Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Những Cuộc Phiêu Lưu Trong Kinh Doanh

“Không lâu sau lần đầu gặp Warren Buffet vào năm 1991, tôi có hỏi về cuốn sách quản trị kinh doanh yêu thích nhất của ông. Không mất đến nửa giây suy nghĩ, ông trả lời: ‘Đó là Những cuộc phiêu lưu trong kinh doanh của John Brooks, tôi sẽ gửi cho cậu cuốn của mình.’ Đến nay đã hơn hai mươi năm kể từ ngày Warren cho tôi mượn cuốn sách đó ‒ và hơn bốn mươi năm kể từ khi nó được xuất bản lần đầu tiên ‒ Những cuộc phiêu lưu trong kinh doanh vẫn là cuốn sách quản trị kinh doanh hay nhất mà tôi từng đọc.”  Bill Gates Những cuộc phiêu lưu trong kinh doanh với 12 câu chuyện thú vị và không kém phần kịch tính về những sự kiện nổi tiếng tại Phố Wall này sẽ vén màn những âm mưu cũng như bộc lộ bản chất thất thường của thế giới tài chính. Xuyên suốt cuốn sách là những báo cáo chi tiết và sắc sảo của John Brooks, dù đó là sự kiện thị trường chứng khoán sụp đổ năm 1962, thất bại của một công ty môi giới danh tiếng, hay nỗ lực táo bạo của các ngân hàng Mỹ nhằm cứu vãn đồng bảng Anh. Sau tất cả, những câu chuyện này vẫn còn nguyên giá trị và tính thời sự để giúp chúng ta nắm bắt được tính phức tạp của đời sống kinh doanh. Những cuộc phiêu lưu trong kinh doanh thực sự là những phân tích tài chính sống động và xuất sắc nhất từ trước đến nay. *** THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN - một thước phim phiêu lưu dài tập chiếu ban ngày của giới thượng lưu - sẽ không phải là thị trường chứng khoán nếu không có những thăng trầm trong đó. Bất kỳ ai trên ngồi ghế lãnh đạo từng say mê truyền thuyết về Phố Wall hẳn đã nghe đoạn đối đáp mà người ta đồn là của J. P. Morgan1 (lớn) khi một người bạn ngây thơ của ông đã mạo muội hỏi nhân vật vĩ đại này về việc liệu thị trường sẽ diễn biến như thế nào. Morgan trả lời tỉnh queo: “Lên-xuống rồi lại xuống-lên!”. Và còn nhiều những đặc thù đặc trưng khác. Bên cạnh những lợi thế và bất lợi kinh tế của những giao dịch chứng khoán - lợi thế: tạo ra một dòng chảy tự do về vốn để trang trải cho việc mở rộng sản xuất; bất lợi: tạo ra một con đường quá đỗi dễ dàng để cho những người cả tin, thiếu thận trọng và kém may mắn vuột mất đi số tiền của mình - sự phát triển những giao dịch này đã tạo ra một hệ thống hành vi xã hội, toàn diện với các tập quán, ngôn ngữ cùng những phản ứng có thể dự đoán được trước từng sự kiện cụ thể. Ngoạn mục nhất là ở tốc độ bung nở hết cỡ của hệ thống hành vi này sau sự kiện Sở giao dịch chứng khoán trọng yếu đầu tiên trên thế giới được thành lập năm 1611, trên một khoảng sân không mái che ở Amsterdam và mức độ mà hệ thống này duy trì (tất nhiên, cùng với những biến thể của nó) trên Sở giao dịch chứng khoán New York vào thập niên 1960. Chứng khoán Mỹ ngày nay là một tổ chức khổng lồ liên quan tới hàng triệu km đường dây điện báo riêng, các máy tính có thể đọc và sao chép niêm giám điện thoại thành phố Manhattan trong ba phút và hơn 20 triệu cổ đông, dường như đối lập hoàn toàn với cảnh tượng một nhúm người Hà Lan đội mưa cò kè mua bán với nhau hồi thế kỷ XVII. Nhưng những biểu hiện trên hiện trường thì vẫn giống nhau. Thật trùng hợp là sàn chứng khoán đầu tiên là một phòng thí nghiệm, nơi người ta khám phá ra những phản ứng mới của con người và Sở giao dịch chứng khoán New York cũng giống như vậy, một “ống nghiệm” xã hội học, muôn đời đóng góp vào quá trình tự giác ngộ về bản thân của loài người. Hành vi của những người Hà Lan tiên phong trong kinh doanh chứng khoán được khéo léo ghi chép lại trong cuốn sách có tựa đề Confusion of Confusions (Rắc rối của những rắc rối của tác giả Joseph de la Vega, một nhà đầu cơ tại thị trường Amsterdam, được xuất bản lần đầu năm 1688 và vài năm trở lại đây được trường Kinh doanh Harvard dịch và tái bản bằng tiếng Anh. Về phần những nhà đầu tư và môi giới chứng khoán của Mỹ ngày nay, với những đặc tính giống như tất cả những nhà kinh doanh chứng khoán khác song thường bị thổi phồng trong những giai đoạn khủng hoảng, ta có thể làm sáng tỏ hành vi của họ bằng việc xem xét những hoạt động của họ trong suốt tuần cuối cùng của tháng 5 năm 1962, thời điểm mà thị trường chứng khoán trải qua những biến động mạnh. Vào thứ Hai, ngày 28 tháng 5, chỉ số Dow-Jones trung bình của 30 cổ phiếu công nghiệp hàng đầu (từ năm 1897, từng giao dịch cổ phiếu mới bắt đầu được tính toán cụ thể) giảm tới 34,95 điểm hay nói cách khác, giảm kỷ lục nhất so với bất kỳ ngày giao dịch nào khác (trừ ngày 28 tháng 10 năm 1929 với mức sụt giảm 38,33 điểm). Khối lượng giao dịch ngày 28 tháng 5 là 9.350.000 cổ phiếu, đạt mức doanh thu trong ngày lớn thứ bảy trong lịch sử thị trường chứng khoán. Vào thứ Ba ngày 29 tháng 5, sau một buổi sáng đáng báo động khi hầu hết các cổ phiếu tụt giảm xuống mức thấp hơn nhiều so với mức giá lúc đóng cửa của buổi chiều thứ Hai, thị trường bất ngờ đổi hướng, tăng vọt đến mức kinh ngạc, và kết thúc ngày giao dịch, chỉ số Dow-Jones tăng khá cao, tận 27,03 điểm, tuy chưa phải là mức phá kỷ lục. Mức tăng gần chạm kỷ lục của ngày thứ Ba này nằm ở khối lượng giao dịch: 14.750.000 cổ phiếu được trao tay, bổ sung thêm vào kỷ lục doanh-số-một-ngày lớn nhất từng có, chỉ đứng sau ngày 29 tháng 10 năm 1929 với hơn 16 triệu cổ phiếu được giao dịch. (Sau này, vào những năm 1960, 10 triệu, 12 triệu, hay thậm chí 14 triệu cổ phiếu được giao dịch mỗi ngày là phổ biến. Kỷ lục năm 1929 bị phá vỡ vào ngày 1 tháng 4 năm 1968 và trong mấy tháng tiếp sau đó, kỷ lục mới liên tiếp được thiết lập). Sau đó, vào thứ Năm ngày 31 tháng 5 (trước đó là thứ Tư, cả nước Mỹ nghỉ làm việc vì lễ Tưởng niệm chiến sĩ hi sinh nơi chiến trận) là vừa hoàn tất chu trình ấy; chỉ số Dow-Jones trung bình tăng 9,40 điểm trên tổng số 10.710.000 cổ phiếu được giao dịch (khối lượng lớn thứ năm trong lịch sử chứng khoán), nhỉnh hơn số điểm trước khi bắt đầu xảy ra toàn bộ tình trạng kích động. Cuộc khủng hoảng chỉ kéo dài ba ngày nhưng ai cũng biết, phần “khám nghiệm tử thi2” sẽ còn kéo dài mãi sau đó. Một trong những quan sát mà de la Vega đúc rút về các thương nhân Amsterdam là: Họ “rất khôn khéo bịa ra lý do” để lý giải cho sự tăng hay giảm giá đột ngột của cổ phiếu và chắc chắn các chuyên gia Phố Wall cần vận hết trí tuệ mới có thể lý giải vì sao ngay giữa một năm thịnh vượng như thế, thị trường đột nhiên tụt dốc thảm hại tới mức lập kỷ lục thứ hai trong lịch sử tính tới thời điểm đó. Bên cạnh những giải thích này, mà đứng đầu là việc Tổng thống Kennedy thẳng tay dập tắt kế hoạch tăng giá của ngành thép - thì không thể tránh khỏi việc các cuộc “khám nghiệm tử thi” thường so sánh ngày 28 tháng 5 năm 1962 với ngày 29 tháng 10 năm 1929. Riêng con số về biến động giá cả và khối lượng giao dịch cũng đủ để người ta đi đến sự so sánh này, cho dù hai ngày kinh hoàng tồi tệ nhất trong hai tháng ấy không hề trùng nhau theo lối ma mị hay có điềm báo trước như một số người nghĩ. Nhưng thật ra phải thừa nhận, nếu so sánh hai ngày này, người ta sẽ thấy thuyết phục trước những điểm tương phản hơn là những điểm tương đồng. Trong thời kỳ từ năm 1929 đến năm 1962, những quy định về phương thức giao dịch và những hạn chế về vay tín dụng đối với khách mua cổ phiếu đã khiến cho người ta khó lòng - nếu không nói là không thể - nướng sạch tiền vào chứng khoán. Tóm lại, hình dung của de la Vega về thị trường chứng khoán Amsterdam vào những năm 1680 - ông gọi nó là “ổ cờ bạc” mặc dù rõ ràng là ông yêu nó - gần như không mấy phù hợp với thị trường New York trong thời kỳ 33 năm giữa hai lần sụp đổ. Vụ sụp đổ năm 1962 không phải đến mà không báo trước, dù rất ít nhà quan sát đọc được chính xác những cảnh báo ấy. Ngay thềm năm mới, cổ phiếu đã bắt đầu sụt giảm dần đều và tốc độ này leo thang đến đỉnh điểm: tuần giao dịch trước đó - từ ngày 21 tháng 5 đến ngày 25 tháng 5 - trở thành tuần tồi tệ nhất của Sở giao dịch kể từ tháng 6 năm 1950. Vào sáng thứ Hai ngày 28 tháng 5, các nhà môi giới và nhà buôn chứng khoán đã có lý do để suy tư. Cổ phiếu đã chạm đáy chưa? Hay sắp chạm? Nhìn lại thì thấy có rất nhiều luồng ý kiến khác nhau. Tờ tin Dow-Jones (cung cấp tin tức tài chính tâm điểm cho người đặt báo dài hạn qua máy telex) phản ánh sự lo ngại nhất định trong khoảng thời gian từ lúc tờ này bắt đầu phát tin lúc 9 giờ cho tới khi Sàn giao dịch bắt đầu mở cửa lúc 10 giờ. Băng tin rộng ‒ cách người ta thường gọi bản tin Dow-Jones in theo chiều dọc giấy khổ 15×0,6cm để phân biệt với băng tin báo giá của Sở giao dịch được in theo chiều ngang và chỉ dài 1,9cm) ‒ bình luận rằng, nhiều nhà kinh doanh chứng khoán cuối tuần bận rộn với việc gửi yêu cầu đến các khách hàng mua chịu, hiện sở hữu những cổ phiếu đang xuống giá, cần bổ sung thế chấp ngay. Bản tin này nhận xét, việc bán tống bán tháo vội vã giống tuần trước đó là “hành động đã nhiều năm nay xa lạ với Phố Wall”. Bản tin này tiếp tục đưa ra một số tin thương mại đáng khích lệ như công ty Westinghouse mới nhận được một hợp đồng Hải quân mới. Tuy nhiên, như de la Vega đã nói, “trong thị trường chứng khoán, những tin tức [kiểu như vậy] thường chẳng mang lại ý nghĩa gì cả”; trong tình thế hiện tại, tâm trạng nhà đầu tư mới là điều đáng nói. Tâm trạng này càng trở nên rõ nét chỉ trong vài phút sau khi thị trường mở cửa. Lúc 10 giờ 11 phút, băng tin thông báo “lúc mở cửa, giá cổ phiếu hỗn hợp và giao dịch nhộn nhịp vừa phải”. Đây là một thông tin mang tính chấn an vì “hỗn hợp” có nghĩa là vừa có tăng vừa có giảm và nói chung một thị trường sụt giá, sẽ ít rủi ro hơn khi khối lượng giao dịch chỉ ở mức vừa phải chứ không quá lớn. Nhưng niềm an ủi này chỉ kéo dài chớp nhoáng vì đến 10 giờ 30 phút, băng tin của Sở giao dịch (đăng tin tức về giá và khối lượng cổ phiếu của mỗi giao dịch diễn ra trên sàn) không những đăng các mức giá cũ, thấp hơn, với tốc độ tối đa 500 ký tự/phút mà còn đăng trễ tận sáu phút. Sự chậm trễ của băng tin cho thấy rõ ràng, chiếc máy đã không thể bắt kịp với những giao dịch đang diễn ra tít mù. Thường thì khi một giao dịch trên sàn của Sở giao dịch hoàn tất, một nhân viên của Sở sẽ ghi lại chi tiết lên một mẩu giấy và gửi nó qua một ống khí nén tới một căn phòng trên tầng 5 của tòa nhà; từ đây, một nhân viên nữ sẽ đánh máy mẩu giấy vào máy điện báo để truyền đi. Quãng thời gian chờ hai đến ba phút từ khi có giao dịch trên sàn và khi giao dịch xuất hiện trên băng tin được Sở giao dịch xem là bình thường; khái niệm “trễ” chỉ được sử dụng để mô tả bất kỳ một sự trì hoãn nào khác ngoài hai đến ba phút đấy tính từ khi tờ phiếu bán hàng lên được đến tầng 5 và được chiếc máy điện báo dung nạp được nó (de la Vega phàn nàn là Sở giao dịch không cẩn thận khi dùng từ “trễ”). Băng tin thường xuyên xảy ra tình trạng “trễ” một vài phút vào những ngày giao dịch tấp nập nhưng từ năm 1930, khi loại máy điện báo thịnh hành vào năm 1962 được lắp đặt, những vụ trễ lớn cực kỳ hiếm khi xảy ra. Ngày 24 tháng 10 năm 1929, khi băng tin bị trễ 246 phút, máy đang in với tốc độ 285 ký tự/phút; từ tháng 5 năm 1962 trở về trước, khoảng trễ lớn nhất từng xảy ra trên chiếc máy mới là 34 phút. Mời các bạn đón đọc Những Cuộc Phiêu Lưu Trong Kinh Doanh của tác giả John Brooks.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Ông Chủ Nghèo Khó Hay Nhân Viên Giàu Có?
Tóm tắt & Review (Đánh Giá) sách Ông Chủ Nghèo Khó Hay Nhân Viên Giàu Có? của tác giả James Altucher. Có 100 triệu người làm thuê khắp nước Mỹ, 3 tỷ người làm thuê trên toàn thế giới, và 85% tỷ lệ khởi nghiệp thất bại. Những con số thực sự đang ở mức báo động và khiến cho mọi người nhất là giới trẻ đang chuẩn bị khởi nghiệp vô cùng quang ngại. Nhưng nếu ta cứ mãi lo ngại mà không dám thử sức thì chắc chắn tuổi trẻ của bạn sẽ trôi qua một cách vô cùng lãng phí. Chúng ta đều được bình đẳng trong lưa chọn, làm những điều mình muốn, mang nguồn năng lượng của mình đến với thế giới này. Cuốn sách “The Rich Employee – Ông chủ nghèo khó hay nhân viên nghèo khó” là cẩm nang hóa giải những nỗi âu lo đấy cho các nhà quản lý, nhân viên, cho chủ doanh nghiệp. Chúng ta được lớn lên cùng nền kinh tế công nghiệp và kinh tế tri thức. Nhưng công nghiệp đang chuyển sang thuê làm bên ngoài:  Những vùng quê nền công nghiệp sẽ chuyển sang rô bốt. Những máy in Gutenberg sẽ thay cho những tu sĩ trong các tu viện  Con ngựa nhường chỗ cho xe hơi Đầu ghi hình nhường chỗ cho video phát trực tiếp Hiệu sách nhường chỗ cho Amazon. … Thật sự đáng tiếc về những việc đang xảy ra xung quanh chúng ta nhung ta cũng không thể làm gì vì rõ ràng rằng những công cụ hiện đại này quả thực hữu ích và dần dần trở nên cần thiết. Để có thể sống sót và tiến lên cùng nền kinh tế phát triển hiện giờ bạn cần nắm trong tay công cụ chuẩn xác. Đó chính là trở thành “nhân viên giàu có”.  NGUYÊN TẮC CƠ BẢN Sức khỏe thể chất: “Ăn uống tử tế. Di chuyển tử tế hơn. Ngủ tử tế hơn.” Sức khỏe cảm xúc: “Dành thêm thời gian với nhửng người bạn yêu thương và thương yêu bạn.” Sức khỏe trí não : rèn luyện não bộ hàng ngày đồng nghĩa với việc bạn không “nghèo khó” Sức khỏe tinh thần: Michelangelo đã nói, mỗi tảng đá lớn đều chứa đựng trong đó một bức tượng.  Mỗi ngày hãy áp dụng nguyên tắc này. Có thể ngày hôm nay sẽ không tốt đẹp hơn ngày trước đó, cũng có thể giống như ngày hôm qua nhưng một thời gian bạn sẽ cảm thấy được điều kỳ diệu mà James Altucher đã nhận được. BẮT ĐẦU CON ĐƯỜNG TRỞ THÀNH MỘT NHÂN VIÊN GIÀU CÓ TỪ CHÍNH NƠI BẠN ĐANG ĐỨNG Vậy việc mà một nhân viên giàu có sẽ làm nếu Bạn vừa mới được tuyển hôm nay Bạn vừa bị sa thải hôm nay Tại sao ta phải gắn bó với một công việc đáng chán trong một khoảng thời gian. Hãy cùng bắt đầu nào. 10 Điều một nhân viên giàu có sẽ làm nếu được tuyển dụng hôm nay Nguyên tắc 1: YÊU SẢN PHẨM Nguyên tắc 2: HIỂU RÕ LỊCH SỬ Nguyên tắc 3: NẮM RÕ LAI LỊCH CỦA CÁC NHÂN VẬT ĐỨNG ĐẨU Nguyên tắc 4: LÀM RẠNG RỠ CHO XẾP Nguyên tắc 5: QUEN BIẾT MỌI THƯ KÝ Nguyên tắc 6: KIỂM CHỨNG GIÁ TRỊ CỦA BẠN Nguyên tắc 7: NGHIỀN NGẪM CÁC CHIẾN DỊCH MARKETING Nguyên tắc 8: TÌM HIỂU TOÀN BỘ NGÀNH CỦA MÌNH Nguyên tắc 9: TRỞ THÀNH CHÍNH CÔNG TY Nguyên tắc 10: RỜI BỎ 10 lý do nhân viên giàu có sẽ ở lại với công việc của mình: ngay lúc này… Mức lương ổn định Tình bạn Cơ hội thăng chức Tiền giả Tôn trọng Bạn có đủ điều kiện để lập một kế hoạch ma quỷ Làm một người làm thuê kiêm làm chủ Xả hơi mùa hè Bạn được đổi việc Tại sao phải trở thành một nhân viên giàu có? Thứ nhất, không ai nhớ bạn đã từng giúp đỡ họ ra sao. Và bạn không thể cứu bất kỳ ai. Thứ hai, ta chưa từng sở hữu thứ gì vì luôn có nhiều thứ vây quanh. Thứ ba, để tiền nong kiểm soát những người liên quan đến mình.  Quan trọng hơn hết là sự tự do. Hãy nỗ lực để giành lấy tự do cho mình. Chớ làm nô lê và hãy làm chủ bản thân và mọi thứ xung quanh. Làm thế nào để trở thành ông chủ hoặc chí ít là nhân viên giàu có thông minh nhất trong phòng Bạn sẽ lắng nghe và học hỏi từ mọi người xung quanh Khi bạn đã nghe xong, hãy lắng nghe cả sự im lặng Giờ thị họ đã nói xong, hãy hỏi thêm ít nhất một câu nữa Trí thông minh hòa trộn theo cấp số mũ. Đó là “Hiệu ứng mạng lưới” Khiêm nhường Tâm thế nhân viên giàu có và nhân viên nghèo khó: cách suy nghĩ của một nhân viên giàu có.  Một nhân viên giàu có gắn chặt thành công tài chính của mình với thành công tài chính của công ty Nhân viên giàu có hứa quá lời và làm quá mức Nhân viên giàu có đi làm sớm Nhân viên giàu có rất trung thành Nhân viên giàu có không đàm tiếu Nhân viên giàu có tự hỏi vào cuối ngày: mình đã giúp đỡ những ai hôm nay? Nhân viên giàu có nhường công trạng cho sếp của mình Nhân viên giàu có tập trung vào sứ mệnh và lợi nhuận trong dài hạn Thông điệp là hàng đầu Nhân viên giàu có không ngừng tìm hiểu đối thủ, ngành của mình, và lịch sử. Nhân viên giàu có nảy ra ý tướng mỗi ngày và biết cách thực thi chúng Nhân viên giàu có xây dựng mối liên hệ sâu sắc hơn với nhân viên trong toàn công ty Nhân viên giàu có làm việc cho một công ty tạo điều kiện cho mọi thứ kể trên Nhân viên giàu có giúp nhân viên của mình thành công Khi bạn có thêm của cải, năng lực, trách nhiệm, các mối quan hệ và bất kể bạn có thăng tiến trong công việc đến đâu thì bạn cần phải trở thành nhà lãnh đạo giỏi. Hiện tại, có rất nhiều người viết về chủ đề lãnh đạo. Vậy tại sao họ lại viết những bài này? Quả thực có rất nhiều lý do nhưng một khi số lượng bài viết của bạn đủ nhiều và chất lượng thì chắc chắn sẽ có người chịu trả tiền cho bạn để dạy họ trở thành nhà lãnh đạo giỏi. Nhưng rất hiếm nhà lãnh đạo nào thành công.  NHỮNG PHẨM CHẤT CỦA MỘT LÃNH ĐẠO TỒI Không hiểu rõ nguyên tắc 30/150 Dưới 30 người. Tránh giao việc trực tiếp cho từng người.  Trên 30 người, nhưng dưới 150 người. Đảm bảo mọi người nói chuyện với nhau. Không có “tầm nhìn” Có tầm nhìn hạn chế. Lãnh đạo tồi không muốn bạn gọi điện cho mẹ Lãnh đạo tồi nói xấu khách hàng, nhân viên hoặc các cổ đông Lãnh đạo tồi không muốn bạn vượt họ Lãnh đạo tồi không nắm rõ những con số. Lãnh đạo tồi không loại bỏ những kẻ tệ hại Một lãnh đạo tồi thường có sức cuốn hút lớn Lãnh đạo tồi “phê thuốc” Lãnh đạo tồi là nhân viên tồi Nhân viên nghèo khó nghĩ như thế nào?  Làm việc vì lương bổng Làm việc đúng giờ hành chính Bàn tán đưa chuyện Hứa ít, có khi lại làm quá mức Không hiểu tầm nhìn Cố để giành công trạng Không có một kế hoạch xấu xa Nghĩ kiểu “Mình được gì?” Mất thời gian không ưa người khác vì họ vui vẻ Than phiền về khách hàng và đồng nghiệp Sử dụng những kẻ thuật công kích gay gắt để cố kiểm soát kết quả Không bao giờ đầu tư cho bản thân Dùng tiền để khoe khoang phô trương thay vì học những điều mới Không bao giờ đưa ra những ý tưởng xuất sắc Chỉ làm những gì cần thiết để duy trì đồng lương Đi làm đúng giờ hoặc đến muộn, tan sở sớm hết mức có thể Cáo ốm vào những ngày quan trọng Xáo tung giấy tờ để vờ đang làm việc Lướt internet hơn 50% thời gian cho những sở thích ca nhân Chỉ mong chóng đến cuối tuần và kỳ nghỉ Thường xuyên đời tăng lương mà không có công trạng gì Tạo ra bất đồng và gây khó dễ trong tập thể Thường xuyên căng thẳng Ghét công việc Làm thế nào để trở thành một nhân viên giàu có?  Đó là cả một quá trình rèn luyện.  Hãy thử áp dụng những nguyên tắc với một tinh thần kỷ luật cao cùng tâm thế  chuẩn bị vươn tới thành công nào. Buổi sáng diệu kỳ của nhân viên giàu có  Hal Elrod chết lâm sàng sau vụ tai nạn với xe tải. Sau khi tỉnh lại, bác sĩ bảo rằng có thể anh không thể đi lại bình thường được . Vũ trụ quả thật là một sự mâu thuẫn, mặc dù nó rộng lớn bao la nhung chúng ta vẫn  không thể thoát ra, Einstein từng nói : “Chúa không hề tung xúc xắc” nhưng mọi thứ đều khôn lường. Và chúng ta sẽ không thể hiểu nổi sự mâu thuẫn ấy. Hal không hề chống cự với những gì vũ trụ đã tạo ra.Anh nghiền vụn nỗi sợ hãi và đau đớn, biến chúng thành kim cương mà anh vẫn hay gọi chúng là “buổi sáng diệu kỳ” mà anh gom nhặt để tự cứu cuộc đời mình. 15 năm sau vụ tai nạn năm ấy, Hal trở thành một người cha, điều hành một cơ nghiệp thành công và là  tác giả của cuốn sách bán chạy nhất với nhan đề The Miracle Morning. Hãy thực hiện bài tập này thường xuyên: cố gắng cải thiện mỗi ngày 1% cả về sức khỏe thể chất, cảm xúc, trí tuệ và tinh thần. “Buổi sáng hôm nay tôi sẵn sàng để chết. Và buổi sáng hôm nay là cách tôi sẽ sống đời mình.” Chiến lược buổi sáng kỳ diệu của Hal Elrod  Hãy ghi nhớ phép đảo ngữ S-A-V-E-R-S với ý nghĩa: “S” – Silence ( tĩnh lặng ) “A” – Affirmations ( quả quyết ) “V” – Visualization ( hình dung) “E” – Exercise ( luyện tập ) “R” – Reading ( đọc ) “S” – Scribing (ghi chép ) Nhân viên giàu có tạo ra việc làm thêm như thế nào ? Nhiều người tạo dựng được công việc làm thêm thành công mang lại nhiều nguồn thu nhập cho họ. Trong những người thành công ấy phải kể đến Mimi và Alex. Mimi quay các đoạn video truyền tải giá trị đích thực đến mọi người và kiếm hơn một triệu đô la mỗi năm nhờ những video này. CẢM XÚC: “Bất cứ lúc nào có những cảm xúc mạnh mẽ điều gì đó, bạn biết nơi ấy có một cơ hội.” TRỤC BÁNH VÀ NAN HOA: Mimi thích sáng tác video nhưng cũng cần lượt truy cập. Do đó họ đã thực hiện kỹ thuật gồm ba bước: Yêu thương Lan tỏa yêu thương Tạo thêm nhiều yêu thương 1000 NGƯỜI: 1000 có thể là con số đúng đắn mà nhiều người tập trung vào. Những giá trị được truyền tải đến 1000 người, rồi họ sẽ kể với 2 người bạn, và cứ thế con số một phần tư người xem, năm cuốn sách bán chạy nhất,… sẽ không còn xa. MUA RẺ, BÁN ĐẮT: Tại sao mọi người lại đến các cửa hàng và mua những sản phẩm tên tuổi với giá 100 đô la nhưng giá thực sự chỉ có 5 đô la. Khoảng cách đó lấp dầy bởi quảng cáo. Mỗi ngày chúng ta ngập giữa 2500 thông điệp quảng cáo. Tiền sinh ra vì nó mang lại hiệu quả. Nó khiến mọi người mua sắm nhiều hơn bình thường. BÁN MỀM: QVC-A: Vết tắt của từ: Q – Quality ( Chất lượng ) V – Value ( Giá trị ) C – Consistency ( Nhất quán ) A – Authenticity ( Đáng tin cậy ) BỚT ĐI Kiếm tiền không có gì sai, nhưng đó chỉ là một phần nhỏ của cuộc sống thoải mái, trắc ẩn và tĩnh tại mà thôi. Nhân viên giàu có xử trí ra sao khi người khác ganh tị và xứ tệ họ ? Sống cuộc đời như là ngày cuối cùng của bạn Chuyện này, rồi sẽ qua thôi Chỉ là mớ bòng bong cảm xúc Nuôi dưỡng một tầm nhìn Hài kịch Những thói quen của nhân viên giàu có vững tinh thần Các mối quan hệ Thành thực Cốt yếu không phải ở tôi, mà ở anh Đọc Sức khỏe Óc hiếu kỳ Học, nói ra, nhắc lại Cơ bắp ý tưởng Cho phép Cho phép bản thân làm những điều mình chưa từng làm, cho phép bản thân đưa ra những ý tưởng tệ hại, cho phép bản thân liều lĩnh với danh tiếng và miệng lưỡi chộc ngoáy của người đời, cho phép bản thân trượt ngã và đứng dậy,… Nếu bạn không cho phép bản thân tạo ra thế giới của riêng bạn, thì sẽ chẳng ai cho phép bạn đâu. Hiện tại Âu lo, hối hận không thể giải quyết được vấn đề của ngày mai mà chỉ lãng phí năng lượng hôm nay. Hiện tại sẽ giải quyết những vấn đời ngay thời điểm đó. Những người vững lòng tin, yêu thương mọi người , thành thật,.. thế giới của họ sẽ thật tốt lành. Cuộc đời thoáng chốc đã khác rồi Kinh nghiệm giá trị hơn vật chất Lắng nghe Giả định rằng ngày mai thôi tất cả sẽ qua đời Chính trị, tin tức, chính phủ hko6ng hề quan trọng. Quy tắc 5 nhân 5 Bạn là trung bình cộng của 5 người bạn dành thời gian cùng Bạn là trung bình cộng của 5 suy nghĩ bạn thường có Bạn là trung bình cộng cảu 5 loại thực phẩm bạn ăn Bạn là trung bình cộng của 5 điều bạn thấy biết ơn nhất Bạn là trung bình cộng của 5 điều bạn đọc hôm nay. Tự chủ Ăn uống, ngủ nghỉ, vận động Những thói quen của nhân viên nghèo khó Nhân viên nghèo khó có quan điểm: Hãy làm những gì bạn muốn làm ngay hôm nay và cách bạn giải quyết vấn đề của thế giới là hãy giải quyết vấn đề của bản thân. Nhân viên nghèo khó phải có điều gì đó đặc biệt để họ thực hiện Nhân viên nghèo khó nói rất nhiều Nhân viên nghèo có không có sự nghiệp Nhân viên nghèo khó nghĩ rằng phải có X thì mới đạt được Y Nhân viên nghèo khó nghĩ: Nếu ta không làm việc này, những điều tồi tệ sẽ xảy ra Nhân viên nghèo khó nghĩ “Mình không thể rời bỏ” Nhân viên nghèo khó nghĩ rằng họ phải bảo vệ quan điểm cảu mình Nhân viên giàu có học hỏi như thế nào? Nhân viên giàu có luôn luôn học hỏi: nhưng học như thế nào? + Say mê + Đọc + Hãy thử đi nhưng đừng quá cố gắng + Tìm một giáo viên + Nghiền ngẫm lịch sử, xem xét hiện tại + Thực hiện những dự án đơn giản trước + Nghiền ngẫm những gì bạn đã làm + Bạn là trung bình cộng cảu năm người quanh bạn + Làm đi làm lại thật nhiều + Tìm ra lế hoạch xấu xa của bạn Là một nhân viên giàu có, làm sao tôi biết mình có nên nhận việc trong một công ty khởi nghiệp? Hãy xem xét: Liệu vị CEO đã gây dựng doanh nghiệp nào trước đó chưa? Công ty có nguồn vốn huy động tốt không ? + Có đủ tiền để duy trì ít nhất một năm + “Nguồn huy động vốn tốt” + Bạn có tin vào tầm nhìn không? Các nguồn tài nguyên cho nhân viên giàu có Tạo lập một nhóm họp “lựa chọn chính mình” tại nơi ở của bạn Hãy nhớ rằng, một cuộc họi họp thường với số lượng người tham gia khá lớn. Vì thế, bạn cần chia nhỏ số lượng người ra để cuộc họp có hiệu quả. Thêm một gợi ý là bạn có thể bắt đầu bằng những cuộc gặp mặt kéo dài chừng 1 tiếng hoặc 1 tiếng rưỡi. Hãy bắt đầu đúng thời điểm, đừng muộn nhé vì đó là cách bạn tôn trọng thời gian của tất cả mọi người. Tóm lại, bạn là nhân viên hay ông chủ không quan trọng. Quan trọng là bạn tìm được ý nghĩa của cuộc đời. Lựa chọn chính mình là con đường của những chiến binh, rất khó để duy trì một cách thường nhật. Nhưng nếu thành công, không chỉ cuộc đời bạn thay đổi mà còn thay đổi cuộc sống của những người xung quanh bạn.   Tác giả: Anh Thi - Bookademy *** Tóm tắt Cuốn sách "The Rich Employee - Ông Chủ Nghèo Khó Hay Nhân Viên Giàu Có" của tác giả James Altucher đề cập đến một khái niệm mới về sự thành công trong thế giới hiện đại, đó là "nhân viên giàu có". Một nhân viên giàu có là người có thể đạt được sự tự do tài chính, tự do cá nhân và sự thỏa mãn trong công việc, ngay cả khi họ đang làm thuê cho một công ty khác. Cuốn sách được chia thành 10 phần, mỗi phần tập trung vào một khía cạnh khác nhau của việc trở thành một nhân viên giàu có. Các phần chính của cuốn sách bao gồm: Phần 1: Thói quen của một nhân viên giàu có Phần 2: Làm thế nào để trở thành một nhân viên giàu có Phần 3: Chiến lược buổi sáng kỳ diệu Phần 4: Cách tạo ra việc làm thêm Phần 5: Cách xử lý khi bị người khác ganh tị và ghét bỏ Phần 6: Những thói quen của nhân viên giàu có vững tinh thần Phần 7: Cách nhân viên giàu có học hỏi Phần 8: Làm thế nào để biết liệu bạn có nên nhận việc trong một công ty khởi nghiệp hay không Phần 9: Các nguồn tài nguyên cho nhân viên giàu có Review Cuốn sách "The Rich Employee" là một cuốn sách thú vị và đầy cảm hứng. James Altucher đã đưa ra một cái nhìn mới về sự thành công trong thế giới hiện đại, và ông đã cung cấp cho người đọc những lời khuyên thực tế và hữu ích để đạt được sự thành công đó. Cuốn sách được viết một cách dễ hiểu và dễ theo dõi. Altucher đã sử dụng những câu chuyện và ví dụ thực tế để minh họa cho những điểm mà ông muốn truyền tải. Một số điểm nổi bật của cuốn sách bao gồm: Altucher đã đưa ra một định nghĩa mới về sự thành công trong thế giới hiện đại. Sự thành công không chỉ là kiếm được nhiều tiền, mà còn là đạt được sự tự do tài chính, tự do cá nhân và sự thỏa mãn trong công việc. Altucher đã cung cấp cho người đọc những lời khuyên thực tế và hữu ích để trở thành một nhân viên giàu có. Những lời khuyên này bao gồm cách xây dựng thói quen tốt, cách tạo ra việc làm thêm, cách xử lý khi bị người khác ganh tị và ghét bỏ, cách học hỏi và phát triển bản thân,... Altucher đã truyền cảm hứng cho người đọc tin rằng họ có thể đạt được sự thành công, ngay cả khi họ đang làm thuê cho một công ty khác. Đánh giá Cuốn sách "The Rich Employee" là một cuốn sách đáng đọc cho bất kỳ ai muốn đạt được sự thành công trong cuộc sống. Cuốn sách sẽ cung cấp cho bạn những lời khuyên thực tế và hữu ích để giúp bạn đạt được mục tiêu của mình. Một số điểm nổi bật của cuốn sách: Cuốn sách đã đưa ra một định nghĩa mới về sự thành công trong thế giới hiện đại. Cuốn sách cung cấp cho người đọc những lời khuyên thực tế và hữu ích để trở thành một nhân viên giàu có. Cuốn sách truyền cảm hứng cho người đọc tin rằng họ có thể đạt được sự thành công, ngay cả khi họ đang làm thuê cho một công ty khác. Mời các bạn mượn đọc sách Ông Chủ Nghèo Khó Hay Nhân Viên Giàu Có của tác giả James Altucher.
Content Marketing Tất Tần Tật Từ A Đến Z
Tóm tắt & Review (Đánh Giá) sách Content Marketing Tất Tần Tật Từ A Đến Z của tác giả MediaZ. CONTENT Content được dịch là “nội dung”, đơn giản là thuật ngữ để chỉ toàn bộ các dạng thức nội dung sử dụng trong ngành marketing bao gồm chữ viết, hình ảnh, video, âm thanh… Bất kỳ một dạng thức nào mà bạn nhìn, nghe, thấy trên các phương tiện truyền thông. Ai cũng có thể tạo ra content, dù trong tay là một dàn thiết bị khủng hay chỉ là một cây bút chì. Content hiện hữu khắp mọi nơi và không bị giới hạn trong bất kỳ định dạng nào. Mọi thứ bạn nói, bạn viết, bạn vẽ ra đều là content hay thậm chí cả những thứ chỉ nảy sinh trong đầu bạn đều có tiềm năng trở thành content sau này. CONTENT MARKETING “Content marketing là một phương pháp marketing có tính chiến lược, tập trung vào việc xây dựng các nội dung hữu ích, phù hợp và nhất quán, nhằm thu hút và giữ chân một nhóm công chúng riêng biệt để đưa họ tới hoạt động nào đó giúp phát sinh lợi nhuận.” • Content marketing phải hiểu được khách hàng/công chúng mục tiêu của bạn đang gặp phải vấn đề gì? Content marketing không chỉ là cứ sản xuất bừa mà phải sản xuất có chủ ý, có thông điệp và biến thông điệp đó thành một cái gì đó phù hợp, gần gũi với công chúng mục tiêu. • Content marketing phải tạo ra giá trị ngược lại cho doanh nghiệp, ví dụ như giúp doanh nghiệp được yêu thích hơn, được nhiều công chúng biết đến hơn và bán được nhiều hàng hơn. *** Tóm tắt Cuốn sách Content Marketing Tất Tần Tật Từ A Đến Z của tác giả MediaZ là một cuốn sách rất hữu ích cho những người muốn tìm hiểu về content marketing. Cuốn sách cung cấp một cái nhìn tổng quan về content marketing, từ khái niệm, lịch sử, đến các nguyên tắc, phương pháp, và các công cụ cần thiết. Cuốn sách được chia thành 5 phần chính: Phần 1: Giới thiệu về content marketing Phần 2: Xây dựng chiến lược content marketing Phần 3: Tạo ra content chất lượng Phần 4: Phân phối và đo lường hiệu quả content marketing Phần 5: Case study Đánh giá Cuốn sách được viết với văn phong dễ hiểu, dễ tiếp cận, và đầy đủ thông tin. Nội dung cuốn sách được trình bày logic, mạch lạc, giúp người đọc dễ dàng nắm bắt các kiến thức về content marketing. Cuốn sách cung cấp cho người đọc những kiến thức nền tảng về content marketing, từ khái niệm, lịch sử, đến các nguyên tắc, phương pháp, và các công cụ cần thiết. Những kiến thức này sẽ giúp người đọc hiểu rõ về content marketing và áp dụng nó một cách hiệu quả. Cuốn sách cũng cung cấp một số case study thực tế của các doanh nghiệp đã sử dụng content marketing thành công. Những case study này sẽ giúp người đọc có thêm kinh nghiệm và ý tưởng để áp dụng content marketing vào doanh nghiệp của mình. Một số điểm nổi bật của cuốn sách Cuốn sách cung cấp các kiến thức nền tảng về content marketing một cách đầy đủ và dễ hiểu. Nội dung cuốn sách được trình bày logic, mạch lạc, giúp người đọc dễ dàng nắm bắt các kiến thức. Cuốn sách cung cấp một số case study thực tế của các doanh nghiệp đã sử dụng content marketing thành công. Kết luận Cuốn sách Content Marketing Tất Tần Tật Từ A Đến Z là một cuốn sách rất hữu ích cho những người muốn tìm hiểu về content marketing. Cuốn sách cung cấp cho người đọc những kiến thức nền tảng và các kinh nghiệm thực tế để áp dụng content marketing một cách hiệu quả. Mời các bạn mượn đọc sách Content Marketing Tất Tần Tật Từ A Đến Z của tác giả MediaZ.
Inbound Selling - Thay Đổi Phương Thức Bán Hàng Theo Mô Hình Inbound
Tóm tắt & Review (Đánh Giá) sách Inbound Selling - Thay Đổi Phương Thức Bán Hàng Theo Mô Hình Inbound của tác giả Brian Signorelli & Lại Tuấn Cường (dịch). LỜI KHEN TẶNG DÀNH CHO CUỐN SÁCH INBOUND SELLING “Inbound Selling là cuốn sổ tay cho các doanh nghiệp, nhà quản lý và những chuyên gia của ngành sales, những người sẽ phải thay đổi để thích ứng với một thị trường đầy tính cạnh tranh, nơi những người mua đang nắm quyền làm chủ. Đi từ một nhân viên sales cho tới một nhà quản lý, một người đầy năng lực và ham học hỏi, Signorelli đã cống hiến hết mình từ lúc doanh thu công ty đi từ con số hàng chục cho tới hàng trăm triệu đô la mỗi năm. Sự kết hợp giữa các bài phỏng vấn những nhà lãnh đạo tài năng cùng với những bài học từ sách vở và việc huấn luyện, Signorelli đã xây dựng hệ thống chuyên môn về ngành sales tích lũy trong mấy thập kỷ, dành cho mọi cá nhân và tổ chức trong ngành sales. Tôi đã đọc mấy trăm quyển sách về bán hàng, nhưng chưa bao giờ đọc được một cuốn sách đem đến những bài học thực tiễn toàn diện như thế này.” - Peter Caputa IV CEO của Databox “Inbound Selling loại bỏ nhận định cho rằng bán hàng là một từ bẩn thỉu và thay đổi cách bạn nghĩ về việc bán hàng. Đi từ những chiến thuật bán hàng thiếu kiên nhẫn và thiếu sáng tạo phổ biến suốt nhiều năm qua, Brian ủng hộ tính cá nhân hóa và phương pháp tiếp cận người dùng bằng cách xác định và khắc phục khó khăn trong kinh doanh. Mỗi trang đều đan xen những giai thoại hài hước về kinh nghiệm của tác giả để thể hiện một môi trường học hỏi đầy hứng thú cho những người làm sales và những người đang quan tâm tới nó. Đây là một tài liệu đọc gợi cảm hứng và đem đến một chiến lược có tính bước ngoặt, toàn diện và thực tế. Nói một cách ngắn gọn, nếu bạn không sử dụng inbound thì bạn đang làm sai.” - Rachael Plummer Chuyên gia về bán hàng tại HubSpot “Bạn đang cầm trên tay một cuốn sách hoàn chỉnh về hành trình của một người làm sales từ thời xưa cho tới thời nay. Người mua hàng đã thay đổi nhưng nhiều người bán hàng vẫn chưa thay đổi theo. Gần như các quyết định mua hàng đều thực hiện online. Người mua tự tìm kiếm nhiều thông tin hơn là người bán hàng. Người bán hàng cần tìm cách cải thiện những mối quan hệ dễ bị đổ vỡ giữa người bán và người mua. Công nghệ phá vỡ quy trình bán hàng thông thường. Brian đã chứng kiến hết mọi thứ. Anh ấy nói: “Lẽ ra tôi không chọn nghề sales…”. Nhưng sau đó anh ấy đã học và trưởng thành từ một nhân viên trẻ thành trưởng nhóm sales tại HubSpot, trải qua mọi đắng cay ngọt bùi với công việc của mình. Anh ấy dồn hết sức mình vào cuốn sách để đem đến những lời khuyên làm sao để định hướng con đường bán hàng theo lối sống của khách hàng hiện nay. Brian bắt đầu sự nghiệp từ một nhân viên thiếu kinh nghiệm rồi từng bước thăng tiến theo thời gian. Trong suốt cuộc hành trình đó, anh ấy đã phải nghe rất nhiều câu trả lời “Không” đến nỗi mà nghe như là “Có”, tiếp đó là những kinh nghiệm thực tế và cách anh ấy vượt qua khó khăn, tại sao anh ấy quyết định giữ vị trí quản lý sales. Không giống như một cuốn sách về chiến lược lãnh đạo – giáo điều và không thiết thực – cuốn sách này đào sâu từng vấn đề, chia sẻ những thấu hiểu quý báu từ kinh nghiệm cá nhân và bàn luận sâu về cơ chế bán hàng hiện đại. Hãy đồng hành với cuộc hành trình inbound sales này.” - Lindsay Kelley Lãnh đạo Digital and Content Marketing, Telit “Sách bán hàng có hàng tá nhưng hầu như không truyền được cảm hứng và toàn là những nhận định mà chúng ta đã được nghe hàng triệu lần, chỉ có thêm một vài phương pháp luận cho khác biệt. Còn những cuốn sách truyền cảm hứng và độc đáo thì rất ít, thậm chí những cuốn áp dụng được còn ít hơn nữa, và Inbound Selling là một trong những cuốn sách như vậy.” - Sam Belt Chuyên gia bán hàng tại HubSpot “Đây là cuốn sách phải đọc cho bất kỳ ai làm trong ngành bán hàng hoặc đang muốn gia nhập ngành này. Brian đã chỉ ra các bước để có thể chinh phục inbound sales bằng các ví dụ thực tế và những câu chuyện có thật từ những ngày đầu tiên.” - Jill Fratianne Chuyên gia bán hàng và nhà kinh doanh *** Tôi không thể tìm đâu một bộ đôi thú vị, năng động và giàu kinh nghiệm hơn Dan Tyre và Mark Roberge để viết lời mở đầu cho cuốn sách này. Dan Tyre hiện là giám đốc kinh doanh tại HubSpot và từng là nhân viên thứ sáu của công ty. Dan được biết đến trên toàn thế giới với vai trò là diễn giả nổi tiếng, nhà tư vấn, người hướng dẫn, nhà đầu tư cho các cá nhân, công ty về lĩnh vực sales. Mark Roberge từng là nhân viên thứ tư của HubSpot và từng giữ chức vụ trưởng bộ phận kinh doanh, đóng góp của ông đã giúp cho lợi nhuận của HubSpot tăng lên 100 triệu đô la chỉ trong một thời gian ngắn. Hiện tại, Mark vừa là một giảng viên lâu năm tại trường Kinh doanh Harvard, vừa là SVP của Global Sales và giám đốc doanh thu từ năm 2007 đến năm 2016. Và đây cũng chính là “cha đẻ” của cuốn sách bán chạy The Sales Acceleration Formula. Tôi đã đề nghị Dan và Mark cùng bàn luận về lịch sử, tình trạng hiện tại và tương lai của ngành sales trên những luận điểm cá nhân của họ. Lịch sử ngành sales qua nhãn quan của nhân viên bán hàng Dan Tyre Từ trước đến nay, ngành sales luôn phải gánh chịu một vết nhơ trong mắt của tất cả mọi người nhưng không ai biết chính xác tai tiếng này bắt nguồn từ đâu. Cuối thế kỷ thứ 19 là sự khởi đầu của quá trình mở rộng lãnh thổ tại Hoa Kỳ, người dân phải mua hàng hóa thiết yếu từ những tay bán hàng rong bởi vì họ không còn lựa chọn nào khác. Ngành sales chưa thực sự được xem là một “ngành” bởi vì nó chỉ đơn giản là một người nào đó đi khắp nơi với một con ngựa và một chiếc xe đẩy. Yếu tố tạo nên sự khác biệt nằm ở việc vận chuyển, còn sản phẩm và chất lượng chỉ là yếu tố xếp thứ hai. Những người bán hàng rong có quyền lựa chọn chỉ thực hiện giao dịch một lần và không gặp lại khách hàng thêm lần nào nữa nên khách hàng thường xuyên gánh chịu hậu quả xấu. Hoạt động này đã tạo ra một ấn tượng không tốt về người bán hàng. Khi nền kinh tế Mỹ bắt đầu khởi sắc, các gian trưng bày dần trở thành nơi mua sản phẩm nên vai trò của nhân viên sales hoặc chủ cửa hàng bắt đầu trở nên có ích. Việc cung cấp sản phẩm chất lượng đi kèm với dịch vụ tốt được quan tâm hơn do khách hàng biết bạn là ai, bạn ở đâu, và dễ dàng gặp bạn mỗi ngày. Tiến đến những năm 1950, sự thay đổi tất yếu của ngành truyền thông đại chúng và ngành công nghệ đã tạo nên thời đại hoàng kim của lĩnh vực marketing, khi mà đế chế “những gã điên” (Mad Men) đóng góp vào sự nở rộ của xu hướng tiếp thị đại chúng các sản phẩm, dịch vụ trên tivi và radio. Thời điểm đó, marketing được ưu ái hơn sales vì khả năng tạo cầu hiệu quả, ấy vậy mà những nhân viên bán hàng vẫn duy trì mức độ tương đối thấp về phẩm chất, đạo đức và sự tín nhiệm. Khởi đầu của tôi với ngành sales: Những người mua bị tước quyền Vào những năm 1970, tôi đã bắt đầu sự nghiệp bán hàng của mình từ khi còn là một cậu bé tuổi vị thành niên, quả nhiên đây là một công việc rất “chiêu trò”. Hồi đó, sales là sự lựa chọn cuối cùng trong tất cả các ngành nghề, những người lựa chọn nó thường là bất quá mới phải làm hoặc không được sáng dạ cho lắm. Công việc này đúng là vất vả nhưng lại được trả lương tương đối hậu hĩnh mà bạn chẳng cần phải ngồi trong văn phòng cả ngày để làm công việc giấy tờ hoặc đổ công sức học hành vất vả để có học vị cao. Thực tế, thành tích của tôi chỉ rơi vào hạng trung bình và luôn khiến phụ huynh phải cau mày nên tôi nghĩ làm sales là con đường kiếm sống lý tưởng. Công việc đầu tiên tôi làm là bán từ điển cho hãng Southwestern Corporation từ năm 1976 đến năm 1977. Trải nghiệm đó đã dạy cho tôi tất cả về con người, quá trình, nỗ lực và sự vất vả. Tôi đi học tại một ngôi trường nằm ở phía Bắc vùng đô thị New York, nhưng được chỉ định làm việc ở các vùng Bellingham, bang Washington, và Portland, bang Oregon. Tôi không được nhận một đồng lương nào, trải qua một tuần huấn luyện nhóm, tôi và hai người được chiêu mộ khác bắt đầu đi “thực chiến”. Hồi đó, cuốn How to Master the Art of Selling*của Tom Hopkins là “kinh thánh” và tỷ lệ thành công là rất cao. Tuy nhiên, có một vài điều đắt giá mà tôi đã rút ra trong suốt sự nghiệp kinh doanh của mình. Đầu tiên, mọi người không giống nhau và lý do mua hàng của họ cũng không giống nhau, vì thế một người làm sales thành công cần phải biết điều chỉnh hành vi của mình nhằm tăng tỷ lệ chốt đơn. Thứ hai, cần thiết lập một quy trình sales lặp đi lặp lại, ở đó bạn phải xác định đối tượng và cách tiếp cận khách hàng mỗi giai đoạn. Thứ ba, tỷ lệ thành công sẽ tỷ lệ thuận với số lần bạn áp dụng quy trình sẵn có của mình. * Sách đã được First News – Trí Việt xuất bản với tựa Làm chủ nghệ thuật bán hàng. Trong khoảng thời gian đó, chúng tôi tuân theo quy trình tập trung vào người bán, không hề chọn lựa phương pháp tiếp cận và chào hàng với gần như tất cả mọi người (mặc dù đối tượng phù hợp là học sinh và trẻ nhỏ). Việc tiếp cận khách hàng tiềm năng thực sự là một quá trình vật lý, bởi vì bạn phải gõ cửa đến từng nhà và gặp mặt trực tiếp. Quá trình này bao gồm khám phá khách hàng tiềm năng, thẩm định sơ qua về chất lượng, giới thiệu sản phẩm, dựa vào lý do mang tính cảm xúc để mua hàng, giải đáp các phản biện, rồi chốt đơn. Chúng tôi sử dụng các kỹ thuật sales như “Puppy Dog” (cho phép khách hàng giữ cuốn từ điển mà không phải trả lại) hoặc “Porcupine” (trả lời một câu hỏi bằng một câu hỏi). Học được các kỹ năng này rất thú vị bởi vì ngành sales đầy rẫy những điều khó đoán, hơn nữa việc thấu hiểu quá trình ra quyết định mua sẽ cho bạn kiến thức về hành vi con người, điều bạn có thể áp dụng đâu đó trong cuộc đời mình. Vào những năm 1980, tôi làm việc cho một công ty start-up bán máy tính cá nhân IBM và học được một chiến thuật bán hàng tiến bộ hơn, đó là chiến thuật “Định hướng giải pháp”. Thật ra cách này vẫn lấy người bán làm trung tâm nhưng nó lại đề cao việc tập trung khai thác vấn đề của khách hàng thông qua các câu hỏi cụ thể và đem đến cho họ một giải pháp thích hợp. Tính chất của phương pháp này có thể tạo ra sự thay đổi. Đầu tiên, nó liên quan đến việc khai phá nhu cầu thật sự của khách hàng thay vì tập trung vào tính năng của thứ bạn đang bán. Thứ hai, phương pháp này cần bạn phải hiểu rõ mô hình kinh doanh của khách hàng và đánh giá liệu sản phẩm có thể đặt vừa trong mô hình đó hay không. Thứ ba, việc giải quyết được khó khăn của khách hàng tạo ra một lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp của bạn, tăng lòng tin và dễ dàng chốt đơn. Phương pháp này đã mang lại hiệu quả cho công ty của tôi. Sales trong buổi bình minh của content marketing Trong suốt hai mươi lăm năm đầu lăn lộn trong ngành, tôi đã chứng kiến sales và marketing luôn ở hai thái cực trái ngược nhau. Ở thời điểm đó, những người điều hành công ty tăng lợi nhuận bằng việc tuyển một trưởng nhóm sales có tham vọng và tuyển những người làm field sale* để tăng thị phần. Càng có nhiều nhân viên sales thì công ty đó càng ăn nên làm ra. Ngược lại, các nhân viên marketing bị rơi vào thế thất sủng. Với những người trong ban điều hành, marketing là thứ tốn nhiều chi phí nhưng mang lại ít kết quả. Còn với những người quản lý có thâm niên thì cho rằng marketing rất “sến sẩm” và khó định lượng. Việc của marketing là làm thương hiệu và tạo ra nguồn lead**, nhưng nguồn lead này thường đến chậm và tạo ra nhiều câu hỏi nghi ngại về chất lượng. ** Những chuyên viên bán hàng thường hoạt động bên ngoài văn phòng, gặp gỡ khách hàng, đàm phán và thương lượng để trực tiếp chốt đơn hàng. *** Lead: tập hợp đối tượng khách hàng có phản hồi hoặc thể hiện sự quan tâm tới sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp sau chiến dịch marketing. Đối tượng này được coi là khách hàng tiềm năng, có khả năng thuyết phục mua hàng. Khi cả thế giới gần như thay đổi hành vi mua hàng từ các điểm bán trực tiếp sang các kênh online (2000 – 2010) thì marketing mới chứng minh được khả năng của nó trong việc sản sinh lợi nhuận. Vậy nguyên nhân cụ thể tạo ra sự thay đổi đó là gì? Thứ nhất, hiệu quả của việc thu lead từ website cao hơn hẳn việc thu thập bằng tay của bộ phận sales hoặc marketing. Thứ hai, công việc khám phá người mua chất lượng được giảm bớt gánh nặng do nhân viên sales hiểu được đối tượng nào quan tâm đến sản phẩm. Thứ ba, inbound marketing*loại bỏ hoạt động prospecting ** (công việc tốn thời gian và ít giá trị nhất trong quy trình sales) và thay bằng quá trình self-selection (khách hàng tự chủ động khám phá và lựa chọn) để có thể kết nối với những khách hàng mang lại giá trị cao. Thứ tư, quy trình sales được nâng cao mang lại nguồn thu lớn. Thứ năm, giao dịch online thông qua trang web và di động giảm cho sales rất nhiều khoản phí. Cuối cùng, mua bán online tích trữ các nguồn dữ liệu giá trị cho việc cải tiến quy trình sales. * Inbound marketing là marketing dựa trên giá trị, nghĩa là bạn tìm kiếm khách hàng bằng cách thu hút và “nuôi dưỡng” khách hàng tiềm năng với những nội dung, dữ liệu và dịch vụ khách hàng chất lượng, chứ không phải làm phiền họ bằng những email, tin nhắn rác hoặc những quảng cáo phản cảm. ** Prospecting là sự tìm kiếm thông tin khách hàng ở ba cấp độ: Lead (đầu mối khách hàng), Prospect (khách hàng tiềm năng), và Qualified Prospect (khách hàng tiềm năng đủ điều kiện). Vào năm 2007, với vai trò là nhân viên sales thứ hai của HubSpot, tôi rất may mắn được làm việc với Mark Roberge và chứng kiến sự khởi đầu của kỷ nguyên inbound marketing. Ban đầu, tôi tạo lập các mối làm ăn bằng việc gọi điện thoại trực tiếp – từ gia đình, bạn bè cho đến những ai sẵn sàng nghe tôi nói – và giải thích cho họ về giá trị mà HubSpot Inbound Marketing mang lại. Tôi nhận được hai câu hỏi điển hình: “Inbound marketing là gì?” và “Nó sẽ hiệu quả thật chứ?”. Tôi mỉm cười và nói với họ rằng đây là một nguyên lý mới, nhưng tôi hiểu nó và nhận được giá trị nó mang lại với vai trò là một trong những khách hàng đầu tiên tại HubSpot. Chuyển từ sales truyền thống sang sales theo phương thức inbound là một sự cải tiến lớn. Tôi không phải gặp khách hàng trực tiếp nữa mà chỉ cần nói chuyện với họ qua điện thoại. Thay vì đổ thời gian đi tìm đối tượng, tôi chỉ cần làm việc với những người đã có sự quan tâm đến nội dung của công ty (như các bài nghiên cứu hay các bài blog). Tôi không cần phải thực hiện các bài diễn thuyết mà chỉ đơn giản là ngồi xuống nói chuyện với họ sau khi đã tìm hiểu về nhu cầu của khách hàng. Trong mười năm tới, những người làm sales sẽ có những cơ hội mà các marketer đang sở hữu để phân biệt giá trị dựa vào cách thức họ bán hàng. Những marketer đầu tư vào inbound nhận thấy một sự gia tăng rõ rệt trong tỷ suất lợi nhuận từ một thập kỷ qua. Điều này cũng sẽ xảy ra với những người làm sales. Theo tôi, những người làm sales sẽ gặp nhiều thách thức hơn khi thay đổi “luật chơi”, nhưng điều đó không phải là nỗ lực vô ích. Tương lai phía trước cực kỳ mở rộng cho dân sales, đặc biệt là những người sẵn sàng tiếp thu phương thức bán hàng mới, tận dụng công nghệ ngay trước mắt họ và thậm chí đổi sang cách tiếp cận theo nhu cầu khách hàng. Sales hiện tại và tương lai Mark Roberge Khi tôi phỏng vấn và tuyển dụng tác giả của cuốn sách này vào năm 2012, tôi không hề đoán được anh ấy sẽ gây ảnh hưởng đến công ty này như thế nào. Thứ hạng của anh ấy tiến bộ theo thời gian, từ nhân viên sales có biểu hiện tốt nhất cho đến trưởng nhóm sales, tôi thực sự rất tự hào với thành tích mà Brian đạt được. Nhưng tôi còn tự hào hơn nữa khi chứng kiến quá trình Brian thực hiện cuốn sách này. Vào năm 2007, tôi cùng với một vài người bạn cùng lớp tại MIT gia nhập HubSpot, một công ty phần mềm đặt ở Cambridge, Massachusetts. Tôi là nhân viên thứ tư và là nhân viên sales đầu tiên. Sử dụng phần lớn khái niệm mà Brian đã nhắc đến trong cuốn sách này, tôi đã giúp công ty tăng lên 10.000 khách hàng và tạo ra hơn 100 triệu đô la trong doanh thu hàng năm và lãnh đạo một đội ngũ toàn cầu gồm 400 người. Đây là một chuyến hành trình tuyệt vời với những nhịp điệu đầy hào hứng bởi sự tác động của chúng tôi đã đem đến sự hài lòng cho cuộc sống của khách hàng. Tuy nhiên, tuyển vào những người như Brian, theo dõi sự trưởng thành của họ trong tổ chức của chúng tôi và nhìn thấy những đóng góp của họ cho lĩnh vực này có lẽ là phần thỏa mãn nhất trong trải nghiệm của tôi. Từ khi tôi rời HubSpot, tầm nhìn của tôi rộng mở hơn vì tôi có cơ hội được làm việc trong các bối cảnh thị trường đa dạng. Hiện tại, tôi đang giảng dạy toàn thời gian tại Harvard về sales và entrepreneurship. Tôi đã giúp cho nhiều công ty lớn cải tạo thị trường mục tiêu với vai trò là chuyên gia tư vấn tại Boston Consulting Group. Tôi giúp các công ty start-up tăng doanh số bằng việc đầu tư, cố vấn chiến lược, và tham gia vào hội đồng quản trị. Từ những kinh nghiệm này, tôi càng trân trọng phạm vi ứng dụng rộng lớn của inbound selling*. * Trong inbound selling (inbound sales), mục đích của việc bán hàng là bán những giá trị lợi ích cho khách hàng chứ không chỉ đơn thuần là bán sản phẩm. Internet mang quyền làm chủ về tay khách hàng Giống như Dan đã đề cập, ở giai đoạn tiền Internet, người mua hàng phải nói chuyện với nhân viên sales để mua sản phẩm vì họ cần thông tin chi tiết về lời đề nghị mua hàng, so sánh giá cả giữa các bên, cần nguồn lực như thế nào để cài đặt hoặc sử dụng sản phẩm,... Và nhân viên bán hàng đã làm méo mó những thông tin này để khiến khách hàng hợp tác dù họ không phải là đối tượng dành cho sản phẩm. Vì vậy, khi sự đã rồi thì người mua hàng cũng khó tìm lại được kẻ lừa đảo để bắt đền. Cũng từ đây, ngành sales phải chịu một vết nhơ trong hình tượng của mình. Nhưng Internet ra đời đã thay đổi tình cảnh này. Người mua không cần nhờ đến nhân viên để mua hàng nữa vì họ có thể đọc thông tin sản phẩm trên mạng, so sánh sản phẩm giữa các thương hiệu và tìm ra một cái giá hợp lý. Thỉnh thoảng họ có thể thử dùng sản phẩm và mua luôn mà chẳng cần phải nói chuyện với một người nào cả. Vậy điều đó có nghĩa là ngành sales đang dần chết? Tôi không nghĩ như vậy. Nhưng dù sao sự thay đổi của hoàn cảnh cũng khiến cho cách làm sales thay đổi đáng kể. Những kẻ bán hàng thiếu đạo đức cũng không thể thoát tội một cách dễ dàng bởi vì thông tin trên mạng Internet được truyền đi theo từng phút nên việc tìm ra kẻ xấu rất dễ dàng. Điều đó là do sự hiện diện của các trang mạng xã hội (như Facebook, LinkedIn, Twitter,…), các trang review khách hàng (như Yelp, G2 Crowd,…) và các diễn đàn của các công ty. Thực hiện hành vi bán hàng xuyên tạc là một nụ hôn tử thần đối với những người làm sales. Chuyển đổi sang mô hình inbound selling Do bối cảnh mua hàng thay đổi nên một vài vai trò của người bán hàng có thể được tự động hóa. Phương thức bán hàng “Crocodile” (tập trung vào khoe khoang sản phẩm mà không quan tâm đến nhu cầu của khách hàng) sẽ tuyệt chủng bởi vì những kẻ bán hàng này không còn có giá trị gì nữa do những thông tin mà những người này cung cấp cho khách hàng có thể có được chỉ với một cú click. Có những tình huống mà tự động hóa không thể thực thi được, lúc này các inbound salesmen sẽ thay thế cho legacy salesmen. Ví dụ, sản phẩm có nhiều phiên bản khiến cho khách hàng bối rối, hay sản phẩm vừa thâm nhập vào một thị trường mới và người mua không có điều kiện để tiếp cận thông tin. Nhưng trường hợp hay xảy ra nhất là chính khách hàng cũng không thể định hình được doanh nghiệp đang tồn tại những khó khăn và cơ hội như thế nào, nên họ rất cần một nhân viên bán hàng có trình độ để khai sáng cho họ về những điều đó trước khi lắng nghe bất kỳ một lời mời mua hàng nào. Trong những hoàn cảnh như vậy, người bán hàng theo phương thức inbound là kẻ chiếm ưu thế vì họ có thể gắn kết với khách hàng một cách thân mật, thậm chí không khiến khách hàng khó chịu khi truy cập vào thông tin cá nhân của mình. *** Tóm tắt Cuốn sách Inbound Selling - Thay Đổi Phương Thức Bán Hàng Theo Mô Hình Inbound của tác giả Brian Signorelli là một cuốn sách hướng dẫn toàn diện về inbound selling. Cuốn sách cung cấp cho người đọc những kiến thức và kỹ năng cần thiết để trở thành một người bán hàng theo phương pháp inbound hiệu quả. Nội dung chính Cuốn sách được chia thành 5 phần, mỗi phần tập trung vào một khía cạnh khác nhau của inbound selling. Phần I: Tại sao lại là inbound selling Phần này giới thiệu về inbound selling và những lợi ích của nó. Brian Signorelli bắt đầu bằng việc chia sẻ câu chuyện của chính mình, về cách anh ấy bắt đầu sự nghiệp với tư cách là một nhân viên bán hàng và dần dần trở thành một nhà lãnh đạo trong lĩnh vực này. Anh ấy cũng giải thích cách inbound selling đã giúp anh ấy và các đồng nghiệp của mình đạt được thành công trong công việc. Phần II: Làm thế nào để trở thành người bán hàng theo phương pháp inbound? Phần này cung cấp cho người đọc một quy trình bán hàng theo phương pháp inbound bao gồm 7 bước: nhận diện, kết nối, khám phá, tư vấn, kết thúc và đàm phán. Mỗi bước trong quy trình này được giải thích chi tiết, cùng với các ví dụ thực tế và các lời khuyên thực hành. Phần III: Dẫn dắt nhân viên bán hàng theo phương pháp inbound: Những kinh nghiệm dành cho các quản lý sales tiên phong Phần này dành cho các nhà quản lý sales. Brian Signorelli chia sẻ những kinh nghiệm của mình trong việc dẫn dắt một đội ngũ bán hàng theo phương pháp inbound. Anh ấy cũng cung cấp các lời khuyên về cách xây dựng một đội ngũ bán hàng hiệu quả và cách giúp các nhân viên bán hàng của bạn phát triển nghề nghiệp. Phần IV: Inbound selling có ý nghĩa gì trong điều hành? Phần này thảo luận về tầm quan trọng của inbound selling trong việc xây dựng một doanh nghiệp thành công. Brian Signorelli giải thích cách inbound selling có thể giúp các doanh nghiệp thu hút khách hàng tiềm năng, tăng doanh số và cải thiện lợi nhuận. Phần V: Tương lai của ngành sales và nghề sales chuyên nghiệp Phần này đưa ra những dự đoán về tương lai của ngành sales và nghề sales chuyên nghiệp. Brian Signorelli tin rằng inbound selling sẽ trở thành phương pháp bán hàng phổ biến nhất trong tương lai. Anh ấy cũng khuyến khích các doanh nghiệp và người bán hàng chuẩn bị cho sự thay đổi này. Đánh giá Cuốn sách Inbound Selling - Thay Đổi Phương Thức Bán Hàng Theo Mô Hình Inbound là một cuốn sách hữu ích cho bất kỳ ai quan tâm đến inbound selling. Cuốn sách cung cấp cho người đọc những kiến thức và kỹ năng cần thiết để trở thành một người bán hàng theo phương pháp inbound hiệu quả. Ưu điểm của cuốn sách: Cung cấp kiến thức và kỹ năng toàn diện về inbound selling Nội dung được trình bày rõ ràng, dễ hiểu Có nhiều ví dụ thực tế minh họa cho các khái niệm Cung cấp các bài tập thực hành giúp người đọc áp dụng kiến thức vào thực tế Nhược điểm của cuốn sách: Một số nội dung có thể hơi cũ, cần được cập nhật Nhìn chung, cuốn sách Inbound Selling - Thay Đổi Phương Thức Bán Hàng Theo Mô Hình Inbound là một cuốn sách đáng đọc cho bất kỳ ai muốn tìm hiểu về inbound selling và cách áp dụng nó vào thực tế. Mời các bạn mượn đọc sách Inbound Selling - Thay Đổi Phương Thức Bán Hàng Theo Mô Hình Inbound của tác giả Brian Signorelli & Lại Tuấn Cường (dịch).