Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Bố Già

Bố Già là tên một cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của nhà văn người Mỹ gốc Ý Mario Puzo được xuất bản lần đầu vào năm 1969 bởi nhà xuất bản G. P. Putnam's Sons. Bố Già là câu chuyện về một gia đình mafia gốc Sicilia tại Mỹ được tạo lập và lãnh đạo bởi một nhân vật được gọi là Bố Già-Godfather, Don Vito Corleone. Các sự kiện chính của tiểu thuyết xảy ra từ năm 1945 đến 1955 ngoài ra cũng đề cập đến thời thơ ấu và giai đoạn thanh niên của Vito Corleone vào đầu thế kỉ 20. Thế giới ngầm được phản ánh trong tiểu thuyết Bố già là sự gặp gỡ giữa một bên là ý chí cương cường và nền tảng gia tộc chặt chẽ theo truyền thống Mafia xứ Sicily với một bên là xã hội Mỹ nhập nhằng đen trắng, mảnh đất màu mỡ cho những cơ hội làm ăn bất chính hứa hẹn những món lợi kếch xù. Trong thế giới ấy, hình tượng Bố già được tác giả dày công khắc họa đã trở thành bức chân dung bất hủ trong lòng người đọc. Từ một kẻ nhập cư tay trắng đến ông trùm tột đỉnh quyền uy, Don Vito Corleone là con rắn hổ mang thâm trầm, nguy hiểm khiến kẻ thù phải kiềng nể, e dè, nhưng cũng được bạn bè, thân quyến xem như một đấng toàn năng đầy nghĩa khí. Nhân vật trung tâm ấy đồng thời cũng là hiện thân của một pho triết lí rất “đời” được nhào nặn từ vốn sống của hàng chục năm lăn lộn giữa chốn giang hồ bao phen vào sinh ra tử. Với kết cấu hoàn hảo, cốt truyện không thiếu những pha hành động gay cấn, tình tiết bất ngờ và không khí kình địch đến nghẹt thở, Bố già xứng đáng là đỉnh cao trong sự nghiệp văn chương của Mario Puzo. Nhận định “Bố già là sự tổng hòa của mọi hiểu biết. Bố già là đáp án cho mọi câu hỏi.” (Diễn viên Tom Hanks) “Bạn không thể dừng đọc nó và khó lòng ngừng mơ về nó.” (New York Times Magazine) “Một tác phẩm kinh điển về mafia… Tự bản thân nó đã tạo ra một thứ bùa mê hoặc độc giả.” (The Times) *** Tác giả Mario Puzo, quốc tịch Mỹ, gốc Ý, sang Mỹ sống ly hương trong khu dành riêng cho dân ngụ cư người Ý ở Long Island (New York). Khởi sự bằng những truyện ngắn viết nhỏ ở ban đầu, tiền nhuận bút kiếm chẳng đủ nuôi miệng. Vợ làm nghề thợ may chẳng đủ nuôi miệng vợ và chồng chưa đủ nuôi thân chồng. Chồng dại vợ đi ngủ, khẽ gập bàn máy may lại, kê bàn máy chữ lên, dưới để chiếc chăn không gây tiếng động, bắt đầu viết. Thật cuộc sống không ngày mai; nhưng kiên nhẫn vẫn cứ kéo dài ngày qua ngày. Khi Mario Puzo hàn vi, cũng may mắn gặp dược một người bạn thật tốt. Hàng ngày bạn này lui tới, khuyến khích chàng văn sĩ, không những về tinh thần mà giúp cả vật chất nữa. Thường là cho Mario Puzo vay tiền, lúc năm, hoặc mười đô la; khi hai chục. Rồi một ngày, bạn đưa ra ý kiến: khuyên nên viết một tác phẩm theo ý thích: nhân vật, chất liệu, tình tiết cũng như bối cảnh mà chàng có được. Nếu cứ viết như bây giờ, chuyện nhỏ theo lối đặt hàng chủ báo, thì cuộc đời văn sĩ sẽ chẳng bao giờ mọc mũi, sủi tăm - tiền cũng chẳng có mà sự nghiệp cũng không! Mario Puzo nghe tới đây rất thích thú, nhưng có một điều; chẳng lẽ chàng lại nói ra. Cuối cùng đành phải tiết lộ, món tiền nhuận bút kia nhỏ thật; nhưng đủ uống nước lạnh và gặm mẩu bánh mì dằn bụng. Chàng cũng đành thú thật, viết tác phẩm theo sở thích, thì lấy đâu ra tiền để sống hàng ngày? Bạn chàng gật dầu, đáp ứng ngay, hôm nay hai; mai ba; mốt bốn; kia năm mươi đô đủ sống mà viết. Ngày, tuần, tháng; bạn lui tới kiểm tra sáng tác tới đâu. Và mỗi lần cho vay tiền đều rút sổ tay ghi nợ. Một ngày kia, khi gần hoàn tất tác phẩm, bạn chàng cho vay số tiền khá lớn, và cầm bản thảo đến các nhà xuất bản thương lượng. Các tác phẩm của Mario Puzo: Đấu trường u ám (1955) Đất khách quê người (1965) The Runaway Summer of Davie Shaw (1966) Six Graves to Munich (1967), với bút danh Mario Cleri Bố già (1969) Những kẻ điên rồ phải chết (1978) Sicilian Miền đất dữ (1984)  Đời Tổng Thống K thứ tư (1991) Ông Trùm Quyền Lực Cuối Cùng (1996) Luật im lặng (2000) phần tiếp theo tới Bố già Gia đình Giáo hoàng (2002) (tựa bản dịch khác Cha Con Giáo Hoàng) *** Lão Amerigo Bonasera ngồi tại tòa đại hình số 3 ở New York mà chờ đợi, lão chờ đợi công lý trả thù cho lão, trả thù những thằng quá tàn bạo với con gái lão, định xâm phạm tiết hạnh con bé. Ngài chánh án đường bộ xắn hai tay áo chùng đen lên, cứ như sắp thẳng tay trừng trị hai thằng nhóc đang đứng trước tòa. Mặt ngài lạnh lùng, nghiêm nghị. Nhưng lão Amerigo Bonasera cảm thấy tất cả cái màn này có cái gì đó có vẻ giả tạo, mà lão chưa đoán ra được là trò gì. Ngài chánh án gay gắt cất tiếng: – Các ngươi hành động như những kẻ mạt hạng, tồi bại nhất. Đúng vậy, lão Amerigo Bonasera nghĩ, đúng là đồ thú vật. Hai thằng ranh con tóc tai thẳng thớm, mặt mày sáng sủa, đầu cúi gục đầy vẻ ăn năn, hối hận. – Các ngươi hành động như thú dữ trong rừng, cũng may là các ngươi đã không xâm phạm tiết hạnh của cô bé tội nghiệp kia, chứ nếu có chuyện đó thì tòa phải xử các ngươi hai chục năm tù. Ngài ngừng lại, cặp mắt dưới đôi lông mày rậm rì thoáng nhìn khuôn mặt thiểu não của lão Amerigo Bonasera, rồi cúi xuống chồng hồ sơ xin được tại ngoại, cải tạo tại gia. Ngài nhăn mặt, nhún vai, cứ như phải ép lòng làm một chuyện ngoài ý muốn. Ngài lên tiếng: – Xét vì các người còn trẻ người, non dạ, lý lịch sạch, con nhà tử tế, và xét vì tính nghiêm minh của luật pháp không phải nhằm trả thù, do đó, tòa tuyên án mỗi đứa ba năm tù. Được hưởng án treo. Suốt 40 năm làm nghề mai táng, lão Amerigo Bonasera biết cách không để lộ mối hờn căm lộ ra ngoài mặt. Chứ đứa con xinh đẹp của lão vẫn phải đang nằm viện với cái cằm vỡ nát, phải kẹp bằng dây, mà hai con thú vật kia lại được tự do thoải mái như vậy sao? Tất cả màn xử án vừa qua là trò hề sao? Cha mẹ hai thằng khốn đang xoắn xuýt lấy chúng. Tất cả bọn chúng đang hớn hở, vui cười với nhau. Cảnh đó làm lão Amerigo Bonasera điên tiết, tim gan phèo phổi lão như sắp phọt ra khỏi hai hàm răng nghiến chặt. Lão phải móc cái khăn mùi xoa trắng, bịt lên miệng. Lão đứng thận ra mà nhìn hai thằng nhóc phản phơ, trơ tráo, không thèm liếc tới lão, tỉnh bơ ra về thơ thới hân hoan. Lão cứ câm như hến khi chúng đi qua mặt lão, tay lão vẫn ghì chặt cái khăn lên miệng. Cha mẹ chúng, hai thằng đàn ông, hai mụ đàn bà trạc tuổi lão, nhưng quần áo có vẻ Mỹ hơn lão; khi đi qua mặt, chúng thoáng nhìn lão, mặt có vẻ sượng sùng, nhưng ánh mắt chúng vẫn thấp thoáng sự đắc thắng ngạo mạn. Không nín nổi nữa, Bonasera xông ra lối đi, gào theo: – Chúng mày sẽ phải khóc như tao đã khóc. Con tụi bây làm tao phải khóc, tao cũng sẽ bắt tụi bây phải khóc, rồi lão đưa khăn lên mắt. Đám luật sư bào chữa vội tiến lên cùng thân chủ, bao bọc lấy hai thằng nhóc, vì cả hai thằng đều chớm quay lại như để bảo vệ cha mẹ chúng. Một tay thừa phát lại to đùng mau mắn chạy lại chặn lối Bonasera. Nhưng rồi chẳng có gì ầm ĩ xảy ra. Suốt bấy nhiêu năm sống trên đất Mỹ, lão Amerigo Bonasera đã tin tưởng vào trật tự và luật pháp. Và cũng nhờ vậy mà lão làm ăn khấm khá lên. Thế mà lúc này đây, đầu lão bốc cháy căm hờn, lão chỉ muốn mua ngay một khẩu súng, bắn vỡ sọ hai thằng nhãi kia, nhưng Bonasera vẫn phải quay lại mụ vợ đang ngẩn tò te, chẳng hiểu có sự thế này là thế nào, mà cắt nghĩa: Mình bị tụi nó gạt rồi. Lão ngừng lại rồi đi đến quyết định, dù giá nào cũng phải chơi. Lão bảo vợ: – Muốn có công lý, mình phải quỳ lết tới Ông Trùm Corleone thôi. ★ Trong căn hộ trang trí lòe loẹt của khách sạn Los Angeles, Johnny Fontane đang say, y như những anh chồng bình thường khác say xỉn trong cơn ghen. Nằm sõng soài trên cái đi văng đỏ, nó cầm nguyên chai rượu mà tu, rồi vục mồm vào cái xô pha lê đựng nước đá lạnh để chữa lửa. Bốn giờ sáng rồi, trong cái đầu phừng phừng hơi men của nó loay hoay ý định giết chết con vợ mất nết, khi ả về nhà. Nếu ả còn trở về. Gọi cho vợ cũ để hỏi thăm mấy đứa con thì giờ này quá trễ, mà gọi cho mấy thằng bạn trong lúc nghề nghiệp đang xuống dốc thế này thì xuống cấp quá. Thời hoàng kim của nó, thằng nào được nó gọi vào bốn giờ sáng thế này cứ là sướng rên rồi, còn bây giờ, gọi vào giờ này là quấy rầy chúng. Nó mỉm cười, nhớ lại, mới ngày nào, chỉ một rắc rối nhỏ của Johnny Fontane cũng đủ làm mấy nữ minh tinh lớn nhất nước Mỹ bấn cả người lên. Cuối cùng, đang ừng ực nốc rượu, nó cũng nghe thấy tiếng con vợ đang mở khóa cửa, nhưng nó vẫn tì tì uống cho đến khi ả bước vào phòng, đứng lù lù trước mặt nó. Ả đẹp quá, mặt như thiên thần, mắt tím sóng sánh tình tứ, thân hình mảnh mai, tuyệt mỹ. Trên màn ảnh, nhan sắc ả thật tinh khiết, diệu kỳ. Hàng trăm triệu anh đàn ông trên thế giới mê mệt tấm nhan sắc của Margot Ashton, đổ tiền ra mua vé để chiêm ngưỡng dung nhan đó trên màn bạc. Johnny Fontane hỏi vợ: – Cô đi chỗ chó nào về vậy? Vợ nó tỉnh bơ: – Đi nhảy đực. Ả không ngờ nó xỉn quá rồi. Nó phóng qua bàn rượu, nắm cổ ả. Nhưng khi cái khuôn mặt huyền hoặc kia, đôi mắt tím tình tứ kia sát gần mặt nó, thì cơn giận của nó, dũng khí của nó biến mất ráo. Thấy nó buông nắm đấm xuống, ả cười cười cợt nhả: – Johnny ôi, đừng uýnh vô mặt em. Em đang mắc đóng phim đó. Ả cười rũ ra. Nó thui cho ả một quả ngay bụng, làm ả té lăn đùng xuống sàn. Hắn nằm đè lên ả. Ả thở gấp, nó ngửi thấy hơi thở thơm thơm. Nó thui tới tấp, cánh tay, bắp vế, làn da mướt như lụa của cặp đùi ả. Nó dọng ả, như ngày còn là một thằng bé cà lơ trong những xó xỉnh tối tăm của thành phố New York, nó đã từng dọng những nhóc con nhỏ hơn nó... Cái kiểu hành hạ cho đau, nhưng không làm gãy răng, vỡ mũi. Nhưng nó cũng không đánh ả quá mạnh. Nó không nỡ. Thế là ả giở giọng cà chớn mà giễu nó. Ả nằm dạng háng ra, cái váy hếch lên khỏi vế, khinh miệt bỡn cợt: – Nào, cắm vào đi. Cắm vào đi Johnny, mày chỉ ham cái đó thôi mà. Johnny Fontane đứng dậy. Nó căm ghét con đàn bà đang nằm õng ra trên sàn kia, nhưng nhan sắc ả là tấm lá chắn tuyệt vời. Margot uốn mình, bật dậy như một vũ viên. Đứng trước mặt nó, ả nhún nhảy, ca hát như một đứa trẻ ngây thơ: "Anh Johnny chẳng bao giờ đánh mình, chẳng bao giờ làm mình đau đâu." Rồi ả đổi tông, sủa ngay vào mặt Johnny: – Thằng khốn nạn, mày kiềm tỏa, giam hãm tao như một đứa con nít. A ha, Johnny ơi, mãi mãi mày vẫn chỉ là một thằng mọi ngu đần. Cả chuyện làm tình, mày làm cũng như con nít. Mày tưởng làm tình cũng giống như ong ỏng mấy bài ca hạng bét của mày à? Ả lắc đầu ngao ngán: – Tội nghiệp mày quá, Johnny. Thôi, chào, ả vào phòng ngủ, khóa cửa lại. Johnny ngồi xuống sàn, hai tay ôm mặt. Thế rồi, sức mạnh đã từng giúp nó sống nổi tại Hollywood tàn bạo này làm nó bật dậy, nhấc điện thoại, gọi xe ra phi trường. Chỉ một người có thể cứu nó, phải trở về New York. Trở về với con người quyền lực, khôn ngoan đã từng là cứu cánh của nó, và một tình thương yêu mà nó vẫn hằng tin tưởng. Đó chính là cha đỡ đầu Corleone của nó. ★ Lão chủ lò bánh mì Nazorine tánh nết quạu quọ, vừa mập vừa lùn, giống hệt mấy ổ bánh mì Ý của lão, người ngợm dính đầy bột mì, gắt gỏng nhặng xị từ mụ vợ, đứa con gái vừa tuần cập kê, con Katherine, cho tới thằng thợ phụ Enzo. Thằng Enzo đã thay quần áo, tròng lên người bộ đồng phục tù binh, với những chữ xanh trên tay áo, phát hoảng lên vì sợ trễ giờ điểm danh. Nó là một trong hàng ngàn tù binh Ý được tại ngoại mỗi ngày để phục vụ cho nền kinh tế Mỹ, nó sống trong sự phập phồng lo sợ cái khế ước này bị hủy bỏ. Vì vậy màn hài kịch này đối với nó là một dịch vụ tối quan trọng. Mời các bạn đón đọc Bố Già của tác giả Mario Puzo & Đặng Phi Bằng (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Trường Đời
Năm tôi 11, 12 tuổi, tôi đọc tiểu thuyết Trường Ðời của Nhà Văn Lê Văn Trương, tôi đọc tiểu thuyết Giông Tố của Nhà Văn Vũ Trọng Phụng, Tôi đã viết nhiều lần: “Ai hỏi những tiểu thuyết nào có ảnh hưởng đến việc tôi thích viết truyện, tôi trả lời: Trường Ðời của Lê Văn Trương, Giông Tố của Vũ Trọng Phụng.” Trước năm 1945 tôi théc méc về 5 chữ “Phổ Thông Bán Nguyệt San” in trên trang bià những quyển tiểu thuyết như quyển “Trường Ðời.” “Phổ Thông Bán Nguyệt San” là cái gì? Mấy ông anh tôi, các ông chú, ông cậu tôi có nhiều ông thích đọc tiểu thuyết, tôi hỏi nhưng không ông nào trả lời được. Những năm xưa ấy tôi không chú ý đến dòng chữ nhỏ “Tạp chí văn học ra đầu tháng và giữa tháng” nằm dưới hàng chữ “Phổ Thông Bán Nguyệt San.” Mà có chú ý tôi cũng không hiểu nghĩa. Nhiều năm sau, khi cuộc đời không còn những quyển tiểu thuyết “Phổ Thông Bán Nguyệt San” tôi mới biết  Phổ Thông Bán Nguyệt San là tờ báo tháng ra hai kỳ, Nhà Xuất bản Tân Dân dùng cách này để được dễ dàng trong việc kiểm duyệt sách, Như vậy mỗi tháng Nhà Tân Dân xuất bản 2 quyển tiểu thuyết, đều đều trong nhiều năm. Một nhà xuất bản mỗi tháng  in ra hai quyển tiểu thuyết phải kể là nhiều. Một kỷ lục trong số những nhà xuất bản Việt từ ngày Việt Nam có Nhà Xuất Bản Tiểu Thuyết. Tôi không biết sau chiến tranh năm 1946 ông Lê Văn Trương trở về Hà Nội năm nào, tôi chỉ thấy ít nhất ông cũng trở về sống ở Hà Nội hai, ba năm trước năm 1954 là năm ông vào Sài Gòn. Về Hà Nội sau năm 1946,, ông Lê Văn Trương, Nhà Văn viết nhiều tiểu thuyết nhất Việt Nam, nhiều tiểu thuyết của ông rất “ăn khách”, không viết gì cả. Nguồn sáng tác của ông bị cạn. Một truyện ngắn ông cũng không viết. Vào Sài Gòn năm 1954 ông cũng không viết qua một trang tiểu thuyết nào. Thời gian đầu ông tìm những tiểu thuyết đã xuất bản của ông, nhiều quyển ông lấy ở những nhà cho mướn truyện, đem đến dạm bán cho mấy tờ báo, đề nghị nhà báo mua, đăng. Theo lệ, nhân viên những nhà báo nhận tác phẩm dạm bán không trả lời không mua ngay, mà nói: “Ðể chúng tôi đọc. Tuần sau ông trở lại.” Tuần sau ông LV Trương trở lại, nhà báo đưa trả mấy quyển truyện của  ông: “Truyện này không hợp với báo chúng tôi. Xin gửi lại ông.” Nhà Văn LV Trương bắt đền: “Trong lúc báo ông giữ tác phẩm của tôi, có người hỏi mua, tôi không có tác phẩm để bán. Báo ông làm tôi bị thiệt hại..” Nhà báo phải bồi thường cho ông một khoản tiền. Tôi – CTHÐ – chứng kiến chuyện tôi vừa kể ở toà báo Ngôn Luận. Sau 1954 Sài Gòn tái bản những tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Tuân, Nam Cao, Nguyên Hồng, Vũ Bằng, Khái Hưng, nhưng không tái bản một tiểu thuyết nào của Lê Văn Trương. Tôi không biết tại sao. Ông Lê Văn Trương là nhà văn Việt Nam – có thể là duy nhất – có đàn em viết truyện, ông sửa lại rồi ký tên ông đem bán cho nhà xuất bản. Vì ông nổi tiếng, vì truyện ông có nhiều người mua đọc, nên cứ truyện ký tên ông là nhà xuất bản mua. Người Pháp gọi những người viết truyện loại này là nègre. Hai ông đàn em viết truyện cho ông Lê Văn Trương ký tên làm tác giả là ông Ðặng Ðình Hồng, và ông Tân Hiến. Hai ông này cùng  vào Sài Gòn năm 1954.  Cả ba ông cùng nghiện thuốc phiện. Tôi thấy từ ngày vào Sài Gòn ông Lê Văn Trương không làm qua một công việc gì cả. Ông nghiện thuốc phiện nặng. .Ðời sống của ông đi vào tình trạng thiếu đói, vất vả, cực khổ. Từ năm 1960 ngày ngày ông lang thang đi tìm người quen để xin tiền, giới văn nghệ sĩ Sài Gòn gọi việc đi xin tiền người quen này là “đi cốc.” Khoảng năm 1958 hai ông Hoàng Xứ Lào Phoumi và Phouma tranh quyền làm Thủ Tướng Chính Phủ. Mỗi ông Hoàng có một số quân sĩ, hai ông dùng quân đội đánh nhau, những cuộc binh biến xẩy ra liên miên trên đấi Ai Lao. Nguồn cung cấp thuốc phiện cho Sài Gòn thời ấy là Ai Lao. Thuốc phiện từ Lào về Sài Gòn bằng đường hàng không. Một lần xẩy ra cuộc binh biến, phi trường Vientiane bị đóng cửa nhiều ngày. Nguồn thuốc phiện từVientiane về Sài Gòn phải ngừng. Thuốc phiện trở thành khan hiếm ở Sài Gòn. Những nhà buôn thuốc phiện không bán hàng ra, có bán thì cầm chừng, và bán giá đắt. Giới đệ tử của Phù Dung Tiên Nữ rơi vào tai kiếp không có thuốc hút. Dân Hít Tô Phê – Hít Thuốc Phiện – có thể nhịn ăn vài ngày nhưng nhịn thoóc một bữa thì không được. Không có thoóc. có tiền cũng khó mua được thoóc. Mà 90/100 dân Hít Tốp là dân nghèo, không phải nghèo thường mà là nghèo mạt rệp, nghèo đến con rêp cũng không sống nhờ được. Thời ấy Sài Gòn có câu: “Phu-mi, Phu-ma đánh nhau. Phu-mơ chết.” Phu-mơ: fumeur: người hút. Trong cơn bĩ cực ấy có ông nghiện nghĩ ra chuyện lấy sái thuốc phiện nấu với nước, lọc cho hết chất sạn, than, tro, dùng ống chich hút chất nước sái thuốc phiện chích thẳng vào mạch máu. Chất thuốc phiện vào máu, người nghiện phê ngay trong nháy mắt. Ðang hút 100 đồng, chỉ cần chích 10 đồng là người nghiện phê hơn hút. Nhưng việc chích – dân nghiện gọi là choác – làm hại cơ thể người chích gấp nhiều lần việc hút. Chích 1 năm hại người bằng hút 10 năm. 10.000 người nghiện hút may ra có một, hai người bỏ được hút, người choác thì 10.000 người chết cả 10.000 người. Ông Lê Văn Trương trở thành dân choác. Người ông khô đét, da ông đen sạm. Bà vợ sống với ông từ Hà Nội trước 1946 tới ngày ông qua đời ở Sài Gòn là bà Ðào. Bà này không phải là vũ nữ Dancing Fantasio mà là bà cô đầu. *** Đôi bên họ đã thỏa thuận, thân bằng cố hữu đã biết cả, nay con làm ngang trái như thế, không sợ người ta cười ba và mẹ ư? - Nhưng con không yêu thì biết làm sao! - Thế sao trước kia con bằng lòng? - Trước kia con khác mà bây giờ con khác. Ông Nam Long kéo ghế, ngồi lại gần Khánh Ngọc: - Ba không biết trước kia và bây giờ, tính tình con thay đổi thế nào. Nhưng ba chỉ nói để con biết ba yêu và chiều con lắm. Con đã rõ. Nay ba chỉ muốn con nghĩ đến những việc thiết thực một chút. Ba thầu khoán, công việc thì nhiều mà nó thì đỗ kỹ sư cầu cống. Nó có thể giúp đỡ cho ba và làm nổi danh thế của ba nhiều lắm. Gia dĩ nó là người đỗ đạt to, có địa vị trong xã hội, con lấy nó rất xứng đáng. Con nghĩ sao? Khánh Ngọc vặn chiếc mùi soa không trả lời. - Thế sao trước kia con bảo yêu nó? - Con đã bảo với ba trước kia khác mà bây giờ khác. Trước kia, con là con bé học trò mới rời khỏi ghế nhà trường. Chứ bây giờ... con đã từng trải việc đời, con nghĩ và cảm khác trước. Nếu đời người mà chỉ là một cuộc đi thầu để kiếm lãi, thì vâng con xin lấy một ông kỹ sư. Nhưng đời người không phải thế, mà sự sống là một cái gì thiêng liêng hơn sự đi tìm lợi lộc thì lấy chồng, con phải lấy một người... đàn ông, một người đàn ông thật đàn ông, thì đời sống của con mới thật đầy đủ. - Thế con định lấy ai? - Lấy ai rồi thì ba sẽ biết. - Con định lấy ông Trọng Khang à? - Vâng, con yêu người ta. - Ông ấy thì tài giỏi và nhiều nết tốt thật đấy. Nhưng không có bằng cấp và địa vị... gì... Khánh Ngọc ngắt lời cha: - Ông ấy có nhiều bằng cấp giá trị bằng nghìn cái bằng luật khoa cử nhân của con, và cái bằng kỹ sư cầu cống của anh Giáp. Con vì theo ba lên trên ấy, trải mấy tháng nguy nan và trực tiếp ngay với cuộc đời, con mới biết được cái sự thật ấy. Mà Giáp cũng thế. Còn như cái địa vị của ông ta thì ở trong trái tim con. - Nhưng con không nghĩ đến chỗ Giáp theo đuổi con trong bao nhiêu lâu, và vì con mà phải khổ sở ư? - Con nghĩ lắm. Con thương lắm. Nhưng thương không thể đi với yêu được. Bây giờ con mới nhận ra trước kia, con chỉ thích anh ấy, chứ con không yêu anh ấy bao giờ cả. - Anh về bao giờ mà không đánh dây thép cho tôi biết, để tôi ra ga đón. Thế nào công việc xong rồi chứ? - Ô kìa, thế Khánh Ngọc không nói gì cho anh biết cả à? - Có, tuần lễ trước đây gặp tôi ở bàn quần, cô ấy có bảo rằng công việc sắp xong. Nhưng tôi không ngờ chóng thế. - Thế mấy hôm nay anh không gặp à? Tôi tưởng anh với cô ấy ngày nào cũng phải gặp nhau chứ. Tôi ngỡ năm ngoái ở trên ấy về là cưới ngay, sao để trùng trình thế? Giáp lấy thuốc nhồi vào cái "píp" của mình, rồi đưa cho Trọng Khang: - Anh hút thử cái "píp" của tôi xem, ngon đáo để. Khánh Ngọc thích lắm nhé, vẫn bảo tôi chờ anh về để biếu anh. - Ừ, dáng đẹp lắm. - Anh cũng thích? Trọng Khang gật đầu. - Khánh Ngọc biết lựa tính anh lắm. À còn câu chuyện tôi với Khánh Ngọc thì bây giờ... chúng tôi là bạn, Khánh Ngọc không viết thư từ gì cho anh cả à? - Thì cũng như anh, tuần lễ viết hai lần, nhưng không thấy đả động đến chuyện nhân duyên... - Cuộc nhân duyên ấy không có nữa. Vì... Khánh Ngọc không yêu tôi, và tự tôi xét thấy không xứng đáng. - Có lý đâu thế! Đã cùng nhau sống những phút... - Những phút đó làm cho tôi hiểu... Anh Trọng Khang, tôi với anh... chỉ có sự thành thực mới xứng đáng với cái tình của chúng ta nó đã nảy nở ở bên cái chết. Khánh Ngọc yêu anh, yêu anh lắm, yêu như người ta yêu một cái gì đẹp đẽ và cao quý nhất ở trên đời. Trọng Khang đứng phắt dậy: - Nhưng tôi không thể yêu như thế? Tôi với anh... - Anh hãy khoan để cho tôi nói hết. Rồi anh muốn nói gì, tôi xin nghe. Trước nhất, tôi nói để anh biết: tôi không đau đớn mấy về chỗ Khánh Ngọc không yêu tôi. Mà Khánh Ngọc sẽ đau đớn vô cùng, nếu không lấy được anh, nghĩa là được anh yêu. Kìa thì anh hãy khoan để tôi nói. Anh đừng thương tôi, trước anh phải thương Khánh Ngọc, và yêu nữa. Bởi đối với một con người như thế mà không yêu, thì chúng ta thực không còn là con người nữa. Anh sở dĩ bắt trái tim anh phải câm là vì anh không muốn cướp mối tình của tôi. Nhưng mối tình ấy, có bao giờ thuộc về tôi đâu mà bảo anh cướp. Mối tình ấy mọc ra ở trong lòng nàng từ khi gặp anh, vì anh mà có. Còn đối với trước kia, chẳng qua là một thứ cảm tình ẻo lả, chạm vào những sự thực gay go là chết ngay. Sao gọi là tình yêu được! Lúc ấy, tôi là cái bóng một người đàn ông, mà Khánh Ngọc thì cái bóng một người đàn bà. Làm sao có chân ái tình. Mà nếu có thì cũng là cái bóng của ái tình thôi. Bây giờ, nếu anh không yêu thì Khánh Ngọc đau đớn lắm; và cũng chẳng ích gì cho tôi. Mà có lẽ vì thế, tôi cũng đau đớn. Chắc chả cần phải nói, một khi đã sống một cuộc đời như anh, hay thấp hơn, một cuộc đời như tôi đã tập ở bên cạnh anh thôi, thì những cái hình thức bề ngoài và những thành kiến nhỏ hẹp chúng ta chẳng tính đến. Tôi biết anh không khuyến khích mối tình của Khánh Ngọc và anh đã tìm hết cách để làm cho thui chột đi, nhưng một khi mối tình đã chớm mọc lên trong một trái tim hào hùng như thế, còn cái gì làm thui chột cho được. Anh về hỏi cô Tuyết Vi xem Khánh Ngọc thờ phụng anh đến thế nào, hắt hủi một mối tình như thế là một cái tội. Bây giờ, tôi đã nhờ sống bên anh mà... thành... người rồi, có bằng cấp làm người rồi, tôi tưởng tôi có quyền nói với anh: "Không hèn nhát trước nguy nan, chưa đủ, phải không hèn nhát trước hạnh phúc nữa". Trọng Khang lấy que diêm cời cái "píp": - Tôi về nhà lúc bốn giờ. Tắm rửa, thay quần áo xong là lại thăm anh ngay. Em Tuyết Vi cũng chưa nói gì cho tôi biết cả. - Mà cần gì phải ai nói. Mối tình Khánh Ngọc đối với anh sáng lòe ở đôi con mắt. Tôi tưởng anh biết rõ hơn ai hết. - Tôi biết nhưng... - Nhưng... vì một tình thương không phải đường, anh không thành thật được với anh chứ sao. À, Marie đến kia rồi. Chắc biết tin anh về đi tìm đấy. Khánh Ngọc chạy đến nắm tay Trọng Khang: - Em lại cô Tuyết Vi, nghe nói anh về, em đến thẳng ngay đây, vì em biết thế nào anh cũng đến đây trước. Anh về không đánh dây thép cho em ra đón, tệ thế thì thôi. Chà anh đen quá, thật bóng như Tây đen. Em ở nhà với cô Tuyết Vi, hai chị em chỉ lo anh ngã nước. Anh Giáp, hôm nay phải lại cả đằng nhà ăn cơm đấy nhé. Không thấy Giáp trả lời, Khánh Ngọc quay lại đã chẳng thấy Giáp đâu. Khánh Ngọc bỗng thẹn, má đỏ ửng: - Ồ, lủi đi đâu chóng thế thì thôi. Mời các bạn đón đọc Trường Đời của tác giả Lê Văn Trương.
Lỗi Nhịp Trái Tim
Chiều nay, chậm rãi bước bên nhau dạo mát quanh vườn, ngang luống hoa cánh chuồn đang nở rộ, chợt Hạ hỏi anh về sự thắc mắc của mình từ bấy lâu nay.  - Anh à ! Sao nhà mình lại trồng loài hoa dơn sơ, tầm thường như loại cỏ dại này, mà không là hồng, cúc, lan, huệ, lưu ly, cẩm chướng... hay một loài hoa vương giả nào khác hả anh ?  Thiệu Dân hơi khựng lại đúng một giây, rồi nhìn Hạ hỏi dò :  - Em hỏi chi vậy ?  Hạ cũng lấy làm lạ cho cử chỉ không bình thường của anh.  - Sao vậy ? Em có nói sai điều gì à ?  Anh hơi lựng khựng rào đón :  - Nhưng em hứa không được giận anh mới nói.  Hạ nhìn nhìn anh một lúc rồi cũng gật đầu, nhưng phải mất vài giây như suy nghĩ thật chu đáo mọi điều trước khi nói, với gương mặt đanh lạnh.  - Vì ngày trước lúc anh yêu Bích Ly, cô ấy nói rất ghét loài hoa này, vì nó vừa vô duyên vừa không hương sắc . Khi cổ chia tay anh chạy theo người khác, lúc đó anh rất tuyệt vọng chán đời. lại vừa oán hận cô ta, nên anh quyết định trồng nó để trả thù và nhìn nó mà nhớ đời cho sự ngu muội, mù quáng của mình khi đem trái tim nguyên sơ trao cho quỷ dữ.  Hạ nhìn anh lạ lẫm . Lúc này mặt anh dịu lại, nói tiếp :  - Nhưng theo thời gian, anh đã nghiệm ra rằng : cô ta không xứng đáng và thấy mình lúc đó thật trẻ con, nên anh quên ngay cô ấy trước khi cưới em . Rồi dần dần anh lại thấy loài hoa này cũng dễ thương, nên anh bảo chú Tám chăm sóc cẩn thận hơn.  Nói xong, anh nhìn cô nheo mắt :  - Anh đã nói thật tất cả rồi đó, em có tin không ?  Hạ hỉnh mũi.  - Em tin anh, nhưng chưa là tất cả . Vì theo em biết, anh rất đào hoa.  Anh khịt mũi :  - Vậy em còn muốn điều tra gì nữa đây ?  Hạ Ỡm ờ :  - Em muốn anh tự nguyện.  Anh gãi đầu như khó xử :  - Làm sao anh nhớ nổi mà khai.  Hạ trợn mắt kêu trời :  - Trời đất ! Anh yêu hết người đẹp hiện diện trên đất này sao ?  Anh nhăn nhó, giọng ỉu xìu :  - Làm gì có . Chỉ một mình em còn sắp tắt thở rồi, anh đâu dám đèo bồng.  Hạ chì chiết :  - Anh làm như hiền lắm . Về chuyện này còn phải xét lại.  - Thôi mà em, anh "tu" lâu lắm rồi, em không thấy sao ?  Hạ nhìn vào mắt anh nói như tâm sự :  - Em biết anh "ghê" lâu lắm rồi, nhưng không biết tại sao vẫn cứ yêu . Anh thấy em có khờ dại lắm không ?  - Đừng nói vậy, anh buồn chứ em . Yêu anh là em khôn ngoan đó chứ ở mà khờ . Em có biết bao nhiêu người muốn như em mà có được đâu.  - Anh cao giá dữ vậy sao ?  Anh kéo Hạ Ôm vào lòng, âu yếm :  - Nhưng còn thua em xa.  Hạ vùi đầu vào ngực anh, thủ thỉ :  - Anh có biết là em yêu thích loài hoa cánh chuồn nhất trong các loài hoa không ? Nên ngày đầu tiên bước về nhà chồng, luống hoa này đã đập vào mắt em trước nhất và đột nhiên em cảm thấy yêu ngôi nhà và cảnh vật ở đây vô cùng . Tuy hoa không có hương thơm ngào ngạt, mỏng manh dễ vỡ, nhưng rất thanh nhã tinh khôi . Anh nhìn kỹ xem, hoa thật quyến rũ mà lại dễ trồng . Dù bất cứ nơi đâu, chúng cũng sống được.  Thiệu Dân chưng hửng nhìn cô :  - Sao nào giờ anh không nghe em nói ? Vậy là vô tình anh đã làm được một việc có ý nghĩa cho vợ anh rồi . Vậy thưởng anh đi chứ !  - Hổng dám đâu . Em còn chưa hỏi tội anh ở đó mà thưởng.  Thiệu Dân ngơ ngác :  - Ủa ! Sao kỳ vậy, anh có tội gì ?  - Không phải sao ? Hồi đó anh còn không thèm nhìn mặt em méo, tròn ra sao nữa, chứ ở đó mà nói đến chuyện hoa lá cành . Hơn nữa anh trồng hoa là để trả thù chứ không phải vì em.  Anh nhăn mặt kêu lên :  - Trời ! Vậy mà em cũng nói được . Anh giải thích chuyện này rồi, em còn muốn gì nữa ?  Hạ cười khúc khích khi thấy mặt anh méo xẹo . Anh siết Hạ chặt hơn, thì thầm :  - Định ăn gian anh, phải không ?  Hạ mắc cỡ đẩy anh ra, vì cô biết anh đang muốn hôn cô.  - Thôi đi mẹ nhìn thấy bây giờ.  Thiệu Dân lì lợm :  - Anh không sợ.  Hạ la lên, dọa :  - Anh làm em đau rồi nè.  Anh tưởng thật, buông Hạ ra ngay không dám đùa dai . Anh bảo :  - Vào nhà đi em, sắp tối rồi. Một tuần lễ sau, Vọng Thường từ Đà Lạt vào lại Sài Gòn . Lúc này, Hạ thấy anh buồn hơn, lầm lì như chiếc bóng . Anh thường ra khỏi nhà rất sớm, mà về lại rất khuya, có khi say mèm . Mẹ chồng cô thấy vậy lo lắng hỏi, anh bảo bận giao dịch chuyện làm ăn.  Hôm nay cũng chỉ một mình Hạ Ở nhà, ai nấy đều có công việc riêng . Dì Tư thì đi chợ . Đang ngồi nghe nhạc nơi phòng khách, chợt chuông cửa reo lên . Tưởng dì Tư đi chợ về, Hạ đi ra mở cổng . Trước mặt cô không phải là dì Tư mà là Vọng Thường, cùng với hai người đàn ông lạ, khá thanh lịch và một cô gái thật đẹp . Một nét đẹp rực rỡ nhờ biết tận dụng phấn son và quần áo thời trang đắt tiền . Hạ gật đầu chào rồi cùng họ vào nhà . Vọng Thường làm một màn giới thiệu.  Anh vỗ vai người bạn tên Vĩnh là người đàn ông có nước da nâu đồng thật mạnh mẽ có nụ cười thật duyên . Còn người đàn ông cỡ tuổi Vọng Thường tên Thạch da hơi ngâm, đặc biệt anh ta có đôi mắt thật đen, tia nhìn rất dữ, gương mặt góc cạnh nét đàn ông đượm sương gió phong trần . Còn cô gái có cái tên thật kiêu kỳ : Mỹ Phụng.  Quay qua chỉ vào Hạ, anh nói với mọi người . Nghe thì đơn giản, nhưng tinh ý một tí ai cũng nhận ra bên trong câu nói có phần chua chát :  - Còn đây là Khiết Hạ, vợ anh Thiệu Dân, là chị dâu của tôi đó các bạn.  Anh nhấn mạnh từ "chị dâu" nghe rất nặng.  Hạ miễn cưỡng gật đầu đáp lễ rồi viện cớ để cáo từ.  - Các anh chị cứ tự nhiên, tôi bận chút việc . Xin phép vào trong.  Vọng Thường đưa tay ngăn lại, mắt hơi nheo :  - Hạ ngồi chơi đã, lâu lâu mới có dịp rủ bạn bè về nhà chơi, chẳng lẽ Hạ không nhín chút thời gian nói chuyện cho vui với bạn bè tôi được sao ?  Cách nói chuyện như ra lệnh của Vọng Thường làm Hạ khó chịu . Nhưng trước mặt người lạ, Hạ đành làm thinh nuốt giận.  Thấy vậy, anh bạn tên Vĩnh lên tiếng :  - Chị ngồi chơi cho vui, chúng tôi đều quen biết anh Dân cả . Nghe tin ảnh cưới vợ, nhưng đến hôm nay mới biết mặt . Bởi hôm đám cưới, chúng tôi đều bận công tác nước ngoài, nên không dự được . Thôi thì bây giờ gặp mặt làm quen cũng chưa muộn, phải không ?  Thấy Vĩnh cởi mở, Hạ cũng dịu dàng :  - Không có chi . Nếu đã là người quen thì không có gì là muộn cả.  Vọng Thường kín đáo nhìn cô, rồi nhìn các bạn, mời :  - Mời các bạn uống nước.  Anh bưng ly nước cam đưa tận tay Hạ giọng ân cần :  - Hạ uống nước cam đi, rất tốt cho sức khỏe.  Hạ nhận ly nước rồi đặt xuống bàn . Cô thấy ngượng với ba đôi mắt đang tò mò nhìn mình nên đâm cáu . Nhất là Mỹ Phụng, tia nhìn sắc lạnh pha nỗi ghen hờn tức tối.  - Tôi lại không thích uống nước cam . Các anh, chị cứ tự nhiên.  Vọng Thường phật ý nhìn chỗ khác . Mỹ Phụng lại châm chọc :  - Cùng chung dưới mái nhà bao nhiêu năm mà sở thích của chị Hạ, anh cũng không biết thì quá tệ . Bởi vậy anh mới thua.  Vọng Thường trừng mắt nhìn cô, giọng gắt gỏng :  - Ai mượn em nhiều chuyện.  Mỹ Phụng quắc mắt lại anh định gây hấn.  Thấy tình hình hơi căng thẳng, Vĩnh giảng hòa :  - Cho tôi xin đi các bạn . Chỉ một ly nước thôi mà, đâu có gì phải ầm ĩ.  Vọng Thường rít thuốc liên tục, vẻ mặt khó đăm đăm, làm bầu không khí vui vẻ như chùn lại . Lúc này anh chàng tên Thạch mới lên tiếng, mắt nhìn Hạ chăm chăm không cần che giấu :  - Tôi cũng có nghe bạn tôi là Hoàng Đáng ca ngợi về chị khá nhiều, nên mới có dịp diện kiến, quả không sai . Anh Dân thật có mắt tinh đời  Mỹ Phụng xen vào, giọng mỉa mai :  - Tượng đá mà hôm nay còn mở miệng khen thì chị đúng là trên cả tuyệt vời.  Hạ nhíu mày suy nghĩ : "Cô đâu thù oán gì với cô ta, mà sao cô nàng cay cú trong từng lời nói ? Được dịp là cô ta không bỏ qua một cơ hội nào . Đúng là thứ đàn bà lòng dạ hẹp hòi . Hạng người này cũng không nên kết thân làm gì chỉ tổ mang họa vào thân . Vậy mà Vọng Thường và những người bạn của anh sao có thể kết bạn được với cô ta không biết ?"  Dứt dòng suy nghĩ, Hạ buông giọng lạnh lùng :  - Cám ơn lời khen tặng của các anh chị, tôi không dám nhận vì tôi cũng chẳng có gì đặc biệt.  Vừa dứt câu, Hạ đứng dậy dù Vọng Thường đưa mắt nhìn cô không vừa ý.  - Xin lỗi, tôi có chút việc phải vào trong.    Mời các bạn đón đọc Lỗi Nhịp Trái Tim của tác giả Thụy Vũ.
Ngọn Cỏ Gió Đùa
Ngọn cỏ gió đùa của Hồ Biểu Chánh đã thành công trên bình diện: khắc thảo những chân dung con người đói khổ, khốn cùng, trong xã hội Việt Nam thế kỷ XIX dưới thời nhà Nguyễn, với ảnh hưởng đạo đức và triết lý Á đông, và thảo ra một khuôn mặt Jean Valjean (Những người khốn khổ - Victor Hugo) Việt Nam trong Lê Văn Đó, khuôn mẫu cho những khuôn mặt cùng đinh sau này sẽ xuất hiện trong tiểu thuyết Việt Nam. Chúng ta cũng có thể dựa vào tác phẩm Ngọn cỏ gió đùa của Hồ Biểu Chánh như một nguồn văn hoá có thể khai thác, để rút ra những bức chân dung, những chủ đề, những phong tục tập quán, những ngôn ngữ, y phục, những trữ lượng thông tin vô cùng quý giá về xã hội Việt Nam thế kỷ XIX. Ngọn cỏ gió đùa ngoài chất bi kịch còn chuyên chở những tư tưởng cải tạo xã hội Việt nam, dựa trên giáo lý nhà Phật và nhà Nho, khác hẳn với tinh thần đạo lý Thiên chúa giáo của Victor Hugo. Hồ Biểu Chánh đã dành 5 năm để dựng truyện Ngọn cỏ gió đùa, và khi dựng xong, ông viết trong vòng 2 tháng. Tác phẩm hoàn tất và in năm 1926. Và thời điểm 1926, ở Việt Nam chưa tiểu thuyết nào có tầm cỡ như Ngọn cỏ gió đùa. Jean Valjean, Việt hóa dưới căn cước Lê Văn Đó, một nông dân khốn cùng, trong thời mất mùa đói kém, không kiếm được việc. Vì không đành lòng nhìn lũ cháu 7 đứa sắp chết đói, Lê Văn Đó lén bưng trộm nồi cháo cho heo ăn, ở nhà một điền chủ giàu, bị người ta bắt, xông vào đánh đập. Lê Văn Đó chống cự lại. Rút cục vẫn bị bắt. Bị đánh đòn 100 trượng, bị tù 5 năm về tội cướp của và hành hung. Nhiều lần vượt ngục, mỗi lần tăng án, tổng cộng 20 năm mới được thả. Từ một anh lực điền hiền lành chất phác, chưa hề biết oán hận lúc vào tù. 20 năm sau, khi ra tù, Lê Văn Đó trở thành một thứ thảo khấu lầm lỳ và hung hãn… Chân dung thứ nhì trong Ngọn cỏ gió đùa là Ánh Nguyệt. Ánh Nguyệt hay Fantine là hai người phụ nữ sống hai xã hội khác nhau trong cùng một thế kỷ. Tâm thức Ánh Nguyệt gắn liền với giáo lý Khổng Mạnh, lấy chữ hiếu làm đầu. Vì hiếu với cha mà nàng mắc vòng ở đợ. Khi bị chồng phản bội bỏ rơi, nàng vẫn giữ trọn phẩm tiết. Không thể bán mình nuôi con như Fantine, trong xã hội Pháp; Ánh Nguyệt chết trong cảnh nghèo khó vì muốn giữ tròn trinh tiết của mình. Tác phẩm cúi xuống những thân phận lạc loài, làm nhiệm vụ cứu khốn phò nguy của những lương tri văn học… *** Hồ Biểu Chánh là một nhà văn lớn của Nam Bộ, người có công mở đường cho nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại. Người đương thời và nhiều thế hệ về sau đã đón nhận tác phẩm Hồ Biểu Chánh với tất cả sự nồng nhiệt, trân trọng. Lịch sử văn học Việt Nam không thể phủ nhận đóng góp to lớn của Hồ Biểu Chánh. Một trong những yếu tố làm nên sự thành công ấy chính là tác phẩm của ông có được một hình thức ngôn ngữ đầy ấn tượng, thể hiện phong cách ngôn ngữ văn xuôi Nam bộ những năm cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX. Hồ Biểu Chánh sinh năm 1884 (trong giấy khai sinh ghi ngày 1 tháng 10 năm 1885) tại làng Bình Thành, tỉnh Gò Công (nay thuộc huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang). Ông xuất thân trong một gia đình nông dân, thuở nhỏ học chữ Nho, sau đó chuyển qua học quốc ngữ, rồi vào trường trung học ở Mỹ Tho và Sài Gòn. Năm 1905, sau khi đậu Thành chung, ông thi vào ngạch ký lục của Soái phủ Nam Kỳ; làm ký lục, thông ngôn, thăng dần đến đốc phủ sứ (1936), từng giữ chức chủ quận (quận trưởng) ở nhiều nơi. Ông vốn có tiếng thanh liêm, yêu dân, thương người nghèo khổ. Tháng 8 năm 1941, sau khi ông về hưu, được Pháp mời làm cố vấn với danh hiệu Nghị viện Hội đồng Liên bang Đông Dương và Phó Đốc lý thành phố Sài Gòn, đồng thời làm giám đốc những tờ báo tuyên truyền cho chủ nghĩa Pháp-Việt. Sau khi tái chiếm Nam Bộ năm 1946, Cộng hòa tự trị Nam Kỳ được thành lập, ông được mời làm cố vấn cho chính phủ Nguyễn Văn Thinh. Nhưng chỉ được mấy tháng, khi chính phủ Nguyễn Văn Thinh sụp đổ, ông lui về quê ở ẩn và giành trọn những năm tháng còn lại cho sự nghiệp văn chương. Ông mất ngày 4 tháng 9 năm 1958 tại Phú Nhuận, Gia Định; thọ 74 tuổi. Lăng mộ ông hiện nay được đặt ở đường Thống Nhất, phường 11 quận Gò Vấp. Tác phẩm: Nợ Đời Bỏ Chồng Bỏ Vợ Dây Oan Đóa Hoa Tàn Đoạn Tình Nặng Gánh Cang Thường Cay Đắng Mùi Đời Con Nhà Giàu ... *** (Cảm tác Les Misérables của Victor Hugo) Năm mậu-thìn (1808) nhằm Gia-Long thất niên, tại huyện Tân-Hòa, bây giờ là tỉnh Gò-Công, trời hạn luôn trong hai tháng, là tháng bảy với tháng tám, không nhểu một giọt mưa. Lúa sớm gần trổ, mà bị ruộng khô nên không nở đòng đòng [1], lúa mùa vừa mới cấy, mà bị đất nẻ [2], nên cọng teo lá úa. Cái cánh đồng, từ Rạch-Lá tới Bến-Lội, là vú sữa của nhơn dân trong huyện Tân-Hòa, năm nào cũng nhờ đó mà nhà nhà đều được no cơm ấm áo, ngặt vì năm nay cả đồng khô héo, làm cho dân cả huyện trông thấy đều buồn-bực thở than. Tại Vồng-Tre có nhà bà Trần-Thị bần cùng đói rách, thuở nay trời cho trúng mùa mà nhà bà cũng không được vui, huống chi năm nay mất mùa, thiên hạ nhịn đói, thì nhà bà càng thảm khổ hơn nữa. Bà Trần-Thị đã 65 tuổi rồi, bà góa chồng mà con trai lớn của bà là Lê-văn Ðây cũng bất hạnh, khuất năm trước, để lại cho bà một nàng dâu là Thị-Huyền, với bảy đứa cháu nội, đứa nhỏ hơn hết thì còn bú, đứa lớn hơn hết thì chưa quá 12 tuổi. Bà già yếu, từ đầu năm chí cuối năm thường òi ọp hoài, còn Thị-Huyền thì bị sắp con thơ, đứa dắt, đứa bồng nên có đi làm thì đi hái rau, bắt ốc, một giây một lát mà thôi, chớ không đi làm mướn làm thuê tối ngày cho được. Tuy vậy mà bà Trần-Thị nhờ có thằng con nhỏ, tên là Lê-văn-Ðó, tuổi vừa mới hai mươi, vóc-vạc cao lớn, sức lực mạnh-mẽ hơn người, tánh nó chơn-chất thiệt-thà, trí nó chậm-lục u-ám, song nó hết lòng lo làm mà nuôi mẹ già, nuôi chị dâu, nuôi cháu dại. Khi Lê-văn-Ðó mới được 12 tuổi, thì cha mẹ đem cho ở đợ chăn trâu cho nhà giàu. Hễ trời gần sáng thì Lê-văn-Ðó đuổi trâu ra đồng, rồi khi thì nằm dưới tàng cây lớn, lúc thì ngồi trên lưng trâu cò [3], dầm mưa dang nắng tối ngày, bữa nào cũng như bữa nấy, trời chạng-vạng tối rồi mới về nhà chủ được. Có lẽ Lê-văn-Ðó nhờ ở ngoài đồng luôn luôn hấp thụ thanh khí nên sức lực mạnh-mẽ khác thường, nhiều khi trâu chạy, nó nắm đuôi mà kéo, trâu phải đứng lại, chớ không chạy nổi. Mà có lẽ cũng tại Lê-văn-Ðó ở ngoài đồng luôn luôn, gần-gũi với trâu bò, bạn bè cùng cây cỏ, nên trí tuệ không phát được, không biết lễ nghĩa, mà cũng không thông-thế sự chi hết. Lê-văn-Ðó ở đợ gần 8 năm, đến năm ngoái anh cả là Lê-văn-Ðây chết rồi, mẹ mới đem về để giúp đỡ trong nhà và cho làm mướn làm thuê mà nuôi sắp cháu. Hồi đầu mùa mưa, Thị-Huyền xới đất trồng khoai, vun vồng [4] tỉa bắp chung quanh nhà, còn Lê-văn-Ðó thì đi cày mướn lấy tiền đổi gạo đem về nuôi mẹ và nuôi sắp cháu. Hết cày rồi tới cấy, thì Lê-văn-Ðó lại đi nhổ mạ đắp bờ, làm cực nhọc tối ngày, tuy tiền công không được bao nhiêu, song mẹ với chị dâu tiện tặn, người xúc tôm bắt cá, người đào củ hái rau, khi ít thì để ăn, khi nhiều thì đem bán, nên trong nhà dầu không dư ăn dư để, chớ cũng không đến nỗi hụt thiếu bữa nào. Ðến tháng chín tháng mười, ngoài đồng chẳng còn công việc gì làm nữa, mà trời hạn thất mùa, lúa cao gạo kém, các nông-gia đều ngồi khoanh tay nhau nháu [5], nên cũng không ai mướn làm việc gì trong nhà. Trong huyện Tân-Hoà lúa cũ đã ăn hết rồi, còn lúa mới thì không có mà ăn tiếp. Các nhà nghèo thảy đều khốn-đốn nên có nhiều người phải bỏ nhà dắt vợ con qua xứ khác mà kiếm ăn. Lê-văn-Ðó ngày nào cũng vậy, hễ sớm mai thức dậy thì đi từ xóm nầy qua xóm nọ, kiếm chỗ làm mướn đặng lấy gạo đem về cho mẹ với sắp cháu ăn, mà đi năm ba ngày mới có người ta mướn làm một ngày, lại ngày nào làm được thì họ huờn công (trả công) bằng một vùa gạo (một nửa sọ dừa dùng đong gạo), không đủ nấu cháo cho gia quyến húp mỗi người một chén, có đâu tới nấu cơm chia nhau ăn cho no được. Lúc ban đầu trong nhà còn khoai còn bắp, hễ bữa nào Lê-văn-Ðó kiếm gạo không được thì Thị-Huyền nấu khoai hoặc bắp, rồi chia cho sắp con mỗi đứa con một củ khoai, hoặc đôi ba muỗng bắp mà ăn đỡ, sắp nhỏ ăn không no, đến tối Lê-văn-Ðó đi làm về, chị dâu lấy tộ bắp nấu để dành mà đưa cho Lê-văn-Ðó ăn, thì sắp nhỏ bu lại đứng ngó lom lom, đứa xin cho một vài hột. Thị-Huyền rầy con, biểu để cho chú ăn no, đặng ngày sau có sức đi làm mà kiếm gạo. Sắp nhỏ sợ mẹ nên dang ra, song bụng đói quá, nên mặt buồn xo. Lê-văn-Ðó thấy vậy thương xót, không đành ngồi ăn một mình, day qua bên nầy đút cho đứa nầy một muỗng, trở qua bên kia đút cho đứa khác một muỗng nữa, đút gần hết tộ, té ra cũng không còn đủ cho nó ăn no được. Cách chẳng bao lâu, khoai bắp trong nhà ăn đã sạch hết. Bữa nào không ai mướn Lê-văn-Ðó làm, thì cả nhà đều phải luộc rau luộc cỏ mà ăn đỡ, chớ không có cháo mà ăn. Sắp nhỏ nhịn đói mặt mày vàng ẻo; còn Trần-Thị đã già yếu rồi, mà trót mấy tháng nay bà lại chịu cơ hàn nữa, nên bà nhuốm bịnh nằm thiêm thiếp không dậy nổi. Một bữa nọ Lê-văn-Ðó đi tối một ngày mà không có ai mướn làm việc chi hết. Lúc trời chạng-vạng tối, nó trở về nhà, hai chơn mỏi rụng, bụng đói xếp ve, lỗ tai lùng-bùng, cặp mắt cháng-váng. Chừng gần tới nhà, nó dừng chưn lại, gục đầu ngó xuống đất một hồi, rồi chậm rãi bước từ bước, dường như nhút nhát không muốn trở về nhà. Mời các bạn đón đọc Ngọn Cỏ Gió Đùa của tác giả Hồ Biểu Chánh.
Vì Nghĩa, Vì Tình
“Vì nghĩa vì tình” như chính tên gọi của nó cho chúng ta thấy được nhân nghĩa và tình cảm ở đời. Vì một chữ tình nên sanh ghen rồi vô tình khiến mẹ phải lìa con, chồng lìa vợ, gia đình ly tán. Mẹ khóc hết nước mắt vì mất con nên lúc tỉnh lúc dại. Chồng vì nỗi vợ không tha thứ nên u uất, thối chí. Con vì cha nên sống cảnh cơ hàn, sống đời lang bạt, đói cơm rách áo… Và vì một chữ nghĩa để rồi cuối cùng mẹ lại được gặp con, chồng lại được gần vợ, trẻ con hết sống cảnh côi cút, bơ vơ, nhà cửa coi hực hỡ mà mặt ai nấy đều vui vẻ, hớn hở lắm. *** Hồ Biểu Chánh là một nhà văn lớn của Nam Bộ, người có công mở đường cho nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại. Người đương thời và nhiều thế hệ về sau đã đón nhận tác phẩm Hồ Biểu Chánh với tất cả sự nồng nhiệt, trân trọng. Lịch sử văn học Việt Nam không thể phủ nhận đóng góp to lớn của Hồ Biểu Chánh. Một trong những yếu tố làm nên sự thành công ấy chính là tác phẩm của ông có được một hình thức ngôn ngữ đầy ấn tượng, thể hiện phong cách ngôn ngữ văn xuôi Nam bộ những năm cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX. Hồ Biểu Chánh sinh năm 1884 (trong giấy khai sinh ghi ngày 1 tháng 10 năm 1885) tại làng Bình Thành, tỉnh Gò Công (nay thuộc huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang). Ông xuất thân trong một gia đình nông dân, thuở nhỏ học chữ Nho, sau đó chuyển qua học quốc ngữ, rồi vào trường trung học ở Mỹ Tho và Sài Gòn. Năm 1905, sau khi đậu Thành chung, ông thi vào ngạch ký lục của Soái phủ Nam Kỳ; làm ký lục, thông ngôn, thăng dần đến đốc phủ sứ (1936), từng giữ chức chủ quận (quận trưởng) ở nhiều nơi. Ông vốn có tiếng thanh liêm, yêu dân, thương người nghèo khổ. Tháng 8 năm 1941, sau khi ông về hưu, được Pháp mời làm cố vấn với danh hiệu Nghị viện Hội đồng Liên bang Đông Dương và Phó Đốc lý thành phố Sài Gòn, đồng thời làm giám đốc những tờ báo tuyên truyền cho chủ nghĩa Pháp-Việt. Sau khi tái chiếm Nam Bộ năm 1946, Cộng hòa tự trị Nam Kỳ được thành lập, ông được mời làm cố vấn cho chính phủ Nguyễn Văn Thinh. Nhưng chỉ được mấy tháng, khi chính phủ Nguyễn Văn Thinh sụp đổ, ông lui về quê ở ẩn và giành trọn những năm tháng còn lại cho sự nghiệp văn chương. Ông mất ngày 4 tháng 9 năm 1958 tại Phú Nhuận, Gia Định; thọ 74 tuổi. Lăng mộ ông hiện nay được đặt ở đường Thống Nhất, phường 11 quận Gò Vấp. Tác phẩm: Nợ Đời Bỏ Chồng Bỏ Vợ Dây Oan Đóa Hoa Tàn Đoạn Tình Nặng Gánh Cang Thường Cay Đắng Mùi Đời Con Nhà Giàu ... *** Mất con lìa vợ gần sáu năm trường rồi, thình lình trong một buổi mà cha con tương phùng, vợ chồng hội hiệp; làm người ai gặp cái cảnh như vậy, dầu tánh tình trầm tịnh đến thế nào đi nữa cũng khó mà giấu cái mừng, cái vui trong lòng được. Chánh Tâm được sum hiệp với vợ con, tuy chàng không lộ cái vẻ vui mừng của chàng cho ai thấy, nhưng mà chàng ngồi cứ ngó vợ rồi ngó con mà cười hoài. Lâu lâu chàng ngoắc con lại gần rồi ôm mặt nó mà hun, hoặc chàng lại đứng một bên vợ mà coi vợ may áo cho con bận. Chàng hưởng thú hòa hiệp một cách êm ái như vậy đó, người ngoài dòm vô ai cũng tưởng chàng không vui mừng cho lắm duy Cẩm Vân biết tánh ý chồng, nên nàng hiểu cái cử chỉ ấy là cử chỉ khoái lạc của chồng thuở nay. Trọn buổi sớm mơi, Chánh Tâm xẩn bẩn ở nhà mà chơi với vợ con. Buổi chiều, chàng đi ra Sài Gòn, mướn Trưởng tòa ra giấy ký cho người mướn nhà lầu của chàng trong vòng 15 ngày phải dọn đồ đi và trả lại cho chàng ở. Việc đó xong rồi chàng mới lại hãng xe hơi chồng bạc mà lấy xe. Đến 5 giờ chiều, chàng đem xe về. Chánh Hội nghe thấy xe thì mừng quýnh, chạy vô trong nó kéo má nó ra coi. Chánh Tâm mời Cẩm Vân với cô Ba Hài đi thử. Cẩm Vân từ rằng: - Để tôi may đồ sắp nhỏ riết cho rồi đặng mai có đi, chớ đi chơi rồi mai đi sao được. Chánh Tâm nghe nói như vậy thì không dám ép nên đi một vòng với cô Ba Hài và hai đứa nhỏ, còn để vợ ở nhà may đồ. Áo quần của sắp nhỏ may xong rồi, Chánh Tâm bèn thưa với cô Ba Hài đặng rước vợ về Láng Thê thăm nhà ít bữa. Cô Ba Hài nói rằng : - Nó phải đi chớ. Nó có nói với tao rằng, hồi chị Tổng mất, nó có bịnh nó không hay. Mấy năm nay nó phiền mầy nên nó không tới nhà được mà lạy chị Tổng. Bây giờ vợ chồng con cái hiệp với nhau rồi, thì nó đi mới phải chớ. Cẩm Vân lo thâu xếp áo quần bỏ vào hoa ly. Chánh Tâm lấy đồ tây mà bận cho Chánh Hội với thằng Qui, sửa soạn xong rồi mới từ cô Ba Hài mà lên xe. Hai đứa nhỏ rủ nhau ngồi phía trước với sốp phơ, bỏ Chánh Tâm với Cẩm Vân ngồi sau chen ngoẻn. Xe mới, máy còn êm nên chạy nghe tiếng vù vù xuống tới nhà ga An Lạc, Chánh Hội ngoái đầu lại mà nói rằng: - Tôi với thằng Quì có ngủ lại đây một đêm má a. Chánh Tâm ngó vợ mà cười. Xuống tới chợ Đệm, Chánh Hội lại chỉ quán bà già cho ăn cơm hồi trước, rồi xuống tới Gò Đen nó chỉ luôn trường học nó học ngày xưa nữa. Hai đứa ngồi trước, nói chuyện cãi lẽ om sòm. Vợ chồng Chánh Tâm ngồi sau cứ ngó rồi cười cùng nhau. Có một lúc xe đương chạy mau, Chánh Tâm nắm tay vợ mà nói rằng: - Em ốm lung quá ! Để dọn nhà ở yên rồi qua đem em cho quan thầy thuốc coi, để cho thuốc em mập lại như xưa mới được. Cẩm Vân lắc đầu đáp rằng : - Em có đau đâu mà uống thuốc. Bây giờ em gặp con rồi, em hết buồn rầu nữa, thì trong ít ngày đây em mập lại chớ gì. Mời các bạn đón đọc Vì Nghĩa, Vì Tình của tác giả Hồ Biểu Chánh.