzow, khai thác đề tài một vĩ nhân khi về già sa ngã vì tình yêu với một cô gái trẻ. Nhưng rồi ông chưa dám đụng đến thần tượng Goethe vì sợ mình không đủ sức. Vậy nên ông đã dựng lên nhân vật chính là một nhà văn hiện đại, một nghệ sĩ nhạy cảm, tiêu biểu cho đạo đức và đạt đến vinh quang nhờ lao động. Tướng mạo bề ngoài của Gustav von Aschenbach ông mượn của Gustav Mahler (1860 -1911), một nhạc sĩ lớn người Áo khi ấy vừa từ chuyến lưu diễn Mỹ trở về và đang lâm bệnh nặng. Chủ đề chính của ông vẫn là sức công phá mãnh liệt của tình yêu, khi mù quáng lao theo dục vọng đã hủy diệt cả một cuộc đời nền nếp, một sự nghiệp tưởng chừng vững như bàn thạch. Câu chuyện được kể với nhiều ẩn dụ, giàu hình ảnh và tính nhạc, kết cấu rành mạch với năm chương sách như năm màn của một vở bi kịch cổ điển: chương một dẫn dắt vào đề, chương hai giới thiệu nhân vật chính; chương ba giới thiệu bối cảnh xảy ra sự việc, chương bốn diễn biến sự việc và chương năm đạt đến cao trào với kết cục bi thương. Tác giả cho ta làm quen với một Aschenbach đạo cao đức trọng, đã đạt tới tột đỉnh vinh quang, có những sáng tác "chính thống" và "mô phạm" được đưa vào sách giáo khoa để giáo dục thanh thiếu niên. Ngôn ngữ trang trọng với "phong cách bậc thầy" được nhấn mạnh một cách cố ý, để sau đó dần dần càng làm nổi bật từng bước sa ngã của Aschenbach, đánh mất phẩm giá, trở nên lố bịch và vô liêm sỉ. Chắc chắn tác giả có nhiều mối tương đồng với nhân vật chính, tiểu sử Thomas Mann có rất nhiều điểm trùng hợp với cuộc đời Aschenbach, nội dung tác phẩm cũng là mối ưu tư của tác giả, diễn giải nội tâm Aschenbach cũng là cách ông giải quyết xung đột giữa tư tưởng thị dân tiểu tư sản và nhân sinh quan nghệ thuật của chính mình. Nhưng Thomas mann không phải là Aschenbach. Có một điều khác biệt căn bản, mấu chốt của vấn đề, đó là sau mấy ngày nghỉ ngơi trên đảo Lido. Thomas Mannđã trở về với công việc sáng tác, với "cuộc vật lộn hằng ngày". Ông chỉ để trí tưởng tượng tiếp tục bay bổng tìm cách trả lời câu hỏi, nếu nhà văn buông thả theo cảm xúc, lơ là nghĩa vụ và trách nhiệm, thì kết cục sẽ ra sao? Ông nhìn thấy kết cục thảm hại của Aschenbach, ông biết cách giữ mình không để rơi vào kết cục như thế, nhưng lòng ông vẫn day dứt không yên vì ông biết mình đã phải đánhnh đổi những gì. Như vậy Chết ở Venice là sự tiếp nối những tác phẩm trước của Thomas Mann, cũng như Hanno trong Gia đình Buddenbrook (1901), Spinell trong Tristan (1903) và Tonio Kröger trong tác phẩm cùng tên (1903), nhân vật Aschenbach bị giằng xé trong mối xung đột nội tâm giữa nghệ thuật và cuộc sống. Bằng những hình tượng này, Thomas Mann đã đưa cuộc đời nghệ sĩ của mình ra mổ xẻ, cuộc đời "một thường dân lạc lối vào nghệ thuật, một lãng tử giang hồ luôn hoài vọng mái ấm gia đình, một nghệ sĩ không ngừng bị lương tâm cắn rức", như nhân vật Tonio Kröger của ông tự nhận. Bây giờ xin mời độc giả lần tìm vào những ngõ ngách nội tâm của nhà văn Aschenbach, ở nhiều khá cạnh cũng là của chính Thomas Mann... Hannover, tháng Giêng 2012 Nguyễn Hồng Vân Mời các bạn đón đọc Chết ở Venice của tác giả Thomas Mann.
Từ Chiến Trường Khốc Liệt - Peter Arnett
Tác giả là người Mỹ gốc New Zealand Peter Arnett, phóng viên nổi tiếng của Hãng AP, CNN, người đã có mặt ở miền Nam Việt Nam từ những năm 1962 cho tới 1975, chứng kiến rất nhiều sự kiện lịch sử trong chiến tranh Việt Nam và giờ khắc sụp đổ của chính quyền ngụy Sài Gòn. Cuốn sách được xuất bản lần đầu tại Mỹ năm 1995, sau đó được tái bản nhiều lần, gây tiếng vang lớn và hấp dẫn độc giả. Dư luận trong và ngoài nước Mỹ đánh giá "Đây là một cuốn tự truyện hay nhất", "Một cuốn hồi ký mẫu mực", "Một tài liệu có sức mạnh hay nhất", v.v,.. Từ chiến trường khốc liệt - cuốn tự truyện - hồi ký mang tính báo chí được ghi chép cẩn thận, công phu, là tập tài liệu lịch sử vô cùng quý giá của một phóng viên chiến trường, gần như dành cả phần lớn thời gian cuộc đời mình viết về đề tài chiến tranh. Ông viết về tất cả những điều cảm nhận, trải qua, chứng kiến ở những nơi chiến sự mà Ông đặt chân tới: VIệt Nam, Lào, Iran, Iraq, Afganistan... Trong cuốn sách, tác giả ghi lại khá kỹ về những sự kiện Chiến tranh Việt Nam, diễn biến những hoạt động tác chiến ở chiến trường, đặc biệt là những sự kiện dấu mốc như: cuộc đấu tranh, biểu tình của các tăng ni, phật tử ở Huế, vụ tự thiêu của nhà sư Thích Quảng Đức, cuộc đảo chính lật đổ anh em Ngô Đình Diệm, các trận đánh, các chiến dịch lớn giữa quân Mỹ - Ngụy và quân giải phóng miền Nam Việt Nam, cuộc nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, các chiến dịch dẫn tới giải phóng Sài Gòn và cuối cùng là giờ khắc sụp đổ của chế độ ngụy quyền Sài Gòn,.. cùng tâm trạng hoang mang, bi quan, thất vọng của các tổng thống, tướng tá Mỹ, ngụy tham gia điều hành bộ máy chiến tranh trước các sự kiện. Tất cả được tác giả ghi chép và kể lại một cách chân thực, khách quan với tư cách là một phóng viên chiến trường chuyên nghiệp. Chính những tin, bài, phóng sự của tác giả được đăng tải trên báo chí khi đó đã gây tranh cãi và có tác động ảnh hưởng sâu sắc tới dư luận Mỹ và nhiều nước trên thế giới, làm cho nhân dân Mỹ và nhân dân nhiều nước trên thế giới hiểu đúng hơn về cuộc chiến tranh Việt Nam. Nhờ đó mà Perter Arnett đã giành được giải thưởng báo chí Pulitzer danh giá vào năm 1966 và rất nhiều giải thưởng khác. Trong cuộc Chiến tranh vùng Vịnh năm 1991 và tháng 3-2003, Peter Arnett đã gây chấn động thế giới bởi những phóng sự nóng hổi được truyền hình trực tiếp trên CNN từ chiến trường Baghdad. Những sự kiện về Chiến tranh Iraq cũng được phản ánh chân thực trong cuốn sách. Peter Arnett là phóng viên phương Tây đầu tiên và duy nhất phỏng vấn trùm khủng bố Osama Bin Laden. *** Công việc làm tin chiến trường về Chiến tranh Việt Nam đã ảnh hưởng lớn tới 35 năm trong nghề phóng viên quốc tế sau này của tôi. Khi đến với Việt Nam như một chàng trai trẻ đầy lý tưởng tôi nhận thấy không sự thỏa mãn cá nhân nào quá lớn cho một phóng viên chiến trường bằng việc nói ra sự thật về lòng dũng cảm và những bi thương đồng hành cùng người lính. Tôi viết về chiến tranh ở Việt Nam từ năm 1962 đến 1975, và tôi đã học được rằng trong chiến tranh hiện đại người dân thường thiệt thòi nhiều hơn những người tham chiến và vai trò của phóng viên chiến trường là phải nói lên câu chuyện của họ. Đó cũng là niềm tin đồng hành cùng tôi nhiều năm sau này tới Baghdad trong Chiến tranh vùng Vịnh lần thứ nhất năm 1991 đã kiểm nghiệm sự ảnh hưởng của lệnh cấm vận đối với 25 triệu người dân Iraq như sự trừng phạt lên người đứng đầu của họ, Saddam Hussein. Cũng như trong cuộc Chiến tranh vùng Vịnh lần thứ nhất, tôi làm tin truyền hình trực tiếp về các trận đánh bom Baghdad trong suốt chiến tranh vùng Vịnh lần thứ hai vào thảng-2003. Giống như khi ở Việt Nam trước đó 40 năm, để chứng kiến sự thật ác liệt về chiến tranh của người Mỹ, tôi đã ở lại Iraq hơn 4 năm nữa để ghi lại những hỗn loạn và bi thương dẫn đến án treo cổ dành cho Saddam Hussein năm 2006. Tôi có nhiều dấu mốc quan trọng trong suốt 50 năm làm tin chiến trường của mình, đó là vào tháng 3-1997, cùng với đội quay phim của CNN tôi đã phỏng vấn trùm khủng bố Osama Bin Laden ở nơi ẩn nấp trên núi của ông ta ở Afghanistan. Vào thời điểm đó, Bin Laden ít được công chúng biết đến, nhưng ông ta đã bị các cơ quan tình báo quốc tế theo dõi như một người cuồng tín Hồi giáo nguy hiểm với nguồn tài chính cá nhân đáng kể. Trong bài phỏng vấn cá nhân của mình, Bin Laden tuyên bố một cuộc thánh chiến với Mỹ và hứa sẽ gây ra nhiều xung đột và thiệt hại cho quân đội nhằm xóa bỏ sự ảnh hưởng của phương Tây trong giới Hồi giáo. Vào thời gian phỏng vấn ông ta, những mối đe dọa của Bin Laden từ những ngọn núi phía xa chỉ là lối nói hoa mỹ rỗng tuyếch. Nhưng khi cuộc tấn công không tặc mà ông ta tổ chức tấn cống vào Tòa nhà Thương mại thế giới ngày 11-9-2001 giết chết 3.000 người dân đã làm thay đổi trật tự. thế giới Nhiều năm làm phóng viên quốc tế, tôi hiểu rõ vai trò quan trọng của truyền thông trong thời sự thế giới và đây cũng là thông điệp tôi truyền tải trong bài giảng ở các Trường Đại học Báo chí và các Tổ chức truyền thông trong nhiều năm. Tôi đã dẫn một nhóm sinh viên của Trường Đại học Shantou (Sán Đầu) ở phía nam Trung Quốc tới thăm Việt Nam trong chuyến đi thực tế viết tin ba tuần đáng nhớ vào mùa hè năm 2007. Với kinh nghiệm trước đây của tôi ở Việt Nam vào những năm 1960 và 1970 và rất nhiều chuyến thăm sau này, tôi đã giảng bài về chủ đề đó ở Trường Đại học Shantou. Tôi muốn các sinh viên có cảm nhận về cuộc chiến tranh đó và những người Việt nam đã được sinh ra khi chiến tranh kết thúc vào năm 1975. Rất nhiều người quan sát đã viết rằng cuộc chiến tranh không còn ảnh hưởng trong đời sống của người Việt Nam, đất nước đã hòa bình và khôi phục kinh tế là mục tiêu hàng đầu của mọi người. Dọc hành trình từ Bắc tới Nam, chúng tôi thấy sự tốt bụng và niềm vui trên những gương mặt người Việt Nam với những người khách nước ngoài. Tôi nhận ra rằng Chính phủ nhấn mạnh tầm quan trọng trong hợp tác kinh tế và chính trị với những kẻ thù trước đây ở phương Tây. Hầu hết những người Việt Nam chúng tôi gặp ở miền Bắc đều hiểu được những đau thương mất mát trong chiến tranh họ phải gánh chịu và chúng tôi được biết có khoảng 3 triệu người chết. Chúng tôi tìm thấy rất nhiều tàn tích của chiến tranh ở miền Nam nhưng cũng hiểu rằng đó là miền Bắc đã cung cấp sức người sức của cho miền Nam với khẩu hiệu "sinh ra ở miền Bắc và chết ở miền Nam". Đó là lời thương xót của những gia đình Việt Nam mất con trong chiến tranh. Cảm nhận về nỗi đau đã lan tỏa trong Văn học Việt Nam vài thập kỷ qua. Các sinh viên Trường Đại học Shantou nhanh chóng nhận ra rằng Chính phủ Việt Nam ghi nhận lòng yêu nước và sự hy sinh từ việc dựng lên nghĩa trang Trường Sơn ở khu vực Bến Tắt, Quảng Trị với hơn 10.000 ngôi mộ tôn kínhcho đến nhà tù của Pháp cũ có tên "Hỏa lò" ở trung tâm thủ đô, nơi bộ quần áo phi công còn vấy máu của Jonh McCain ở một trong những phòng nơi những người tù Mỹ bị giam giữ trong nhiều năm. Bi thương hơn nữa, nhà tù còn phác họa những hình ảnh và mô hình về các hình thức tra tấn dã man mà thực dân Pháp đã sử dụng đối với tù chính trị trong suốt 100 năm thống trị gồm máy chém cao bằng gỗ với lưỡi dao sắc và chiếc rổ đựng đầu vấy máu nằm gần đó. Có một khung cảnh đặc biệt thu hút sự chú ý của các sinh viên và tôi hy vọng nó sẽ đọng lại lâu trong ký ức của họ. Đó là một căn phòng lớn trong Bảo tàng Chiến tranh ở thành phố Hồ Chí Minh với những trưng bày cho các phóng viên nước ngoài, những người đã làm tin về các cuộc chiến tranh chống Mỹ và chống Pháp. Những khuôn mặt và hình ảnh đều quen thuộc với các sinh viên Shantou bởi vì họ là những đồng nghiệp trước đây của tôi và tôi thường nói về họ trong các bài giảng của mình, các phóng viên ảnh hy sinh trong chiến tranh như Larry Borrow của tạp chí Life, Henri Huet và Huỳnh Công la của AP và Koichi Sawada của UPI cùng nhiều người khác nữa. Sự đau thương mất mát của chiến tranh đã không làm mờ đi sự ghi nhận của Chính phủ Việt nam về lòng dũng cảm và sự hy sinh của các phóng viên chiến trường ở các quốc gia đã đấu tranh để nói lên sự thật về cuộc chiến và sự hy sinh của họ. Đó là điểm nhấn trong chủ đề bài giảng của tôi ở Trường Đại học Shantou rằng báo chí có một vài trò to lớn và đáng giá trong thế giới ngày nay. Những chuyến thăm trở lại Việt nam, đặc biệt là hành trình cùng với các sinh viên là những chuyến thăm hài lòng trong cuộc đời tôi. Đó là những chuyến thăm khép lại vòng tròn từ khi lần đầu tiên tôi đến với tư cách là một phóng viên trong một đất nước bị chiến tranh tàn phá vào năm 1962 đến khi từ những tàn tích của một cuộc chiến tranh dài, một đất nước hòa bình, độc lập xuất hiện tự hào trên chính trừong quốc tế. Peter Arnett, tháng 3-2009 Mởi các bạn đón đọc Từ Chiến Trường Khốc Liệt của tác giả Peter Arnett.