Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Kẻ Nhu Nhược

Để trưởng thành, người ta phải nỗ lực vứt bỏ tính nhu nhược của bản thân. Quá trình đó thường lấy đi không ít mồ hôi và nước mắt, thậm chí cả xương máu. Câu chuyện có tính chất truyền kỳ về Mã Đán-con trai duy nhất của lão chủ ba cửa hàng buôn gạo Mã Cạo Đầu, bản tính nhát gan; trung hậu nhưng cam chịu, nhẫn nhục; bị người xa kẻ gần gắn cho cái biệt danh là “thằng nhu nhược”. Sống trong cái vòng lẩn quẩn của hai quan niệm “nhu nhược thì sống lâu” và “kẻ không sợ chết mới có thể sống”, Mã Đán rất muốn thay đổi hình ảnh, muốn cải tạo cái tính cách nhu nhược của mình, không ngừng “luyện gan”, kết quả là mắc lừa tên ác bá trong thị trấn là Hồng Xung, phải đem ba cửa hàng gạo tổ tiên truyền lại bồi thường cho lão, chỉ một thời gian ngắn đã khuynh gia bại sản. Mã Đán bị ép phải lấy Khang Khu, một cô gái xinh đẹp nhưng mắc phải căn bệnh ăn nhiều. Để lo cho Khang Khu đủ ăn, Mã Đán phải vắt cạn sức lực, chịu đựng sự kỳ thị, sự coi thường của bà con trong thị trấn… *** Giới thiệu tác giả: Tác giả Chu Sơn Pha: Sinh năm 1973 tại thành phố Bắc Lưu tỉnh Quảng Tây, ủy viên Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Trung Quốc, Phó chủ tịch Hội Nhà văn Quảng Tây. Sáng tác thơ, tiểu thuyết, truyện dài kỳ đăng trên các tạp chí văn học nổi tiếng Trung Quốc như Hoa Thành, Thu hoạch, Đương đại, Văn học Thượng Hải, Chung sơn, Thiên nhai, Tiểu thuyết nguyệt báo… Nhiều tác phẩm của ông được tuyển chọn vào nhiều bộ tuyển tập, được dịch sang nhiều thứ tiếng như Nga, Mỹ, Đức, Ý, Nhật…, được cải biên thành kịch bản điện ảnh, Các tác phẩm tiêu biểu: Kẻ nhu nhược, Chia thế giới thành hai nửa, Ngân hàng Trung Quốc, Tinh thần tôi mang bệnh rồi, Bài học linh hồn, Hai con ngựa ăn no… Các giải thưởng: Tác phẩm Kẻ nhu nhược từng đoạt giải Thượng Hải văn học lần thứ chín, giải thưởng Văn học Quảng Tây… hiện được một công ty điện ảnh tại Bắc Kinh chuyển thể thành kịch bản điện ảnh. *** "Kẻ nhu nhược" của Chu Sơn Pha được giới phê bình Trung Quốc đánh giá là đã xây dựng nên một hình tượng “thằng nhu nhược” điển hình trong lịch sử văn học của nước này. Tác phẩm lấy bối cảnh một thị trấn mang tên Thượng Tân nhỏ bé, tính chỗ rộng nhất chạy từ cực đông sang cực tây cũng chỉ ba cây số, nơi những con người tứ xứ đổ về làm ăn buôn bán. Ở đó, con người giao lưu với nhau bằng những đồng tiền trong khi các lực lượng đang chống lại nhau, điển hình là Lý Tông Nhân và Trần Quýnh Minh. Hành trình luyện gan của “kẻ nhu nhược” Nhân vật chính trong chuyện là Mã Đán, con trai của Mã Cạo Đầu - một ông chủ của ba cửa hàng gạo giàu có giữa thị trấn. Mã Đán được người trong trấn đánh giá là kẻ sinh ra để chạy. Mở đầu câu chuyện là hành trình chạy đua giữa Mã Đán và con chó của Hồng Xung - nhân vật khét tiếng ở trấn Thượng Tân là hung hãn, ai ai cũng phải sợ. Mã Đán chạy rất khỏe. Tự tin với điều ấy nên anh đã quyết định “thử sức” với con chó. Anh trêu để nó đuổi theo mình. Cho đến cuối cùng, Mã Đán chỉ khát nước vì bị gió lùa khô cổ, còn con chó thì lăn ra chết vì bị kiệt sức. Mâu thuẫn giữa nhà họ Mã với Hồng Xung bắt đầu. Người đàn bà Hồng Xung cướp về, Khang Khu, lại là người con gái Mã Đán thích. Nghe những lời khích bác, cùng ý nghĩ muốn thay đổi hình ảnh của bản thân, không cam chịu để ai đó khinh rẻ mình, anh đã quyết định “luyện gan” bằng cách đi gây sự với mọi người. Người ta bảo, muốn làm kẻ mạnh thì phải đi đánh bại những kẻ yếu hơn mình. Mã Đán nghe theo rồi đi tuyên chiến với một kẻ ăn mày. Nhưng kẻ ăn mày lại bảo, ít nhất phải đánh được kẻ mạnh như Hồng Xung, và thế là Mã Đán lại tìm đến Hồng Xung giữa lúc hắn đang ngủ với Khang Khu. Mã Đán đẩy gia đình vào bế tắc, khi cả ba cửa hàng gạo nhà họ Mã đều bị mất vì Khang Khu mắc bệnh ăn quá nhiều. Hơn thế, anh còn bị nhà gái hủy hôn vì sự nhu nhược của mình. Việc một kẻ ăn nhiều, lại từng ăn ở với Hồng Xung, bị bố mẹ đuổi ra khỏi nhà về ở với một kẻ nhu nhược là Mã Đán đã trở thành trò cười cho bàn dân thiên hạ. Hai người được coi là vô dụng nhất trong trấn sẽ làm gì khi chẳng có gì trong tay, phải sống cảnh nghèo khó? Cha của Mã Đán là Mã Đạo Đầu sẽ phải làm thế nào để mưu sinh? Có thể nói, Mã Đán là kẻ sống một đời loanh quanh, bởi những nhận xét của kẻ khác mà không cần biết đâu là đúng, đâu là sai. Cuối cùng, câu hỏi “kẻ nhu nhược thì sống lâu” hay “kẻ không sợ chết mới có thể sống”, câu nào mới đúng, câu nào mới đáng theo? Hay câu của lão Phùng “đôi khi nhu nhược lại là cái phúc” đúng? Cuốn sách như một cuộc đong đếm giữa bài toán về nhân cách của một con người và câu chuyện đấu tranh sinh tồn. Sau những câu chuyện hài hước, giá trị đích thực trong cuộc sống là gì? Có lẽ, Mã Đán sẽ mãi quanh quẩn trong hành trình “luyện gan” của mình nếu quân đội của Lý Tông Nhân và Trần Quýnh Minh không tràn vào thị trấn. Mã Đán nhanh chóng quên đi những câu hỏi ngốc nghếch mà người ta cứ nhét vào đầu mình. Anh bận bịu với những nhiệm vụ mới giữa nơi chiến trường phức tạp và hiểm nguy cùng nỗi lo lắng cho người vợ Khang Khu ở nhà. Trong khi ấy, những con người khôn ngoan, lọc lõi lộ dần bản chất. Người ta nhìn thấy cái lợi trước mắt rồi sinh lòng tham lam. Con người đã biết lợi dụng lòng tham vô độ để ép buộc nhau làm những điều bất chính. Trong đêm khuya, Hồng Xung gửi mật thư yêu cầu Mã Đán giết Lý Tông Nhân. Chính điều ấy đã khiến cuộc sống của gia đình Mã Đán càng thêm luẩn quẩn. Dõi theo câu chuyện của nhân vật Mã Đán, để đến cuối cùng, người ta mới nhận ra rằng, nhu nhược hay bản lĩnh vốn không quan trọng. Gan to hay gan bé càng không phải là mục tiêu sống. Sống lâu hay đoản mệnh cũng không phải đích đến. Quan trọng hơn cả là sự có mặt của mỗi người trong cuộc sống này có ý nghĩa gì? Thực chất, giá trị của cuộc sống không nằm ở vỏ bề ngoài mà nằm ở cốt cách của bản thân, những tri kiến có được. Hóa ra, nhu nhược không phải là một căn bệnh quá kinh khủng, nguy hiểm và đáng sợ. Mà đáng sợ và nguy hiểm hơn hẳn chính là căn bệnh vô cảm, bệnh “a dua”. Hóa ra, nghèo cũng không có gì quá đáng sợ mà đáng sợ hơn cả là lòng người, một xã hội lãnh đạm vô tình. Sự hiền lành thật thà, tấm chân tình sẽ là liều thuốc bổ hữu hiệu để cảm hoá con người, để biến thù thành bạn. Trước những vấp ngã, chỉ cần có lòng tin và bước tiếp sẽ giúp con người vực dậy khỏi mọi đau thương. Với giọng văn thâm trầm pha chút trào phúng cùng cách cài cắm những chi tiết đắt giá, tài năng xây dựng hình tượng nhân vật, nhà văn Chu Sơn Pha đã thêm vào dòng chảy văn học Trung Quốc đương đại những thân phận nhỏ bé khác, đáng thương trước những biến động lịch sử. *** Bữa nay trời nắng như đổ lửa, mặt đất bị nung cháy khiến cho người và súc vật đều không dám đặt chân lên. Mùa xuân vẫn chưa qua hẳn, theo lệ thường thì thời tiết không thể trái khoáy đến như vậy. Bình thường thì con chó đen gầy nhom của Hồng Xung cũng không hung dữ đến như thế, nhưng bữa nay đột nhiên nó phát điên. Khi Mã Đán vác bao gạo đưa đến lò làm tương của nhà họ Phương, vừa đặt bao gạo xuống đất thì con chó vừa đen vừa gầy vừa xấu không thể tả ấy rống lên ông ổng, vừa rống vừa phóng tới, chỉ cần chớp mắt nữa là đôi chân trước và cái mồm của nó sẽ dính chặt lên ngực của cậu ta mà thôi. Không kịp hiểu chuyện đang diễn ra, Mã Đán quay người bỏ chạy. Con chó ngoác cái mồm rộng hoác với hàm răng nhọn hoắt, trắng nhởn đuổi theo sát sau lưng. Từ lò rèn Phạm Đại, Mã Đán chạy thẳng về phía đông hướng theo con phố ven sông, vượt qua nhà may nhà họ Mao, tiệm bán xoong nồi La Ký, cửa hàng tơ họ Chu, xưởng sản xuất thuốc lá Hoa Thịnh, cửa hàng đồ mây tre Bác Bạch, quán rượu nhà họ Tô, cửa hiệu vàng bạc trang sức Kiềm Điền, đại lý gạo Phong Dụ, Áo Đông Hội quán rồi rạp hát Phụng Tiên… Những người trông thấy Mã Đán chạy trối chết không những không tìm cách cản trở con chó đang truy sát cậu ta mà ngược lại, còn cực kỳ hưng phấn reo hò như muốn tìm cách cổ vũ cho con chó đen đuổi theo nhanh hơn. Ở thị trấn Thượng Tân này, ngoài những dịp lễ hội hàng năm và chuyện ba năm trước có một cô gái trẻ không rõ lai lịch, lần đầu tiên trần truồng xuất hiện trên đường phố trong một thời gian ngắn ra thì không khí hưng phấn như thế này hầu như chưa bao có. Mã Đán và con chó trong một khoảng thời gian rất ngắn đã điểm hỏa cho bầu không khí nóng bức này khiến cho bốn phương tám hướng đột nhiên huyên náo hẳn lên. Người đi đường trong chớp mắt đã dạt sang hai bên, tạo ra một lối chạy rất thông thoáng cho Mã Đán và con chó. Mã Đán bị con chó đuổi sát nên cũng chẳng còn có thời gian và hơi sức đâu mà lên tiếng chào hỏi họ. Tất cả mọi người đều kinh ngạc và ái ngại khi thấy Mã Đán đã cởi phăng đôi giày và chạy chân trần trên nền đường nóng như bốc lửa như thế. - Mã Đán! Bàn chân của mày đã bị nướng chín rồi, thơm phưng phức. Nó đã biến thành chân giò hun khói rồi! - Mã Đán! Thôi thì cho con chó đớp một miếng đi! Ngoài việc được ăn phân ra, cả đời nó chưa bao giờ được ăn thịt! Mã Đán không chịu khuất phục trước con chó, lột chiếc áo bị mồ hôi thấm ướt đẫm ném về phía con chó. Ban đầu con chó hơi giật mình nên đứng lặng một lát, ngửi ngửi hít hít rồi nhanh chóng nhận ra Mã Đán đang dùng kế “ve sầu thoát xác” nên tỏ ra hung hăng hơn, hùng hổ xốc tới. Áo đã được cởi ra nên cơ thể Mã Đán hình như cũng nhẹ hơn, chạy cũng có vẻ nhanh hơn. Những người ngoài cuộc càng tỏ ra hưng phấn như đang xem một trận thi đấu mà thực lực đôi bên là kẻ tám lạng người nửa cân. Họ đều nghe thấy rõ ràng tiếng thở phì phò rất có nhịp điệu, rất có tiết tấu của Mã Đán lẫn con chó. Cũng có ai đó cảm thấy lo cho Mã Đán nên lên tiếng: - Mã Đán! Mày đứng lại đi! Mày đứng lại thì con chó cũng sẽ đứng lại thôi. Nó vốn là một con chó hiền lành, không hề bị điên, chẳng qua là nó không chịu thua mày đấy thôi. Chỉ cần mày chịu thua là nó sẽ bỏ cuộc! Lời khuyến cáo đầy thiện ý này vừa dứt thì ngay lập tức có một tiếng nói phản bác: - Tại sao ông lại bảo Mã Đán nhận thua? Có lẽ nào ông lại muốn Mã Đán nhận chó làm cha và quỳ xuống gọi một tiếng “bố” sao? - Nếu có thể làm cho con chó không cắn mình thì gọi nó một tiếng “bố” có mất gì đâu? - Người có lời khuyên đầy thiện ý lúc nãy lại lên tiếng. - Thế thì… này Mã Đán! Mày cứ thử gọi nó một tiếng “bố” xem sao? Nhưng Mã Đán không muốn nhận thua. Cậu ta tự tin là mình vẫn có thể chạy được cả ngày, thậm chí cứ chạy như thế này và không bao giờ dừng lại. Cậu ta cũng không hề tin tưởng những lời khuyên bảo của những người này, bởi căn bản là họ không hề biết suy cho cùng là cậu ta có thể chạy được bao lâu. Khi Khang Khu từ dưới bến thuyền rảo bước lên bờ thì cũng chính là lúc Mã Đán vừa phóng vù vượt qua nơi ấy. Đứng từ dưới bậc tam cấp nhìn lên, Khang Khu vừa cảm thấy hiếu kỳ, vừa cảm thấy nghi hoặc vì có một gã đàn ông ăn không ngồi rồi đến độ thi chạy với một con chó. Cô ta than thở đầy vẻ tiếc nuối: - Tiết kiệm bớt sức lực đi! Một bước chạy thì cần phải hao phí bao nhiêu là miếng cơm đấy! Để xem nhà anh phải hao phí bao nhiêu là cơm gạo nào? Thị trấn Thượng Tân không lớn, tính chỗ rộng nhất chạy từ phía cực Tây sang cực Đông cũng chỉ ba cây số, đến xưởng nhuộm của họ Hà là điểm tận cùng, tức là không còn đường để chạy nữa. Cuối xưởng nhuộm họ Hà là một khóm cây khuynh diệp cao ngất, Mã Đán chạy một vòng theo khóm cây rồi chạy ngược trở lại, con chó cũng chạy quanh khóm cây một vòng rồi chạy ngược lại, đuổi theo. Khi Mã Đán chạy vượt qua cửa hàng gạo Mã Nhất của nhà mình lần thứ hai thì bố cậu ta - Mã Cạo Đầu - tên thật của lão trong thị trấn không mấy người biết, chỉ biết tổ tiên họ Mã cho đến thế hệ của lão chuyên làm nghề cạo đầu nên người ta quen gọi lão là Mã Cạo Đầu, gọi riết thành quen - đang ngồi trước cửa hàng xem cậu ta chạy đua cùng con chó, điệu bộ chẳng có gì là lo lắng, tay vẫn phe phẩy chiếc quạt như không có chuyện gì xảy ra, hình như kẻ đang bị con chó truy đuổi kia không phải là con ông ta mà chỉ là một người không hề quen biết. Có ai đó nhắc nhở Mã Cạo Đầu bằng một giọng đầy thiện ý: - Con trai ông đang bị con chó bắt nạt kìa! - Tôi lại không nghĩ là chó đang bắt nạt người mà cảm thấy ngược lại, người đang bắt nạt chó! - Mã Cạo Đầu nói. Mã Cạo Đầu không nên nói ra câu này, ngay cả Mã Đán cũng không hiểu vì sao bố mình lại nói được một lời hả hê trước tai họa của người khác như thế và câu nói này chắc chắn sẽ gây ra nhiều phiền phức. - Ai đó có thể cho tôi một ngụm nước được không? - Mã Đán hy vọng có ai đó sẽ đưa cho cậu ta một cốc nước, nhưng ngay lập tức cậu ta nhận ra rằng, chỉ cần mình đứng lại thở vài hơi là con chó đã có thời gian ngoạm cái mồm của nó vào bắp chân của mình rồi - Nếu không thì… mọi người hãy cho con chó một bát nước cũng được. Mồm nó cũng phì ra đầy khói rồi kìa! Mã Đán nghĩ trong bụng, nếu con chó muốn uống nước, ắt nó phải dừng lại; mà một khi nó đã dừng lại để uống nước thì cậu ta cũng có thể dừng lại để uống nước, hai bên đều được hưởng lợi, đều rất công bằng. Nếu đây là một cuộc đua đúng nghĩa thì không ai có quyền nghi ngờ tính công khai và sòng phẳng của nó. May mắn thay, bên vệ đường có một chiếc thùng nhựa rách, Mã Đán nhìn thấy rõ ràng bên trong có nước, ngay cả con chó cũng nhận ra điều này, nhưng nó không thèm dừng lại. Điều này khiến Mã Đán nổi xung, chửi: - Rõ ràng là mày muốn cả hai chúng ta đều bị dồn đến bước đường cùng rồi đây! Nhưng rồi ngay sau đó, một ý nghĩa thoáng qua trong đầu Mã Đán: Trong một buổi chiều oi bức và nặng nề thế này, mình và con chó đã mang lại cho thị trấn Thượng Tân này một niềm hoan lạc, một chút huyên náo, thế thì ngay cả mình và con chó cho dù có mệt hơn đi chăng nữa cũng chả bõ! Như thế, những gì đã diễn ra có khác nào một tiết mục biểu diễn mà mình và nó đã hợp tác diễn y như thật! Khi những bước chạy của Mã Đán vượt qua bến thuyền lần thứ hai, suýt chút nữa thì cậu ta đã đâm sầm vào bụng Khang Khu. Cơn điên tiết vừa mới nổi lên nhưng đột nhiên Khang Khu nhận ra rằng, đây là vùng đất lạ nên dằn lại, có điều chỉ dằn được tay chân, còn miệng thì không thể dằn được nên gào lên từ phía sau lưng Mã Đán: - Anh gì kia! Anh ăn no quá nên rửng mỡ chứ gì? Có phải nhà anh mở cửa hàng bán gạo không? Mã Đán vốn không thể quan sát những người hai bên đường, chỉ lo chạy nên không chú ý gì đến Khang Khu, có điều cậu ta đã ngửi thấy mùi nước hoa trên người cô ta. Đàn bà ở thị trấn Thượng Tân không bao giờ xịt nước hoa lên người, chỉ có những cô gái điếm ở thị trấn Liên Hoa vì cho rằng cơ thể mình bốc mùi hôi nên mới dùng nước hoa xịt để lấn át mùi hôi. Ngửi thấy mùi nước hoa, đột nhiên Mã Đán không còn thấy khát nước nữa, ngược lại, cậu ta cảm thấy toàn thân tràn trề sinh lực, dường như sức mạnh vừa mới cạn kiệt đã được khôi phục trở lại trong cơ thể mình. Nhờ đó mà cậu ta chạy càng nhanh hơn, dần dần khoảng cách giữa cậu ta và con chó mỗi lúc một xa. Có điều Mã Đán không muốn khoảng cách ấy quá xa, quá xa thì con chó sẽ nhận ra là không thể đuổi kịp mà bỏ cuộc, và như thế thì sẽ mất vui, cuộc đua cũng kết thúc và mọi người ở Thượng Tân này không thể biết được rằng, cuối cùng thì cậu ta cũng có biệt tài là chạy. Chính từ suy nghĩ ấy, Mã Đán cố ý giảm tốc độ và ngay lập tức, con chó đã đuổi theo gần kịp. Giống như con chó, mùi nước hoa trên cơ thể Khang Khu cũng đang đuổi theo Mã Đán, mỗi lần cậu ta hít thở thật sâu là đã cảm nhận được, hình như cái mùi vị ấy đã an cư lạc nghiệp ngay trước lỗ mũi cậu ta rồi. Con chó nhà Hồng Xung đã đuổi Mã Đán chạy hết ba vòng quanh thị trấn, tất cả mọi người đều thán phục khả năng chạy của cậu ta. Nhưng khi Mã Đán và con chó chạy đến vòng thứ tư thì mọi người đã phát hiện ra rằng, ưu thế đang nghiêng hẳn về phía Mã Đán, khả năng thất bại của con chó đã bắt đầu biểu lộ ra rất rõ. Nhưng nó lại là một con chó khá kiên cường, không cắn được đối thủ một miếng thì không buông xuôi, không đang tâm chấp nhận thua cuộc. Lão Mao, ông chủ của cửa hàng bán vải họ Mao, một lão già có cặp mắt rất tinh tường có thể thấy được cả sợi tơ trời mùa thu trong không khí - là người đầu tiên phát hiện ra con chó lúc này đã sức cùng lực kiệt. Lão nói với Mã Đán: - Con chó sắp chết rồi, mày còn ung dung chạy nữa hay sao? Đến lúc này mọi người mới đồng loạt nhận ra sức lực con chó đã cạn, chiếc lưỡi đang thè ra của nó dài đến độ như muốn rơi ra khỏi mồm và rớt xuống đất. Họ tung hô, động viên Mã Đán: - Mày gắng sức chạy một vòng nữa, nó sẽ cúi đầu trước mặt mày mà nhận thua thôi, từ nay về sau nó không dám đuổi theo mày để cắn nữa đâu. Mã Đán cảm thấy họ nói có lý, quay người về phía sau nhìn vào con chó bắt chước tiếng chó, sủa lên mấy tiếng. Bước chạy của con chó vốn đã lảo đảo, chậm chạp, thậm chí đã có dấu hiệu của sự chịu thua, nhưng khi nghe thấy tiếng sủa khiêu khích của Mã Đán thì ý chí tranh đấu của nó lại trỗi dậy, dùng chút sức lực cuối cùng phóng lên, đuổi theo. Khi Mã Đán chạy qua cửa hàng gạo nhà mình thì có ai đó nói to, con chó đã chết rồi. Mã Đán quay đầu nhìn lại, quả nhiên con chó đã đổ gục xuống đất cách cậu ta không đầy một mét. Dáng vẻ của một con chó chết trông thật khó coi, miệng sùi đầy bọt trắng, lại còn thêm cái lưỡi thè ra dài ngoằng, thân thể bốc lên mùi khét lẹt đặc trưng của loài chó, đôi mắt trợn tròn trắng dã. Không chờ cái xác thối rữa mà vô số ruồi nhặng đã bắt đầu bay vù vù chung quanh. - Nếu kẻ nằm gục chết kia mà là tôi thì cũng sẽ có vô số ruồi nhặng được mời đến - Với tư thế của kẻ chiến thắng, Mã Đán đứng trước cửa của cửa hàng gạo Mã Nhất uống nước, dáng vẻ đắc ý nói với những người chung quanh - Nhưng trên thế giới này không có bất kỳ con chó nào có thể làm cho Mã Đán tôi mệt mà chết! Mọi người đều cười rộ lên. Rõ ràng là họ đang cười nhạo Mã Đán và cậu ta không hiểu tại sao họ lại cười nhạo một kẻ chiến thắng. Mã Đán giơ bàn chân phồng rộp lên cho mọi người xem nhưng hình như không có ai cảm thấy hứng thú với nó nên chẳng có lời tán thưởng nào. Ai cũng cảm thấy đó là do cậu ta tự tìm lấy đau đớn và phiền toái. Mã Cạo Đầu đi từ trong cửa hàng ra, lười biếng phẩy chiếc quạt xua ruồi nhặng bám trên xác con chó và đột nhiên ý thức được rằng, vấn đề đã trở nên nghiêm trọng. - Đây là con chó nhà lão Hồng đúng không? - Mã Cạo Đầu hỏi những người chung quanh. Tất cả mọi người đều đồng thanh đưa ra câu trả lời: - Đúng, là chó nhà Hồng Xung! Hình như Mã Cạo Đầu bị cái gì đó đột nhiên đánh mạnh vào đầu, tỉnh táo lại và bắt đầu run, hoảng loạn chạy vào trong mang ra một chậu nước lạnh hắt lên xác con chó, không ngừng lay đầu, sờ nắn mũi, thậm chí còn nằm phục xuống đất dùng miệng của mình ấp lên miệng con chó làm hô hấp nhân tạo để làm cho nó sống lại. Có điều, con chó đã chết, không thể nào sống lại được. Với vẻ mặt đầy thất vọng, Mã Cạo Đầu bảo Mã Đán giúp một tay khiêng xác con chó đặt vào chỗ mát dưới hiên nhà, dùng một vuông vải màu loại một đắp lên trên, chỉ có bốn cái chân thẳng đuột thò ra ngoài. Mã Đán không bằng lòng với việc làm của Mã Cạo Đầu, nói: - Tuy cái mặt chó chết của nó trông rất khó coi, nhưng nó không phải là người trong họ nhà ta, bố đắp điếm cho nó làm quái gì? Tấm vải ấy rất quý, khi mẹ tôi chết, bố cũng không đành lòng dùng nó để đắp cho mẹ tôi kia mà! Mã Cạo Đầu nhìn Mã Đán một cách giận dữ khiến cậu ta câm bặt. Mã Cạo Đầu còn ra hiệu bảo những người hiếu kỳ giải tán. Có điều, họ không chịu giải tán, bởi Hồng Xung đã xuất hiện! Hồng Xung có cơ thể cao lớn, khỏe không thua gì một con trâu, lại còn rất giỏi quyền cước, diện mạo vô cùng nanh ác, tính tình lại cực kỳ hung hãn. Không còn nghi ngờ gì nữa, hắn chính là người nổi tiếng nhất về sự hung ác ở thị trấn Thượng Tân này, ngay cả bọn thổ phỉ ở vùng Cảo Sơn cũng phải nhún nhường đôi ba phần. Năm trước, hắn đã từng chặt đứt lìa chân của ba người đàn ông ở vùng khác đến Thượng Tân gây sự, sau đó lại tiếp tục chém đứt một cánh tay của một trong số ba người nọ rồi ném cho chó ăn. Từ đó trở về sau không còn có bất cứ người nào từ địa phương khác dám đến Thượng Tân quấy rối nữa. Năm ngoái, vào một đêm tối trời, mười ba gã thổ phỉ Cảo Sơn đã từng tụ tập ở cửa phía nam, lẩn quẩn đến cả đêm nhưng cuối cùng chả có tay nào dám bước vào trong thị trấn, gần sáng thì men theo đường cũ mà về núi, chỉ để lại những vết chân ngựa loạn xị trên cỏ. Bọn chúng biết, Hồng Xung vẫn còn ở trong thị trấn. Tất cả mọi người đều tỏ vẻ sợ hãi trước gương mặt vô cùng khó coi của Hồng Xung, ngay cả hơi thở cũng không dám thở mạnh vì sợ rằng, chỉ cần phát xuất ra một âm thanh không cần thiết lúc này sẽ kích động cơn thịnh nộ và nắm đấm của hắn. Mã Đán trốn sau lưng Mã Cạo Đầu, cảm thấy lá gan của mình không ngừng teo lại, một luồng nước chua chua từ bụng xộc lên cuống họng nhưng đã được cậu ta cắn răng nuốt xuống. Hồng Xung cầm mép tấm vải kéo qua một bên, nhìn thấy xác con chó. - Thời thái bình thịnh trị mà giữa ban ngày ban mặt thế này lại dám ức nam hiếp nữ, giết người phóng hỏa thế này sao? Nghe thấy giọng nói bi phẫn lẫn căm hờn đầy chất chính khí của Hồng Xung, Mã Cạo Đầu ý thức được rằng, lần này lão sẽ bị Hồng Xung tống tiền. Mời các bạn đón đọc Kẻ Nhu Nhược của tác giả Chu Sơn Pha & Nguyễn Trần (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Phía Núi Bên Kia
Xuân Sách (4 tháng 7 năm 1932 – 2 tháng 6 năm 2008) tên thật là Ngô Xuân Sách, ngoài ra ông còn bút danh Lê Hoài Đăng, là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Ông được biết tới khi là tác giả phần lời các ca khúc nổi tiếng Đường chúng ta đi (dựa trên tứ thơ của Hoàng Trung Thông và Chế Lan Viên), Cùng anh tiến quân trên đường dài (nhạc Huy Du), đặc biệt nổi bật qua tập thơ Chân dung nhà văn. Cuốn sách Phía Núi Bên Kia nói về câu chuyện của một cậu bé thường nhìn về phía rặng núi xanh mờ của quê mình mà đoán xem phía núi bên kia ấy có những gì. Tác giả viết về những biến cố lịch sử đất nước năm 1945, nhất là nạn đói Ất Dậu, qua con mắt của một chú bé - vừa thương vừa không buồn thảm, lại rất thực. Rồi theo chân bố, cậu cũng đi kháng chiến, phục vụ trong đoàn Văn công thiếu nhi. Hai bố con gặp lại nhau ngày chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng. *** K hi có điều gì không bằng lòng về tôi, mẹ tôi thường nói: - Tao nuôi mày ba sống một chết, qua năm lần bảy bận khốn đốn gian nan. Tôi sinh năm con hổ. Nhưng tôi ra đời lại như một con mèo ốm. Bà mụ cắt rốn tôi bằng cái lưỡi hái, tắm tôi trong cái bầu đài bằng mo cau. Bà trao cái thằng bé dăn dúm đỏ hỏn cho mẹ tôi: “Trời cho chị một thằng cu, nhưng chị sẽ vất vả vì nó.” Tôi khóc, khóc ngày này qua đêm khác. Đầy cữ, đầy tháng, đầy năm tôi vẫn khóc. Bú được chút sữa mẹ nào, tôi đều biến thành nước mắt. Khó nói hết nỗi vất vả cực nhọc của mẹ tôi. Sau này khi lớn lên, nhìn những nếp nhăn trên mặt mẹ, vẻ gầy guộc dầu dãi của mẹ, tôi vẫn nghĩ đó là dấu vết những năm tháng mẹ nuôi tôi, những năm tháng mà “nước mắt mẹ dài hơn nước mắt con”. Tôi sống quặt quẹo cho đến năm lên ba thì bị giáng một trận ốm kịch liệt. Một buổi chiều tháng mười ảm đạm, bệnh tôi đã hết phương cứu chữa. Mẹ bế tôi từ trong buồng ra đặt trên cái chõng kề cửa sổ. Tôi thôi khóc, mắt lờ đờ và mồm ngáp như cá đớp mồi khan, bụng chướng lên như cái trống. Chị Lụa năm ấy lên sáu, thấy tôi há mồm liền cầm củ khoai chấm vào: - Em ơi dậy chị cho ăn khoai. Mẹ tôi ngồi canh chừng ủ rũ. Bố tôi lặng lẽ sắp sẵn một manh chiếu, ba cái lạt tre, cái thuổng cái cuốc dựng đầu hè cùng với một bó đuốc. Chờ tôi tắt thở là bố mượn người đưa tôi đi. Trên lớp da bụng căng như mặt trống, ông bác tôi viết vào một chữ “Sát”, chữ nho có nghĩa là giết. Làm vậy là khi tôi chết rồi biến thành ma thì cũng tìm đường cuốn xéo đừng quay lộn về đầu thai vào gia đình làm khổ cha mẹ nữa. Vào thời ấy ở một làng quê hẻo lánh, chuyện thuốc thang thật khó khăn. Bố mẹ tôi đã bán một sào ruộng hiếm hoi của mình để cứu tôi, nhưng lúc này thì coi như tôi sắp vỡ nợ cha mę. Vào đúng lúc ấy, trời nhá nhem tối, có một người lạ vào nhà tôi. Ông khách kỳ dị mặc bộ quần áo nâu cũ, vai khoác cái bị cói, đầu đội cái nón rách úp sụp xuống mặt. Trông chẳng khác gì một người ăn mày, thuở ấy ăn mày không thiếu. Ông khách vào ngõ là đi sục luôn vào nhà. Bố tôi sửng sốt, nhưng khi chủ khách nhận ra nhau thì lập tức khép kín cửa lại. Ông khách thăm tôi rồi nói vội: - Cho tôi cái bát và ít nước. Ông moi trong người ra một khúc gỗ đen bóng bằng đầu ngón tay cái, rồi mài vào bát nước vối. Bố tôi lấy đũa cả ngáng mồm tôi cho ông khách đồ bát nước ấy vào. Ông khách lấy tay xoa nhẹ bụng tôi. Cái bàn tay mầu nhiệm của ông khách bí ẩn đã làm cho cái bụng căng cứng của tôi bỗng chốc mềm ra và sôi lên ùng ục như biển động. Rồi tất cả những thứ gì chứa trong cái bụng ấy được tống ra ngoài làm nồng nặc cả ba gian nhà. Cái thằng tôi do quá thiết tha với cuộc đời đã cựa mình, mở mắt và cất tiếng khóc. Có lẽ đó là tiếng khóc mà bố mẹ tôi nghe một cách sung sướng kể từ sau tiếng khóc chào đời của tôi. Chị Lụa níu tay mẹ tôi: - Không chôn em nữa chứ mẹ? Mẹ tôi mắng chị qua nước mắt: - Mày chỉ dại mồm dại miệng. Chị vui lên, em sẽ sống và ăn khoai với chị. Bố tôi bê nồi cơm nguội và một đĩa thức ăn xoàng xĩnh bày mâm mời ông khách ăn. Ông vừa bỏ nón để lộ cái đầu trọc, ngồi lên giường bê bát cơm thì nghe phía nhà lý trường có hồi trống thúc gọi tuần đinh một cách hối hả, ông khách đặt bát cơm xuống nhìn bố tôi. Bố tôi nói khẽ: - Để lắng xem thế nào đã anh. Ông khách ngần ngừ một lát rồi vớ vội cái nón: - Tôi phải đi. Bố tôi lo lắng vặn nhỏ ngọn đèn. Ông khách đeo bị, đưa cho bố tôi cục gỗ mài cho tôi uống ban nãy: - Anh cầm lấy. Đây là miếng kỳ, vị thuốc quí của gia đình tôi còn lại, anh giữ lấy mà dùng cho cháu. Mẹ tôi xúc động: - Ơn anh đã cứu cháu. - Tôi chịu ơn anh chị nhiều, dịp khác tôi lại về. Bố tôi còn kịp đổ ít cơm nguội vào trong bị và đưa ông khách ra cửa sau. Trước khi từ giã, ông nói: - Dạo này bọn chó đánh hơi gớm lắm, anh phải cần thận. Bố tôi mở rào cho ông khách đi ra, xóa vết chân rồi quay vào nhà, chưa kịp nói gì thì lý trưởng đến. - Chào cụ lý. - Bố tôi lễ phép mời lão ngồi. - Nhà có chuyện gì đấy ? - Lý trưởng vừa hỏi vừa đảo mắt nhìn khắp nhà. Biết ông khách đã đi thoát, bố tôi bình tĩnh. - Dạ thưa cụ, nhà có thằng cháu ươn người, đã tưởng là không qua được, nhưng may mà bệnh cháu đã chuyển. - Thuốc gì mà chuyển? Mẹ tôi đã bưng lên một đĩa trầu, đỡ lời: - Thưa cụ, cùng quá cũng vơ nhăng vơ quàng mớ rễ mớ lá, may nhờ phúc cụ lý nó lại hợp với bệnh cháu. - Tôi làm gì mà phúc với đức. - Lão lý vẫn chân ngồi chân đứng, tai ngóng ra ngoài ngõ, lão vớ miếng trầu nhai rồi nói lúng búng: - Đêm hôm tôi cũng đi dạo một vòng, thấy nhà có việc tôi ghé vào, thôi tôi về. Bố tôi tiễn lý trưởng ra ngõ. Lão nói nhỏ: - Anh phải biết rằng nếu tôi không đánh hồi trống gọi tuần đinh thì sự việc đã khác. Tại sao tôi lại đánh trống, anh hiểu chứ ? - Đội ơn cụ. - Ơn huệ gì. Liệu đấy, đầu anh không giữ được đã đành, mà tôi rồi cũng không còn chỗ đội nón vì anh đấy. Quá lắm thì tôi không thể dung được đâu. - Dạ. - Dạo này có túng bấn lắm không? - Sống ra sao mà cụ chẳng biết, cũng cố chèo chống cho qua. - Này, Nhật vào Đông Dương rồi anh biết không ? - Dạ. - Làng trên đã có truyền đơn của Việt Minh rồi đấy, bao giờ thì đến lượt làng này? - Dạ. - Ối giời ơi! - Lão lý phát cáu - Anh cứ vờ vờ vịt vịt. Thời buổi rối như mớ bòng bong, chẳng biết đâu mà lần. - Cụ lại nhà.   Sau trận ốm ấy, tôi thay đổi hẳn. Tôi khỏe lên và ăn trả bữa. Bây giờ thì bố mẹ lại vất vả lo cho tôi ăn. Tôi ăn không biết no, biết chán. Lúc nào cũng ăn được, lúc nào cũng quấy khóc đòi ăn. Lên năm, lên sáu vẫn thế. Ăn ở nhà, rồi mò đi ăn chực hàng xóm. Ăn chực một bát lại đòi hai. Trẻ con trong xóm cho em ăn thường dọa: “Mày không ăn, thằng Đen đến nó ăn hết bây giờ”. Thằng Đen chính là tôi. Tên tôi là Hòe kia, nhưng vì tôi đen nên người ta gọi như thế. Sau này người ta vẫn gọi tôi là thằng Hòe đen. Bố tôi đi làm thuê, hôm nào làm ở trong làng mà tôi biết, tôi cũng mò đến. Mùa gặt, tối về bố tôi trục lúa cho nhà chủ, tôi đến nằm ở gốc rơm đánh một giấc, và lạ lùng thay khi làm lúa xong, thợ gặt dọn mâm bát ăn cơm là tôi vùng dậy ngay, tỉnh như sáo mon men kiếm một bát cơm. Một lần ăn xong, hai bố con về nhà, tôi nói líu ríu, bố tôi giận: - Lần sau tao cấm mày đi. - Sao thế bố ? - Sao nữa, lần sau mày theo đi tao đập chết. - Rồi bất ngờ bố tôi thở dài dịu giọng - miếng ăn nhục nhã lắm con ơi!   Mời các bạn đón đọc Phía Núi Bên Kia của tác giả Xuân Sách.
Đầu Xanh Tuổi Trẻ
Review Nguyễn Hữu Cát:   Không hiểu sao khi đọc xong “Crôtcaia” – một truyện ngắn giả tưởng của Dostoevsky, tôi cứ luôn ao ước (như Pautopsky) được nhìn vào đôi mắt của nhà văn, nơi câu chuyện được sinh ra. Chẳng biết khi đặt bút viết những lời kết, có dòng lệ nào lăn chảy trên gương mặt gày gò của ông hay không và đôi mắt màu nâu xám có ánh lên tia nhìn buồn bã, thương cảm và bàng bạc niềm u uẩn không? Chỉ biết rằng nếu được nhìn vào đôi mắt ông, có thể tôi sẽ hiểu được nhiều điều bên dưới những con chữ kia. Phải, truyện ngắn này gây cho tôi một ấn tượng đặc biệt, một xúc cảm mạnh mẽ và một chấn động kinh hoàng. Nó giống như một cơn mộng mị mà khi tỉnh dậy ta còn bàng hoàng không biết là thực hay là mơ? Dostoevsky thích tạo ra mâu thuẫn và những điều bí mật, thậm chí “những điều kỳ quặc” trong kết cấu tiểu thuyết của mình và cho rằng không nhất thiết một tác phẩm phải trình bày tuần tự, sáng rõ để người ta hiểu ngay từ lúc ban đầu. Ông có thiên hướng kích thích người đọc phải săn tìm những điều bí mật ẩn sâu trong tác phẩm. Chính vì thế, ông thường tạo kịch tính ngay ở đầu, ngay ở phần mở đầu tiểu thuyết với những câu hỏi hóc búa. Ông cũng làm như thế với những truyện ngắn của mình. Từ hình thức tự do không giới hạn của tiểu thuyết chuyển sang hệ thống chặt chẽ và khép kín của truyện ngắn, Dostoevsky đã đạt đến đỉnh cao mới của nghệ thuật viết truyện. “Crôtcaia” (hay “Người đàn bà nhẫn nhịn”) là một truyện ngắn bi kịch có sức mạnh phi thường, nó đạt tới độ tự chiếu sáng, vừa trong sáng, mực thước như một họa phẩm chân dung của Rembrant thời Phục hưng, vừa sâu sắc, súc tích như một thi phẩm tình yêu của Puskin. Đọc truyện “Crôcaia” ta có cảm giác như bước vào một căn phòng tối, xa lạ, không nhìn thấy gì và không biết gì hết. Đến khi quen với bóng tối, mắt ta trở nên tinh hơn và bắt đầu nhận biết được các sự vật. Dostoevsky đã phá hủy hình thức bền vững của truyện ngắn cổ điển, ông đưa người đọc đến ngay một sự cố bất thường rồi sau đó phát triển số phận và nhân cách của nhân vật trong giới hạn của sự căng thẳng tinh thần mà nhân vật phải đối đầu. Nói cách khác, nội dung và tính kịch của truyện ngắn được khép kín trong vòng tròn độc nhất của “tai biến nội tâm”. Tất cả được tập trung, xâu chuỗi, đắp nổi cho hình tượng nhằm làm nổi bật cái chấn động tinh thần dữ dội ở nhân vật. Tấn bi kịch của câu chuyện được nhà văn gỡ nút ngay từ sự gợi mở ban đầu: Một người chồng đau khổ, trên bàn của anh ta là thi thể người vợ, trước đó mấy giờ cô ấy lao mình ra ngoài cửa sổ tự tử. Anh ta đang trong cơn bối rối, hoảng loạn, và muốn hiểu chuyện gì đã xảy ra, cố gắng “tập trung mọi ý nghĩ vào một điểm”. Đoạn kết của câu chuyện được đặt thành đoạn mở đầu đã xác định cấu trúc vòng tròn của truyện ngắn. Đó là kiểu “truyện ngắn xoáy trôn ốc”, các đường xoáy của nó tách ra dần điểm xuất phát nhưng điểm gỡ nút ở cuối đường xoáy lại được đặt ngay lên phần đầu. Chương đầu tiên có tên gọi: “Tôi là ai và nàng là ai”. Nhà văn bắt đầu đưa người đọc dõi theo tiểu sử của nhân vật nữ chính trong truyện, số phận bất hạnh của cô cùng tính cách của một tâm hồn non trẻ bị xúc phạm và đè nén trước những bước đi thô bạo của cuộc đời. Mồ côi cha mẹ từ năm mười hai tuổi, cô phải sống trong sự ghẻ lạnh của hai bà dì và gần như trở thành nô lệ cho họ. “Chẳng có tội gì họ cũng đánh đập nàng, cũng đem miếng cơm, manh áo ra mà chửi nàng. Kết cục là họ có ý định đem bán nàng đi”. Thế là Crôtcaia lúc bấy giờ sắp bước sang tuổi mười sáu phải tìm mọi cách thoát thân bằng việc đăng báo tìm việc làm hoặc chốn nuôi ăn. Để có tiền trả công quảng cáo, cô đã phải đem đến tiệm cầm đồ những vật rẻ tiền của cha mẹ: một đôi hoa tai bạc mạ vàng, một cái huy chương bong nước mạ, một viên đá chạm, bức tượng thánh cổ có cái khung bằng bạc… Trong những thứ đó, bức tranh thánh là một hình ảnh nghệ thuật đầy sức ám ảnh mà chúng ta sẽ thấy trong phần cuối cùng của vở bi kịch và đóng vai trò quyết định trong việc hình thành ý đồ sáng tác của Dostoevsky. Đan lồng với câu chuyện số phận của nhân vật nữ là câu chuyện tiểu sử của ông chủ hiệu cầm đồ – sau này là chồng của cô và là người kể lại toàn bộ tấn bi kịch. Đó là một người đã luống tuổi, nghiêm nghị và lãnh đạm với mọi người. Ông ta bị đuổi khỏi trung đoàn và bị sỉ nhục là hèn nhát, không dám nhận lời thách đấu với kẻ thù đã nói xấu cấp trên của mình. Nhưng bản thân ông ta không chấp nhận sự xúc phạm này, dũng cảm coi thường dư luận và sự kết tội bạo ngược. Thế là “từ một người cao thượng ông ta trở thành một người cho vay nặng lãi”. Toàn bộ không gian câu chuyện đều dành hết cho hai nhân vật này. Mặc dù kết cấu của truyện ngắn là tính cô đọng nhưng hai nhân vật này đều được miêu tả khá cặn kẽ qua bút pháp của nhà văn. Như một nghệ sĩ nhiếp ảnh bậc thầy, Dostoevsky nắm bắt những khoảnh khắc đáng ghi nhớ ở nhân vật, làm sống động những vẻ đẹp chợt hiện ra. Ông đặc biệt chú ý đễn những biểu hiện đa dạng trên nét mặt con người, bởi “chỉ trong những khoảnh khắc hiếm hoi, nét mặt con người mới thể hiện rõ đặc điểm cơ bản của mình” (tiểu thuyết ” Đầu xanh tuổi trẻ”). Trên nét mặt Crôcaia thể hiện một nỗi u uẩn, sự kinh ngạc nhiều khi thành hãi hùng trước những cơn bão tham tàn của cuộc đời và cả sự cao thượng của một tâm hồn thơ trẻ. Vóc dáng bề ngoài của cô không quá đặc biệt nhưng vẫn gây chú ý và thiện cảm tới người đọc: vóc người mảnh dẻ, tóc vàng, đôi mắt màu xanh, to đẹp, và trầm ngâm. Cái nhìn nhiều khi nghiêm khắc và nụ cười luôn chứa đựng hoài nghi. Toàn bộ con người Crôtcaia cho tôi cái cảm giác về một sự lắng đọng và chưa định hình của đường nét. Nó giống như bức tranh vừa được phác thảo bằng bút chì. Bên cạnh đó, chân dung tự họa của nhân vật kể chuyện giúp ta hình dung rõ nét hơn mặc dù chỉ là những nét khái quát: đó là một sĩ quan về hưu của một trung đoàn lừng danh, một người có vóc dáng cân đối, cao đẹp và có học thức. Cái nút lãng mạn của câu chuyện mà từ đó tấn bi kịch xảy ra chính là mối quan hệ của người cho vay nặng lãi với cô gái nghèo đáng thương. Cô gái lấy người cho vay nặng lãi. “Thực ra cô ta chẳng biết nhờ cậy vào ai”. Cái ý nghĩ “năm nay tôi bốn mươi mốt tuổi còn nàng vừa đến tuổi mười sáu” đã mê hoặc người kể chuyện – “đó là cảm giác không cân đối, ngọt ngào quá, ngọt ngào quá”. Thế nhưng thực tế, cuộc sống vợ chồng của họ thì ra sao? Có ngọt ngào không? Chính trong lúc bắt đầu một cuộc sống mới với người vợ trẻ, ông ta đòi hỏi một tình cảm lớn, phác thảo những suy nghĩ, mở ra những ý định và những dự kiến thầm kín. Ông ta “tạo ra cả một hệ thống”, một sự nghiêm khắc, giá lạnh, kìm hãm niềm hăng say của tuổi trẻ, một quá trình tính toán nhưng điều độ, lịch thiệp nhưng hết sức tiết kiệm. Và điều quan trọng nhất chính là sự tiết kiệm, ông ta cần có ba chục ngàn để đến sống vĩnh viễn ở Crưm. Tuy nhiên, câu chuyện về cuộc sống vợ chồng của họ tự nó “đi bước đầu tiên”. Một sự im lặng bao trùm, một sự lạnh lung khó hiểu, ngoài những cơn cãi cọ thì giữa họ là một khoảng lặng. “Nổi loạn và độc lập” – đó là những gì bắt đầu manh nha trong tâm tính Crôtcaia, “nàng phản kháng không phải là sự nghèo khổ, mà dường như là tính tằn tiện trong việc tiết kiệm” của chồng. Mối bất hòa của họ tăng lên khi nàng đột nhiên nghĩ ra cách trả tiền theo cách riêng của mình, đánh giá các đồ gửi cao hơn giá trị và đã không được sự chấp nhận của chồng, vốn là người tiết kiệm và ghét thói xa xỉ. Thế là Crôtcaia nổi loạn. Dostoevsky đặt tiêu đề cho chương này là “Người đàn bà nhẫn nhịn vùng lên”. Cô ta quyết định trả thù người làm ơn nhưng cũng là người làm khổ cô ta. Để trả thù, cô tìm đến người bạn cũ của chồng, viên sĩ quan Ephimovich, kẻ khởi xướng việc đuổi chồng cô ra khỏi trung đoàn và đã hẹn hò với hắn ta. Nhưng ngay trong buổi hẹn hò đầu tiên của họ, người chồng đã theo dõi họ từ gian phòng bên cạnh với khẩu súng lục trong túi. Dostoevsky đã diễn tả một cách ngắn gọn và hàm súc cuộc gặp gỡ này như một đoạn phim ngắn. Nhân vật nữ “trong phim” đã tạo ra cao trào khi chính cô đã tỏ ra là một người cao thượng, một kẻ vô tội, “cơn thịnh nộ làm cho trái tim nàng thốt ra những lời cay độc” trước tên Ephimovich. Điều này đã khiến người chồng tin tưởng vào sự trong sạch của nàng. Anh ta phá ngang vở kịch bằng cách mở tung cửa và đưa Crôtcaica đi. Thế nhưng, bi kịch lại nối tiếp bi kịch, một xung đột mới tiếp ngay sau sự kết thúc của xung đột trước. Đỉnh điểm của câu chuyện bắt đầu khi người thiếu phụ trẻ dí mũi súng vào thái dương người chồng đang ngủ. Nhưng thực ra ông ta không hề ngủ. Ông ta biết hết chuyện gì đang diễn ra. “tôi nghe thấy tất cả, mặc dù lúc đó là thứ im lặng chết chóc, nhưng tôi nghe thấy thứ im lặng đó”. Mắt họ đã giao nhau chính trong khoảng khắc chết người đó. Một hành động co giật đã khiến ông ta mở mắt và bốn mắt họ gặp nhau. Tại sao ông ta không chống cự lại? “Cuộc sống của tôi còn để làm gì nữa sau khi con người mà tôi say đắm đã nâng khẩu súng chĩa vào tôi?”. Hóa ra ở thẳm sâu tâm hồn người cho vay nặng lãi nghiêm khắc và lãnh đạm này vẫn ẩn giấu một tình cảm lớn lao, câm lặng và vô vọng. Dostoevsky đã tạo dựng một tấn bi kịch nghẹt thở ngay ở điểm trung tâm của câu chuyện. Một bước ngoặt bất ngờ của một mưu đồ đã được vẽ ra nhưng mờ khuất trong cuộc khủng hoảng sâu sắc của những biến động nội tâm. Và từ đây, câu chuyện đột ngột rẽ sang một hướng khác. Đúng hơn là rơi vào một khoảng ngưng dài mà tính kịch của nó chỉ tiếp tục khi có sự bột phát và chấn động mới ở tâm hồn nhân vật. Phần thứ nhất của câu chuyện dừng lại ở cuộc ly hôn giữa đôi vợ chồng trẻ. “Cô ta đã thắng nhưng không được tha thứ”. “Yêu đời vì đời, và mơ mộng vì tình yêu thực tại“, làm khổ mình vì mình và yêu thương kẻ khác cũng vì mình, nhân vật của Dostoevsky nhiều khi khiến chúng ta không thể hiểu nổi. Họ hiền hậu, vô tâm, lãnh đạm, hoặc ác nghiệt chăng? Không hoàn toàn! “Họ là những người của sự bắt đầu lại“(Xvaig). Họ luôn bị kích động và rối loạn. Họ như đến từ thế giới khác, họ thờ ơ với tất cả, coi khinh tất cả và chẳng trông mong điều gì. Dường như Dostoevsky đã không thể như các nhà văn khác ( Dicken chẳng hạn) chỉ ra cho các nhân vật của mình cái thi vị dưới lớp tro của cuộc sống hàng ngày đơn điệu và bắt họ hãy an lạc trong chính bản thân mình. Các nhân vật của ông thường hay nổi loạn, “ý chí của họ phủ nhận cõi hạ giới này và ngang nhiên bất bình với cuộc đời trước mắt” và điều đáng sợ hơn là họ chối bỏ những gì là thân thiết với mình, sẵn sang bùng cháy như một ngọn lửa. Ở hai nhân vật chính của câu chuyện này, ta có cảm giác niềm căm phẫn luôn giống tình yêu và tình yêu luôn giống niềm căm phẫn. Với họ, mỗi oán thán là một lỗi lầm, và mỗi nhún nhường là một biểu hiện yếu đuối. Họ ngấm ngầm đối đầu nhau, không ai phục ai, không ai nhường ai. Tuy nhiên, cuộc giằng co này đã bị phá vỡ ở phần tiếp của câu chuyện trong một xung đột tâm lý mới. Đỉnh điểm của tấn bi kịch sẽ hòa lẫn với đoạn kết của nó. Tình yêu của người chồng đối với Crôtcaia là sự căm phẫn đã được biến đổi, là lòng thương hại chuyển hóa từ nỗi khỉnh bỉ, là sự hờn dỗi, báo thù, hành hạ, song xen vào tất cả, có một thứ tình cảm ấm nóng nguyên sơ, một tình yêu say đắm chân thành vẫn luôn im lìm, ấp ủ nhựa sống bên trong con người ông ta. Chính hạt giống tinh thần ấy đã đánh vỡ sự lạnh lùng đông cứng trong tâm hồn người cho vay nặng lãi. Ông ta “không thể kìm hãm cơn hào hứng đã sôi động trong trái tim”, “toàn bộ con người tôi xốn xang và thế là tôi té xỉu dưới chân nàng. Đúng là tôi đổ vật vào chân nàng. Nàng đứng phắt dậy, nhưng tôi đã huy động một sức mạnh phi thường dang cả hai tay ôm chặt nàng lại”. Hành động của người chồng là biểu hiện “đầy say mê đến mức độ đau khổ” những cơn dằn vặt đầy ẩn ức đã chất chứa trong lòng ông bấy lâu. Ông ta cứ nhắc đi nhắc lại từng phút một: “anh sẽ không đòi hỏi bất cứ điều gì nơi em, em không phải trả lời anh bất cứ câu gì, em hoàn toàn không phải để mắt đến anh, chỉ cần cho anh được đứng nơi góc nhà nhìn em là đủ, em hãy biến anh thành một thứ đồ vật, thành một con chó con của em”. Rồi ông ta rủ cô đi về miền Nam, đi Pháp, “mà cái chủ yếu là phải đi Bulônnhơ, đi Bulônhơ!”. Ông ta tin rằng Bulônnhơ là tất cả, rằng ở đấy sẽ có một cái gì kết thúc trọn vẹn, và “tình hình sẽ khác hẳn“. Thế nhưng chính trong cái thời điểm ông ta đang cao hứng, đang tràn trề hi vọng, đang tin tưởng một cách nhiệt thành rằng “màn khói sắp rơi xuống” thì tai họa cuối cùng chín muồi, mọi thứ đột nhiên sụp đổ. Cơn bộc phát nội tâm và niềm say mê muộn màng của người chồng đã chẳng đem đến một tia sáng nào. Crôtcaia đã từ chối những tình cảm mãnh liệt đến với mình. Nàng cầm trong tay vật thiêng liêng – bức tranh thánh mà cha mẹ để lại – nhảy qua cửa sổ giữa đôi tay giang rộng của Thần chết. Vụ tự tử này nằm trong sự tương phản nội tại của sự kiện, sự kết hợp bất thường giữa nỗi tuyệt vọng và niềm tin, giữa hủy diệt và cơ hội phục sinh, giữa cái chết và tình yêu. Cái kết cục bi kịch đã tháo tung ra mọi quan hệ thầm kín và rắc rối. Người chồng gắng sức biện bạch bằng sự ngẫu nhiên. Chính điều này là lý do mà ngay từ sự xuất hiện ban đầu, ông ta đã đem lại cho tôi ấn tượng về sự ngu dại. Tuy nhiên, sau đó tôi phải thay đổi ngay cách nhìn của mình, chính sự ngẫu nhiên cay đắng đã đẩy ông ta vào cơn đau khổ cùng cực, khiến cho tâm hồn ông ta bị vỡ tung ra thành nhiều mảnh. “Điều chủ yếu, điều đáng giận là tất cả những chuyện ấy lại là ngẫu nhiên, một thứ ngẫu nhiên đơn giản, dã man và hủ lậu!”. Ông ta gào lên: “Ôi man rợ, man rợ! Vô lý! Không có lẽ! Không thể thế được!” Sự trùng hợp quái ác nào đây, cơn điên loạn cùng cực nào đây, địa ngục tăm tối nào đây, lỗi lầm mù quáng nào đây? Hay tất cả chỉ là trò chơi tàn nhẫn của định mệnh, là sự trêu cợt cố ý của tạo hóa? Nhân vật gần như phát điên, ông ta đang trong sự đày ải của ý thức, trong những đau khổ giằng xé, trong những cơn sốt, những cơn co thắt. Kẻ cô đơn giờ đây đã mất hết mọi thứ, ông ta chẳng còn thiết tới những luật lệ nữa, tự nguyện dứt bỏ mọi quy luật của cuộc sống. “Người ta bảo rằng mặt trời làm sống dậy vũ trụ. Bao giờ mặt trời mọc lên, các vị thử nhìn mà xem, đó chẳng phải là một xác chết hay sao? Tất cả đều chết, khắp nơi là những xác chết”. Đối với con người đang vấp phải những chấn động dữ dội trong tinh thần thì mọi cái đều đã tiêu ma. Còn gì níu kéo nữa đâu? Thiên nhiên, tín ngưỡng, đạo đức, tình yêu, lòng vị tha…? Cái gì có thể lấp đầy sự trống rỗng của tâm hồn ta khi người con gái ta yêu đã rời bỏ ta, rồi ta sẽ ra sao? Ta đã chết niềm tin vào cuộc sống với những nguyên tắc và quy luật của nó, ta còn có thể làm gì đây, còn có thể làm gì khi chính chúng đã xúc phạm ta??? Có thể nói,”Crôtcaia” là một mẫu mực xuất sắc về độc thoại nội tâm của Dostoevsky. Thông qua quá trình nhận thức mọi biến cố đã xảy ra bằng cách “cố gắng tập trung mọi ý nghĩ vào một điểm” và cách lập luận, suy nghĩ biện chứng phức tạp của người kể chuyện, nhà văn đã ghi lại tư tưởng hỗn loạn, tuyệt vọng của con người đau khổ khiếp sợ trước sự cô độc của mình. Ở đây có một cái gì thầm lặng và khó đoán định. Một cái gì gần như là chân lý. Sự khủng hoảng thế giới quan, những chấn động tư tưởng và sự sụp đổ tinh thần phải chăng là tấn bi kịch muôn đời của con người? Muốn viết được một câu chuyện có sức hấp dẫn nghệ thuật đặc biệt, nhà văn “cần phải dự trữ một hoặc một vài ấn tượng mạnh mẽ mà con tim tác giả đã thể nghiệm thực sự” (Dostoevsky). Tất cả những gì được truyền tải qua các hình tượng nghệ thuật đều mang trên mình nó dấu ấn những xúc động, tình cảm, khát vọng của nhà văn, những cơn “lắng đọng trong câm lặng” và cả “những giây phút hào hển của những khoảnh khắc bi tráng”. Nhà văn phải hóa thân thành hình tượng đã tưởng tượng ra. Điều này không hề dễ dàng. Ở tác phẩm này, Dostoevsky đã phải hóa thân vào hai nhân vật, khi là cô gái nhu mỳ mười sáu tuổi với tâm lý thơ trẻ, với những cơn bộc phát cảm xúc, thốt nhiên bừng giận, thốt nhiên hổ thẹn, khi thì trở thành người đàn ông cho vay nặng lãi với những cơn kịch biến trong tư tưởng và tâm hồn. Trong những lần hóa thân ấy, cái được nhận thức và cái được thể nghiệm đã kết thành một hợp chất hữu cơ. Tuy nhiên, phạm vi của cái được nhận thức và chiều sâu của cái được thể nghiệm nhiều khi không hề trùng khớp với nhau. Chính điều này đã tạo nên vẻ bí mật cho các nhân vật của Dostoevsky mà chính ông cũng không thể lường hết được rốt ráo cái chiều kích khôn lường của tâm hồn nhân vật và chụp cho nó cái khung. Bóng dáng của chúng không phải khoan thai bước từng bước vững chãi trên “đại lộ của đời thương” mà chập chờn trong cuộc dấn thân miên man vào “mê lộ của cái khác thường”, trong bóng tối, ảo giác, với những nỗi ám ảnh, những cơn khô kiệt, những cuộc hủy diệt, nổi dậy, tan rã. Ở Crôtcaia và người đàn ông cho vay nặng lãi, chúng ta nhìn thấy một sự bùng cháy bên trong, sự bùng cháy tưởng như có thể đè nát ý thức nhân vật và ở đỉnh điểm của nó có khả năng đưa đến nỗi đau khổ vô bờ bến. Mọi thể chế, quy phạm của truyện ngắn cổ điển dường như đánh mất mình ngay trong tác phẩm này của Dostoevsky. Ông đã đặt toàn bộ cuộc đời con người vào hình thức nhỏ bé của truyện ngắn, chỉ ra ranh giới giữa vĩnh cửu và thân xác phù sinh của họ, thông qua những mâu thuẫn, giằng xé để đi đến đường biên tột cùng của sự nổi loạn. Và tất cả được thể hiện bằng những phương pháp và nguyên tắc sáng tạo cao nhất của nhà văn. “Crôtcaia” đã đem đến cho tôi nhiều suy nghĩ mới mẻ, nhiều ấn tượng lạ lẫm về cuộc sống và chiều sâu thế giới tinh thần con người. Tác phẩm đã không cho phép tôi quên tình cảm cao thượng của sự nhún nhường, những đày ải của sự câm lặng và nỗi đau có thể đến từ những điều ta không thể ngờ. Có lẽ chưa từng có truyện ngắn nào khiến tôi phải thổn thức nhường ấy, nào biết đó là nỗi thổn thức của riêng tôi hay là nỗi thổn thức của cả cuộc sống đây…? (24/01/2013) *** Dostoievski: tiếp tục Ngập ngừng, tôi định viết tiếp bài ở kia, rồi tôi lại thôi, chờ đợi tiếp. Chờ đợi cái gì thì tôi không rõ. Cuốn tiểu thuyết Thằng ngốc là một trong những gì gây choáng ngợp nhất mà Dostoievski từng viết, sự choáng ngợp bắt đầu từ dòng đầu tiên, khi đoàn tàu hỏa từ hướng Vacsava bắt đầu chạy vào địa phận Saint-Petersburg. Một cuốn tiểu thuyết Nga khác cũng mở đầu bằng đoàn tàu: Anna Karenina, nhưng tất nhiên cuốn sách ấy rất khác so với Thằng ngốc. Dostoievski đã đọc, dường như rất kỹ, Anna Karenina, và có ghi lại vài điều; chưa bao giờ Dostoievski và Tolstoy gặp nhau: họ từ chối gặp nhau. Tôi cũng ngập ngừng, sau ba tập sách dày (xem ở kia), tức là đến 1864, mãi không quyết định được là có tiếp tục không. Nếu tiếp tục, thì tức là sau (ngay sau) Balzac, tôi sẽ đọc (trong đó một số là đọc lại, nhưng cũng có những thứ lần đầu tiên đọc: điều này rất quan trọng, tôi sẽ còn trở lại sau) hết sạch Dostoievski. Nếu "theo" các bản dịch của André Markowitz, cụ thể là theo ấn bản trong tủ "Thesaurus" của nhà xuất bản Actes Sud, thì tổng cộng có năm tập to; sau khi xơi tái xong ba tập đầu, tôi đã đi đến quá nửa. Tôi ngập ngừng rất lâu (lâu hơn "mức bình thường" của tôi nhiều). Vả lại, vì trước đó tôi đã đọc "lẻ" Karamazov (trong ấn bản cũng của Actes Sud nhưng không thuộc hệ thống năm tập "Thesaurus") nên thành thử tôi đã đi xong đoạn đầu và cuốn tiểu thuyết lớn nhất của đoạn cuối: ta nhớ Karamazov in năm 1880, đó chính là tác phẩm lớn cuối cùng của Dostoievski, sau đó chỉ còn một "đít cua", một bài phát biểu về Pushkin nữa, rồi Dostoievski chết. Cuối cùng, tôi cũng quyết định. Tôi quyết định nhảy xuống nước. Tôi đọc (lần này, vẫn là đọc lại) cuốn tiểu thuyết lớn ngay trước Karamazov: Trong tiếng Việt, tác phẩm này hay được gọi là Đầu xanh tuổi trẻ. Đây là cả một sự kinh dị lớn lao. L'Adolescent (Đứa thiếu niên) là một niềm kinh dị. Đọc lại nó, tôi bắt đầu hiểu tại sao tôi (từng) ngập ngừng đến thế. Tôi đã dự cảm được, ở lần đọc lại cuốn tiểu thuyết này, tôi sẽ thấy. Thấy gì? Đứa thiếu niên là một sự hội tụ của một điều rất quan trọng. Điều này liên quan đến cả Dostoievski lẫn độc giả siêu hạng nhất của Dostoievski: Bakhtine. Đứa thiếu niên (1874-1875) cho thấy một điều đối với tôi đã tường minh hơn bao giờ hết: thời điểm viết cuốn tiểu thuyết này, Dostoievski đã nhìn thấy. Đã nhìn thấy điều then chốt nhất, chính là điều làm cho Dostoievski trở nên quan trọng như vậy (tôi muốn nói: gây phiền nhiễu lớn đến vậy; bởi vì không nhà văn nào gây nhiều trắc trở cho đọc như Dostoievski; đọc Dostoievski chính xác là độ không của đọc: tôi nghĩ là tôi nhìn thấy một điều rất quan trọng, có biểu nghĩa rất lớn, ở việc trong suốt cuộc đời Roland Barthes hết sức tránh nhắc đến Dostoievski; bởi vì phải tránh thôi). Tôi hình dung Bakhtine cũng nhìn thấy như vậy; nói đúng hơn, Bakhtine đã theo chuyển động của Dostoievski (chuyển động thuộc loại khó hình dung nhất - chính vì vậy văn chương Dostoievski gây phiền nhiễu khủng khiếp đến vậy) và đến chỗ chuyển động trở nên tường minh, nói ngắn gọn, đến chỗ chuyển động chạm đến cấu trúc. Những điều tôi vừa nói chắc chắn trông có vẻ trừu tượng (nhưng cả ở đây, tôi cũng thấy chúng hết sức cụ thể), tôi sẽ còn quay lại, một cách kỹ càng: cụ thể hơn nữa, tôi sẽ dựng lại câu chuyện Bakhtine đọc Dostoievski. Bakhtine đã nhìn thấy gì? Đứa thiếu niên, trước hết, là khi Dostoievski nghịch với một điều: sự trùng tên. Ai từng đọc cuốn sách này còn nhớ thằng bé nhân vật chính khi đi học rất khốn khổ vì trên giấy tờ nó mang họ "Dolgorouki" tức là giống họ một gia đình "ông hoàng" cực kỳ danh giá; không một ai không hỏi nó có phải là "prince" hay không, nhưng về danh nghĩa nó lại là con của một cựu nông nô (mặc dù sự thật thì nó là con một người danh giá hơn nhiều, Versilov). Chưa hết, Dostoievski còn tạo ra hai gia đình cùng là "prince" nhưng hoàn toàn không liên quan gì đến nhau, và đều có họ Sokolski. A, nhưng tại sao lại có lắm "prince" như thế? Ta nhớ, nhân vật chính của Thằng ngốc cũng chính là một "prince", và các "prince" xuất hiện ở khắp mọi nơi trong (gần như) mọi tác phẩm của Dostoievski. Đó là vì xã hội Nga hồi đó rất nhiều "prince". Tôi đã phải đọc hàng đống thứ để cố tìm hiểu tại sao lại có lắm "prince" Nga như vậy; ở một khía cạnh khác, một nhân vật trong Karamazov (chuyện "một nhân vật" là hết sức quan trọng, tôi sẽ còn quay trở lại) cũng phát biểu đầy khinh miệt rằng người Ba Lan quái nào cũng là "bá tước" hết: điều này rất đúng: trong một câu chuyện của Balzac nhân vật chính là một quý tộc Ba Lan, Laginski, và đó cũng là một bá tước (xem ở kia). Tôi nhắc ngay đến Balzac là vì Đứa thiếu niên, trong mắt tôi, là cuốn tiểu thuyết rất Pháp (cuốn tiểu thuyết "rất Anh" của Dostoievski, chắc nhiều người biết, là Những kẻ tủi nhục); thậm chí tôi còn nghĩ là tôi thấy âm hưởng Balzac trong Đứa thiếu niên: một nhân vật phụ, bạn học của thằng bé nhân vật chính tên là Lambert, một học sinh, và tên là Lambert, đương nhiên ta nghĩ đến Louis Lambert của Balzac, không những thế, trường mà bọn trẻ con theo học trong Đứa thiếu niên tuy ở Nga nhưng lại là trường của một người Pháp, Touchard; nếu điều tôi vừa nói là "quá yếu" thì vẫn còn một điều nữa tuyệt đối không thể chối cãi: Đứa thiếu niên có (một trong những) chủ đề chính là chủ đề không thể balzacien hơn: tiền. Nói thêm về sự trùng tên: suýt thì ta còn có thêm một sự trùng tên quái đản nữa, nếu nhân vật (phụ) Akhmakova được Dostoievski viết thành (Anna) Akhmatova. Nhảy xuống nước rồi, tôi thấy không có lý do gì để không tiếp tục. Dưới đây là một tác phẩm ngắn, nó nằm xen vào giữa Đứa thiếu niên và Karamazov: Mời các bạn đón đọc Đầu Xanh Tuổi Trẻ của tác giả Dostoievski.
Muốn Khóc Thật To
Muốn Khóc Thật To là tiểu thuyết mới của Sơn Paris - một hot boy 9x hoạt động trong nhiều lĩnh vực nghệ thuật được đông đảo bạn trẻ biết đến. Cuốn sách là lời tự sự dành cho tất cả những trái tim cô đơn và khao khát yêu thương. Muốn Khóc Thật To là tiểu thuyết tình yêu chất chứa nhiều cung bậc cảm xúc khiến trái tim người đọc tan chảy. Từ hạnh phúc tới đau thương, tất cả chỉ cách nhau một ranh giới bé nhỏ. Tình yêu vốn là thứ tài sản tuyệt vời nhất của con người, nhưng cũng chính là bể khổ mà bất cứ ai cũng phải nếm trải. Tuổi thanh xuân qua đi nhanh chóng, chỉ còn quá khứ và hoài niệm về một câu chuyện tình yêu đẹp và đau đớn sẽ ở lại vĩnh viễn. Muốn Khóc Thật To đề cập đến nhiều góc khuất trong đời sống của giới trẻ như tình yêu đồng tính, quan hệ tình dục trước hôn nhân… Những trang viết ấy chân thực nhưng không hề trần trụi và sống sượng. Ngược lại, Sơn Paris đã biết cách biến những gì “chai sạn” nhất trở nên thật mềm mại và giàu cảm xúc. Người đọc sẽ bị cuốn theo cuộc hành trình đi tìm kiếm chính mình của Phong và những người bạn của anh. Đó là cuộc hành trình đầy chông gai, nhuốm màu buồn, không ít cám dỗ và cũng đầy rẫy đau thương. Nhưng đó là thử thách cuộc sống mà bất cứ ai - đặc biệt là những người trẻ trong xã hội hiện đại đều phải trải qua. Cốt truyện lôi cuốn và hấp dẫn, cách giải quyết tình huống hợp lý, thắt mở nút biến hóa tài tình, Sơn Paris đã chứng tỏ một bước trưởng thành vượt bậc qua tiểu thuyết Muốn Khóc Thật To. *** Vân Hugo nhận xét: “Sơn là một chàng trai đặc biệt. Một cá tính lạ. Một tài năng luôn khát khao được bung trổ. Văn của em sâu sắc, trần trụi và thật, cái thật ấy đi vào tim tôi”. “Muốn khóc thật to” là tiểu thuyết mới của Sơn Paris - một hot boy 9x hoạt động trong nhiều lĩnh vực nghệ thuật được đông đảo bạn trẻ biết đến. Cuốn sách là lời tự sự dành cho tất cả những trái tim cô đơn và khao khát yêu thương. "Muốn khóc thật to" là tiểu thuyết tình yêu chất chứa nhiều cung bậc cảm xúc khiến trái tim người đọc tan chảy. Từ hạnh phúc tới đau thương, tất cả chỉ cách nhau một ranh giới bé nhỏ. Tình yêu vốn là thứ tài sản tuyệt vời nhất của con người, nhưng cũng chính là bể khổ mà bất cứ ai cũng phải nếm trải. Tuổi thanh xuân qua đi nhanh chóng, chỉ còn quá khứ và hoài niệm về một câu chuyện tình yêu đẹp và đau đớn sẽ ở lại vĩnh viễn. “Chúng ta rồi sẽ tìm thấy một người, một người mà chúng ta sẵn sàng dành cả tuổi thanh xuân của mình để theo đuổi, một người khiến chúng ta từ chối tất cả những người đến sau, một người mà chúng ta vẫn luôn tin rằng, tuổi thanh xuân sẽ chẳng còn nghĩa lý nếu không cùng ở cạnh” (Trích: "Muốn khóc thật to"). "Muốn khóc thật to" đề cập đến nhiều góc khuất trong đời sống của giới trẻ như tình yêu đồng tính, quan hệ tình dục trước hôn nhân… Những trang viết ấy chân thực nhưng không hề trần trụi và sống sượng. Ngược lại, Sơn Paris đã biết cách biến những gì “chai sạn” nhất trở nên thật mềm mại và giàu cảm xúc. Người đọc sẽ bị cuốn theo cuộc hành trình đi tìm kiếm chính mình của Phong và những người bạn của anh. Đó là cuộc hành trình đầy chông gai, nhuốm màu buồn, không ít cám dỗ và cũng đầy rẫy đau thương. Nhưng đó là thử thách cuộc sống mà bất cứ ai – đặc biệt là những người trẻ trong xã hội hiện đại đều phải trải qua. Cốt truyện lôi cuốn và hấp dẫn, cách giải quyết tình huống hợp lý, thắt mở nút biến hóa tài tình, Sơn Paris đã chứng tỏ một bước trưởng thành vượt bậc qua tiểu thuyết "Muốn khóc thật to". Ngay khi chưa ra mắt, "Muốn khóc thật to" đã được MC Thanh Vân Hugo ưu ái nhận xét: “Sơn là một chàng trai đặc biệt. Một cá tính lạ. Một tài năng luôn khát khao được bung trổ. Văn của em sâu sắc, trần trụi và thật, cái thật ấy đi vào tim tôi. Tôi mất bốn ngày để đọc hết tiểu thuyết này. Những cảm xúc rất lạ cứ đan xen, vừa yêu đời lại vừa bi quan, những cặp đôi tôi thích lại không đến được với nhau, vừa đọc vừa tiếc vừa đau đáu... Có lẽ chính sự bất ngờ và dang dở lại khiến người ta trăn trở về tác phẩm này... Một tiểu thuyết đáng phải suy ngẫm…” "Muốn khóc thật to" đính kèm phụ bản Cho buồn bay theo gió và CD nhạc sách cùng tên do nhạc sĩ, ca sĩ Tăng Nhật Tuệ sáng tác. Cuốn sách do NXB Văn học ấn hành. *** Đôi tập làm quen với chữ “Quen” khi bắt gặp nhiều người. Họ đều không giống nhau. Có người cao hót vót, có người lại thấp hơn tôi. Kỳ quặc thật! Tôi vẫn thường tự hỏi, tại sao bà mụ lại sáng tạo đến thế, nặn nên hàng triệu người mà chẳng ai giống ai. Nếu có giống cũng chỉ là hao hao một nét nào đó. Chợt nghĩ, chắc lúc ấy bà bí bách quá, không còn nghĩ ra cái gì mới lạ để nặn nữa. Thành ra có người thì xấu hoắc, có người lại đẹp như tranh vẽ, từng nét đều cuốn hút vô cùng. Nhưng trái khoáy thay, chẳng ai là hoàn hảo. Người mà đẹp như tranh vẽ thì lại khiếm khuyết một vài thứ gì đó, hoặc là tính cách không đẹp như người, hoặc là chậm hiểu hay thiểu năng chẳng hạn. Cái tài đôi khi lẩn khuất sau một vỏ bọc sần sùi, thô ráp. Nhờ vậy mà họ đẹp lên. Tôi nghĩ, người ta bắt đầu “quen” nhau phải tính từ thời điểm có cuộc trò chuyện đầu tiên. Tức là hai người đối diện và đối thoại với nhau. Khi tiếp xúc rồi, tôi nhận thấy, tính cách con người không đa dạng như vẻ bề ngoài. Chắc chỉ có tới vài trăm tính từ để miêu tả tính cách của họ. Tôi thì thường nghĩ, ở mức độ quen, tính cách người ta chia ra làm ba loại: Dễ gần, khó gần và chẳng thể gần vì không cùng đẳng cấp. Tôi quen khá nhiều người. Có lần tôi ngồi và thử tính xem mình quen được bao nhiêu người. Con số đó lên tới khoảng vài trăm. Cho tới giờ, tôi vẫn coi đó là việc làm ngớ ngẩn và điên rồ nhất từ bé đến lớn của mình. Thật sự ngớ ngẩn. Nhưng nhờ đó mà tôi biết được trí nhớ của mình ở mức độ nào và chẳng hạn như khi tôi kết hôn, tôi sẽ ước chừng được khoảng bao nhiêu khách tới dự. Kể ra thì cũng không vô nghĩa cho lắm. Trong lần làm quen đầu tiên. Tôi không thích cho người khác biết tên thật của mình. Cũng chẳng có lý do gì đặc biệt. Chỉ là tôi thích như thế. Hãy cứ gọi tôi là Gió. Và tôi là con trai. 1. Tôi bước vào tuổi 16 giống như bao đứa con trai khác. Chất giọng ồm hơn khiến tôi hát chán hơn hẳn, mặc dù mẹ luôn giơ ngón tay cái khen tôi “đỉnh của đỉnh” mỗi lần nghe tôi hát. Có lần là khi bước ra từ nhà tắm, có lần ở phía cánh gà của sân khấu cực bự cấp trường. Tôi bắt đầu có thêm nhiều vùng lông rậm rạp. Cũng ra dáng đàn ông ghê rồi đấy chứ. Tôi cũng bắt đầu phải làm quen với việc cạo râu trước khi đi học, tò mò những câu chuyện cộp mác 16+, không kiểm soát được một số chỗ khi tivi chiếu cảnh hai người say đắm hôn nhau. Và tôi cũng thích thể hiện mình hơn. Sinh nhật tuổi 16. Cũng là dịp tôi vào ngôi trường mới. Nhiều thứ khác lạ. Tôi cũng khác lạ. Quà sinh nhật năm nay của tôi cũng khác. Tôi nhớ rõ nhất là bộ sữa rửa mặt và lăn khử mùi của nhóm bạn cùng lớp. Hồi ấy, lớp tôi có một loại quỹ riêng, đến sinh nhật của thành viên nào trong lớp thì sẽ được lớp trưởng trích ra một phần để mua quà tặng. Khi đó, với tôi, lớp trưởng còn to hơn cả bố. Được vào lớp hay không khi đến muộn cũng phụ thuộc vào tay nó. Đến cả việc tặng quà gì dịp sinh nhật của tôi cũng là nó quyết định. Lộng quyền thật mà. Tôi đâu có nhắc nó tặng tôi món quà ấy chứ. Mẹ mời cả lớp dùng cơm. Chúng nó vui lắm. Tính mẹ tôi hiếu khách và cũng cực kỳ chân thành. Mẹ chuẩn bị từ sáng sớm, dù phải đợi khi tan học thì cả lũ mới kéo nhau tới nhà tôi. Nhiều đứa đi học xa bố mẹ, chúng vui lắm khi tới dự sinh nhật của tôi. Có đứa còn làm diện với bộ quần áo tươm tất nhất. Có đứa thì ngồi ngay vào bàn ăn, nghe mùi khói thơm bay lên nức mũi. Tất cả các món ăn đều do mẹ tự tay làm, và đương nhiên, chúng cũng rất ngon. Buổi chiều hôm ấy, tôi cùng đứa bạn thân nhất đi lượn lờ vài cửa tiệm thời trang để sắm một bộ quần áo mới. Tôi dùng tiền mà bà ngoại và bố mừng ngày kỷ niệm 16 năm có mặt trên đời của mình để ra oai. Cảm giác có tiền trong tay rồi thích mua gì thì mua, công nhận đã thật. Tôi rất thích mặc áo trắng với một chiếc gi-lê đen bên ngoài. Tôi học được phong cách này từ những ca sĩ trên tivi. Giờ 16 tuổi rồi, mặc diện, mặc điệu một chút cũng chẳng hề hấn gì. Nghĩ vậy, tôi và nó bắt đầu công cuộc truy tìm chiếc áo như trong tưởng tượng của tôi. Dĩ nhiên là cuộc truy tìm thành công.   Mời các bạn đón đọc Muốn Khóc Thật To của tác giả Sơn Paris.