Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Út Teng

Chiến tranh đi liền với đau thương, mất mát, biết bao người thân trong gia đình Việt Nam đã không còn có mặt trong ngày vui chiến thắng. Gia đình Út Teng là một trong số đó. Chứng kiến cái chết đau đớn của ba trước tội ác của Mỹ ngụy, Út Teng âm thầm nuôi chí trả thù cho người cha thân yêu. Và cứ như thế, Út Teng lớn lên trong không khí đấu tranh sôi sục của cả Sài Gòn. Tình thương ba đã dẫn em đi theo con đường cách mạng tự lúc nào. Em theo một đơn vị đặc công nước, chiến đấu anh dũng bên những người đồng đội của cha *** Đại tá, nhà văn Chu Lai có tên khai sinh là Chu Văn Lai, sinh ngày 5 tháng 2 năm 1946, tại xã Hưng Đạo, huyện Phù Tiên, tỉnh Hưng Yên, hiện ở Hà Nội. Ông là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (từ năm 1980). Ông là con trai của nhà viết kịch Học Phi. Trong chiến tranh Việt Nam ông công tác trong đoàn kịch nói Tổng cục Chính trị rồi trở thành chiến sĩ đặc công hoạt động trong vùng Sài Gòn. Sau 1973, ông về làm trợ lý tuyên huấn Quân khu 7. Đến cuối năm 1974 ông tham dự trại sáng tác văn học Tổng cục Chính trị và sau đó học tại Trường Viết văn Nguyễn Du khóa 1. Sau khi tốt nghiệp, ông biên tập và sáng tác cho Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Nhà văn Chu Lai còn viết một số kịch bản sân khấu, kịch bản phim và tham gia đóng phim. Chu Lai là một trong những nhà văn quân đội có tên tuổi trong nền văn học sau 1975. Đã từng một thời khác áo lính, ông rất thành công với đề tài chiến tranh. Và tiểu thuyết là thể loại mà Chu lai đã khẳng định được tài năng và phong cách của mình. Nắng Đồng Bằng là một trong những tác phẩm để đời của nhà văn khi viết về đề tài chiến tranh với câu chuyện và những phận người đầy gai góc. Người lính trong Nắng đồng bằng không chỉ biết có chiến đấu vì lý tưởng, biết đấu tranh, giành giật sự sống trước bom đạn, trước kẻ thù mà cũng có những suy tư, tính toán thiệt hơn... nhưng cuối cùng họ vượt qua tất cả để góp phần làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc. Chính Chu Lai từng bộc bạch "Cuộc đời có thể xô đẩy người lính, quăng quật người lính nhưng người lính vẫn bật lại để sống xứng đáng với màu xanh áo lính". Có thể nói mỗi trang văn của Chu Lai là một câu chuyện của những cái tận cùng, cố gắng hướng đến cái tận cùng, nỗi khổ niềm vui, hy vọng và tuyệt vọng, can đảm và yếu hèn, tất cả đều được nổi lên một cách đậm nét và hết sức chân thực. Một số tác phẩm của tác giả Chu Lai: Cuộc Đời Dài Lắm Mưa Đỏ Phố Nắng Đồng Bằng Ăn Mày Dĩ Vãng Út Teng Truyện Ngắn Chu Lai Hùng Karô Chỉ Còn Một Lần Khúc Bi Tráng Cuối Cùng Người Im Lặng Nhà Lao Cây Dừa 3 Lần Và 1 Lần Sông Xa Vòng Tròn Bội Bạc Bãi bờ hoang lạnh Gió không thổi từ biển *** Thực ra tên nó là Ròng, út Ròng! Nhưng người ta cứ hay gọi nó là Teng, út Teng! Lớn lên một chút bắt đầu nhận biết được điều này, nó tò mò hỏi má. Má nó hơi ngớ ra, ngúc ngoắc cái đầu một chút rồi cười à: "Ôi! Thằng nhỏ không hỏi thì tôi cũng quên phứt rồi! Ròng, con ạ! Đúng ra ba đặt tên con là Ròng. Má sanh ra con ở trên ghe, vào một buổi nước ròng tới đáy, ba con phải lội bộ đẩy má đi cả nửa ngày trời mới tới cái chòi có bà đỡ nhưng không kịp... Con ra đời giữa con nước ròng, vậy đó". "Thế sao tụi bọn nó cứ kêu con tên Teng?". Nó định hỏi nữa nhưng thấy má nó có vẻ tất bật định đi đâu, nên thôi. Vả lại, nó nghĩ, Ròng có cái cớ kêu Ròng, chắc Teng cũng có cái cớ kêu Teng, phải tự hiểu lấy thôi. Hôm sau ra sông gặp thằng Đảm, bạn chí cốt của nó, nó tuyên bố đầy vẻ trịnh trọng: "Mầy biết tại sao tao tên Teng không mầy? Tại vì tao hay toòng teng đeo chiếc giỏ xách ra sông kiếm cá hoài đó mầy. Cũng như, mầy tên Đảm, chắc là hồi má mầy sanh mầy, bả...". Nói tới đây, nó tịt vì chưa kịp nghĩ ra được cái lý do gì mà bạn nó tên Đảm cả. Hai đứa nhe răng cười, thằng Teng cười to nhất. Vậy là nó vẫn chưa thành người lớn. Người lớn gì mà có thế cũng không biết. Rồi nó cũng quên chuyện đó ngay. Ròng hay Teng cũng đều dính dáng đến sông hết trọi. Gọi tên gì cũng được, kể cả tên Sông, tên Nước, tên Cá, tên Tôm... Ngon lành hết. Miễn là ngày ngày, má cứ cho nó ra sông với thằng Đảm là được rồi. Cả hai đứa năm này đều chưa đầy mười ba tuổi. Nhưng có lẽ do chạy nhảy, bơi lội nhiều nên chân tay mau dài ra, rắn lăn lẳn và da dẻ thì hồi nào cũng cóc cáy. Hai đứa thuộc loại bơi lội giỏi nhất ấp. Con sông Sài Gòn to rộng là thế, lắm sóng là thế mà ngày nào hai đứa cũng lội qua lội lại như không. Thằng Teng da xanh trắng, có vẻ hoạt hơn một tí, bơi lặn, nói năng cũng khá hơn bạn, nhưng thằng Đảm lại nhiều mẹo mực bắt tôm, bắt cá hơn và da thì đen bóng. Ba thằng Đảm là dân sông nước, cả đời lênh đêng với đăng, với vó mà. Còn ba của thằng Teng... Lâu lắm nó không nhìn thấy mặt ba nó. Phải đến mấy năm rồi ấy! Tất nhiên là nó hỏi, cũng như tính nó thường hay hỏi làm nhiều khi má nổi đoá lên, nhưng riêng hỏi về ba thì má lại nhỏ giọng đi, ánh mắt nhìn nó dịu dàng hơn: "Ba con đi rồi! Đi xa lắm!... Ráng ngoan, lớn lên chút nữa, con sẽ gặp ba". Bà Năm ở kế bên lại có lần bô bô nói giữa chỗ đông người: "Thằng cha mầy đi lấy vợ nhỏ rồi, nhắc tới làm gì cho mất công!" Lúc khác, vắng vẻ, bả gọi nó vào cho cái kẹo mè xửng: "Đừng nhắc nhiều đến ba nữa nghe con... Đừng nhắc nhiều má con nó buồn". Không hiểu phải quấy ra sao, từ đó thằng Teng không nhắc đến ba nữa, song từ ký ức nó vẫn nghĩ đẹp về ba nó. Nó chỉ nhớ láng máng ba nó người cao nhưng ốm, tóc cắt ngắn, bàn tay to toàn mùi thuốc rê hay vỗ vỗ vào má nó và tiếng nói khàn khàn ấm ấm. Hồi ấy, mỗi đêm ba về, nó đều bị dựng dậy và hai cánh tay to tướng của ba cứ ôm riết nó vào lòng tới muốn nghẹn thở luôn. Từ người ba, nó thấy mùi thơm thơm nồng nồng của sông nước. Ba chắc từ sông về? Nó chấc mẩm thế và càng nép chặt vào bộ ngực có cái mùi quen thuộc đó hơn. Những đêm như thế, ba nói chuyện với má rất lâu, lâu lắm, tiếng ba rì rầm thoảng nhẹ như tiếng gió thổi vào vườn chuối ở sau nhà. Gần sáng ba đi, mắt má mọng nước nhìn ba nhưng ba lại nhìn nó. Gặp mắt ba mênh mang như mặt sông mùa nước. Khiến nó rộn rạo cả người. Nó thương ba nó lắm! Má cũng thương ba lắm! Thế tại sao ba nó lại bỏ má con nó đi với bà nhỏ? Bỏ đi lâu năm rồi! Lâu đến nỗi nó không còn nhớ mặt ba ra sao nữa. Nó không tin ba nó là người như thế. Bà Năm ác với má, bà Năm đặt điều ra thế thôi. Không đừng được nó lại mang điềunày hỏi má. Má tái mặt đi, giọng nói tắc tắc như đang nhai cục cơm to: "Bà Năm nói... Nói đúng đó con! Ba con đi lấy vợ nhỏ rồi! Lấy xa lắm. Thôi! Con ở với má cũng được. Má thương con, thương con nhiều..." Nếu thế thì nó tin. Má đẻ ra nó nói cơ mà. Nhưng bằng nhạy cảm của tuổi nhỏ, của đứa con quen hơi ben tiếng người cha, lắm khi nó cứ ngờ ngợ. Nếu thế thì má phải ghét ba, phải la ba như cô Bẩy ở đầu ấp chớ. Cô Bẩy ấy à? Mỗi lấn nhắc đến chú Bẩy bỏ cô đi Sài Gòn với gái là mắt cô lại long lên, tiếng nói át cả tiếng ca - nông nổ trên chi khu. Còn má, nhắc đến ba, cặp mắt má trông khác lắm, giống cái lúc gần sáng hồi nào ba từ giã má con nó ra sông. Ra sông, nó chắc thế. Nó cho rằng: tất cả những người tốt bụng, những người nó quý yêu đều sinh ra từ sông, và nếu có đi đâu thì cũng chỉ về sông thôi. Sông đối với nó là cả một thế giới bí hiểm, là những chuyện cỏ tích hấp dẫn tới mụ người mà hồi bà nội còn sống nội thường kể cho nó nghe. Nhưng... lòng nó chợt thắt lại: nếu ba không thương má, ba bỏ đi như chú Bẩy thì ba cũng phải thương nó chớ! Nó có tội gì đâu. Nó chỉ biết thương ba, đêm đêm mong ba gõ cửa lách vào nhà và mang theo cả gió lạnh, cả cái vị thơm thơm nông nồng của dòng sông thân thộc. Nó có ghét ba đâu! Có lỗi gì với ba đâu! Nghĩ thế, tủi thân,nó lại rơm rớm nước mắt. Sáng dạy, thấy đuôi mắt con đọng nước, má vội siết nó vào lòng và lập rập nói cái gì không rõ, chỉ thấy hơi thở nóng hổi phả vào gáy nó. Sáng nay thằng Đảm nhử Teng ra sông bắt cu đinh (một loài ba ba ở sông). Teng thích chí lắm. Gì chứ bắt cu đinh là Teng chịu liền. Mùa này cu đinh rời mí nước bò lên kiếm mồi lổm ngổm đầy ruộng lậu, tha hồ mà rượt. Một chú cu đinh cỡ vừa, mang ra chợ bán cho tiệm ăn ông ba tàu Sáng Lố cũng được vài trăm mang về cho má. Một buổi bắt cật lực cũng phải được ít nhất ba con. Ba con là gần một ngàn bạc. Thế là má vui rồi, sớm sớm má đỡ tất bật lo gạo mắm cho hai bữa cơm trong ngày nữa. Teng thương má lắm! Từ ngày không dòm thấy ba, Teng dồn hết tình thương cho má. Má lắc đầu: "Con thương má thì con ráng đi học tiếp, đừng để cái dốt nó làm hèn người đi. Ba ngày trước..." Nhưng Teng thích ra sông hơn đi học. Học cũng thú nhưng ngày nào cũng phải đi qua thấy mấy cái đồn trong chi khu, nhìn thấy tụi lính ăn nhậu, chửi tục, hù doạ trẻ con, trêu chọc các thím,các chị qua lại, là Teng không ưng rồi. Vả lại trong lớp sao lắm con nhà phách lối thế. Học thì dốt mà mặt cứ vênh lên. Ông già tụi nó người thì có tiệm ăn, tiệm vàng ngoài chợ, người thì đứng chân trong hội đồng, trong ban đại diện, trong quận cảnh sát... Tóm lại toàn một thứ con nhà khó xài cả. Tính Teng lành, xởi lởi với bạn bè, nhưng thằng con nhà nào bỉ mặt khinh Teng là Teng muốn ục liền. Tháng trước Teng đã thoi sưng mặt thằng con trai nhà trưởng ấp ví nó dám sấc láo gọi thằng Đảm là con nhà mất giống. Lão hiệu trưởng bắt Teng đứng dang nắng một ngày. Uất quá! Hôm sau Teng đốt sách, bỏ học ở nhà. Thấy Teng nghỉ, thằng Đảm cũng thôi học luôn. Ngày đầu má khóc, má lại nhắc đến ba. Ngày sau, ngày sau nữa thấy Teng không chuyển, má làm mặt giận. Teng lầm lì không nói thêm câu gì nữa, cứ lủi thủi ra sông tối mịt mới về. Dần dà má hiểu tâm trạng của Teng lại càng thương Teng hơn. Đáp lại lòng má, tối tối Teng kiếm sách đến nhà Đảm tự học thêm. Hai đứa hì hụi học với nhau đến khuya mới lọ mọ ra về. Thấy thế, má Teng bắt đầu cười: "cái tính thằng Teng kỳ quá bà Năn à! Y hệt cái tính... Nói là làm, mà làm cái gì cũng phải kỳ được. Sau này rồi khổ thế đấy". Nói "khổ đấy" mà mắt má lại sáng lên. Cấm nó nhắc tới ba mà động một chút má đều kêu tên ba! Người lớn sao kỳ quá! Tuy vậy về chuyện ba, nó láng máng cảm thấy có cái gì không bình thường, nhưng trẻ con không thích phân tich chi li, nó tạm chấp nhận cái đã. Mời các bạn đón đọc Út Teng của tác giả Chu Lai.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Xác Thịt Về Đâu - Samuel Butler
Ernest Pontifex sinh ra trong một đại gia đình và đã bắt đầu cuộc sống bằng sự trung thành tuyệt đối với gia đình mình. Ở tuổi bắt đầu trưởng thành, anh tuân ý người cha độc đoán theo đuổi việc học hành với ý định trở thành một mục sư. Nhưng cuộc sống được sắp xếp trước này không suôn sẻ; cuộc đời Ernest trải qua nhiều thăng trầm, bao gồm cả việc vỡ mộng với các tín điều tôn giáo, vào tù, bị cha mẹ từ bỏ, nghèo khó, bị vợ phản bội, ốm đau, bị lừa dối… trước khi có thể trở thành một con người độc lập, sống cuộc đời mình. Là cuốn tiểu thuyết có tính phá vỡ khuôn mẫu các tiểu thuyết đạo đức thời Victoria, Xác Thịt Về Đâu mổ xẻ cuộc sống của bốn thế hệ nhà Pontifex; đồng thời cho chúng ta thấy những mẫu số chung trong cuộc sống gia đình và trong đời người. Samuel Butler viết: “… Khi về già… chúng ta biết rằng cuộc sống chủ yếu là những hù dọa nhau hơn là những tổn thương thật sự.” Quả thật, những trò vè mà con người ta, nhất là người trong gia đình, dùng để hành hạ nhau nhiều khi chỉ xuất phát từ sự hù dọa và khẳng định quyền lực cá nhân một cách vô thưởng vô phạt, nhưng đôi khi để đi đến chỗ hiểu ra điều đó, chúng ta mất cả một đời. *** Bạn đã bao giờ thử nghĩ về các thế hệ trong đại gia đình của mình và tự hỏi: tại sao ông mình suốt đời chỉ là một người thợ lặng lẽ dù ông rất giỏi, tại sao cha mình lúc nào cũng rao giảng đạo đức và ép mình phải đi theo nghề của cha, tại sao mẹ mình nhẫn nhục chịu đựng cha đến mức tự biến mình thành một người đàn bà giả trá, chao chát; tại sao các cô chú, cậu mợ và anh chị em họ của mình trở thành những người như họ đã trở thành... Và tại sao tất cả những cá thể người riêng rẽ, dường như hoàn toàn khác biệt này lại dính chặt với nhau trong cái liên kết gọi là “gia đình”, mà ở đó sự hành hạ lẫn nhau có khi còn nhiều hơn tình thương yêu? Trong cuốn tiểu thuyết kinh điển Xác thịt về đâu của Samuel Butler, Ernest Pontifex sinh ra trong một đại gia đình và đã bắt đầu cuộc sống bằng sự trung thành tuyệt đối với gia đình mình. Ở tuổi bắt đầu trưởng thành, anh tuân ý người cha độc đoán theo đuổi việc học hành với ý định trở thành một mục sư. Nhưng cuộc sống được sắp xếp trước này không suôn sẻ; cuộc đời Ernest trải qua nhiều thăng trầm, bao gồm cả việc vỡ mộng với các tín điều tôn giáo, vào tù, bị cha mẹ từ bỏ, nghèo khó, bị vợ phản bội, ốm đau, bị lừa dối... Trước khi có thể trở thành một con người độc lập, sống cuộc đời mình. Là cuốn tiểu thuyết có tính phá vỡ khuôn mẫu các tiểu thuyết đạo đức thời Victoria, Xác thịt về đâu mổ xẻ cuộc sống của bốn thế hệ nhà Pontifex; đồng thời cho chúng ta thấy những mẫu số chung trong cuộc sống gia đình và trong đời người. Samuel Butler viết: “... Khi về già... Chúng ta biết rằng cuộc sống chủ yếu là những hù dọa nhau hơn là những tổn thương thật sự.” Quả thật, những trò vè mà con người ta, nhất là người trong gia đình, dùng để hành hạ nhau nhiều khi chỉ xuất phát từ sự hù dọa và khẳng định quyền lực cá nhân một cách vô thưởng vô phạt, nhưng đôi khi để đi đến chỗ hiểu ra điều đó, chúng ta mất cả một đời. Ngô Bảo Châu & Phan Việt   *** CÁNH CỬA MỞ RỘNG   Tủ sách hợp tác giữa nhà toán học Ngô Bảo Châu, nhà văn Phan Việt với Nhà xuất bản Trẻ   Tủ sách CÁNH CỬA MỞ RỘNG được thực hiện nhằm mục đích giới thiệu những đầu sách có giá trị của thế giới và trong nước đến bạn đọc Việt Nam, đặc biệt là bạn đọc trẻ, góp phần thúc đẩy việc đọc sách, tinh thần hiếu học, coi trọng tri thức và những giá trị sống. Các tựa sách trong tủ do nhà toán học Ngô Bảo Châu và nhà văn Phan Việt tuyển chọn và giới thiệu. Tủ sách được phân thành ba mảng: văn học, khoa học xã hội – kinh tế, và khoa học tự nhiên; trước mắt cấu tạo tủ sách gồm 80% các sách có khả năng tiếp cận đông đảo bạn đọc và 20% cho các sách chuyên ngành. Mời các bạn đón đọc Xác Thịt Về Đâu của tác giả Samuel Butler.
Sao Mãi Còn Độc Thân - Liz Tuccillo
Đó là một câu hỏi gây khó chịu và mọi người không thể ngăn được việc hỏi bạn câu này. Bạn sẽ bị hỏi trong các buổi họp mặt gia đình, trong các tiệc cưới, và trong cả ngày hẹn hò đầu tiên. Và bạn sẽ thường xuyên hỏi chính mình về điều này. Đó là một câu hỏi mà câu trả lời không bao giờ hay. Đó là câu hỏi mà khi mọi người ngừng hỏi, bạn sẽ cảm thấy tồi tệ hơn: Tại sao bạn mãi độc thân?  Vào một buổi sáng trong lành của tháng Mười ở New York, Julie Jenson đang trên đường đi làm thì nhận được một cuộc điện thoại đầy kích động từ cô bạn Georgia. Choáng váng với thông báo của chồng mình rằng anh ta sẽ bỏ cô để đến với cô giáo dạy môn samba, Georgia thuyết phục bằng được Julie tổ chức một buổi họp mặt cả hội bạn độc thân để gợi cho cô nhớ về việc tại sao không bị ràng buộc lại có thể vui đến thế.  Nhưng khi đêm đến, bắt đầu với món thịt nướng cùng martini và kết thúc bằng việc nhập viện đã thức tỉnh Julie. Không một ai trong số bạn cô đang có niềm vui: Alice, một cựu luật sư của chương trình Legal Aid, đã rời bỏ công việc và bắt đầu hẹn hò để tìm kiếm cho mình một gia đình; Serena lại quá bận rộn với việc trở thành một người được mọi người công nhận đến nỗi không thể dành thời gian cho việc hẹn hò; và Ruby, một cô nàng hấp dẫn và đầy lòng trắc ẩn, người từng để tang hàng tháng trời cho con mèo của mình…  Buồn chán và thất vọng vì độc thân ở Manhattan, Julie Jenson – người quản lý hình ảnh và phụ trách truyền thông cho các nhà văn, đã bỏ việc ở tuổi 38 và bắt đầu lên đường để tìm ra cách mà các phụ nữ trên toàn thế giới đang đối phó với tình cảnh khủng khiếp này. Từ Paris đến Rio đến Sydney, Bali, Bắc  Kinh, Mumbai và Reykjavík, Julie đã yêu, thất tình, hiểu về thế giới và học được nhiều điều. Quay trở lại New York, các bạn cô đang vật lộn với những vấn đề của chính họ – những cuộc gặp mặt tồi tệ, các cuộc hôn nhân không tình yêu, cuộc chiến dành quyền nuôi con, và việc làm mẹ đơn thân. Thông qua các cuộc hành trình của họ, những người phụ nữ này đã chiến đấu để xác định lại các ảo tưởng của mình về tình yêu, hạnh phúc và một cuộc sống viên mãn *** NGUYÊN TẮC 1 Phải Chắc Chắn Bạn Có Bạn Bè Georgia độc thân như thế nào “TỚ CHỈ MUỐN VUI VẺ! GIỜ TỚ ĐỘC THÂN RỒI, TỚ CHỈ MUỐN VUI VẺ! ĐÁM ĐỘC THÂN CÁC CẬU LÚC NÀO CŨNG VUI VẺ!! BAO GIỜ CHÚNG TA RA NGOÀI VUI VẺ ĐÂY?!!!” Cô ấy đang hét lên, đang hét lên với tôi trong điện thoại. “TỚ MUỐN TỰ SÁT, JULIE À. TỚ KHÔNG MUỐN SỐNG VỚI NỖI ĐAU ĐỚN NÀY. THẬT ĐẤY. TỚ MUỐN CHẾT. CẬU PHẢI LÀM CHO TỚ THẤY MỌI THỨ VẪN ỔN! CẬU PHẢI DẪN TỚ RA NGOÀI VÀ NHẮC TỚ RẰNG TỚ VẪN CÒN TRẺ LẮM, CÒN SỐNG, CÒN CÓ THỂ CÓ THẬT NHIỀU, THẬT NHIỀU NIỀM VUI! HOẶC CHỈ CÓ CHÚA MỚI BIẾT TỚ CÓ THỂ LÀM GÌ!!!” Dale, chồng của Georgia, vừa mới bỏ cô ấy theo một người đàn bà khác hai tuần trước và hiển nhiên cô ấy hơi đau khổ một chút. Cuộc điện thoại gọi đến lúc 8:45 sáng. Tôi đang ở quán Starbucks ở góc giao Phố 448, một tay giữ khay café, một tay cầm điện thoại di động. Mấy sợi tóc rối chờm trên mặt, những cốc café mochaccino nghiêng về phía ngực trái trong khi tôi trả tiền cho một cô gái xinh xắn trạc hai mươi tuổi ở quầy thanh toán. Cảnh đó phải nói là “tay năm tay mười”. Tôi đã dậy được bốn tiếng rồi. Là publicist1 cho một nhà xuất bản lớn ở New York, một phần công việc của tôi là đưa các nhà văn từ cuộc phỏng vấn này tới cuộc phỏng vấn khác khi họ xúc tiến quảng cáo sách của mình. Sáng nay, tôi chịu trách nhiệm cho một tác giả ba mươi mốt tuổi tên là Jennifer Baldwin. Cuốn sách của cô ta, Làm Thế Nào Để Hấp Dẫn Chồng Bạn Trong Thời Kỳ Mang Thai, đang trở thành cuốn bán chạy nhất hiện nay. Phụ nữ khắp cả nước đổ xô đi mua. Dĩ nhiên rồi, bởi vì làm thế nào để hấp dẫn chồng lúc mang thai là mối quan tâm hàng đầu của phụ nữ ở thời kỳ rất đặc biệt ấy trong đời. Thế nên tuần này chúng tôi đang tiến hành hàng loạt các chương trình truyền hình buổi sáng nhằm gây dựng danh tiếng. Today, The View, Regis và Kelly. WPIX, NBC, CNN, ngày nào cũng ra rả. Sao bạn có thể không yêu một chương trình chỉ cho phụ nữ đã mang bầu tám tháng cách cởi đồ vì chồng họ? Lúc này, tác giả, publicist riêng, đại diện và trợ lý của người đại diện của cô ta đều đang sốt ruột chờ tôi ở trong chiếc Town Car đỗ bên ngoài. Tôi đang nắm giữ từ sinh mệnh cho tới những tách café của họ. “Thực lòng cậu có thấy muốn tự sát không đấy, Georgia? Vì nếu cậu làm thế, tớ sẽ gọi 911 ngay bây giờ và gọi thêm một xe cứu thương tới.” Tôi đã đọc đâu đó rằng bạn nên nói chuyện tự sát thật nghiêm túc, thậm chí dù tôi có nghĩ tất cả những gì cô ấy đang làm thực ra chỉ là muốn tôi đưa cô ấy ra ngoài uống rượu giải sầu. “QUÊN CHUYỆN CẤP CỨU ĐI, JULIE, CẬU LÀ NHÀ TỔ CHỨC, LÀ NGƯỜI KHIẾN MỌI CHUYỆN DIỄN RA – GỌI NHỮNG CÔ BẠN ĐỘC THÂN KIA CỦA CẬU ĐI, NHỮNG NGƯỜI CẬU LUÔN VUI VẺ CÙNG ẤY – RỒI RA NGOÀI VÀ GIẢI TRÍ NÀO!” ... Mời các bạn đón đọc Sao Mãi Còn Độc Thân của tác giả Liz Tuccillo.
Ôsin Nhà Bộ Trưởng - Phạm Gia Khánh
Ở Trung Quốc có quan niệm cho rằng làm việc dễ, làm người khó. Làm người thì rất vô cùng, nhưng làm việc, nhất là việc làm quan, có những bước đi mà theo đúng sẽ thành công. “Bí quyết làm quan tham hiệu quả” là chủ đề của cuốn tiểu thuyết Ôsin nhà bộ trưởng. Cuốn sách bắt đầu khi Cùng Hoa, một cô gái mới hai mươi tuổi, từ vùng quê nghèo xa tít tắp quyết định ra thành phố lớn kiếm tiền. Nhờ xinh đẹp, cô được Vương Hãn Đông chọn để gửi đến làm người giúp việc cho gia đình bộ trưởng Từ Văn Tuấn. Cô gái quê đâu ngờ làm ôsin nhà bộ trưởng không hề dễ. Thời thế tạo anh hùng, quan hệ tạo cán bộ Vương Hãn Đông là giám đốc chi nhánh ngân hàng, đang muốn leo lên cao. Chương Kiến Quốc muốn bỏ chữ “phó” trong chức phó cục trưởng Cục Giao thông của mình. Hai người này trông chờ vào “tấm lòng” của bộ trưởng Từ Văn Tuấn, vì vậy đã cùng nhau giăng ra một cái bẫy dành cho công tử nhà họ Từ. Vương Hãn Đông từng không ngần ngại tặng người tình của mình cho Từ Thẩm Bình, con trai Từ Văn Tuấn, kèm theo căn hộ cao cấp, nhưng lần này Cùng Hoa không đơn giản là một món quà khác. Vương Hãn Đông muốn tiện thể bắt cô theo dõi các mối quan hệ của nhà bộ trưởng Từ để sắp xếp thêm một kế hoạch B khi có biến. Trong giới quan trường đó là yếu tố hàng đầu, đúng như lời dạy bảo ân cần của Chương Kiến Quốc đối với Từ Thẩm Bình: “Người với người, ngoài quan hệ huyết thống là trời sinh, các quan hệ khác đều phải tự mình xây dựng, theo như cách nói hiện đại là “kinh doanh”. Thực ra cả đời người không thoát khỏi hai chữ “kinh doanh”... Trong lịch sử là thời thế tạo anh hùng, xã hội hiện thực bây giờ là quan hệ tạo cán bộ”. Nhờ có quan hệ tốt mà khi đoàn kiểm tra đến Cục Giao thông, nhân viên đều nhận xét về Chương Kiến Quốc đại loại như: “Cục trưởng Chương làm việc chăm chỉ quên cả ăn uống, không biết rằng sức khỏe của mình chính là tài sản của cách mạng”... Có tài có đức là thượng phẩm, có tài vô đức là độc phẩm, có đức vô tài là thứ phẩm, vô đức vô tài là phế phẩm - nhưng chỉ cần sắp xếp được quan hệ, đám “độc phẩm” và “phế phẩm” sẽ có không ít cơ hội ngoi lên. Mạng lưới các nhân vật mở rộng dần, để lộ vô số ngõ ngách cực kỳ tinh vi trên con đường phấn đấu làm quan tham. Tác giả Phạm Gia Khánh là một người dân của thành phố Thượng Hải sôi động bậc nhất, từng làm nhiều công việc như nghiên cứu khoa học, giáo viên, kinh doanh và truyền thông. Ông đã viết nhiều sách về các lĩnh vực đó và có thể coi Ôsin nhà bộ trưởng là cách dùng văn học để tổng hợp kinh nghiệm về cuộc sống của ông. Không có ngôn ngữ văn chương độc đáo hay kết cấu mới lạ, nhưng cuốn sách ngồn ngộn chất hiện thực và lôi cuốn trong từng chi tiết. Ôsin nhà bộ trưởng khá tiêu biểu cho văn học đương đại Trung Quốc, đặt ra nhiều vấn đề về con người và xã hội thời đổi mới, đồng thời là một tiểu thuyết giải trí đáng đọc. *** Cùng Hoa năm nay hai mươi tuổi. Cùng Hoa sinh ra trên mảnh đất nghèo cằn cỗi sát biên cương. Đó là khu cách mạng cũ và là khu dân tộc thiểu số, vô cùng nghèo khổ. Quê hương của Cùng Hoa có tới ba phần tư số dân là người dân tộc thiểu số, nhưng tổng kết lại thì đây cũng là điểm nổi bật nhất của khu vực này. Người dân địa phương có một bài vè vui là: “Giao thông bằng hai chân, trị an bằng con chó, thông tin bằng đường miệng, vui chơi bằng đôi tay”. Mẹ Cùng Hoa qua đời từ rất sớm, trong nhà chỉ có cha của Cùng Hoa là Ngô Giải Phóng và năm chị em gái sàn sàn tuổi nhau. Ngô Giải Phóng đặt cho năm cô con gái của mình năm cái tên rất dễ nghe: Kim Hoa, Ngân Hoa, Đào Hoa, Mai Hoa, Cùng Hoa. Ngô Giải Phóng đặt tên hai cô con gái đầu là Kim Hoa và Ngân Hoa là vì nhà nghèo quá, sợ nghèo nên phải đặt tên có vàng có bạc, nhưng mấy cô con gái sau liên tục ra đời, nếu cứ đặt theo thứ tự là Kim, Ngân, Đồng, Thiết, Tích, không những càng ngày càng không đáng tiền mà cũng không hợp lắm với tên con gái. Ngô Giải Phóng vốn lanh lợi, lại nghĩ ra cách đặt tên khác. Cô con gái thứ ba sinh vào mùa xuân nên đặt là Đào Hoa, cô con gái thứ tư sinh vào mùa đông nên đặt là Mai Hoa. Cô con gái thứ năm của Ngô Giải Phóng có tên là Cùng Hoa lại là vì một nguyên nhân khác. Vợ Ngô Giải Phóng năm lần sinh con đều sinh ở nhà, trừ lần sinh Kim Hoa và Ngân Hoa có mời bà đỡ tới giúp, những cô con gái sau này đều tự đỡ vì không muốn tốn tiền. Thứ nhất là vì bà sinh con đã quen, thứ hai là thai của bà nhỏ, không lớn như những đứa trẻ nhà thành phố nên lúc sinh cũng không tốn mấy sức. Do đó lúc sinh Đào Hoa và Mai Hoa, bà đều sinh ở nhà, hơn nữa hai lần sinh con đều rất thuận lợi. Nhưng lúc sinh Cùng Hoa, bà lại gặp trục trặc. Không biết vì giấy vệ sinh không sạch, hay vì kéo cắt rốn không được khử trùng triệt để nên bị băng huyết sau khi sinh. Vì chút tiền ít ỏi có trong nhà khiến họ không đủ dũng khí đi tới bệnh viện nên Ngô Giải Phóng đành để vợ nằm nhà vài ngày rồi tính sau, tới lúc thấy vợ sắp không trụ được nữa, Ngô Giải Phóng mới vội vã tìm người khiêng vợ tới trạm y tế xã. Bác sĩ xem xét bệnh tình xong nói, điều kiện của trạm y tế quá sơ sài, thuốc men cũng không đủ nên phải lập tức đưa tới bệnh viện lớn xem thế nào, nhưng người bệnh đã bệnh tới mức này rồi mới đem đi chữa chỉ sợ bệnh viện lớn cũng phải trả về. Ở trạm y tế về được một ngày, vợ Ngô Giải Phóng đã nhắm mắt xuôi tay. Ngô Giải Phóng làm hậu sự cho vợ xong, nhìn mấy đứa con gái mất mẹ chen chúc đứng trước mặt, không biết sau này phải sống như thế nào. Chỉ mười ngày sau, Ngô Giải Phóng đã như già đi mười tuổi. Do vợ mất vì sinh con, nên ông gọi cô con gái cuối cùng không có mẹ là Cùng Hoa. Những ngày tháng sau này của Ngô Giải Phóng không còn niềm vui hay nỗi buồn. Ngày nào ông cũng nhìn thấy mặt trời mọc lên ở đằng đông và lặn xuống ở đằng tây, cứ như vậy suốt hai mươi năm trời. Cùng Hoa lớn lên ở cái thôn núi ấy bằng ăn gạo cứu tế của nhà nước, mặc quần áo quyên góp của người thành phố suốt hai mươi năm ròng. ... Mời các bạn đón đọc Ôsin Nhà Bộ Trưởng của tác giả Phạm Gia Khánh.
Núi Thần
Nếu như Buddenbrooks là ngôi sao tỏa sáng trong sự nghiệp của Thomas Mann, hay Chết ở Venice là một cuốn tiểu thuyết ngắn nhưng vô cùng hoàn hảo của ông, thì Núi thần lại là kiệt tác thể hiện những tư tưởng lớn lao của nhà văn cũng như những đối lập trong nền văn hóa châu Âu. Lấy bối cảnh là một viện điều dưỡng trên vùng núi cao ở Thụy Sĩ trong những năm trước Thế chiến thứ nhất, Núi thần là bản tổng hòa của một tác phẩm kinh điển trường phái hiện đại, một bildungsroman (tiểu thuyết triết lý) truyền thống, màn kịch đầy đủ những tính cách, và bức tranh về giới tư sản châu Âu đầu thế kỷ 20. Người ta có thể thấy trong Núi thần tư tưởng của chủ nghĩa nhân văn và những tư tưởng cấp tiến, tình yêu và trách nhiệm.  Núi thần còn là cuốn tiểu thuyết về bệnh tật, không chỉ là bệnh tật trong cơ thể mà còn là bệnh tật trong tâm hồn. Và nơi bệnh tật ngự trị cũng là triệu chứng của sự suy thoái của chủ nghĩa tư bản và giới tư sản Âu châu. Ở một cấp độ cao hơn, Núi thần cũng đặt ra câu hỏi về bản chất của thời gian, thời gian là phương tiện và được phản ánh qua trải nghiệm của nhân vật chính, chàng kỹ sư trẻ tuổi Hans Castorp. Núi thần là cuốn sách đầy sự thông thái với ngòi bút tả thực mỉa mai, đập nhịp cùng sự sống giữa cái chết u ám. *** Paul Thomas Mann (1875 - 1955) là nhà văn Đức đoạt giải Nobel Văn học năm 1929 và Giải Goethe năm 1949. Ông được coi là nhà văn lớn nhất của Đức thế kỷ 20. Thomas Mann là nhà văn có tư tưởng nhân đạo. Ông tập trung miêu tả quá trình suy sụp của giai cấp tư sản với một ngòi bút hiện thực, mỉa mai, chú trọng phân tích tâm lý. Văn của Thomas Mann chính xác, từ ngữ gọt giũa kỹ lưỡng, đòi hỏi người đọc phải tập trung suy nghĩ; ông sử dụng nhiều kiến thức về triết học, tôn giáo, lịch sử, văn hóa, nghệ thuật, y học, xã hội học, phân tâm học. Năm 1913, cuốn tiểu thuyết ngắn Der Tog in Venedig (Chết ở Venice) được xuất bản, cùng với Tonio Kroger được coi là những tác phẩm xuất sẳc nhất thuộc thể loại này. Thế chiến thứ nhất đã đẩy nhà văn vào một cuộc khủng hoảng tinh thần trầm trọng, ông viết tập ký 600 trang Betrachtungen eines Unpolitischen (Những suy ngẫm ngoài chính trị, 1918) trong thời gian này. Sau chiến tranh ông trở lại với văn học nghệ thuật, hoàn thành một trong những đỉnh cao sáng tác của minh là Der Zauberberg (Núi thần, 1924). Năm 1929, ông được nhận giải Nobel, chủ yếu vì bộ tiểu thuyết vĩ đại Buddenbrooks - Verfall einer Familie.  Từ những năm 1930, Thomas Mann tích cực tham gia các hoạt động chính tri chống chủ nghĩa phát xít; dưới thời Đức quốc xã sách của ông bị cấm và bị đốt ở Đức, ông bị tước quốc tịch Đức (1936), phải sống lưu vong. Năm 1938 ông sang Mỹ và trở thành công dân Mỹ (1944). Sau chiến tranh ông về thăm cả Đông và Tây Đức, được đón tiếp long trọng nhưng ông không ở lại Đức mà sang định cư ở Zurich (Thụy Sỹ) cho đến khi mất. Ngoài giải Nobel, ông được cả Đông và Tây Đức trao tặng giải thưởng Goethe năm 1949; ông cũng được Đại học Oxford và Đại học Cambridge trao bằng danh dự. *** Khi tới nhà điều dưỡng để thăm anh họ của mình, kỹ sư Hans Castorp không biết trước rằng, thay vì ở đó một vài tuần như dự định, anh sẽ ở lại nhiều năm, suốt chiều dài cuốn tiểu thuyết dày ngàn trang của Thomas Mann. Với những người bạn Âu châu mà tôi trở nên đủ thân thiết để hỏi: cuốn tiểu thuyết nào là cuốn bạn thích nhất, câu trả lời “Núi thần” xuất hiện với một tần suất lớn đáng ngạc nhiên. Tôi thử tự lý giải như thế này: Các nhân vật chính hay phụ trong sách: từ Hans Castorp người đi tìm kiếm ý nghĩa cuộc đời trong khu điều dưỡng cho những người lao phổi, Joachim Ziemßen người anh họ ốm yếu nhưng chỉ có một hoài bão là được ra trận, bà Chauchat người phụ nữ mà Hans Castorp yêu trong tâm tưởng và ghen tuông, bác sĩ trưởng Behrens, nhà hiền triết Settembrini cho đến ông Pepperkorn, chồng của bà Chauchat người chỉ xuất hiện vào nửa cuối của truyện, đều là những nhân vật vô cùng đặc sắc. Đây là một cuốn sách đậm đặc phong vị của châu Âu, đầy sự lịch lãm và hài hước, những gì mà người châu Âu coi là sự biểu đạt của văn hóa. Nhưng cái quan trọng nhất có lẽ lại là cái khác. Đó là thái độ của Hans đối với một cuộc sống tù túng và vô nghĩa, cuộc sống của người bệnh nằm dài ngoài ban công của tòa nhà điều dưỡng, mình cuộn trong tấm chăn mỏng dệt từ lông lạc đà, miệng ngậm hàn thử biểu, nằm để chờ đợi một cái gì khủng khiếp xảy ra, có thể là cái chết, có thể là chiến tranh. Cả chiến tranh và cái chết sẽ đều tới thật. Tiếp nhận cuộc sống như một tấn bi kịch tàn độc và vô nghĩa, với một nụ cười tủm tỉm là lựa chọn của Hans, có lẽ của Thomas Mann và của nhiều người trong số chúng ta. Ngô Bảo Châu *** CÁNH CỬA MỞ RỘNG   Tủ sách hợp tác giữa nhà toán học Ngô Bảo Châu, nhà văn Phan Việt với Nhà xuất bản Trẻ   Tủ sách CÁNH CỬA MỞ RỘNG được thực hiện nhằm mục đích giới thiệu những đầu sách có giá trị của thế giới và trong nước đến bạn đọc Việt Nam, đặc biệt là bạn đọc trẻ, góp phần thúc đẩy việc đọc sách, tinh thần hiếu học, coi trọng tri thức và những giá trị sống. Các tựa sách trong tủ do nhà toán học Ngô Bảo Châu và nhà văn Phan Việt tuyển chọn và giới thiệu. Tủ sách được phân thành ba mảng: văn học, khoa học xã hội – kinh tế, và khoa học tự nhiên; trước mắt cấu tạo tủ sách gồm 80% các sách có khả năng tiếp cận đông đảo bạn đọc và 20% cho các sách chuyên ngành. *** Câu chuyện của Hans Castorp mà chúng tôi dự định kể hầu quý vị - không phải kể về bản thân chàng ta (vì quý độc giả sẽ gặp ở đây một chàng trai trẻ rất đỗi bình thường, mặc dù cũng không kém phần đáng mến), mà kể về câu chuyện theo thiển ý của chúng tôi rất đáng lưu truyền (có lẽ cũng nên vì Hans Castorp xin lưu ý quý vị rằng đây là câu chuyện của chàng ta, và không phải bất kỳ ai cũng có được một câu chuyện để kể): một câu chuyện xảy ra đã lâu lắm rồi, có thể nói rằng những lớp rỉ sét lịch sử đã phủ đầy lên đó, và vì vậy phải được kể bằng thời quá khứ xa xưa nhất. Điều này chẳng phải là một điểm bất lợi cho câu chuyện, đúng ra phải coi đó là lợi điểm; vì đã là chuyện kể thì phải xưa cũ chứ, và có thể nói không ngoa rằng chuyện càng lùi xa vào dĩ vãng lại càng hấp dẫn, càng có lợi cho bản thân câu chuyện lẫn cho người kể chuyện, kẻ rì rầm đọc thần chú gợi lên một thời quá khứ chưa khép lại. Tuy nhiên đối với câu chuyện này, cũng như giờ đây đối với mọi người và dĩ nhiên trong số họ bao gồm cả những người kể chuyện, phải hiểu rằng: nó già cỗi hơn rất nhiều so với tuổi của mình, sự già nua tuổi tác không thể tính bằng ngày bằng tháng, không thể tính bằng những vòng quay của trái đất quanh mặt trời; nói một cách ngắn gọn: mức độ xa xưa của nó đúng ra không được đo bởi thời gian - một nhận định kín đáo ám chỉ và lưu ý ta về tính khả nghi và bản chất tráo trở của cái yếu tố bí hiểm tên gọi thời gian. Để cho sự việc không bị bao phủ dưới bức màn thiếu tự nhiên, xin được giải thích: tính cổ xưa của câu chuyện này bắt nguồn ở chỗ, chuyện xảy ra trước một ranh giới đồng thời là bước ngoặt lịch sử, một vực thẳm xẻ ra trống hoác trong cuộc sống và trong tiềm thức… Chuyện xảy ra, hay, để tránh dùng thời hiện tại một cách có dụng ý, chuyện đã xảy ra và đã từng xảy ra khi ấy, trước kia, vào những ngày xa xưa, trong một thế giới đứng trước cuộc chiến tranh lớn mở đầu cho biết bao nhiêu sự kiện, và sự mở đầu này cho đến nay vẫn còn chưa kết thúc. Vậy là câu chuyện này đã xảy ra trước đó, mặc dù trước đó chẳng bao lâu. Nhưng phải chăng tính xưa cũ của một câu chuyện càng sâu đậm, trọn vẹn và thần thoại khi diễn biến của nó càng xích lại gần thời điểm “trước đó”, trước cái mốc lịch sử kia? Như vậy thì rất có thể câu chuyện của chúng ta, với nội dung của nó, cũng có chút hơi hướng liên quan với thần thoại. ... Mời các bạn đón đọc Núi Thần của tác giả Thomas Mann.