Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Giấu Anh Vào Trong Nỗi Nhớ Của Em Đi - Hân Như

Cuối cùng thì phần 3 của Chỉ có thể là yêu sắp đến tay bạn đọc rồi, anh chàng Hải Long lạnh lùng cùng siêu xe Windy và chàng lãng tử Huy Khánh tái xuất sẽ đem lại những bất ngờ gì? Các bạn đón chờ nha Lời tác giả: Thân gửi bạn đọc yêu quý. Cũng đã gần hai năm kể từ ngày cuốn tiểu thuyết “Chỉ có thể là yêu” đầu tiên được đặt lên kệ sách, cũng là ngần ấy thời gian tôi dành hết tâm huyết cho cuốn tiểu thuyết thứ ba có tên là “Giấu anh vào trong nỗi nhớ của em đi” này. Gần hai năm không phải là một thời gian ngắn nhưng cũng đủ dài để tôi suy ngẫm và tìm cho mình một con đường, một lối đi riêng trong sáng tác. “Giấu anh vào trong nỗi nhớ của em đi” chính là bước chuyển trung gian trong sự thay đổi về tư duy đó của tôi. Đây là cuốn tiểu thuyết chính thức đóng lại series tiểu thuyết “Chỉ có thể là yêu”, đóng lại thế giới của những chiếc siêu xe và những con người đam mê bất tận với trò chơi tốc độ. Đồng thời, nó cũng mở ra một tư duy sáng tác mới cho bản thân tôi. “Giấu anh vào trong nỗi nhớ của em đi” sẽ không có câu chuyện tình yêu nhiều ngọt ngào mà cũng đầy mâu thuẫn như “Chỉ có thể là yêu”, cũng không nhẹ nhàng mà đầy đau khổ như “Yêu không hối tiếc”, nó lặng lẽ và giản dị như một chiều trời xanh đầy nắng và gió. Ở cuốn tiểu thuyết này, tôi hy vọng sẽ đem đến cho độc giả cái nhìn rộng mở hơn về cuộc sống, về môi trường, về xã hội, về những mâu thuẫn tưởng chừng rất đơn giản nhưng không hề dễ tháo gỡ, về những câu chuyện tình yêu không phải lúc nào cũng có kết thúc đẹp, về những hạnh phúc mà người ta phải đi một vòng thật lớn, thậm chí đánh đổi rất nhiều thứ mới ngỡ ngàng nhận ra rằng, nó vẫn ở ngay bên cạnh mình. Có nhiều người hỏi tôi, tại sao lại không viết về thế hệ tiếp theo của “Yêu không hối tiếc” mà lại quay ngược về quá khứ của “Chỉ có thể là yêu”? Cuộc sống vốn là một vòng luẩn quẩn giữa những mối quan hệ nhiều chiều, khi một câu chuyện này khép lại, sẽ lại có một câu chuyện mới mở ra. Câu chuyện mới ấy lại là bắt đầu của một câu chuyện khác nữa, và biết đâu, kết thúc của nó lại chính là khởi đầu của câu chuyện đầu tiên. Cứ theo cái vòng tròn ấy, bạn sẽ nhận ra có nhiều điều khá thú vị và bất ngờ trong cuộc sống của chính mình. Khép lại cuốn cuối cùng trong series tiểu thuyết “Chỉ có thể là yêu”, tôi sẽ bắt đầu với một chủ đề mới, ở đó nhân vật cũng có những sở thích và đam mê mới. Vẫn là những câu chuyện tình yêu nhưng ở đó, tôi tìm được sự trưởng thành của chính mình qua các nhân vật của tôi. *** Cuộc đua! Hạ Chi không biết mình ngủ quên từ lúc nào, khi cô mở mắt ra thì trời bên ngoài đã tang tảng sáng. Chăn gối xung quanh đều nhàu nhĩ- hậu quả của việc cô đã khóc rất nhiều trước khi ngủ quên vào đêm qua. Cô chỉ nhớ một điều là lần cuối cùng cô xem giờ thì khi ấy đã gần 2h sáng. Cô đợi Nguyên đến tận lúc đó để có thể nói chuyện với anh, nhưng rốt cục Nguyên đã không về, và lúc này anh đã về hay chưa cô cũng không biết nữa. Chợt cô lắng tai nghe, có tiếng Nguyên đang nói chuyện ở bên ngoài, hình như là qua điện thoại. -Mẹ cư xử như thế rồi làm sao còn mặt mũi mà nhìn bố mẹ đẻ chị ấy nữa. Mẹ nên để thằng Boo ở với chị ấy hơn là giữ khư khư nó bên mình hay để nó sống với một người cha vô trách nhiệm và một bà mẹ kế. -… -Tại chị ấy hay tại anh con? Mà suy cho cùng cũng là tại mẹ. Ngày ấy mẹ biết anh con đã có người yêu mà vẫn ép anh ấy lấy chị Dung. Nếu không phải tại anh ấy sống không đúng trách nhiệm của một người chồng, một người cha thì chị ấy có cần phải đi tìm một chỗ dựa khác hay không? Vì sao bắt chị ấy phải sống như một người vợ góa và thủ tiết thờ một ông chồng còn sống sờ sờ và rất hạnh phúc bên người phụ nữ khác ở trước mắt? -… -Tại con sao? Con đã chấp nhận ra đi cả chục năm trời, chẳng phải cũng vì cái danh dự của gia đình như mẹ nói sao? -… -Được rồi, có phải con lấy vợ và quên hẳn chị ấy thì mẹ sẽ nhượng bộ phải không? -… -Con hy vọng mẹ giữ lời nói ngày hôm nay. Chiều nay con đưa chị Dung về và mong bố mẹ thu xếp ổn thỏa mọi việc. Con chào mẹ. Sau câu chào đó, căn phòng lại trở về với vẻ lặng ngắt đến rợn người. Hạ Chi nhắm mắt lại khi nghe tiếng mở cửa phòng. Nguyên bước vào, ngồi xuống bên giường, khẽ đưa tay gạt tóc cô sang một bên rồi cúi xuống hôn lên thái dương cô. Anh cứ như thế ngồi nhìn cô cho tới tận khi Hạ Chi không nhịn được đành giả vờ cựa mình rồi mở mắt ra. Thấy cô thức giấc, anh cúi xuống nhìn, thấy đôi mắt cô hơi đỏ không biết là do thiếu ngủ hay do cô đã khóc nữa? -Hôm qua Vincent đưa em về lúc mấy giờ?- Anh cười hỏi. -Tầm 11h.- Giả vờ như không hề biết chuyện gì xảy ra, cô đáp lại- Anh uống rượu sao? -Ừ, tối qua có uống hơi nhiều nên anh ngủ ở ngoài salon, em không thích mùi rượu mà. Hạ Chi nhìn nụ cười gượng ép của anh, định hỏi mọi chuyện mà mình vẫn ôm trong lòng từ hôm qua đến giờ, nhưng rồi cô lại cố gắng đè nén nó xuống. Nụ cười như muốn chứng minh rằng anh đã làm gì có lỗi với cô khiến Hạ Chi có phần hơi cay đắng trong lòng. -Mình lấy nhau nhé!- Nguyên nắm lấy tay cô và đột ngột đề nghị. Câu nói là Chi sững lại trong mấy giây. Nếu như không nghe được cuộc nói chuyện của anh với mẹ khi nãy, có lẽ cô sẽ cảm thấy hạnh phúc lắm. Nhưng lúc này cô chỉ cảm thấy có chút đau đớn ê chề khi biết anh đề nghị đám cưới chỉ vì thỏa thuận với mẹ anh. Anh chỉ muốn đánh đổi hạnh phúc của cô lấy hạnh phúc của một người phụ nữ khác mà anh cũng rất yêu mà thôi. Sự thực thì một người đa tình như anh sẽ yêu cô được bao nhiêu phần? Cô có thể trói giữ anh được bao nhiêu ngày? Có thể được anh yêu hơn người phụ nữ bị chồng bỏ kia hay không? -Em đang nghĩ gì vậy? Em không tin anh sao?- Nguyên ngạc nhiên khi thấy cô ngồi thẫn người ra. -Không sao. Em chỉ đang nghĩ tới anh Lâm thôi. Nguyên siết lấy tay cô an ủi: -Thanh Lâm sẽ bình an thôi, em đừng lo lắng quá! -Em còn có một mình anh ấy là người thân, nếu anh ấy còn sống thì em muốn đợi đến ngày anh ấy có thể tiễn em về nhà chồng. -Anh có thể đợi cùng em, nhưng đó là trước khi Vincent xuất hiện. Từ khi biết mối quan hệ giữa hai người, anh luôn có cảm giác lo sợ. Anh sợ khi em nhớ lại, em sẽ không còn là của anh nữa. -Chuyện đó để sau đi anh. Em nghe anh Trung nói có gặp chị dâu anh ra đây tìm anh. Ở nhà có chuyện gì sao? -Ừ, cũng có chút rắc rối, chiều nay anh phải về Hà Nội ngay. Em đi cùng luôn chứ? Anh sợ về đó rồi sẽ không ra đây ngay được đâu. Công việc đợi anh sắp ngập cổ rồi. -Em ở lại cho tới cuộc đua của bác sĩ rồi sẽ về cùng chị Hương. -Vậy cũng được. Nhớ về sớm đấy, anh sẽ rất nhớ em. -Vâng. -Nhưng còn chuyện của em và Vincent…- Nguyên ngập ngừng mãi cũng không tìm ra được lời nào thích hợp để nói. -Cho tới khi em nhớ ra, thì em chỉ biết rằng em yêu mình anh mà thôi. Em nghĩ anh ấy sẽ hiểu và thông cảm. -Anh về Hà Nội rồi, em nhất định không được để nó tán tỉnh đâu đấy.- Anh dí một tay lên trán cô, trừng mắt.- Thôi dậy đi, anh đưa em đi ăn sáng và qua chỗ Thiên Anh chút. *** Hạ Chi không nhớ nổi đây là lần thứ bao nhiêu cô gọi cho Quân và đều được thông báo là thuê bao không liên lạc được. Sau khi xuất hiện và đặt cho cô một đống nghi vấn, anh lại biến mất một cách kì lạ như thế. Cô nên tin ai đây? Thiên Anh? Nguyên? Vincent? Hay Quân? Chưa lúc nào cô lại mong gặp lại anh trai mình như lúc này, có lẽ chỉ có Thanh Lâm là người duy nhất không lừa dối cô. Nguyên đã về Hà Nội cùng Dung cách đây hai ngày. Và cho tới tận khi anh đi, cô đã nhiều lần muốn hỏi đêm đó anh đã ở đâu, có ở cạnh người phụ nữ kia hay không? Nhưng câu hỏi cứ tới cửa miệng lại bị nuốt chửng trở lại, không sao thốt ra được. Một nửa cô tự an ủi mình rằng Nguyên sẽ không bao giờ làm điều không đúng đó, rằng anh không hề đến và ở bên người đàn bà đó như cô tưởng tượng, nhưng một nửa cô lại hoài nghi lòng tin ấy của mình. Người như anh có thể dễ dàng dứt bỏ tình cảm với người mà anh đã yêu đơn phương suốt mười năm trời hay sao? Và cả Trung nữa. Cô chưa biết phải nói gì với anh về chuyện giữa cô với Nguyên, hoặc cũng có thể Trung đã đoán ra hết nhưng không nói gì. Ngày hôm qua đi cùng Trung dạo khắp đảo nhưng cô vẫn chưa tìm ra cơ hội để nói chuyện đó với anh. Mặc dù cho tới lúc này cô không dám chắc mình và Nguyên sẽ đi được tới đâu, nhưng cô cũng không muốn lừa dối một người như Trung. -Anh có ở khách sạn chứ? -Ừ, anh vừa về tới. Chút anh mời em đi ăn tối nha.- Vincent nhiệt tình đáp lại. -Cũng được. Em đang ở phòng khám, chút nữa sẽ về khách sạn. Em cũng có chuyện muốn nói với anh mà. -OK, vậy lúc nào về tới nơi thì gọi cho anh. -Vâng. Thở dài một hơi, Hạ Chi đứng dậy và quay sang nói với Phượng. -Chị về khách sạn đây. Hôm nay em chịu khó ở lại phòng khám một mình nhé! Ngày mai cuộc đua diễn ra nên chắc đêm nay bác sĩ không về đây đâu. Có gì thì em cứ gọi cho anh ấy, anh ấy sẽ về ngay. -Dạ em biết rồi. Hạ Chi cười chào cô bé rồi ra khỏi phòng khám. Hôm nay thời tiết tương đối dễ chịu, lại đang là buổi chiều nên trời tương đối mát mẻ. Ngày mai đã là lễ ra mắt câu lạc bộ đua xe rồi nên mấy hôm nay Thiên Anh cũng rất bận rộn, hết chạy lên trung tâm làm việc lại ghé qua phòng khám rồi tới khách sạn họp mặt với anh em của đội đua xe. Cũng nhờ có sự kiện ồn ào này mà mấy ngày nay Cát Bà đông khách đột biến. Các khách sạn lớn nhỏ đều hết phòng, xe lớn xe nhỏ chạy ào ào trên phố. Công tác chuẩn bị cho cuộc đua đầu tiên này cũng được giám sát chặt chẽ. Đường từ phòng khám về khách sạn khá xa nên bình thường, nếu Nguyên không đưa cô đi thì Hạ Chi thường đi lại bằng xe bus. Từ nơi xuống xe về đến khách sạn khoảng chừng 1km thì cô đi bộ, coi như ngày hai buổi thể dục. Ngày mai sau khi cuộc đua kết thúc, cô sẽ đi cùng Hương về Hà Nội. Cô sẽ kiếm một công việc nào đó ở thành phố và đợi cho tới khi có tin tức của Thanh Lâm. Mặc dù cho tới nay không có tin tức gì, bản thân cô cũng biết là dữ nhiều lành ít, nhưng cô không tỏ ra vô vọng mà vẫn tin sẽ có một ngày anh trai mình trở về. Từ giờ cho tới lúc đó, cô cần phải tiếp tục sống, tiếp tục tồn tại. Cô cũng không muốn mãi để Thiên Anh hay Nguyên lo cho mình. Cho tới hiện tại, cô cũng đã nợ họ một ân tình quá lớn rồi. Đó là những điều Hạ Chi dự định sẽ nói cho Trung biết vào tối nay. Anh sẽ về Lang Biang của anh, còn cô có cuộc sống của mình ở Hà Nội, ít nhất cho tới khi cô nhớ ra mọi chuyện. Vừa đi vừa nghĩ thơ thẩn nên chẳng mấy chốc khách sạn Paradise đã xuất hiện trước mắt Hạ Chi. Ở khách sạn hàng đầu này không lúc nào là vắng khách, vắng xe đẹp hay người đẹp ra vào. Mấy ngày này, phóng viên nhà báo cũng tới đây để phỏng vấn thành viên của hội đua xe rất nhiều nên càng nhộn nhịp hơn. Phía trước khách sạn, đèn hoa treo vô cùng tráng lệ, một tấm bảng quảng cáo lớn treo ngay trên mái cao giới thiệu về các thành viên hội đua xe cũng như những chiếc xe con cưng của họ. Không biết những anh chàng công tử của hội chơi xe đã bỏ ra bao nhiêu tiền bạc cho sự kiện ồn ào và vô cùng hoành tráng này, nhưng chỉ nhìn người ta cũng biết đó không phải một con số nhỏ. Mặc dù quen Thiên Anh và Long- hội trưởng và hội phó của câu lạc bộ này nhưng Hạ Chi cũng chưa bao giờ trực tiếp tiếp xúc với các thành viên còn lại. Họ luôn có một vẻ xa lạ và cao ngạo quá đáng khiến cô cảm thấy không muốn làm quen một chút nào. Hơn nữa, cô cũng cảm thấy những anh chàng này càng lắm tiền thì càng nhiều tật, ngoại trừ Thiên Anh ra thì ngay cả Nguyên cũng không tránh khỏi những tật xấu của đám con nhà giàu nói chung. Đang định rẽ vào con đường dẫn vào khách sạn thì cô nghe thấy tiếng còi xe inh ỏi từ phía sau. Hạ Chi ngoảnh đầu lại, chỉ thấy một chiếc Toyota màu đen đang trờ tới, cũng chẳng cần quá ngạc nhiên vì mấy ngày nay xe ra vào ở đây rất nhiều, tới nỗi khách sạn phải thuê thêm hẳn một bãi đậu xe ở cách đó không xa cho khách để xe. Cô khẽ tránh sang một bên để xe đi vào. Chiếc xe chầm chậm tiến tới, nhưng đầu xe vừa vượt qua cô thì nó chợt dừng lại. Hạ Chi ngẩn người khi thấy có mấy người đàn ông từ trên xe bước xuống, không để cô kịp có phản ứng thứ hai, một trong ba người đàn ông nhanh chóng khóa tay cô lại, người thứ hai bịt ngay lấy miệng cô còn người thứ ba thì mở cửa xe. Tất cả các hành động diễn ra quá nhanh, gần như là chớp nhoáng nên Hạ Chi một tiếng cũng không kêu được, một phản ứng cũng không thể có, cô bị bọn họ lôi tuột vào trong chiếc xe màu đen. Và chiếc xe quay đầu chuyển bánh chạy thẳng về phía ngược lại với hướng mà cô vừa đi. Cùng lúc đó… Trường đua xe Ngư Long- trường đua xe chuyên nghiệp đầu tiên được xây dựng ở Việt Nam. Quãng đường đua dài hơn 10km tạo thành một vòng khép kín quanh nửa hòn đảo. Hai bên đường đua là hàng rào chắn kiên cố bảo vệ để tránh những tai nạn thảm khốc có thể xảy ra. Mặt đường được thiết kế theo tiêu chuẩn của đường đua quốc tế với những đoạn đường thẳng tắp xuyên qua núi hay những khúc cua- được coi là điểm nhấn kinh điển của các đường đua xe men theo bờ biển. Tại những khúc cua này, nếu tay đua không bản lĩnh và quyết đoán thì rất dễ xảy ra tai nạn, thậm chí là lao cả xe xuống vực núi hay biển. Bắt đầu từ ngày khởi công xây dựng cho tới lễ khánh thành vào ngày mai, trường đua này đã trở thành tâm điểm của những hội mê tốc độ cao. Những tay đua xe ô tô hay mô tô đều hướng về nó, khát khao một ngày được bay trên những cung đường này. Ngày cuối cùng trước khi chính thức khai trương đường đua, hầu như không có phóng viên nhà báo nào được phép tới đây vì các tay đua thường xuyên tới đây để thử xe cũng như làm quen với mặt đường và các khúc cua, nếu không cẩn thận rất dễ xảy ra tai nạn. Lúc này, ở vị trí xuất phát của đường đua có ba chiếc xe ô tô đang đỗ, ngoài ra còn có vài chiếc mô tô dừng ở đó không xa. Nổi bật nhất trong số đó là chiếc xe màu trắng, thon dài, mui trần mà bất cứ ai nhìn vào cũng không thể rời mắt ngay sau đó được. Tên chiếc xe là Windy. Ngồi bên trong chiếc xe là một anh chàng vẻ mặt hơi u uất, có chút dữ tợn và lạnh lùng. Chủ nhân chiếc xe này không phải ai khác, chính là người lâu nay nhận lời Thiên Anh để mắt tới Hạ Chi- Hải Long, đồng thời là chủ tịch câu lạc bộ đua xe. Chiếc xe thứ hai có màu xanh da trời- một chiếc Porsche mới coóng, ngồi trong xe là Thiên Anh- anh chàng bác sĩ đa tài. Chiếc xe thứ ba có màu da cam- một chiếc Ferrari được đặt tên là Prince Sun. Nó còn có một tên khác là Hoàng Tử Chói Chang vì màu sắc quá nổi bật luôn khiến người ta phải nóng rực mắt lên vì vẻ hấp dẫn của nó. Ngồi trong chiếc xe thứ ba này là Huy Khánh- một anh chàng đào hoa và lãng tử, đồng thời cũng là một nha sĩ trẻ ở Hà Nội. Ba chiếc xe xếp theo thứ tự đường đua 1, 2, 3, dường như đang chuẩn bị cho một cuộc đua thử. Phía sau họ là vài chiếc mô tô phân khối lớn mang nhãn hiệu của Suzuki- một tập đoàn sản xuất xe phân khối lớn có thương hiệu trên toàn thế giới. Mấy cậu thanh niên đang ngồi vắt vẻo trên xe vẻ ung dung nhàn hạ, có lẽ họ chỉ tới đây để xem cuộc đua của ba chiếc siêu xe trước mặt mà thôi. Hải Long đang chỉnh lại dây an toàn thì đột nhiên điện thoại rung lên. Khẽ cau mày một cái không vừa lòng, nhưng rốt cuộc anh cũng cầm máy lên nghe: -Đại ca, cô gái ấy bị bắt cóc rồi. ...

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Bay Đêm
Ngay khi ra mắt độc giả vào năm 1931, Bay đêm - được Antoine de Saint-Exupéry viết trong những ngày lưu lại Argentina - đã được công chúng hào hứng đón nhận và giành được nhiều giải thưởng của giới phê bình ở cả Pháp và Mỹ, trong đó có Giải thưởng Fémina uy tín. Với Saint-Exupéry, Bay đêm trên hết là một khúc tráng ca về màn đêm và những con người dũng cảm đi tiên phong trong ngành hàng không. Ở tác phẩm này, lại một lần nữa, vốn kinh nghiệm của một phi công lão luyện đã giúp ông vẽ nên những khung cảnh hùng vĩ đầy sắc màu, đầy thơ mộng nhưng cũng ẩn giấu những nguy hiểm khôn lường dưới đôi cánh bay. Tác phẩm đã được xuất bản ở Anh và Mỹ ngay từ năm 1932 và một năm sau đó, được hãng Metro Goldwyn Mayer chuyển thể thành phim, đưa tên tuổi của Saint-Exupéry đến toàn thế giới. “Bên dưới đôi cánh bay, những quả đồi đã rạch sâu thành đường xé nước thẫm màu trong ánh vàng ban chiều. Đồng nội rạng rỡ ánh sáng, sáng kéo dài đến bất tận: ở đất nước này đồng nội không khi nào ngừng hắt lên ánh vàng, cũng như vào lúc tàn đông, chúng không khi nào ngừng hắt lên màu trắng tuyết. Đôi khi, sau trăm kilômét thảo nguyên còn hoang vắng hơn cả biển cả, anh bay ngang một nông trại hẻo lánh, anh chợt thấy như nó chở nặng những kiếp người lui lại phía sau, giữa những sóng cồn đồng cỏ, và thế là anh đã nghiêng cánh chào con tàu thủy ấy.” *** BAY ĐÊM – ANTOINE DE SAINT EXUPÉRY #Thái Trung Tín #14CVH1 Là câu chuyện về một thế giới riêng tư, chỉ có những con người sống trong thế giới ấy mới cảm thấy mình được thảnh thơi và thoải mái, Bay đêm của Saint – Exupéry đại diện cho tiếng nói của thời đại vào những năm thập niên 30 của thế kỷ XX, đặc biệt là những người hoạt động trong ngành hàng không. Cuốn sách được viết nên sau một vụ tai nạn máy bay vào năm 1923, Saint – Exupéry bị giải ngũ, ông không còn lái máy bay tại trung đoàn Không quân ở Strasbourg và Casablanca. Bay đêm chuyên chở những giá trị về số phận của con người trước sự khắc nghiệt của thiên nhiên, của thời đại. Nó như một thông điệp đẹp đẽ nhất, mang trọn ý nghĩa sống mãnh liệt về sự dũng cảm kiểu mới trong thời đại công nghiệp. Toàn bộ Bay đêm là sự tương tác “hài hòa” giữa những phi công như Fabien, những giám đốc cấp trên như Revière hay những Kiểm soát viên không lưu, những thợ máy và cả vợ của Fabien là Simone Fabien. Và hơn hết, dưới cánh bay là một chuỗi câu chuyện dài cho những số phận bi tráng, nghiệt ngã: “Đôi khi, sau trăm kilômét thảo nguyên còn hoang vắng hơn cả biển cả, anh bay ngang một nông trại hẻo lánh, anh chợt thấy như nó chở nặng những kiếp người lui lại phía sau, giữa những sóng cồn đồng cỏ, và thế là anh đã nghiêng cánh chào con tàu thủy ấy”. Cứ ngỡ Fabien sẽ may mắn trở về bình an như những chuyến tàu chuyên chở thư tín khác, nhưng cuối cùng mọi thứ đều vùi trong sự chờ đợi mỏi mòn. Hôm ấy là lúc nửa đêm trong lúc chợp mắt với vợ mình, Fabien nhận được cuộc gọi theo lệnh của Revière sẽ đảm nhiệm chuyến bay đêm đi châu Âu, trên con tàu Patagonia. Trước những nỗi lo lắng của vợ Fabien, chàng phi công điềm tĩnh trả lời những câu hỏi từ phía vợ mình với một nụ cười mỉm: “Thành phố này... anh sẽ xa nó nhanh lắm. Ra đi vào lúc đêm thật tuyệt. Anh yêu ngôi nhà của anh. Anh có trời đẹp và đường anh đi lát đầy sao”. Fabien đại diện cho kiểu người dũng cảm nhất trong xã hội Pháp lúc bấy giờ. Đối với anh, công việc bay đêm chưa bao giờ làm anh chán nản. Anh âm thầm vượt qua bóng tối, vượt qua những cơn dông hãi hùng, vượt qua biển đêm sâu thẳm hay chinh phục dãy núi Andes bằng đôi bàn tay vững chắc, quyết đoán. Anh chinh phục chúng bằng những kinh nghiệm của riêng anh, bằng sự tin đoán và trí tuệ của một người phi công. Fabien dường như biết được mình khó có thể quay trở về, khó có thể sống sót vì mọi thứ với Fabien đã tắt lịm, chỉ còn mình Fabien trong buồng lái và xung quanh anh là bầu trời tĩnh mịch. Anh bị tách bạch vào một thế giới mới, anh không thể nhận bất cứ nguồn thông tin nào từ các trạm điều khiển Không lưu: Trelew, Commodoro, San Antonio, Bahia Blanca, Buenos – Aires: “Đối với người phi công, đó là một đêm không bờ bến, vì nó không dẫn tới một bến đậu (dường như mọi bến cảng đều không thể tới nổi) cũng chẳng dẫn tới bình minh: trong vòng một giờ bốn mươi phút nữa sẽ hết xăng. Vì sớm hay muộn cũng bắt buộc phải đắm chìm mù mịt trong cái dày đặt này”. “Anh thấy như thể vật chất cũng nổi lên phản kháng. Mỗi lần lao xuống, động cơ lại rung mạnh khiến cho chiếc máy bay cả toàn khối rung lên như nổi giận. Fabien kiệt sức để chế ngự con tàu, đầu anh chúi sâu trong buồng lái, trước mặt là đường chân trời xoay tròn chuyển vần, vì ở bên ngoài anh không phân biệt nổi giữa khối trời và khối đất, lạc lõng trong bóng đêm hỗn độn, một bóng đêm thời hoang sơ của muôn loài”. Dù bản thân có giỏi đến đâu, đứng trước cơn phẫn nộ của thiên nhiên, con người ta đều cảm thấy mình bé nhỏ: “Anh lẽ ra có thể đấu tranh thêm nữa, cố tìm một cơ may: không có cái định mệnh bên ngoài con người. Nhưng có một cái định mệnh bên trong con người: sẽ tới cái phút giây con người thấy mình vô cùng nhỏ yếu; khi ấy các sai lầm cuốn hút ta như con choáng váng”. Và dẫu Fabien đối diện với ranh giới giữa sự sống – cái chết, anh vẫn giữ thái độ lạc quan, anh cố gắng từng phút một để tìm kiếm bầu trời của chính mình, tìm kiếm ánh sáng. Nơi đó chỉ có mình anh cảm nhận được mọi khoảnh khắc của đời người, chỉ có mình anh hiểu được niềm tin yêu cái đẹp và những hoài niệm quan trọng cỡ nào, và hơn bao giờ hết “Fabien nghĩ mình đã bay tới những xứ sở huyền hoặc lạ kỳ, vì tất cả bỗng trở nên sáng lòa, cả tay anh, quần áo anh, đôi cánh anh. Vì ánh sáng không tỏa xuống từ các thiên thể mà tỏa ra từ bên dưới anh, chung quanh anh, từ những đám dự trữ màu trắng kia”, “Anh lang thang giữa vô vàn vì sao tích tụ dày đặc như một kho báu, trong một thế giới không có gì khác, tuyệt nhiên không có gì khác đang còn sống ngoài anh”. Fabien đã chiến thắng bản thân mình, anh đã cống hiến hết khả năng của mình trong quãng thời gian được bay và còn bay được. Anh hoàn thành trách nhiệm được giao một cách xuất sắc, cho đến khi “anh lang thang giữa những đá quý lạnh cóng, giàu có đến vô cùng, nhưng cái chết đã kề”. Revière cũng thế, dù cho ông là người phụ trách cả mạng lưới các tuyến bay, song ông vẫn có những lần bị tình cảm, cảm xúc chi phối. Ông yếu đuối ngay trong sự bản lĩnh của chính mình. Ông đã từng nghĩ rằng những người điều khiển máy bay không được phép sai sót, dù đó là những chi tiết nhỏ nhất. Ông kỉ luật những phi công bay về trễ, ông không để tâm mấy đến những chuyến bay đáp cánh trễ giờ, miễn làm sao phải đúng giờ là được. Nhưng mọi thứ với ông chỉ là bề ngoài, ông tỏ vẻ trang nghiêm bởi vì ông biết công việc của ông chẳng hề dễ dàng, chỉ lơ là một chút thì những chuyến tàu thư kia sẽ không có cơ hội trở về. Ông trân trọng thời gian và nhận ra rằng “Tưởng chừng như thật sự vào một lúc nào đó, con người sẽ có thể có thời gian, tưởng chừng như đến đầu mút cuộc đời con người có thể giành giật được cái thanh bình diễm phúc mình vẫn thường mơ tưởng. Nhưng thanh bình là điều không có. Chiến thắng cũng có thể là điều không có. Không có cái bến đậu dứt khoát của tất cả các con tàu thư”. Không khác gì Fabien, Revière cũng có những lúc bị thiên nhiên quật ngã. Tại trạm Không lưu không nhận được tín hiệu nào, mọi máy móc hiện đại cũng trở thành những cổ máy chết hoặc sự chủ quan trong công việc đã vô tình giết chết những tay điều khiển cừ khôi: “Đó là một trận gió xoáy Thái Bình Dương, chúng ta được nhận thông báo quá muộn. Vả lại, những trận gió xoáy đó không khi nào vượt qua dãy Andes. Lúc ấy không thể đoán biết là cơn gió xoáy đó tiếp tục đi về hướng Đông”. Reviève đầy kinh nghiệm sống, ông là mẫu đàn ông quyết đoán. Khi tiếp xúc trực tiếp với những phi công thì sẽ tỏ thái độ khác, khi trực tiếp tiếp xúc với thanh tra Robineau lại với thái độ khác “Những con người ấy hạnh phúc vì họ yêu mến điều họ làm, và họ yêu như vậy, bởi vì tôi cứng rắn”. Có thể ông đã làm cho mọi người đau khổ, nhưng cũng bằng cách đó ông đem lại cho họ những niềm vui mạnh mẽ “Phải đẩy họ tới một cuộc đời mạnh mẽ, một cuộc đời có cả đau khổ lẫn niềm vui nhưng là cuộc đời duy nhất đáng kể”. Reviève tự trách mình tuổi đã cao trong khi công việc thì đầy rẫy ra đó “Biết bao công việc đã làm để đi đến cái bước này! Năm chục tuổi đời; năm mươi năm mình đã sống đủ đầy, đã tự đào tạo, đã đấu tranh, đã làm đổi dòng các biến cố, để bây giờ đây, đó lại là điều mình bận tâm và chất chứa và được coi là quan trọng bậc nhất trên đời... Thật là kỳ cục”. Khuôn mặt của toàn chuyến bay thật đẹp nhưng khắc nghiệt. Nó phải bắt chúng ta phải trả giá bằng nhiều con người, và là những con người trẻ trung nhất – những con người đã từng không biết mình cao đẹp “Ta không biết điều ta làm có phải là tốt hay không. Ta không biết rõ cái giá trị đích xác của kiếp người, của công lý cũng như của nỗi phiền muộn. Ta không biết đích xác niềm vui của con người có nghĩa lý gì. Không biết cả về một bàn tay đang run rẩy. Cả tình thương, cả sự dịu dàng...”. Cuộc sống vẫn bấp bênh chất chưởng, con người tìm mọi cách vật lộn giành giật với cuộc sống... Thế nhưng, còn việc tồn tại lâu bền, còn việc sáng tạo, còn việc đổi trao cái thần xác mềm yếu mỏng manh của mình thì lại khác, biết đâu hôm nay ta chiến thắng nhưng hôm sau ta thất bại; biết đâu hôm nay ta còn nhiệt huyết nhưng hôm sau ta dường như muốn dừng lại và buông bỏ mọi việc hay biết đâu hôm nay ta còn sống, còn cười nhưng hôm sau ta đã trở về với bầu trời, với những vì sao, mãi mãi. Bay đêm thật ra là một câu chuyện mà Saint – Exupéry muốn chia sẻ với tất cả những đồng nghiệp làm nghề hàng không, muốn chia sẻ với những con người đang sống trong xã hội công nghiệp. Bề ngoài họ có thể hào nhoáng nhưng tận sâu trong bên trong họ là những người cần được yêu thương và đồng cảm, những con người mà chẳng hề biết mình sẽ đi về đâu. Bay đêm là tiếng nói đại diện cho đất nước Pháp, cho toàn thế giới rằng ở đâu đấy trong cuộc sống này, vẫn còn những con người hy sinh thầm lặng, họ chỉ biết yêu bầu trời và xem bầu trời chính là ngôi nhà đặc biệt của họ. Đã cất cánh rồi thì phải chiến đấu đến cùng. Bay đêm dạy cho ta biết chấp nhận những điều rủi ro mà cuộc đời luôn luôn cho phép xảy đến, đùng một cái người vợ phải co ro vì thiếu chồng, đùng một cái phải nghẹn lời chia tay với “chiến binh” – là người thân của mình. Trơ trọi. Tàn nhẫn. Lạnh tanh. Cho đến hôm nay khi có thời gian nhìn lại, bản thân chúng ta sẽ càng biết trân trọng những con người hoạt động trong nghề hàng không. Và trên mỗi chuyến bay của cuộc đời mình, chúng ta mới thấu hiểu được rằng “Một khi đã vạch xong con đường, con người không thể nào không đi tiếp”. Lúc đó nhìn lại cuộc đời và tìm kiếm cho mình cái đam mê, sự nhiệt huyết và trách nhiệm với bản thân, cộng đồng và đất nước. Thế giới đó không có quá nhiều về sự thịnh vượng của vật chất, tiền tài mà là hòa nhập vào nhịp điệu của sự chia sẻ, hoàn thiện mình từng ngày và trên hết là biết quan sát cuộc sống. Và sau tất cả những giông bão bao quanh, người ở lại phải sống thay phần của người đã khuất, sống một cuộc đời trọn vẹn hơn. Với lối kể đứt quãng, kết cấu phân mảnh cùng giọng điệu chân thực. Bay đêm dựng nên một bức tranh nhiều màu sắc với khoảng trống khác nhau trong thời gian, không gian và khai thác chiều sâu tâm lý của con người thông qua hành động một cách đa sắc thái. Đọc từng câu chữ, ta có thể dễ dàng phát hiện ra chất điện ảnh trong Bay đêm, từ đó dựng nên bộ phim cho riêng mình – bộ phim về một chuyến Bay đêm chinh phục những chặng đường chông gai đang đón đợi. *** [Review 2018] Bay Đêm – Antoine de Saint-Exupéry Chất văn của Antoine de Saint-Exupéry luôn song hành hai mặt đối lập: một là cái thơ mộng, trìu mến, cái đẹp lẩn khuất trong sự vật, mặt còn lại chính là sự thực của cuộc sống vừa bình thản mà chân thật. Khi mà ta đã trót sa vào cái lớp lụa nhung kết từ chữ của Saint-Exupéry rồi mê mải tận hưởng nó thì ông lại dẫn ta vào cái mặt phẳng phũ phàng của hiện thực. Tôi không thấy cái bi lụy hay khắc nghiệt trong văn của Antoine de Saint-Exupéry, dù cho với những đoạn văn mà nhân vật cận kề sinh tử, thì câu chữ, khung cảnh ông tạo nên vẫn rất đỗi êm dịu, đẹp đẽ như cái vuốt từ ngón tay người thương, hoặc là sự chân thành, hy vọng và nghiêm cẩn đằng sau nỗi suy tư của người ở lại. Tôi đã chẳng biết phải viết tiếp như thế nào sau mấy dòng chữ trên cho đến khi lại có một đêm mất ngủ, nằm thao thức rồi chợt nhớ tới Bay Đêm, liền ngồi dậy bật máy lên gõ thử vài dòng. Cũng xin nói, mấy câu có vẻ màu mè trên là cảm nghĩ của tôi sau khi đọc hai tác phẩm của Antoine de Saint-Exupéry mà thôi, không dám múa rìu qua mắt thợ. Còn lẽ sao bài này lại đổi đại từ nhân xưng thành “tôi”, vì tôi muốn vậy thôi.   Antoine de Saint-Exupéry ngoài việc làm nhà văn thì còn kiêm nghề phi công, nên qua Bay Đêm mà khắc họa lại cho người đọc cái niềm vui, tình yêu, khó khăn, dấu ấn của nghề phi công thuở ngành hàng không còn mới sơ khai. Nhiều người, trong đó có cả tôi đều kêu rằng Bay Đêm khó đọc quá, dù rằng nó chẳng nặng chuyên môn khó hiểu nhưng ta lại bỡ ngỡ với cách viết của Saint-Ex khi ông cứ liên tục đổi góc nhìn giữa các nhân vật với nhau mà viết. Đôi khi dịch giả Châu Diễn lại làm người đọc thêm bối rối bằng vài chỗ dịch như sau: “Như một hành trang, ông luôn luôn mang theo cái vẻ âu sầu ấy.”. Nhưng tôi xin cam đoan với bạn, nếu bạn kiên trì đọc tới trang 59 rồi lật sang số 60, trải nhiệm đọc của bạn bỗng trở nên mượt mà rất nhiều. Nếu chưa được, hãy dành cuốn sách này cho những đêm mất ngủ, bật đèn lật sách, mơ màng vượt biển ngắm sao trên cánh con tàu bay chất đầy thư gửi nơi xa.   Như tôi đã nói, cuốn truyện chừng hai trăm trang này kể về những chuyến bay vận chuyển thư tín diễn ra trong cảnh đêm và qua nhiều góc nhìn khác nhau từ những con người đã gắn mình với công việc ấy: người chỉ huy, người truyền điện tín, phi công, ông thanh tra hay người vợ trẻ của anh phi công. Tôi thích góc nhìn của Rivière – vị thủ trưởng chỉ huy các chuyến bay đêm, một con người vừa nghiêm khắc, gan lì, không nhân nhượng nhưng cũng có lúc mềm lòng để suy tư về những con người làm việc dưới quyền chỉ huy của ông. Đọc những đoạn văn trăn trở của ông mà tôi vừa không đồng ý lẫn nể phục tinh thần quyết đoán của Rivière. Ông rèn luyện cấp dưới của mình để họ nghiêm túc với công việc, không đổ lỗi cho hoàn cảnh và dám chịu trách nhiệm với việc mình làm. Nhưng ngược lại, đôi lúc ta lại thấy Rivière quá xa cách, không biết cảm thông với những người đồng nghiệp. Dầu sao vẫn phải thừa nhận rằng Rivière đúng, trên cương vị của một người thủ lĩnh, ông phải duy trì tỉnh táo, nghiêm khắc, tránh bi lụy để đương đầu với khó khăn và duy trì nhiệm vụ. Tai nạn luôn có thể xảy ra và từ những đau khổ, ta phải rút ra bài học, cải thiện hơn nữa, như chính Rivière nhận định: “Những thất bại tăng thêm sức mạnh cho những kẻ sung sức.” — Rivière Nhưng dù hành động của Rivière có phục vụ cho mục đích cấp tiến nào đi chăng nữa thì sinh mạng, sự an toàn của con người luôn là ưu tiên và phải được pháp luật bảo hộ. Trong một cuốn truyện ngắn thì thôi cũng không nên yêu cầu nhiều. Với Rivière, màn đêm là vô tận, là trách nhiệm không ngừng nghỉ. Thì với Fabien, với những người phi công khác, mặt đất là chốn xa xôi, bầu trời bất tận mà đẹp đẽ, là nỗi chán chường, sự hào hứng, nỗi nhớ đất liền, là sự tự hào về con tàu bay. Tôi thích cả bầu trời sao trăng giữa giông bão của Fabien, thích cả bầu trời của Fabien qua ánh mắt mến mộ của người vợ trẻ: “Anh có trời đẹp, đường anh đi lát đầy sao.” Nay tôi xin dừng bút, vì thực là hết chữ rồi. Có nhiều đoạn văn đẹp trong Bay Đêm tôi sẽ không trích lại, gập cuốn sách này mà phải gật đầu đồng ý với lời bạt ở bìa sách: Bay đêm đẹp, mê hoặc mà đầy nguy hiểm. ***   Rating: 5 out of 5. Saint-Ex vẫn như thế, vẫn cái giọng văn trữ tình đẹp đẽ như thơ ấy mà ta đã mong được gặp lại kể từ Hoàng Tử Bé, dẫu rằng lần này đó là chất thơ trong đanh thép. Trước khi được nói đến điều ta ghi dấu nhất từ cuốn sách, ta xin được cảm thán cách Saint-Ex miêu tả bầu trời đêm với sao, trăng, mây gió và giông tố. Niềm say mê, tình yêu tha thiết với ánh sáng tuyết trắng của trăng và sao trải lên sáng lóa trên dải mây ngàn là điều dễ hiểu, nhưng dường như ta còn thấy trong ông là niềm bao dung, biện hộ cho cả những cơn giông bão dữ dội nuốt chửng đồng đội của ông. Ta đọc và nghe tình yêu ấy ngấm vào mình một cách dịu dàng, từ khi nào ta thôi còn oán trách những khắc nghiệt trên đường đi nữa? Ngày xưa khi học môn Xác suất thống kê, ngụp lặn trong vô vàn công thức tính toán, ta còn nhớ thầy giáo đã bảo rằng: “Các em có thể quên môn học này, có thể quên mớ kiến thức của nó, nhưng đừng quên nguyên tắc Số Lớn khi bước ra đời”. Khi ấy ta chỉ lờ mờ hiểu được cách vận dụng của nó trong các quyết định: Không có gì tuyệt đối cả, nếu phải chọn hãy chọn phần lớn. Nhưng đến khi ta biết đến Rivière, một hình tượng của người lãnh đạo, người mang trên mình sức nặng của Vĩ Đại và Chiến thắng, ta đã sáng rõ hơn về cái được gọi là Số Lớn. Những thất bại, những mất mát đã xảy ra, và sẽ tiếp tục diễn ra nhưng không vì thế mà Rivière chậm trễ, ngưng trệ một chuyến tàu. Ông sẽ không vì một sinh mạng đã tan biến, một hạnh phúc đã ngừng thở mà bỏ cuộc, mà không tiếp tục đưa những con tàu vào đêm tối. Tại sao một chuyến tàu thư cho một thành phố lại quan trọng hơn mạng sống quý giá của một con người, hơn cả hạnh phúc của một gia đình êm ấm? Tại sao cả một dân tộc điêu đứng cho một bức tường mang tên Vạn lí trường thành? Tại sao hàng vạn người chết đánh đổi cho những hòn đá xếp chồng lên nhau mang ý nghĩa Kim tự tháp? Có đáng giá không khi biết bao hạnh phúc để đánh đổi cho những sự vật như thế? Có, “Quyền lợi chung do các quyền lợi riêng hợp thành: nó không biện bạch thêm một tí gì khác.” Có một thứ gì đó còn cao quý hơn cả những mạng sống, những hạnh phúc cá nhân ấy. Đó là cái gì? Hàng vạn số phận đã mất đi là nhiều, nhưng vẫn là số ít so với nhân loại này. Còn số lớn còn lại, họ nhận được thứ được gọi là Văn Minh, là Thành tựu, là những bằng chứng cho những điều Vĩ Đại vượt trên sức mạnh nhỏ bé của con người. Nếu không có sự hi sinh của số ít thì số ít ấy sẽ được sống nốt số phận của mình, và rồi cũng sẽ biến mất đi, nhưng nhân loại sẽ trôi đi như những hạt bụi không vết tích. Rivière đã làm đúng những gì cần làm, sự cực đoan ấy tàn nhẫn ấy không phải để thỏa mãn cho cái Tôi vị kỉ ngạo mạn, ông hết lòng bảo vệ những chuyến tàu, và cũng dũng cảm dâng hiến chúng cho Chiến thắng và Số Lớn. Ta quý trọng và nể phục những con người như Rivière, họ bước những bước vững chải qua sự yếu hèn của con người, nắm chặt trong tay niềm tin sắt đá để bước đến điều Vĩ Đại và dám chấp nhận những thất bại để đến gần với Chiến Thắng hơn. Chỉ cần có họ, nhân loại sẽ còn hi vọng về sự tiến hóa. Và cuối cùng, ta xin được trích dẫn một câu ta nghĩ rằng Saint-Ex đã nói hộ lòng mình bấy lâu nay: “Chúng ta không đòi hỏi sự vĩnh cửu, mà chỉ đòi hỏi không phải chứng kiến các hành động mà sự vật bỗng chốc mất hết ý nghĩa. Khi đó, cái trống rỗng bao quanh ta sẽ hiện ra…”. Khi đã chứng kiến những hành động ấy đôi lần, ta trở nên vô cùng sợ hãi cái sự thật rằng sự vật sẽ trở nên vô nghĩa trong đời sống này… Ta không biết mình sẽ thở thế nào trong sự chân-không ấy. Nhưng vẫn theo nguyên tắc Số Lớn, ta chấp nhận đánh đổi những giờ khắc trống rỗng khủng khiếp ấy để đi đến cái Chiến thắng mà niềm tin của ta xây dựng nên, như cách Saint-Ex xây dựng trong suốt đời mình. Mời các bạn đón đọc Bay Đêm của tác giả Antoine De Saint-Exupéry.
Bà Chúa Chè
Cuộc đời của tuyên phi Đặng Thị Huệ và bối cảnh đất nước thế kỉ 18. Những biến cố, những cuộc ganh đua quyền bính. Dưới góc nhìn của nhà văn Nguyễn Triệu Luật, hình ảnh của Đặng Thị Huệ hiện lên khác hẳn với rất nhiều tác phẩm đương thời. Bên cạnh Bà Chúa Chè là tác phẩm Rắn báo oán, viết về cuộc đời và số phận của Nữ học sĩ Nguyễn Thị Lộ, vụ án Lệ Chi viên và số phận oan khiên của Nguyễn Trãi. Nguyễn Triệu Luật đã tự mình mở ra một dòng sáng tác tiểu thuyết lịch sử rất đáng trân trọng. Đương thời ông là nhà văn được độc giả yêu thích. Chẳng thế mà các nhà văn tài danh như Nguyễn Tuân, Hiền Chy, Đái Đức Tuấn... cũng như các nhà nghiên cứu văn học nổi tiếng như Vũ Ngọc Phan, Trúc Khê, đều có những bài viết ca ngợi ông. Ngày nay, truyện của Nguyễn Triệu Luật vẫn rất đáng được đọc để hiểu về lịch sử Thăng Long một thời xa xưa, cũng như kĩ thuật viết văn của tiểu thuyết gia Việt Nam một thời cách nay cũng đã ít nhất là hai ba thế hệ. *** Nguyễn Triệu Luật (1903-1946), bút hiệu: Dật Lang, Phất Văn Nữ Sĩ; là nhà giáo, nhà văn, nhà báo và là thành viên sáng lập Việt Nam Quốc dân Đảng vào năm 1927 tại Việt Nam. Ông là người làng Du Lâm, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, ngoại thành Hà Nội). Ông là cháu nội của Hoàng giáp Nguyễn Tư Giản (1823 - 1890) và Cử nhân Nguyễn Án (1770 – 1815), thuộc một dòng họ có nhiều người đỗ đạt và nhiều người làm quan lớn. Thuở trai trẻ, Nguyễn Triệu Luật học tại Trường nam Sư phạm Hà Nội, đến khi tốt nghiệp, lần lượt đến dạy tại một số trường công ở Tuyên Quang, Hà Nội, Hải Phòng. Năm 1927, ông cùng Nguyễn Thái Học, Phạm Tuấn Tài tham gia thành lập Việt Nam Quốc dân Đảng...Sau khi cuộc tổng khởi nghĩa thất bại, mười ba đồng chí của ông, trong đó có lãnh tụ Nguyễn Thái Học, bị thực dân Pháp xử chém ở Yên Bái ngày 17 tháng 6 năm 1930; thì ông cũng bị thực dân cầm tù cùng với hai nhà văn khác là Nhượng Tống và Trúc Khê. Một thời gian sau ông được tha, nhưng bị buộc thôi nghề dạy học. Kể từ đó, ông quay sang làm báo, viết cho nhiều tờ như: Nam Phong, Trung Bắc tân văn, Ích hữu, Tao đàn, Tiểu thuyết thứ Bảy, Nhật Tân...Trong những năm 1937-1939, ông được mời vào giảng dạy tại trường tư thục Lê Văn ở Vinh. Chính thời gian này, ông viết nhiều tác phẩm nhất. Năm 1940, ông bị thực dân Pháp đưa đi an trí, và qua đời năm 1946, lúc 43 tuổi [3]. Hiện nay, ở quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh, có con đường mang tên Nguyễn Triệu Luật. Tác phẩm chính Theo Từ điển bách khoa Việt Nam, vào năm 1935, nhân đọc cuốn Vua Hàm Nghi của Phan Trần Chúc, Nguyễn Triệu Luật viết cuốn Ông Phan Trần Chúc bôi nhọ quốc sử, rồi sau đó ông soạn một loạt sách truyện ký lịch sử bao gồm: Hòm đựng người (in từng kỳ trên báo Nhật Tân vào năm 1936, 1938 in thành sách)[4] Bà chúa Chè (Nhà xuất bản Tân Dân - Hà Nội, 1938) Loạn kiêu binh (Nhà xuất bản Tân Dân - Hà Nội, 1939) Ngược đường Trường thi (Phổ thông bán nguyệt san số 46, 1939) Chúa Trịnh Khải (Nhà xuất bản Tân Dân - Hà Nội, 1940) Rắn báo oán (1941) Thiếp chàng đôi ngã (in chung với Rắn báo oán, 1941) Bốn con yêu và hai ông đồ (1943) Chúa cuối mẻ (đăng dở dang trên tờ Tiểu thuyết thứ Bảy từ số 1, tháng 6 năm 1944 đến số 9, tháng 3 năm 1945). Ngoài ra, ông còn có nhiều tiểu luận, tạp luận đây đó trên nhiều báo và tạp chí đương thời, kể từ tờ Nam Phong tạp chí (1923), tờ Phụ nữ thời đàm mà ông là Chủ bút kế nghiệp nhà văn Phan Khôi trong 4 số cuối cùng, các tạp chí Tri tân, Tao đàn... Cho đến nay vẫn chưa sưu tập được đầy đủ. Năm 2011, Các tiểu thuyết lịch sử của ông đã được tập hợp in lại trong cuốn Tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Triệu Luật do Nhà xuất bản Khoa học Xã hội ấn hành. *** Năm ấy là năm Tân Mão, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 32 đời vua Lê Hiển Tông Vĩnh hoàng đế, nhà chúa vào năm thứ năm đời chúa Tĩnh đô vương Trịnh Sâm, lịch tây vào năm 1771. Một buổi trưa tháng năm, giữa mùa hạ. Hai bên cầu, hai cánh đồng ruộng chiêm nước ngập liền bờ, chạy thẳng tít đến lận chân núi Nguyệt Hằng và núi Chè. Giá không có những ngọn cây gáo nước lơ phơ trên mặt nước để phân bờ ruộng, giá không có mấy con trâu đương bừa bì bõm, nước chấm đến bụng, thì chiếc cầu và con đường người ta tưởng như vắt ngang một cái hồ rộng hoặc một cánh đồng lụt ngút ngàn. Trong cầu, một bọn vài chục người đương ngồi nghỉ mát, quang gánh không vứt bừa bãi giữa sàn cầu. Giữa cầu một bà già đương ngồi múc nước và chan canh riêu vào bún bán cho khách đi chợ về giải khát và đã đói. Ngoài ruộng, mặt nước mỡ cua hắt ánh nắng hạ đầu mùa, đưa lên toàn hơi lửa. Bọn ngồi trong cầu đều là bọn người tổng Ném đi bán chè ở chợ Lũng Giang chân núi Nguyệt Hằng về. Mời các bạn đón đọc Bà Chúa Chè của tác giả Nguyễn Triệu Luật.
Cư Kỉnh
Văn học nghệ thuật của một đất nước thì mang những đặc trưng riêng của đất nước đó. Tuy nhiên trong quá trình phát triển văn học nghệ thuật cũng chịu những tác động của các yếu tố bên ngoài, vì thế khi thì nó phát triển theo con đường đúng đắn, có khi lại đi lệch hướng. Và sự lệch lạc đó trong văn học nghệ thuật nó cũng gây những tác động tiêu cực tới nếp sống và cách suy nghĩ của con người. Trong tiểu thuyết “Cư kỉnh” tác giả Hồ Biểu Chánh đã nói lên được thực tế đó ở Việt Nam thời gian đầu thế kỷ XX. Nhân vật Chí Cao trong “Cư kỉnh” là một điển hình cho sự băng hoại đạo đức của một bộ phận trí thức thế kỷ XX. Chí Cao – một tiểu thuyết gia tên tuổi được nhiều độc giả biết tới, nhưng anh đã lợi dụng văn chương để làm u muội và lừa gạt tình cảm độc giả của mình. Cuối cùng anh đã phải trả giá cho những việc không tốt mà anh đã gây ra. Với cách hành văn giàu chất Nam Bộ, lối nói nhẹ nhàng thủng thỉnh, ngôn từ giản dị, trong khoảng hơn năm mươi trang nội dung Hồ Biểu Chánh đã cho ta thấy được phần nào sự phát triển văn học Việt Nam thời kỳ đầu của thế kỷ XX và sự suy đồi nhân cách của một bộ phận trí thức thời kỳ đó. Tiểu thuyết giàu giá trị phê phán đồng thời cũng giúp ta sáng tỏ một chân lý sống: Gieo nhân nào thì hái quả đó, gieo gió thì phải gặp bão. Vì thế mà Chí Cao lừa gạt tình cảm của cô Túy đã phải trả giá bằng chính mạng sống của mình. *** Hồ Biểu Chánh là một nhà văn lớn của Nam Bộ vào những năm đầu thế kỉ 20 với những xáo trộn xã hội do cuộc đấu tranh giữa mới và cũ. Tiểu thuyết của ông, gồm hơn 60 quyển, chủ yếu xoay quanh các vấn đề đạo đức, nhân nghĩa, tình đời bị cuốn trôi, bị xen lẫn, phải vùng vẫy trong làn hương mê muội của tiền bạc. Đọc về Nam Bộ xưa là tiếp xúc với những ngôn từ có phần chân quê, lạ lẫm thêm cách nói chuyện hưỡn đãi, nhưng cũng không kém phần tinh tế vì những khía cạnh của một câu chuyện tưởng như chân chất bình thường lại được xoáy vào ở mọi góc cạnh, và bất giác khiến ta giật mình khi những gai góc của nó lộ ra. Đọc truyện của Hồ Biểu Chánh, cũng là một bước nhìn lại quá khứ, không phải của tôi, mà là của con người, của thiên hạ, đế thấy con tạo xoay vần, nhân gian biến đổi, nói thiệt, không khỏi có chút chạnh lòng. *** Chủ bếp hầu đang ngồi lim dim ngoài cửa, trông cho mau được về trại ăn cơm, thình lình tên Tú bước vô đưa phong thơ của ông Huyện và mượn trình liền cho quan lớn. Chủ bếp thấy quan lớn đang viết nên lấp ló không dám vô. Cách một hồi, quan Chủ quận ngước lên thấy chú bếp thì hỏi: - Muốn chi đó, chú bếp? - Bẩm quan lớn, có thơ của ông Huyện hàm dặn đưa gấp cho quan lớn. - Đem vô đây. Quan Chủ quận lấy thơ mở ra xem, thì thấy thơ như vầy: "Kính bẩm quan lớn, Tôi kính bẩm cho quan lớn rõ: tôi mới nghe dường như trong nhà tôi có manh mối xa gần về vụ án mạng mà quan lớn đương tra xét đó. Tiếc vì tôi không có thể hỏi mà phân manh mối ấy được, vậy tôi cúi xin quan lớn vui lòng dời gót đến nhà tôi đặng tra xét tường tất cho ra chơn lý. Cúi xin quan lớn nhậm lời Huyện Hàm TÂN Kính bái thơ" Quan Chủ quận đọc thơ rồi ngài lắc đầu thở ra, thủng thẳng xếp thơ bỏ vào hộc tủ rồi đứng dậy bước ra cửa mà đi, không nói cho bà lớn hay, mà cũng không dạy bếp hầu đi theo. Bước vào cửa ngõ của ông Huyện Hàm Tân, quan Chủ quận thấy ông đương thơ thẩn trong vườn hoa, thì đi riết vô. Ông Huyện thấy quan Chủ quận đi một mình thì cũng bươn bả đón rước. Chủ khách chào nhau và dắt nhau đi vô nhà. Ông Huyện thấy một tên bạn làm vườn đang lui cui nhổ cỏ gần đó thì kêu mà biểu nó đi mời Hương quản. Quan chủ quận thì nghiêm nghị, còn ông Huyện thì tư lự, cử chỉ ấy làm cho cuộc hội diện chiều nay đã không vui vẻ, mà còn có không khí nặng nề khó chịu. Quan chủ quận vừa ngồi, thì bà Huyện ở trong bước ra chào, nét mặt quyết đoán chớ không có vẻ buồn lo. Quan Chủ quận không nói tới việc ngài mới đọc trong thơ, có ý nhường cho ông Huyện khởi đầu, đặng dọ coi việc nhà của ông Huyện chuyển biến ra thể nào. Công việc đến đây, dường như ông Huyện hối ngộ sự ông viết thơ mời quan Chủ quận. Ông ngó bà với cặp mắt buồn hiu và ngồi im lìm không nói chi hết. Biết chủ nhà khó mở miệng, và quyết đem sự tín nhiệm để thay sự ngần ngại ấy, quan Chủ quận mới chẫm rãi hỏi ông Huyện: - Ông Huyện nghe việc chi mà ông nói vụ án mạng dường như có manh mối? Câu hỏi ấy dường như xô đẩy ông Huyện bước tới, lại cũng chặn đường không cho ông thối lui, bởi vậy ông ngó bà rồi thủng thẳng nói: - Bẩm quan lớn, việc đó như vầy: hồi sớm mơi nầy tôi nghe người ta nói kín cho tôi biết lúc vợ chồng tôi đi Sài Gòn ở trển 10 bữa, thì ở nhà một đêm nọ, lối 10 giờ, có bóng người mặc đồ trắng, không rõ đàn ông hay đàn bà, ở phía sau vườn tôi vạch rào chỗ đám trầu mà qua bên vườn Chí Cao rồi hơn một giờ sau cái bóng ấy trở lại. Đêm sau cũng thấy như vậy nữa, mà lần nầy bên vườn Chí Cao lại có thêm một cái bóng nữa, hai bóng lần lần đi vô nhà Chí Cao, đến gần sáng mới trở ra tới rào, rồi một cái đi qua bên vườn của tôi.    Mời các bạn đón đọc Cư Kỉnh của tác giả Hồ Biểu Chánh.