Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Hòm Thư Số 110

Tình yêu của anh nhón chân rón rén bước "Em đã bước vào vườn hoa của anh rồi nhỉ. Dù chưa được cho phép." Ở độ tuổi 30, bận bịu trong nhịp sống thường ngày quen thuộc khiến Jin Sol lẳng lặng đem cất những rung động tình yêu xa xỉ vào góc sâu trái tim. Mục tiêu cô đề ra là “Đừng để lòng vướng bận”. Song lẽ dĩ nhiên, trời chẳng chiều lòng người, đợt cải tổ nhân sự định kỳ của đài phát thanh đã mang đến cho cô một cộng sự khó nhằn - một nhà sản xuất chương trình còn sáng tác cả thơ. Để đối phó với anh ta, dường như mọi sự phòng bị là không đủ, hoặc chỉ một cốc smoothie đã đủ… Viết về những con người gần gũi trong cuộc đời bình dị, những người lớn dù đã khoác lên mình lớp vỏ trưởng thành song vẫn còn vô số khuyết điểm cũng như nhược điểm, ngày ngày vẫn đối mặt với nỗi cô đơn trong chừng mực cho phép, đây là câu chuyện “thử yêu thêm lần nữa” của họ, của bạn và của tôi. *** [Review nhè nhẹ] Hòm thư số 110 – Yi Do Woo “Bạn biết bạn đã đọc một cuốn sách hay, khi giở đến trang cuối cùng và cảm nhận như mình vừa mất đi một người bạn.” (Paul Sweeny) Thú thật thì mình là người yêu thích văn học (tiểu thuyết) Hàn Quốc nên khi cuốn sách vừa xuất bản là lao ngay tới quầy sách Nhã Nam để đón “Hòm thư số 110” về. Không nhiều hy vọng về một câu chuyện tình yêu phải có những tình tiết nhân văn hay đưa lại một ký ức thật đặc biệt, mình đón nhận cuốn sách với tâm thế đọc để “giao lưu học hỏi”. Thế rồi ba ngày trôi qua, chỉ rời cuốn sách khi nấu cơm, ăn cơm, vệ sinh cá nhân, đi ngủ, làm việc, mình đã bị “đốn gục” bởi cái sự bình dị mà không tầm thường của “Hòm thư số 110”.  Câu chuyện kể về tình yêu đầy tự nhiên của những con người nhỏ sống ở Seoul. Là cái cách nữ biên kịch Jin Sol từng bước một thoát khỏi cuộc sống nội tâm đầy cô đơn của mình, để bước ra với thế giới bên ngoài và “nhảy” vào tình yêu với vị PD Lee Geon mà cô làm chung. Tình yêu của họ tự nhiên đến độ không có một sự đưa đẩy khiên cưỡng nào làm độc giả lấn cấn hay phản đối. Bầu không khí trong phòng thu, cách họ dạo bước trên cầu Mapo, những cuộc đối thoại trong xe, cảm xúc lúc họ cùng trốn bảo vệ để khám phá cung điện ở Gwanghwamun vào giờ cấm, rồi cùng ngắm sao băng với bạn bè hay uống với nhau vài chén… đều rất trong trẻo và dịu dàng. Ngay cả cái cách miêu tả Jin Sol khi ầng ậc nước mắt, quay người sửa gối vì mất ngủ, khóc òa nơi chân cầu thang thoát hiểm cũng rất mượt mà và làm tim người đọc quặn thắt theo. Là câu chuyện tình yêu của cặp đôi phụ Ae Ri và Seon Woo “chặt không đứt, bứt không rời” cứ như thể họ đã gặp nhiều thật nhiều kiếp, nên ở kiếp này dù có khó khăn thế nào cũng vẫn sẽ tìm thấy nhau, vì nhau mà thay đổi. Vì Seon Woo, cô nàng học giỏi Ae Ri có thể từ bỏ cả việc học hành cao lên, chỉ để cùng nhau làm những việc họ thích đó là mở một quán trà trong con ngõ nhỏ ở Insadong – quán trà “Mở cửa vào ngày mưa”. Vì Seon Woo, Ae Ri có thể mòn mỏi chờ đợi ngay cả khi anh ích kỉ đi du lịch một mình cả tháng trời không liên lạc lại – vào mỗi lần anh thấy u uất trong lòng. Thương Ae Ri, khó chịu với tính cách của Seon Woo, nhưng rồi cứ càng đọc, người ta lại càng hiểu ra thật ra trong lòng Seon Woo luôn có sự tự ti chưa có thuốc giải, và Ae Ri cuối cùng cũng là người “bào chế” thuốc giải đó cho anh. Là hình ảnh người ông của PD Lee Geon với một cuộc sống vui vẻ, hào sảng và luôn thích chuyện trò. Dù xuất hiện không nhiều, nhưng cách mà ông gây cười rồi gây xúc động, cách mà ông xuất hiện dần dần – rõ nét – và tan biến đi lại giống như ánh sáng của con đom đóm - khi đèn điện sáng choang, ta sẽ không chú ý tới chúng, nhưng trong màn đêm thăm thẳm, chúng lại rõ nét và xúc động đến lạ kì. Ngoài những câu chuyện tình yêu đầy tự nhiên và ý nghĩa, “Hòm thư số 110” còn được tác giả viết ra những đoạn văn sinh động như thể đang xem một cảnh phim. Những con chữ lúc thì biến thành chiếc lá bay bay trên đường, khi lại là hạt tuyết rơi trắng xóa, lúc lại là những cơn mưa xối xả, hay vệt sao băng rơi trên bầu trời. Mỗi lần đọc đến đoạn văn mang tới cảm xúc như xem một bộ phim đang hiện hữu là mình lại thầm chắp tay cảm ơn tác giả, dịch giả và biên tập viên. Cuốn sách này đã được mình vừa đọc vừa chép vào sổ tay những đoạn văn, đoạn đối thoại ý nghĩa. Nhưng 2 trong số đó làm mình yêu thích nhất, đó là: 1. “Lát nữa chúng ta sẽ được ngắm những ngôi sao băng rơi từ 150 năm trước sao?” “Những ngôi sao ấy bay hàng vạn năm ánh sáng tới đây mà. Chúng xuất phát từ ba mươi nghìn năm trước tới giờ mới rơi xuống. Đúng là sự tình cờ mất rất nhiều thời gian nhỉ.” 2. “Qua 3 tháng nữa là em đã đi làm được 10 năm rồi. Không hiểu sao em có cảm giác như này. Chắc chắn… bên trong em có một cái giếng, và em đã dùng gàu múc hết số nước trong giếng ra… Giờ chỉ còn trơ đáy giếng mà thôi.” ------- *Bonus 1 chút, tiểu thuyết mới nhất của cô tác giả này đã được đài JTBC chuyển thể thành phim và sẽ phát sóng cuối tháng 2 này với tiêu đề "TRỜI ĐẸP EM SẼ ĐẾN - If the Weather Is Good, I’ll Find You" do Park Min Young và Seo Kang Joon thủ vai chính.* ® Nguyễn Thanh Hương *** Những mạt gỗ mỏng manh rơi từ đầu cây bút chì còn mới nguyên xuống tờ giấy đã dùng một mặt. Jin Sol dùng dao chuốt cho đến khi ruột bút lộ ra, bột chì đen mịn lả tả rơi xuống dính vào mặt giấy. “Vậy tóm lại là PD Lee Geon cũng thuộc phe Daeho à?” Jin Sol vừa áng chừng độ nhọn của ruột chì vừa hững hờ hỏi. Chỉ còn một tuần nữa là đến ngày cải tổ nhân sự mùa thu. Từ sáng sớm phòng biên kịch đã nhốn nháo bàn tán về các chương trình mới cũng như PD được phân công phụ trách. “Nếu phân rạch ròi thì là thuộc phe Daeho chứ còn gì nữa, dù xét về quan hệ đồng môn hay đồng hương anh ta cũng thuộc bên đó thôi, đám người có thế lực ấy!” Biên kịch Kim miệt mài gõ bàn phím máy tính xách tay ngay bên cạnh Jin Sol, từ ban nãy đã liên tục cung cấp thông tin về PD Lee Geon cho Jin Sol. Phía đối diện, biên kịch Choi, người phụ nữ U40 đã lập gia đình đang chăm chú viết bản thảo ôn tồn chen vào cuộc trò chuyện giữa hai người. “Đừng có nói linh tinh. Theo chị anh chàng này, dù sống trong chung cư Daeho đi chăng nữa cũng không thuộc phe Daeho đâu. Đài phát thanh có việc gì còn chưa bao giờ thấy cậu ta ló mặt nữa là. Đây chính là mẫu người chỉ muốn một mình nhẹ thân. Chị từng làm việc với cậu ta nên biết.” Jin Sol thầm nghĩ, những lời này có lẽ đúng bởi kỳ vừa rồi biên kịch Choi đã làm chương trình Nhạc phim đêm cùng với Lee Geon. Đột nhiên bị chọc mạnh vào mạng sườn, Jin Sol lập tức liếc nhanh sang hướng biên kịch Kim vừa chỉ. Ở một góc phòng, biên kịch Song vẫn được đồn là có mối quan hệ thân thiết với hội chung cư Deaho mặt lạnh tanh, tay đặt lên bàn phím ra điều đang làm việc, nhưng kỳ thực tai lại dỏng lên nghe ngóng. Biên kịch Kim lén lè lưỡi còn Jin Sol cười tủm. Jin Sol đặt ngay ngắn chiếc bút chì đã gọt nhọn vào hộp bút rồi lại bắt đầu gọt một cái mới. Những lúc rảnh rỗi hay khi đột nhiên thấy hưng phấn hoặc bồn chồn, cô lại có thói quen lôi vài cây bút chì ra gọt. Jin Sol thích ngắm những mạt gỗ mỏng manh rơi xuống khỏi mũi dao và ruột chì đen lộ dần ra nơi đầu bút. Dù bao năm trôi qua, cô vẫn say đắm hương gỗ phảng phất mỗi khi gọt bút chì, mùi hương vẫn vẹn nguyên như thời cô còn ấu thơ. Kể từ năm cuối đại học đến giờ, đã tròn chín năm cô đặt chân đến đài phát thanh, đảm nhận chân viết kịch bản quèn. Sau khoảng hai năm làm trợ lý biên kịch, phụ trách vài phần kịch bản dưới sự hướng dẫn của các tiền bối, cô đã được mang danh biên kịch đúng nghĩa và tự viết chương trình của riêng mình. Sau khi làm việc tại vài đài phát thanh, ba năm trước, cô bắt đầu chuyển về công tác tại FM Radio có trụ sở đặt ở quận Mapo. Jin Sol không thuộc típ người quá hoạt bát năng nổ hay hòa đồng quảng giao nên ngoại trừ những người làm việc chung, cô chỉ duy trì mối quan hệ xã giao với người khác ở mức nếu gặp thì khẽ cúi đầu chào mà thôi. Cô vô thức thở dài khiến đống mạt gỗ nằm trên mặt giấy bay lên nhè nhẹ rồi lại rơi xuống. Trong vòng một năm rưỡi qua, cô đã đảm nhận công việc viết kịch bản cho hai chương trình phát thanh: Chiếc xe ngựa hoa chuyên gửi tặng các ca khúc truyền thống và Studio hạnh phúc dành cho phái đẹp. Không hiếm trường họp các PD đảm nhận một chương trình trong suốt vài năm trời nên cũng có khi biên kịch phải gắn bó với chương trình đến ba kỳ liên tiếp. Tuy nhiên, trong đợt cải tổ nhân sự lần này, giám đốc đài cho rằng chương trình Chiếc xe ngựa hoa đang trong giai đoạn cần phải đổi mới. Tức là sẽ được chuyển giao cho PD Lee Geon 33 tuổi mới vào công ty được năm năm phụ trách. Với một người mắc bệnh sợ người lạ nặng như Jin Sol, việc phải hòa hợp với cộng sự mới quả có chút đáng ngại. “Gong Jin Sol, giờ cô đã là bậc thầy trong lĩnh vực gọt bút chì rồi đấy.” Biên kịch Kim nửa xuýt xoa nửa trêu chọc khi nhìn thấy đầu bút chì xinh xắn Jin Sol vừa gọt. “Đúng thế. Em đắc đạo rồi.” Jin Sol cười khúc khích hưởng ứng. Đột nhiên cửa phòng mở tung, một giọng nói trong trẻo vang lên khiến ánh mắt mọi người đều đổ dồn về phía đó. “Chào mọi người. Lâu lắm rồi không gặp!” Là biên kịch Ahn Hee Yeon, cô gái luôn khiến người đối diện phải chú ý bởi phong cách thời trang nổi bật và ngoại hình tươi sáng, tràn đầy năng lượng. Biên kịch Kim khẽ nghiêng người thầm thì. “Chuyện gì thế này, sao cô ả lại hạ cố đến cái phòng biên kịch xa xôi hẻo lánh này cơ chứ. Trước giờ toàn ngồi cạnh PD một lát rồi đi ngay cơ mà.” Hee Yeon đi thẳng vào phòng biên kịch, tiến đến vị trí gần cửa sổ nơi Jin Sol đang ngồi, duyên dáng ghếch bộ mông xinh đẹp của mình lên bàn làm việc. “Biên kịch Gong, lần này cô làm việc với PD Lee Geon đúng không?” Mái tóc đen dày, óng mượt của Hee Yeon được tết năm sin sít và cột lại bằng dây nơ màu lá phong. Nhìn bím tóc trước mặt, Jin Sol chợt nghĩ, tết năm như vậy thì phải tết theo thứ tự thế nào nhỉ. “Ừ. Có vấn đề gì sao?” “Tôi vừa đi họp về. Chương trình World Music của chúng tôi kỳ này vẫn sẽ tiến hành như thường lệ. Cô biết anh Geon sẽ làm Chiếc xe ngựa hoa và một chương trình khác nữa rồi chứ? Anh ấy dò hỏi tôi xem biên kịch Gong là người như thế nào, đương nhiên tôi đã nói tốt về cô trước mặt anh ấy rồi.” Nói tốt về mình ư? Ahn Hee Yeon lại biết rõ về mình sao? Dù nghi ngờ nhưng Jin Sol vẫn cố nở nụ cười. “Thế à? Cảm ơn cô nhé.” “Tôi nghĩ biên kịch Gong và anh Geon sẽ làm việc ăn ý với nhau thôi. Anh ấy vốn rất thông minh.” Jin Sol gượng cười, lẳng lặng lấy cây bút chì thứ ba và chỉ gật đầu. Anh Geon cơ đấy. Cho đến tận giờ, cô nàng Ahn Hee Yeon 28 tuổi này chưa từng gọi bất cứ ai trong số các biên kịch ở đài phát thanh bằng chị hay tiền bối. Cả với Jin Sol năm nay đã 31 tuổi hay với những người lớn tuổi hơn nữa, Hee Yeon cũng chỉ gọi trống không là “biên kịch X” để tạo cảm giác ngang hàng. Trước thái độ dửng dưng của Jin Sol, Hee Yeon lén nhìn cô một lượt từ đầu đến chân. Gong Jin Sol dáng người nhỏ bé, đang chăm chú nhìn xuống đầu ngón tay lẳng lặng gọt bút chì. Nghe bảo cô ta viết bản thảo rất chắc tay, lại được các PD đánh giá rất cao? Nhưng theo Hee Yeon thấy, Jin Sol chỉ là một phụ nữ hết sức bình thường, không giỏi xã giao, không có tham vọng, cả chí tiến thủ cũng không nốt. “Cô có biết PD Lee Geon là nhà thơ không?” “Gì cơ?” Suýt chút nữa thì bị dao cứa vào tay. Jin Sol khựng lại, ngước lên nhìn Hee Yeon như thể vừa nghe thấy điều không nên nghe. Cô há hốc miệng vì ngạc nhiên. Phải đến lúc này, Hee Yeon mới mỉm cười tươi tắn. “Cô không biết sao? Cách đây mấy năm, PD Lee Geon còn ra một tập thơ. Viết hay lắm.” Vẻ mặc cảm thoáng hiện lên trên gương mặt Jin Sol, cô khẽ thở dài. “… Chết tiệt.” Hee Yeon nở nụ cười thỏa mãn rồi nhấc mông khỏi bàn. “Tôi phải đi trước đây, còn phải đến Yeouido nữa. À, cô có xem chương trình tôi viết kịch bản không? 12 giờ đêm thứ Năm hằng tuần nha. Mong cô giúp tăng tỉ suất người xem một chút nha. Hẹn gặp lại mọi người sau.” Hee Yeon rạng rỡ vẫy tay chào tạm biệt tất cả mọi người trong phòng rồi bỏ đi. Biên kịch Song ngồi ở phía cửa ra vào cười khẩy như thể vừa nghe một chuyện thật hoang đường. Ngoài chương trình World Music,Hee Yeon còn đảm nhận cả kịch bản Jazz Concert và cô nàng chưa bao giờ ngừng khoe khoang về việc này. Jin Sol nhìn biên kịch Choi ngồi phía đối diện với vẻ mặt oán trách. “Tiền bối, sao chị không nói với em?” “Chuyện PD Geon là nhà thơ á? Cái đó có gì quan trọng đâu cơ chứ?” Biên kịch Choi đưa tay đẩy lại gọng kính trên sống mũi rồi rời mắt khởi màn hình máy tính, ngước lên nhìn Jin Sol. Ở đài phát thanh có rất nhiều nhà sản xuất họ Lee nên Lee Geon thường được các đồng nghiệp gọi là PD Geon. “Với em thì có đấy. Chị biết trước đây em từng khổ sở như thế nào với tay phê bình âm nhạc kia còn gì?” “Em cứ thử làm việc với người ta đi đã. Thật tình, PD Geon khó tính trong chuyện bản thảo lắm nhưng cậu ta cũng không phải kiểu người thích gây sự lung tung đâu. Cứ làm việc với tâm trạng thoải mái là được.” “Đâu có dễ vậy ạ.” Jin Sol lẩm bẩm trong miệng nghe như tiếng thở dài. Đoạn, cô bỏ dao và bút chì vào ống đựng bút rồi gói tờ giấy hứng bột chì và mạt gỗ lại. Anh ta mà viết lách giỏi thật thì con đường gian nan lại sắp mở ra trước mắt Jin Sol rồi đây. Jin Sol không thích những PD giỏi viết lách, kiểu làm thơ, viết tiểu thuyết hay phê bình văn học. Đâu phải mình cô nghĩ vậy. Mọi biên kịch đều muốn tránh các PD giỏi viết lách. Vài năm trước, Jin Sol từng làm việc chung với một nhà sản xuất kiêm phê bình âm nhạc mà đến tận bây giờ chỉ cần nhớ đến quãng thời gian đó cô lại lắc đầu nguầy nguậy. Người đó luôn vặn vẹo về các bình luận ca khúc, thậm chí là từng câu chữ diễn đạt của cô. Anh ta thuộc típ người trong một ngày phải sửa được một chỗ theo đúng ý mình mới vừa lòng, cho dù nội dung trước và sau sửa không khác biệt là mấy. Jin Sol nghĩ anh ta cứ sửa theo thói quen vậy thôi. Mời các bạn mượn đọc sách Hòm Thư Số 110 của tác giả Yi Do Woo & Trần Hải Dương (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Thế Gian Này, Nếu Chẳng Còn Mèo
Tôi là một kẻ khá thích thú với văn hóa Nhật, cho nên phim ảnh, âm nhạc hay văn học Nhật Bản tôi tìm hiểu khá nhiều, và trong một lần tình cờ ngồi tìm phim của diễn viên Satoh Takeru, tôi đã biết đến bộ phim với tiêu đề "Thế gian này, nếu chẳng còn mèo". Bộ phim đã khiến tôi cảm thấy thực xúc động và có chút đồng cảm với nội dung đầy tính nhân văn pha chút đau buồn và day dứt. Tôi có thói quen nếu gặp một bộ phim nào thấy ưng ý, và nhiều ý nghĩa thì sẽ ngay lập tức tìm kiếm những câu nói, trích dẫn từ bộ phim đó. Và thật bất ngờ bộ phim này được chuyển thể từ cuốn sách cùng tên. Là một kẻ thích đọc sách, chẳng có lý do gì khiến tôi lại không tìm kiếm và đọc ngay cuốn sách giàu cảm xúc này. "Thế gian này nếu chẳng còn mèo" kể về một anh bưu tá đột nhiên nhận được tin mình bị ung thư và chỉ còn vài ngày để sống. Rồi đột nhiên từ đâu đó xuất hiện một kẻ tự nhận mình là một con quỷ, mang lại cho anh cơ hội để tiếp tục sống. Cứ mỗi ngày, con quỷ yêu cầu anh xóa đi một thứ để đổi lại một ngày sống. Điện thoại, phim ảnh, đồng hồ lần lượt được con quỷ xóa mất khỏi thế giới hiện tại giúp anh chàng có thêm những ngày sống, tận hưởng và tìm ra những điều đẹp đẽ của cuộc sống. Nhưng rồi, khi tới lượt lựa chọn việc cho loài mèo bị biến mất hoặc chính bản thân biến mất anh đã nhận ra rằng cái chết đôi khi không quá đáng sợ, không phải là bất hạnh. Cái chết mang màu sắc ra sao tùy thuộc vào cách ta sống thế nào. Trong chúng ta luôn có những con quỷ khiến chúng ta lựa chọn sai lầm, hành động thiếu suy nghĩ gây ra những hậu quả đáng tiếc. Tuy nhiên chúng ta nên trân trọng những sai lầm mà ta mắc phải, học hỏi bài học từ chúng như cách nhân vật chính đã làm. Anh xóa bỏ điện thoại để nhận ra rằng tình yêu mà anh đã có vốn dĩ chẳng cần tới thứ phương tiện nhỏ bé nằm gọn trong lòng bàn tay. Anh xóa bỏ phim ảnh để hiểu rằng người bạn anh nên trân trọng lúc cuối cùng là ai. Anh xóa bỏ đồng hồ để cuối cùng biết rằng gia đình là nơi bình yên nhất anh có được. Và cuối cùng, thay vì xóa bỏ loài mèo để có thêm một ngày sống, anh quyết định xóa bỏ bản thân để giữ lại những điều quan trọng vốn dĩ được xây dựng bằng tình cảm, cảm xúc. "Chỉ sống thôi thì có ý nghĩa gì? Ý nghĩa nằm ở chỗ mình sống thế nào chứ, đúng không?" Cuộc sống là một chuỗi những biến cố mà chúng ta không thể nào đoán trước được. Hôm nay chúng ta vui, ngày mai chúng ta buồn. Hôm nay chúng ta nghèo đói, ngày mai chúng ta lại trở lên giàu có. Hôm nay chúng ta sống vui vẻ nhưng ngài mai, biết đâu chúng ta ra đi mãi mãi. Nhưng nếu chúng ta sống có ý nghĩa, thì chúng ta sẽ mãi không hối tiếc. *** Chỉ sống thôi thì có ý nghĩa gì? Ý nghĩa nằm ở chỗ mình sống thế nào chứ, đúng không? Chuyện là, đang sống một cuộc đời đều đều ổn định, anh bưu tá nọ phát hiện mình đã ung thư giai đoạn cuối. Ngày mai phải chết. Anh ta liền rơi vào trầm cảm, suy sụp, loạn trí, tự hành hạ...? Không đâu! Lúc biết tin, anh ta hết sức điềm tĩnh. Chỉ ngất đi thôi. Tỉnh dậy thì ác quỷ đã ngồi sẵn bên cạnh, nhưng thay vì tiễn anh ta xuống địa ngục luôn, nó đề nghị một giao dịch: Nếu bằng lòng hi sinh một thứ trên đời, anh ta sẽ thêm được một ngày sống. Cứ thế, điện thoại, phim ảnh, đồng hồ... nối đuôi nhau tan vào hư không, đổi lại số ngày sống tương ứng cho anh bưu tá. Rồi một ngày nọ, đến lượt loài mèo được đưa vào danh sách biến mất, bao gồm cả con mèo yêu dấu của anh ta... Và đây là lúc phải lựa chọn. Trên đời, có quá nhiều thứ lặng lẽ tồn tại xung quanh, nhưng dường như ta không hề để tâm đến hoặc nghĩ rằng có cũng được, không cũng chẳng sao. Để rồi lúc mất đi mới nhận ra được tầm quan trọng của chúng đối với đời mình. Khi đồng ý xóa bỏ những thứ mà ác quỷ đã lựa chọn, mối liên hệ giữa anh bưu tá với gia đình, người yêu, bạn bè, đồng nghiệp… cũng biến mất. Thế chỗ chúng, những kỉ niệm quý giá, hồi ức về hạnh phúc và mất mát, những hiểu lầm, những lỡ làng lũ lượt quay về thức tỉnh trong anh. Sống ngắn ngủi mà đầy ắp yêu thương và chấp nhận cả đớn đau, đầy ắp thành công mà chịu đựng cả thất bại… hay là sống vĩnh hằng, không hề vấp ngã nhưng quá khứ trắng tinh, hiện tại trơ lì và tương lai trống rỗng? Đây đúng là lúc thực sự phải lựa chọn. *** Nếu thế gian này bỗng chẳng còn mèo, thì nó sẽ đổi thay thế nào, cuộc đời tôi thay đổi ra sao? Nếu thế gian này bỗng chẳng còn tôi, thì nó vẫn bất biến, vẫn đón ngày mai như mọi hôm?   Có thể bạn nghĩ, tưởng tượng vớ vẩn, nhưng tôi vẫn muốn bạn tin. Bởi vì những điều tôi sắp viết, chính là trải nghiệm của tôi suốt bảy ngày qua. Bảy ngày kỳ lạ.   Chẳng bao lâu nữa, tôi sẽ rời bỏ cõi trần.   Tại sao lại nói như vậy? Tôi sắp trình bày lý do ngay đây. Chắc hẳn sẽ là một lá thư dài, nhưng mong bạn đọc cho đến hết.   Đây là lá thư đầu tiên, cũng là cuối cùng, tôi gửi tới bạn. Đây là di thư của tôi.   *** Thứ Hai Ác quỷ đến   Danh sách những việc muốn làm trước khi chết của tôi không tới mười mục. Trong một bộ phim tôi xem ngày xưa, nữ chính đã lập ra danh sách mười điều muốn làm trước khi chết. Nghe rõ xàm xí! Thật ra dùng từ “xàm xí” không chính xác mấy, nhưng chí ít những điều liệt kê trong danh sách ấy cũng chẳng phải việc ghê gớm gì. Hả, tại sao tôi lại nghĩ vậy ư? Phải nói thế nào nhỉ? Kể cũng hơi xấu hổ, nhưng tôi muốn thử lập danh sách mười điều ấy một lần.   Chuyện xảy ra bảy ngày trước. Tôi ốm suốt một thời gian dài nhưng hằng ngày vẫn cần mẫn với công việc của một bưu tá. Cơn sốt chẳng hề dứt, nửa đầu bên phải cứ ong ong. Thuốc bán ngoài hiệu như lừa đảo. Các bạn biết đấy, tôi cực ghét bác sĩ. Nhưng sau hai tuần bệnh tình không thuyên giảm, tôi quyết định tới bệnh viện. Đến rồi mới biết ấy chẳng phải cảm cúm thông thường.   Não tôi có một khối u giai đoạn bốn. Đó là kết quả chẩn đoán mà bác sĩ thông báo cho tôi. Thời gian còn lại hên thì nửa năm, xui thì một tuần. Họ đưa ra rất nhiều phương án như xạ trị, sử dụng thuốc chống ung thư, chăm sóc giảm nhẹ, nhưng không một điều nào lọt tai tôi. Hồi nhỏ, mùa hè tôi thường tới bể bơi. Làn nước vừa xanh vừa lạnh, tôi nhảy tùm xuống. Bong bóng ùng ục nổi. Thân thể tôi chìm dần. “Phải khởi động trước khi xuống nước chứ con!” Tiếng nhắc nhở của mẹ vang lên. Qua làn nước, nó trở nên xa xôi khiến tôi không sao nghe rõ. Vậy mà giờ đây, âm thanh đã lãng quên trong ký ức ấy lại vọng về. Cuộc khám bệnh lâu lắc kết thúc. Bác sĩ vừa dứt lời, tôi đã vứt bịch cặp xách xuống sàn, lảo đảo rời phòng khám. Không buồn nghe tiếng gọi giật lại của bác sĩ, tôi gào lên thật to rồi lao ra khỏi bệnh viện. Tôi va vào người đi đường, ngã bổ chừng xong lại chồm dậy, tay chân quýnh quíu bỏ chạy. Tôi cứ chạy, chạy mãi đến chân cầu thì không chạy nổi nữa, phủ phục xuống đất khóc rống lên… Bốc phét đấy! Những lúc thế này, con người ta lại bình tĩnh đến lạ lùng.   Lúc ấy, đầu óc tôi nhớ ngay tới cái thẻ tích điểm của tiệm mát xa gần nhà, chỉ còn một dấu nữa thôi là sẽ được tặng một coupon miễn phí, nhớ cả chuyện mình vừa mua một lố giấy vệ sinh và bột giặt. Đấy, toàn những chuyện vớ vẩn như thế thôi.   Nhưng rồi nỗi buồn từ từ lan tỏa trong tôi. Tôi mới 30 tuổi, ừ thì đúng là sống lâu hơn Jimi Hendrix và Basquiat thật, nhưng tôi vẫn có cảm giác còn nhiều việc tôi chưa làm, những cống hiến cho thế gian mà chỉ mình tôi đảm đương được. Nhất định có những việc như thế. Nhưng rốt cuộc tôi chẳng nghĩ ra là việc gì, chỉ lững thững bước đi, đến nhà ga thì bắt gặp hai thanh niên đang ôm ghi ta thùng gân cổ hát. Rồi một ngày kia đời người chăm dứt, Trước khi thời khắc ấy đến, Hãy làm những việc mình muốn, làm đi, làm cho kỳ hết Rồi chào đón ngày mai. Lũ ngốc! Trí tưởng tượng nghèo nàn đến thế là cùng. Cứ bám lấy cửa ga mà hát hò cả đời đi. Tôi bỗng tức tối không biết làm sao cho thỏa, thành ra đứng đấy khá lâu mới chậm rãi mò về nhà. Tôi leo lên bậc cầu thang cũ kĩ kêu cót két. Lúc mở cánh cửa ọp ẹp, nhìn thấy căn hộ chật hẹp, cuối cùng tôi cũng bị nhấn chìm trong cơn tuyệt vọng. Đúng theo nghĩa đen của cụm từ “trước mắt tối sầm”, tôi ngất lịm đi.   Cứ thế chẳng biết lâu hay chóng, tôi tỉnh dậy ở tiền sảnh. Một cục tròn vo đan xen ba màu trắng, đen, xám xuất hiện trước mắt tôi. Cục tròn ấy kêu “meo” một tiếng, ra là con mèo. Con mèo yêu của tôi đấy. Chúng tôi sống cùng nhau đã bốn năm rồi. Con mèo lại gần tôi. Nó “meo” một tiếng đây lo lắng. Tạm thời mình chưa chết. Tôi cử động thân thể. Cơn sốt vẫn chưa tan, đầu đau như búa bổ. Cái chết cứ như hiển hiện trước mắt. “Xin chào!” Giọng nói tươi vui thái quá từ trong nhà vọng ra. Tôi thử ngó vào, liền thấy mình ở đó. Không, tôi đang đứng đây kia mà! Nói đúng ra là một người khác có nhân dạng giống tôi ở đó. Tôi nghĩ ngay đến “doppelganger1”. Từ ấy được viết trong một cuốn sách tôi đọc dạo trước. Một bản ngã khác xuất hiện lúc mình sắp chết. Rốt cuộc đầu tôi đang bị ảo giác hay người ta đến đón tôi đi thật? Dù sắp ngất đến nơi nhưng bằng cách nào đó tôi vẫn trụ lại. Và giờ đây tôi quyết định thẳng thắn đối mặt với tình huống này. Mời các bạn đón đọc Thế Gian Này, Nếu Chẳng Còn Mèo của tác giả Genki Kawamura.
Bánh Mì Cô Đơn
Cuốn tiểu thuyết Bánh Mì Cô Đơn của tác giả Judith Ryan Hendricks viết về những thân phận phụ nữ hết sức đời thương. Là Wyn Morrison, biết rất nhiều nhưng không rõ mình muốn gì? Là Christine Mayle, yêu sàn diễn đến cháy bỏng, nhưng không dễ gì tìm được người đàn ông của đời mình. Là người mẹ hoàn hảo của Wyn, sau nhiều năm trời im lặng đã mở ra những tâm sự chân thành cùng con gái. Là những phụ nữ vừa bình dị vừa độc đáo ở hiệu bánh Quen Srteet. Tất cả ít nhiều đã giúp Wyn nhìn lại chính mình sau khi mải sống cuộc đời nhung lụa của một cô vợ được cưới về chỉ cốt để làm sang cho chồng. Và rồi Wyn nhận ra rằng thứ công việc cầm cự mưu sinh ở tiệm bánh mì đã an ủi lòng cô một cách kỳ diệu và bất ngờ giúp cô một lần nữa hiểu được rằng chẳng có gì giống như trước nữa... Bánh mì nở ra, những nỗi đau dịu lại, trái tim được hàn gắn, và cánh cửa tương lai hé mở. *** Có thứ nữ tính ngọt ngào như mật ong sánh lăn trên lát bánh mì phết bơ, có thứ nữ tính nồng nàn như cà phê ấm sực một góc mùa đông, lại có thứ nữ tính vụng về đáng mến trong những tâm sự khù khờ, và cũng có thứ nữ tính ram rám mà cảm động đến thắt lòng. “Bánh mì cô đơn” là bản dịch đã theo tôi trong hai năm, qua năm thành phố, ba đất nước, hai châu lục, với rất nhiều khắc khoải của cuộc sống và nỗi cô đơn của chính tôi. Với bản thân, tôi coi đây là cuốn sách cho tuổi tam thập nhi lập, và cho phần cứng rắn quyết liệt gàn dở bên trong đội lốt ẻo lả nhõng nhẽo mau nước mắt bên ngoài của mình. Là người dịch, phần nào có nghĩa là phải bắt được thần thái của nhân vật và khiến nhân vật hiện lên sống động và sắc nét bằng từ ngữ. (Trừ trường hợp các nhân vật vốn nhạt nhòa ngay từ trong nguyên tác). Dù chủ ý nhận dịch tác phẩm ở những thể loại khác nhau, tôi vẫn coi mình là một kẻ học việc, tìm cách mở rộng “vùng dễ chịu” của mình để đến với những tác phẩm, những nhân vật lạ lùng hơn, gai góc hơn, khác với bản thân tôi hơn. “Bánh mì cô đơn” là một ca từa tựa như vậy, với dàn nhân vật nữ mỗi người một vẻ, từ mơ màng đa đoan, cá tính quyết liệt, trầm tư giản dị, đến nanh nọc cục súc, và nhẫn nại một cách đầy ích kỷ. Có thứ nữ tính ngọt ngào như mật ong sánh lăn trên lát bánh mì phết bơ, có thứ nữ tính nồng nàn như cà phê ấm sực một góc mùa đông, lại có thứ nữ tính vụng về đáng mến trong những tâm sự khù khờ, và cũng có thứ nữ tính ram rám mà cảm động đến thắt lòng. Nguyên tác là của tác giả, nhưng tôi tìm thấy những mặt khác nhau của mình trong từng nhân vật, và bản dịch có một phần của tôi trong đó… *** TIẾNG THIẾT BỊ BÁO CHÁY bíp bíp đánh thức tôi dậy. Gượm đã. Thiết bị báo cháy bình thường rít lên chứ có bíp bíp thế này đâu. Tôi ngồi dậy, thấy căn phòng đang chao đảo, mọi thứ méo đi như hình ảnh trong gương nhà cười. Tiếng đồng hồ báo thức chăng? Tôi quay đầu quá nhanh. Đau buốt như một kiểu tra tấn cổ xưa của người da đỏ bộ tộc Apache vậy. Những dải da mới lột còn ướt, được bó chặt lại, kệ cho khô. Tôi thả chân xuống qua mép giường, chớp hai mí mắt sưng húp. Khoang miệng khô nghẹt như tấm lưới chắn bụi vải trong máy sấy quần áo. Tôi vẫn đang mặc chân váy lót và áo sơ-mi lụa màu ngà từ tối hôm qua. Đồng hồ đeo tay trượt đi, lằn một rãnh sâu lên cánh tay tôi: 6:45 phút sáng. Một chai Puligny-Montrachet rỗng không trên bàn. Hình như chỉ có rượu rẻ tiền mới làm người uống nhức đầu thôi chứ. Tôi đã làm cái quái gì với chiếc ly nhỉ? Tôi đứng dậy, chân bước loạng choạng. Đi xuống nhà. Từ từ nào. Bám vào tay vịn cầu thang. Vào bếp. Máy làm bánh mì. Sao cái máy bé tí mà kêu to thế? Tiếng bíp bíp phát ra cùng nhịp điệu với mạch đập của tôi. Tôi ấn nút. Cái máy ngừng kêu và nắp bật mở, tỏa ra một đám mây mùi bánh. Tôi quay vội đi và nôn vào bồn rửa. Tôi vặn nước súc miệng, đứng thở và bám vào thành đá lạnh ngắt của mặt bàn bếp. Rồi tôi nhớ ra. David. Tôi nhấc ổ bánh còn ấm ra, đặt trên mặt tấm thớt nặng bằng gỗ phong, một ổ bánh nâu hoàn hảo. • • • Công ty giới thiệu việc làm là một văn phòng bận rộn trong một tòa nhà bằng kính và thép gần sân bay Los Angeles. Các cửa sổ nhìn ra quang cảnh ngoạn mục trên đường cao tốc liên bang 405, mười giờ rưỡi sáng mà xe cộ vẫn nối nhau san sát. Các ứng viên đông kín khu vực chờ - đa phần là phụ nữ trông trẻ hơn tôi chừng chục tuổi, hình như cô nào cũng tên là Heather, Fawn hoặc Tiffany. Nơi này có chút khí thế hừng hực như những căn phòng bàn chiến sự trong các bộ phim về Thế chiến II. Thiếu mỗi ông Winston Churchill là đủ bộ. Chẳng có ai thủng thẳng chuyện gẫu bên đài phun nước. Ai ai cũng lăm lăm điện thoại, bấm bấm bàn phím, hoặc đi phăm phăm ở hành lang, ánh mắt găm thẳng, tránh mọi sự phân tán mất tập trung. Giống hệt như tôi. Ngoại lệ duy nhất là một phụ nữ trẻ ngồi ở bàn phía trước. Khi đã chuốt xong cái móng tay ương bướng bị xước, cô ấy nhìn lên và mỉm cười. - Tôi giúp được gì không? Tôi cố gắng vui vẻ tách mình khỏi guồng quay này. - Tôi có hẹn với chị Lauren lúc mười một giờ. Tôi biết mình đến sớm, nhưng... - Không sao. - Cô ấy đưa tôi một bảng cứng kẹp mấy mẫu giấy tờ. - Chị điền vào cái này, rồi chúng tôi sẽ tiếp tục với phần phỏng vấn và kiểm tra chị. Cô ấy đưa tôi cái bút chì; chỉ dãy ghế bằng sắt và da bọc kê dọc một mảng tường. Còn kiểm tra gì nữa? Nhiêu khê quá. Tôi ngồi xuống ghế; đầu vẫn còn lùng bùng bất kể đã uống hai viên aspirin và một tách đúp cà phê espresso. Giải quyết từng thứ một nào. Tên: “Justine Wynter Franklin”. Có lẽ không nên dùng tên sau khi đã kết hôn. Tôi cố gắng xóa chữ “Franklin” đi, nhưng cục tẩy vừa cũ vừa bở, càng tẩy càng lem nhem. Tôi gạch đi, viết chữ “Morrison” đè lên. Bây giờ trông có vẻ như tôi không chắc chắn. Địa chỉ. Số điện thoại. Tôi điền được dễ dàng. Ngày sinh. Số an sinh xã hội. Loại công việc mong muốn. Có lẽ viết “Không biết” thì không hay lắm. Tôi điền “Việc văn phòng”. Chung chung quá ư? Kỹ năng. Tôi nhìn chằm chằm vào khoảng trống trên giấy. Nó như đang doãng ra, thách tôi có dám điền vào hay không. Thực ra tôi vẫn có thể ngâm Ballade des pendus, khúc ba-lát cho những kẻ treo cổ của François Villon. Hoặc bàn về ảnh hưởng của Cách mạng Công nghiệp đối với tiểu thuyết Anh. Để xem nào... Tôi nấu được thứ cơm hoàn hảo, không có chút nước đọng nào ở đáy nồi, từng hạt cơm tơi bông nở đều. Tôi biết cách làm hồ tiêu và hạt bách xù để lâu ngày trong tủ bếp dậy mùi trở lại như mới, hoặc đánh mượt sốt crème anglaise bị vón. Nếu cần làm mềm thịt bằng nút bấc chai rượu, hoặc tách sáp nến khỏi khăn trải bàn, cứ việc tìm đến tôi. Từ khoảng cách năm mươi bước chân, tôi có thể phân biệt được khăn quàng chính hãng Hermès với hàng Hàn Quốc nhái. Tôi có cú ve trái cắt mặt sân quần vợt rất mạnh mẽ. Cách đây lâu lẩu lầu lâu rồi, tôi biết đánh máy chữ, nhưng với một tốc độ chẳng có gì đáng khoe cả. Ai đó từng nói rằng giọng tôi trả lời điện thoại nghe rất êm tai. “Trả lời điện thoại chăng?” - Cô Justine Franklin? Giật mình, tôi nhìn lên. - Chào cô, tôi là Lauren Randall. Người phụ nữ đứng trước mặt tôi mỉm cười phô ra hàm răng hoàn hảo. Trông chị ấy có vẻ tự nhiên thoải mái như đang ở nhà mình. Tầm bốn mươi tuổi, đẹp một cách thanh lịch hơn là xinh đẹp, vẫn trên người bộ váy lụa đũi màu be. Mái tóc vàng của chị ấy vẫn gọn phía sau, chặt đến mức trông như cặp lông mày nhướn lên một vẻ ngạc nhiên. Khi tôi đứng lên để bắt bàn tay Lauren đã chìa ra, tấm bảng cứng kẹp giấy tờ trượt rơi xuống sàn. Mặt nóng bừng, tôi vội nhặt nó lên, phớt lờ mọi ánh nhìn, đi theo Lauren dọc hành lang trong khi chị ấy bắt đầu gợi chuyện một cách hết sức bài bản. - Tôi rất mừng được gặp người mặc áo vest. Chắc cô không hình dung nổi đủ loại trang phục tôi từng thấy đâu. Các bạn nữ trẻ trung đến đây mà cứ như đi biển chứ chẳng có vẻ gì là đi tìm việc làm. Thế là tôi đã nằm ngoài diện “các bạn nữ trẻ trung”... Lauren nhận bảng kẹp giấy tờ từ phía tôi, đưa tôi vào phòng làm việc của chị, một phòng nhỏ xíu với hai chiếc ghế và một bàn nhỏ chất đầy tài liệu. - Xem chúng ta có gì nào. Cô đang tìm loại công việc gì? - Việc văn phòng nói chung chị ạ. Sắp xếp giấy tờ, trả lời điện thoại... Có khoảng năm chục bộ phim thuộc thể loại mẹ tôi thích, trong đó cô Doris Day, một kiểu bạn nữ trẻ trẻ xinh xinh, rời nhà đi chinh phục chốn phồn hoa đô hội và kiếm được một chân thư ký - nói như vậy là đủ thấy tôi chẳng trẻ trung gì nữa rồi. ngày đầu tiên làm việc ở một công ty quảng cáo danh tiếng, cô ấy - nhã nhặn trong váy liền màu hồng với cổ cánh sen trắng - đánh đổ cà phê lên khắp người anh chàng bảnh trai ở phòng thư tín. Nàng xấu hổ không để đâu cho hết, còn chàng quá say đắm vẻ thẹn thùng ấy, và đã phải lòng nàng ngay tắp lự. Sau rất nhiều thắt mở ngớ ngẩn, đôi trẻ làm đám cưới, nàng thôi việc để làm một quý cô nhàn nhã, đại thể giống như vị trí mà tôi đang từ bồ đây. Tôi những muốn hỏi Lauren xem ở đây có áp dụng kiểu kịch bản như vậy không. Cô lễ tân với sự nghiệp trở thành một người phụ nữ được chồng nuôi và chỉ việc hưởng thụ. - Cô từng làm lễ tân phải không? - À... - Cô có thể xử lý được bao nhiêu đường dây điện thoại? Cô đã dùng hệ thống Rolm bao giờ chưa? Hoặc là Honeywell? - Lauren không để ý gì đến sự im lặng của tôi. - Xin lỗi nhé, chắc tôi đã gọi phỏng vấn khi cô chưa kịp điền hết vào đơn. Tôi sẽ ghi chú vào đây, khi chúng ta xong thì cô có thể làm bài kiểm tra kỹ năng đánh máy. - Không cần làm bài kiểm tra ấy đâu chị ạ, tôi không đánh máy gì từ năm năm nay rồi. - Không sao. - Chị ấy khẽ phất tay. - Giống như đi xe đạp ấy mà. Phản xạ sẽ quay trở lại khi cô bắt tay vào làm. - Lauren nhìn khoảng trống ở mục “Kinh nghiệm”. - Hiện giờ cô có đang làm việc không? Tôi từng đọc nhiều bài báo viết chắc như đinh đóng cột rằng nội trợ và công tác tình nguyện cũng có giá trị tương xứng với bất cứ công việc được trả thù lao nào. Dám cá là Lauren không hề đọc những bài báo ấy. - Justine này... - Wynter ạ, tôi thường dùng tên đệm. - Xin lỗi nhé. Wynter này, cô cho tôi biết kinh nghiệm làm việc của cô được không? Thở sâu, tôi nói: - Ba năm dạy tại trường trung học. Một năm kinh doanh bất động sản... Lauren nhìn tôi với vẻ trông đợi, chờ đến đoạn tôi nói vào công việc chính. - Và tôi đã làm việc cho các ủy ban. Bệnh viện Cedars-Sinai, dàn nhạc giao hưởng... - Tôi lục tung trí nhớ ngắn hạn của mình, cố tìm cho ra điều gì đó ấn tượng hơn. - Thế sao cô lại muốn làm việc văn phòng tạp vụ? Chỉ cần cô gia hạn chứng chỉ sư phạm hoặc kinh doanh bất động sản trở lại thì sẽ thu nhập được khá hơn đấy. - Tôi không quay lại bất động sản được vì tôi làm dở tệ, chưa từng bán được thứ gì. - Vậy dạy học thì sao? Gia hạn chứng chỉ sư phạm không khó... - Tôi ghét dạy học lắm. - Tôi nắm chặt tay ghế bằng những ngón tay dinh dính mồ hôi. Lauren ngả người ra sau, khoanh tay lại, nhìn tôi chừng như đang suy xét điều gì. Tôi có thể đọc được suy nghĩ trong mắt chị ấy: lại một nàng bảo ngọc ở khu Hancock Park hết được nuôi ăn đây mà. Trong bụng chị ấy chắc đang cười như điên mất. Lauren bắt chéo đôi chân thon, để một bên quai giầy cao gót trật khỏi gót chân. Rồi chị ấy nói, một cách lặng lẽ: - Tôi không muốn làm cô sợ đâu, Wynter ạ, nhưng tôi ghét công việc này. Đôi khi ta phải làm những việc mà ta ghét cay ghét đắng. Tôi đã đứng dậy, chẳng hiểu sao tôi đứng như vậy từ bao giờ rồi. - Cảm ơn lời khuyên của chị. Tôi ra khỏi văn phòng bé xíu ấy, đi qua bàn lễ tân, rời khỏi công ty. Nếu đi nhanh, trông tôi sẽ như đang vội đến một cuộc hẹn phỏng vấn. Tôi ngồi ở bãi đỗ xe, trong chiếc Mazda RX-7 vốn là quà tặng sinh nhật tôi cách đây ba năm. Khốn thật. Mi thì biết cái gì chứ? Tại sao tôi phải bận tâm tìm việc làm? Tối nay thôi, David và tôi sẽ ngồi lại với nhau và giải quyết sự việc đâu vào đó. Anh mệt và căng thẳng cực điểm. Chắc anh sẽ về nhà với hoa hồng trên tay hay gì đó tương tự, nói rằng anh xin lỗi... Chúng tôi sẽ đi xa vài ngày. Tới Mexico. Uống rượu margaritas, yêu nhau và ngủ. Mọi chuyện sẽ ổn cả. Tôi xoay chìa khóa khởi động xe. Tôi không cần việc làm. Đặc biệt là thứ việc văn phòng phục dịch thời vụ vớ vẩn và vặt vãnh. Xe của tôi có mùi rất dễ chịu. Không rõ thợ rửa xe đã làm gì với lớp da bọc trên ghế mà xe vẫn còn mùi như mới thế này. Một món quà rất David. Anh định sắm cho tôi một chiếc Mercedes, nhưng tôi luôn thấy dòng xe ấy có vẻ ù lì kém thời trang. Tôi muốn thứ gì đó khiến tôi vui và hào hứng, thứ gì đó có cần số. Một chiếc Porsche chẳng hạn. Biết tôi ham tốc độ, anh đã dứt khoát không thể là Porsche được. Chúng tôi không nói đến chuyện đó nữa. Rồi, sáng hôm sinh nhật, tôi vừa xuống nhà đã thấy một hộp nhỏ đặt cạnh cốc nước cam. Tôi cứ ngỡ đó là món trang sức nào đó. Cơ mà nằm giữa những nếp xa-tanh trắng là một chiếc chìa khóa đen. Chiếc RX-7 của tôi đang đậu bên ngoài, ngay sát mặt đường, dù trời trông như muốn mưa. Chúng tôi chạy xe vài dặm qua những ngọn đồi, cho đến khi mây trên đầu vỡ ra và rải mưa xuống. • • • Đã quá trưa mà tôi vẫn chưa ăn gì. Tôi tấp xe vào quán burger In-n-Out đầu tiên bắt gặp, gọi món qua cửa sổ xe ô-tô, hầu như không thấy rõ đó là thứ gì. Trở lại đường cao tốc, hướng bắc theo đường 405, hướng tây theo đường 10, rồi đường PCH thẳng ra bờ biển. Lần đầu tiên tôi để ý hôm nay là một ngày đẹp trời biết chừng nào. Bên trái tôi là Thái Bình Dương xanh thẳm, lấm tấm những đỉnh sóng bọt tung trắng xóa, hắt màu trời biếc điểm xuyết những cụm mây trắng. Khung cảnh mà có bị lật ngược thì ta cũng chẳng thể phát hiện ra được, như những bức tranh trong truyện thiếu nhi vậy. Bên phải tôi, những sườn dốc nâu bao lấy bãi biển Malibu chốc chốc lại rực lên những mảng màu - những giàn hoa giấy đỏ thắm, từng vạt sen cạn màu vàng tươi và da cam, hoa xuyến chi tím ngát xen lẫn với ngọc giá trắng và cây bụi khô. Một khung hình muôn thuở như kéo dài ra mãi, trừ khi ta biết đôi chỗ trên đường có những đống đá chực lở ra và trượt xuống. Vừa lái xe vừa nhét khoai tây rán vào miệng, tôi kín đáo quan sát những người đang chạy xe khác. Sao trông ai cũng như biết rõ mình đang đi đâu và sẽ làm gì khi đến nơi thế nhỉ? Ký ức về những ngày hè thong dong hạnh phúc thôi thúc tôi rẽ vào đường ra bãi biển Zuma. Vừa tấp xe vào bãi đỗ gần như trống, tôi thấy một chiếc Mercedes đen và hơi thở lập tức như nghẹt lại. David ư? Dòng xe khác, biển số khác. Mà liệu anh có thể làm gì ở đây cơ chứ? Chiếc xe từ từ chạy qua tôi, một phụ nữ tóc đỏ cầm lái. Tôi nhìn đăm đăm những con sóng bạc đầu cuộn vỗ vào bờ trong khi ban nhạc The Supremes tự hỏi “Tình yêu của chúng ta đã ra đi về đâu?”, còn tôi tự hỏi: ra đi khi nào. Được rồi. Đúng là gần đây không có nhiều những khoảnh khắc ngọt lịm như quảng cáo trên ti-vi, những tiếng cười và thậm chí những mục tiêu chung. Nhưng phải chăng như thế có nghĩa là tất cả đã hết? Miếng bánh burger phô mai đầu tiên rơi xuống dạ dày tôi như hòn đá rơi xuống một bể bơi cạn nước. Tôi dúi phần còn lại vào túi cùng với khoai rán đã nguội ngắt. Tôi ra khỏi xe, tháo bỏ giầy và tất da chân. Đi qua mặt đường nhựa ấm lên dưới nắng, tới bờ cát ẩm ướt mát lạnh, choàng áo khoác quanh mình. Những trạm cứu hộ không người, ảm đạm co ro vào nhau là dấu hiệu rõ rệt nhất cho hay mùa thu đã đến miền nam bang California. Đôi khi đó là dấu hiệu duy nhất. Dọc theo bờ biển, một chú chó Lab lông vàng nhảy nhót cùng bọt sóng trong khi người chủ thuần thục quăng những cây gậy đi. Lác đác có vài người lướt sóng mặc bộ đồ bó đen, thoăn thoắt đứng lên nhún xuống trên ván, chờ con sl óng lớn. Một người đàn ông và một phụ nữ tóc đã muối tiêu nắm tay nhau nhịp nhàng tập các động tác khởi động. Còn lại, chỉ có tôi. Một lưỡi sóng lạnh buốt liếm qua chân, tôi cứ đứng im, nước ngập đến mắt cá. Nếu không đi tiếp, tôi sẽ mất thăng bằng mất. Gió biển mằn mặn đánh rối tóc tôi, phả vào làm hai mắt chảy nước. Tôi đi về phía bắc, bước qua những dải rong biển, những vỏ sò vỡ, nửa con cua bị ruồi bâu kín. Tôi từng đọc thấy người ta nói rằng khi bắt đầu nhận thức được cái chết không thể trì hoãn nổi của bản thân, phản ứng đầu tiên của ta thường là, Mình không thể chết được. Mình còn vé đi nghe opera tuần sau cơ mà. Tại sao lại như vậy? Khi phải đối mặt với những gì ta không muốn chấp nhận, tại sao ta lại cố gắng bảo vệ bản thân bằng những thứ nhỏ nhặt vặt vãnh ấy? Khi mẹ đến trường đón tôi ra khỏi lớp và nói bố tôi đã mất, suy nghĩ đầu tiên của tôi trước khi rơi vào trạng thái bị xúc động mạnh là, Vậy mùa hè này nhà mình không đi Tahoe được nữa sao? Giờ khi các ngón chân đã ngấm lạnh đến nhăn lại, tê cứng, cố gắng bám vào bờ cát, tất cả những gì tôi có thể nghĩ được là mẹ tôi sẽ thất vọng biết chừng nào. Bà luôn yêu quý David. Trong câu chuyện theo phiên bản của mẹ tôi, anh là Hoàng tử Hào hoa. Chính anh đã giải cứu tôi khỏi - không phải khỏi rồng đâu nhé, mà là điều còn tệ hơn thế - khỏi mảnh đời nhàm chán của một cô giáo trung học chẳng mấy khi hẹn hò, các kỳ nghỉ thường đi chơi cùng những chị em độc thân khác. Anh đã lắp tôi vào một tòa nhà ở khu Hancock Park, cho tôi chiếc xe thể thao đỏ, quần áo đẹp, những món trang sức đắt tiền. Tất cả những gì tôi phải làm là ăn mặc vừa mắt, tổ chức những bữa tiệc tinh tươm, kết bạn đúng người, sẵn sàng đáp ứng khi anh muốn tôi, và không làm gì để anh bị bẽ mặt. Chẳng có gì phải thắc mắc nhiều. Được rồi, đúng là tôi ghét dạy học. Khó có thể thổi bùng lên ngọn lửa say mê văn chương với những đứa trẻ có kỹ năng đọc hiểu dậm chân tại chỗ ở trình độ lớp năm. Đa phần trong số chúng chỉ giết thời gian ở lớp của tôi trong khi chờ sóng lên để đi lướt ván, hoặc chờ đến giờ học môn khác, hoặc đến 3:10 phút, chuông báo tan học và thế là chúng có thể vù ra tiệm Bob’s Big Boy. Cũng đúng là đời sống xã hội của tôi phần lớn xoay quanh mấy cô bạn gái - CM, Sandy và Liz. Nếm rượu vang, ăn tại nhà hàng độc đáo, xem phim Pháp, dự triển lãm nghệ thuật, tất cả những trò vui tiêu khiển rất đặc trưng của phụ nữ độc thân. Như vậy không có nghĩa là tôi không hẹn hò. Chắc chắn rằng không phải cái gì mẹ tôi cũng biết. Theo kinh nghiệm rộng một cách đúng mực của tôi, những phẩm chất của đàn ông - như ấm áp, chân thành, rộng lượng - thường tỉ lệ nghịch với độ hấp dẫn của vẻ bề ngoài. Điều này dẫn tôi đến kết luận rằng các chàng càng đẹp trai thì càng chẳng ra gì, vì tất cả những người nữ mà họ biết, bắt đầu từ mẹ đẻ, đã làm hư họ mất rồi. Bất chấp thực tế này, hoặc có thể tại vì thế, tôi bị cuốn hút bởi những người đàn ông cao ráo, tóc vàng và bảnh trai, - như thiêu thân lao mình vào lửa. Điều này, như CM, cô bạn thân nhất của tôi, nhanh chóng chỉ ra, có thể là do bố tôi, người tôi hết sức ngưỡng mộ và đã qua đời khi tôi mười bảy, là người cao ráo nhất, tóc vàng đẹp nhất, và điển trai nhất trong số tất cả nam giới. Nhưng bố cũng là cuối cùng trong những đàn ông tử tế. Đã gần mười lăm năm kể từ ngày bố mất, nhưng tôi vẫn có thể đi vào căn phòng làm việc nhỏ trong nhà mẹ mà hình dung ra bố đang ngồi trên ghế da, tờ báo đặt trong lòng, một ly Manhattan mát lạnh trên bàn bên cạnh. Bố thích thứ rượu không ngọt với một chút cốt chanh ấy. Mẹ đã cáu khi bố dạy tôi cách pha chế. Bố dạy tôi mọi thứ. Biết yêu sách vở. Biết cưỡi ngựa kiểu Anh trong khi các bạn tôi cưỡi kiểu miền tây. Bố mua cho tôi một chiếc ô-tô với cần số trong khi các bạn tôi lái xe số tự động. Bố dạy tôi biết ngắm nhìn vòm trời Tahoe vào những đêm tháng Tám trời trong, dõi theo sao băng để nguyện cầu điều gì đó. Buộc nút thủy thủ thế nào, đánh bóng ve trái ra sao. Quẹt diêm bằng một tay. Thở trong khi bơi. Bố dạy tôi cách không sợ hãi khi mở to mắt dưới nước. Và cả trên mặt nước. Đa phần đàn ông mà tôi biết đều không thể sánh được với bố. Ừm, có vài người có thể tôi không chắc lắm. Như Mark, anh họ của ai đó từ Del Mar, gặp tại một tiệc cưới. Andy, anh phi công có vợ ở Dallas. Một nhiếp ảnh gia với cái tên độc đáo Rocky Rivers. Dù sao tôi luôn cho rằng anh ấy quan tâm đến CM nhiều hơn. Chẳng ai trong số họ làm thế giới của tôi rung chuyển được cả. Cho tới đêm tiệc sinh nhật lần thứ hai mươi ba của Paula bạn tôi. Tôi vẫn nhớ mình vừa đến đã bị cô ấy túm ngay lấy. - Có người này cậu phải gặp. Tôi móc áo khoác lên giá treo mũ cạnh phòng kho ở hành lang. - Tại sao chứ? - Anh ấy cao. Cao hơn cậu. - Thế thì là Frankenstein rồi. Tôi bắt đầu đi dọc hành lang đến nhà vệ sinh, nhưng Paula đã kéo tôi lại. - Không phải Frankenstein mà. Nào, rồi cậu sẽ cảm ơn tớ cho coi. Cô ấy lôi tôi đến trước một quầy bar dựng từ bàn chơi bài trong phòng khách, nơi một anh chàng không thể cao hơn, tóc vàng hoe và đẹp trai đang mở một chai bia. - Wyn ơi, đây là anh Dave. Anh Dave, đây là Wyn. Thế nhé. Paula biến luôn vào bếp. Tôi chỉ muốn chui ngay xuống dưới thảm, nhưng Dave mỉm cười và bắt tay tôi, xin lỗi vì tay anh đang lạnh. Đôi mắt anh xanh mênh mang, màu của đại dương tháng Bảy. Rồi anh nói: - Mà anh là David chứ không phải Dave. Em là Lynn phải không? - Wyn ạ, như trong Wynter*. Đồng âm với từ “winter”, trong tiếng Anh nghĩa là “mùa đông”. Mời các bạn đón đọc Bánh Mì Cô Đơn của tác giả Judith Ryan Hendricks.
Hiệu Sách Nhỏ Ở Paris
Tóm tắt & Review (Đánh Giá) tiểu thuyết  Hiệu Sách Nhỏ Ở Paris của tác giả Nina George & Chi Ân (dịch) "Nếu bạn đang muốn bị mê hoặc đến quên cả đời trong vòng vài giờ đồng hồ, hãy ngồi xuống và đ5oc cuốn tiểu thuyết thông mình và hấp dẫn này."  - OPRAH.COM Cuốn sách là câu chuyện về Monsieur Perdu, chủ tiệm sách bên bờ sông Seine, người tự gọi mình là dược sĩ văn chương. Nhờ giác quan đặc biệt của mình, ông có thể kê đơn cho độc giả chính xác những cuốn sách giúp họ vượt qua khó khăn trong cuộc sống. Chữa lành vết thương, hàn gắn trái tim người khác, song Monsieur Perdu lại không thể chữa cho chính mình, và trái tim ông vẫn luôn rỉ máu từ khi người yêu ông bỏ ra đi để lại một bức thư mà ông chưa từng mở ra. Rồi đến một ngày, ông đọc lá thư và quyết định khám phá kết cục của câu chuyện đời mình. Cùng với một tác giả sách bán chạy nhưng bị cấm xuất bản, và một đầu bếp người Ý thất tình, Perdu du hành dọc theo những dòng sông nước Pháp, cho chúng ta thấy rằng thế giới văn chương có thể đưa tâm hồn con người lên một cuộc du hành hàn gắn và chữa lành như thế nào.   Hiệu sách nhỏ ở Paris là một lá thư tình gửi đến sách, đến tất cả những người tin rằng sức mạnh của những câu chuyện có thể định hình cuộc sống của chúng ta. New York Times Bestseller A Barnes and Noble Best of 2015 Selection A Library Reads Favorite of the Favorites Selection *** Tóm tắt Cuốn tiểu thuyết "Hiệu sách nhỏ ở Paris" của tác giả Nina George kể về câu chuyện của Monsieur Perdu, chủ tiệm sách bên bờ sông Seine, tự gọi mình là "dược sĩ văn chương". Nhờ giác quan đặc biệt của mình, ông có thể kê đơn cho độc giả chính xác những cuốn sách giúp họ vượt qua khó khăn trong cuộc sống. Chữa lành vết thương, hàn gắn trái tim người khác, nhưng Monsieur Perdu lại không thể chữa cho chính mình. Trái tim ông vẫn luôn rỉ máu từ khi người yêu ông bỏ ra đi để lại một bức thư mà ông chưa từng mở ra. Rồi đến một ngày, ông quyết định đọc lá thư và khám phá kết cục của câu chuyện đời mình. Cùng với một tác giả sách bán chạy nhưng bị cấm xuất bản, và một đầu bếp người Ý thất tình, Perdu du hành dọc theo những dòng sông nước Pháp, cho chúng ta thấy rằng thế giới văn chương có thể đưa tâm hồn con người lên một cuộc du hành hàn gắn và chữa lành như thế nào. Review "Hiệu sách nhỏ ở Paris" là một câu chuyện nhẹ nhàng, sâu lắng về sức mạnh của văn chương. Cuốn sách đã nhận được nhiều lời khen ngợi từ các nhà phê bình và độc giả trên toàn thế giới, được bình chọn là một trong những cuốn sách bán chạy nhất của năm 2015. Nina George đã khéo léo lồng ghép những câu chuyện văn học kinh điển vào tác phẩm của mình, tạo nên những chi tiết đầy cảm xúc và ý nghĩa. Cuốn sách cũng đề cập đến những vấn đề sâu sắc trong cuộc sống, như tình yêu, sự mất mát, và quá trình chữa lành. "Hiệu sách nhỏ ở Paris" là một cuốn sách đáng đọc cho tất cả những ai yêu thích văn học và muốn tìm kiếm một câu chuyện nhẹ nhàng, ấm áp về tình yêu, cuộc sống và những khả năng kỳ diệu của văn chương. Đánh giá Tình tiết: Cuốn sách có cốt truyện đơn giản, dễ hiểu nhưng không kém phần hấp dẫn. Các nhân vật được xây dựng chân thực, gần gũi với người đọc. Cốt truyện: Cuốn sách đề cập đến những vấn đề sâu sắc trong cuộc sống, nhưng được xử lý một cách nhẹ nhàng, tinh tế. Nội dung: Cuốn sách mang đến cho người đọc những suy ngẫm sâu sắc về tình yêu, sự mất mát, và quá trình chữa lành. Ngôn ngữ: Ngôn ngữ trong cuốn sách mượt mà, cuốn hút, dễ dàng đi vào lòng người. Kết luận "Hiệu sách nhỏ ở Paris" là một cuốn tiểu thuyết đáng đọc cho tất cả những ai yêu thích văn học và muốn tìm kiếm một câu chuyện nhẹ nhàng, ấm áp về tình yêu, cuộc sống và những khả năng kỳ diệu của văn chương. Mời các bạn đón đọc sách Hiệu Sách Nhỏ Ở Paris của tác giả Nina George & Chi Ân (dịch)
Thân Phận Con Người
Năm 1933 quyển La Condition humaine (“Thân phận con người”) ra đời. Quyển tiểu thuyết thứ ba của Malraux lấy lại bối cảnh là cuộc đấu tranh cách mạng tại Trung quốc, vào thời kỳ xảy ra cuộc tranh chấp giữa quân đội Quốc Dân đảng của Tưởng Giới Thạch và những lực lượng cộng sản trong thời kỳ manh nha. Quyển tiểu thuyết chấm dứt vào thời điểm xảy ra cuộc tàn sát các đảng viên cộng sản do quân đội Tưởng Giới Thạch tiến hành, trước khi Mao Trạch Đông quyết định cuộc trường chinh về phía Bắc để bảo toàn lực lượng. Một lần nữa, tiểu thuyết của Malraux không phải là một tài liệu lịch sử, kể lại cuộc xung đột giữa các lực lượng Quốc Dân đảng và cộng sản năm 1927. “Thân phận con người”, sau quyển “Những kẻ chinh phục”, lại dùng bối cảnh lịch sử để trình bày quan điểm của tác giả về con người và ý nghĩa cuộc sống. Thay vì có một, hai nhân vật chính chi phối toàn bộ tác phẩm, quyển “Thân phận con người” dựng lên hàng chục nhân vật có tầm quan trọng ngang nhau: những chiến sĩ cách mạng, vài tên khủng bố quá khích, một nhà hiền triết Nhật, một nhân vật lập dị sống trong ảo tưởng và thêu dệt những câu chuyện hoang đường, một nhà tư bản Âu châu v.v. Một số nhân vật này vẫn bị dằn vặt bởi những lo âu siêu hình: niềm đơn độc lẻ loi, nhận thức về sự phi lý của cuộc đời… và mỗi người tìm một phương cách giải thoát riêng cho mình. Nhưng điều mới là sự xuất hiện của những nhân vật anh hùng cách mạng. Những nhân vật này không còn bị ám ảnh vì những thắc mắc siêu hình, mà họ tìm thấy lẽ sống trong việc đấu tranh để đem lại hạnh phúc, danh dự và phẩm giá cho đồng loại của mình. Hành động có một mục đích lịch sử, trở thành một phương tiện để thay đổi trật tự xã hội, hoàn trả lại danh dự làm người, không phải cho một anh hùng đơn độc, mà cho toàn thể những người sống trong một cộng đồng. Với quyển “Thân phận con người”, trong tác phẩm của Malraux xuất hiện một triết lý nhân bản cách mạng. Từ tình trạng suy đồi do thương tích, bệnh tật, gây ra khiến cho con người phải chịu khuất phục trước định mệnh, đến một tình trạng suy đồi do cực khổ khốn cùng, khiến con người mất hết nhân cách. Trật tự xã hội của người giàu khiến cho nhân phẩm bị chà đạp. Danh dự của người hùng cách mạng của Malraux là đứng lên chống lại một trật tự xã hội chối bỏ nhân phẩm và tìm thấy ý nghĩa cuộc sống trong cuộc chiến đấu này. Quyển “Thân phận con người” được giải thưởng Goncourt cuối năm 1933, và sau này được công nhận là một trong những tác phẩm lớn nhất của nền văn học thế giới thế kỷ 20. Nhà văn 32 tuổi bỗng nhiên nổi danh, với một hào quang là kẻ trở về từ châu Á sôi sục, xa xôi và bí hiểm. Đối với xã hội Pháp vào những thập niên 1920-30, châu Á còn là một một lục địa xa vời, huyền bí, chìm trong màn sương mù của huyền thoại, tượng trưng cho phiêu lưu mạo hiểm… Những người có óc phiêu lưu đều bị thu hút, mê hoặc bởi vùng đất còn bí hiểm này. Nhiều huyền thoại được thêu dệt quanh tác giả quyển “Thân phận con người” (người đã tham gia vào hoạt động cách mạng tại Trung Quốc, là ủy viên chính trị cạnh Borodine trong cuộc cách mạng Trung quốc…). Tác giả im lặng không đính chính, và huyền thoại kéo dài trong mấy thập niên, cho đến khi một học giả Hoa Kỳ, Walter Langlois, nghiên cứu tường tận về thời gian Malraux ở Đông Dương và quyển tiểu sử André Malraux do Jean Lacouture viết, xuất bản năm 1973, cho biết sự thật về thời gian nhà văn ở châu Á trong các năm 1924-1925. Cho đến năm Malraux viết quyển “Thân phận con người”, ông chỉ biết có Việt Nam, và thời gian ông đặt chân lên đất Trung Quốc là chỉ vỏn vẹn mấy ngày vào mùa thu 1925 khi ông đến Hương Cảng mua bộ chữ in để có thể tiếp tục in tờ báo đối lập Indochine. Kinh nghiệm kể lại trong “Thân phận con người” về những người dân đen sống trong cảnh bần cùng, bị áp bức và chà đạp, là những kinh nghiệm sống tại Việt Nam, khi André Malraux chứng kiến những bất công và cách đối xử đàn áp mà chính quyền thực dân dành cho người dân bị trị. Quyển “Thân phận con người” chấm dứt một bộ ba tác phẩm được gọi là thuộc “thời kỳ châu Á” trong văn nghiệp của Malraux. Một năm hoạt động báo chí tại Sài Gòn chưa đủ để cho André Malraux một danh hiệu là chiến sĩ cách mạng, nhưng đã chuyển hướng ý nghĩ và hành động của ông khiến cho từ nay, André Malraux sẽ dành phần lớn cuộc đời và tác phẩm của mình cho cuộc chiến đấu cho công bằng xã hội, chống lại sự áp bức, chà đạp phẩm giá con người… V.Đ Review *** André Malraux ( 3 tháng 11, 1901 tại Paris - 23 tháng 11, 1976 tại Créteil, Val-de-Marne) là một nhà văn (từng đoạt Giải Goncourt), nhà phiêu lưu Pháp, và chính trị gia (từng làm Bộ trưởng Pháp 1959-1969). Gia đình ông không đầm ấm, ông nội và cha đều tự tử vì phá sản và chán đời. Thuở nhỏ ông thích đọc sách, thăm viếng các viện bảo tàng. Nội chiến Tây Ban Nha bùng nổ, Malraux chạy sang giúp phe Cộng hòa, thuyết phục chính phủ Pháp giao cho ông một đội phi cơ để chống lại phe Francisco Franco, nhưng chỉ mấy tháng sau phi đội ấy tan rã. Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, Malraux gia nhập vào đội kỵ binh ở Provins. Nước Pháp thua trận, đầu hàng. Malraux bị giam ở Sens, rồi vượt ngục và trốn xuống vùng tự do tại Roquebrune. Tháng 4 năm 1944, Malraux tự xưng là đại tá Berger và cố gắng tập hợp kháng chiến quân trong vùng Tây Nam. Bị thương hồi tháng 7, bị giam ở Toulouse, ông được lực lượng kháng chiến FFI giải thoát. Do các hệ thống kháng chiến vùng Tây Nam đã có người đảm trách nên Malraux đề nghị cầm đầu quân du kích vùng Alsace-Lorraine, nằm dưới quyền của tướng De Lattre. Ông trở thành Tổng trưởng Thông tin, rồi Tổng trưởng Văn hoá trong các chính phủ của Tổng thống Charles de Gaulle. Tác phẩm văn học Lunes en papier, 1921 La Tentation de l'Occident, 1926 Les Conquérants, 1928 Royaume-Farfelu, 1928 La Voie royale, 1930; đoạt giải thưởng Interallié 1930 La Condition humaine / Thân phận con người, 1933, đoạt giải thưởng Goncourt. Le Temps du mépris, 1935 L'Espoir, 1937 Sierra de Teruel, phim, 1939, (1945 tái bản với tựa L'Espoir), đoạt Giải thưởng Điện ảnh Louis Delluc 1945 La Lutte avec l'ange, 1943 tại Thụy Sĩ, 1948 với tựa đề Les Noyers de l'Altenbourg tại Pháp Le Démon de l'Absolu, 1946 Esquisse d'une psychologie du cinéma, 1946 Psychologie de l'Art: Le Musée imaginaire - La Création artistique - La Monnaie de l'absolu, 1947-1948-1950 Les Voix du silence, 1951 Le Musée Imaginaire de la sculpture mondiale: La Statuaire - Des Bas-reliefs aux grottes sacrées - Le Monde Chrétien"", 1952-1954 La Métamorphose des dieux, 1957, sau đó với tựa đề Le Surnaturel Antimémoires, 1967 (phần đầu của Miroir des Limbes) Les Chênes qu'on abat..., 1971 (tái bản với tựa đề La Corde et les souris) Oraisons funèbres, 1971 (tái bản với tựa đề La Corde et les souris) La Tête d'obsidienne, 1974 (tái bản với tựa đề La Corde et les souris) Lazare, 1974 (tái bản với tựa đề La Corde et les souris) Hôtes de passage, 1975 (tái bản với tựa đề La Corde et les souris) La Corde et les souris, 1976 (phần 2 của Miroir des Limbes) Le Miroir des Limbes, 1976 (I. Antimémoires + II. La Corde et les souris và Oraisons funèbres) Le Surnaturel, (1977, hiệu đính và bổ sung cuốn La Métamorphose des Dieux L'Irréel, La Métamorphose des Dieux. II, 1975 L'Intemporel, La Métamorphose des Dieux. III, 1976 L'Homme précaire et la littérature, 1977 Mời các bạn đón đọc Thân Phận Con Người của tác giả André Malraux.