Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Viên Tướng Của Đạo Quân Chết - Ismail Kadare

Viên Tướng Của Đạo Quân Chết là câu chuyện về cuộc tìm kiếm hài cốt binh sĩ ở Anbani của một viên tướng sau 20 năm chiến tranh kết thúc - một cuộc hành trình của tâm trạng và nhận thức của một kẻ mang niềm kiêu hãnh, một nước lớn đi khai hóa văn minh cho một nước bé. Nhưng vượt lên tất cả những điều ấy là hình ảnh một đất nước Anbani hiểm trở, hùng vĩ với những truyền thống đẹp đẽ, lâu đời , với những con người ngoan cường dũng cảm, biết vượt qua những đau thương của chiến tranh để tự khẳng định mình...." Mê và cay đắng, viên tướng của đạo quân chết là khúc bi thương cho những người trẻ tuổi của tất cả những quốc gia đã bị đưa ra nước ngoài để chết cho cuộc chiến". *** Ismail Kadare là một nhà văn còn trẻ (ông sinh năm 1936) nhưng đã có một vị trí hàng đầu trong văn học Albania hiện đại. Ông nổi tiếng ngay từ tập thơ đầu tay «Mùa xuân tương lai» sáng tác năm ông mới mười tám tuổi rồi năm 1957, ông đoạt giải thưởng văn học quốc gia với trường ca «Những niềm mơ ước». Một trường ca khác của ông - «Công chúa Argjiro» - được độc giả Albania rất ưa thích. Ông còn có một tập truyện ngắn «Đám cưới». Tuy nhiên tên tuổi ông chỉ thực sự được biết đến ở nước ngoài với cuốn tiểu thuyết «Viên tướng của đạo quân chết». Nội dung cuốn sách này thật ra rất đơn giản. Hai mươi năm sau khi chiến tranh kết thúc, một viên tướng (tác giả cố ý không nói rõ họ tên, tuổi tác, quốc tịch của hắn; người đọc chỉ «ngẫu nhiên» biết hắn cao một thước tám mươi hai và đoán chừng hắn là người Ý) cùng với một linh mục, hàm đại tá, làm thông ngôn, sang Albania để tìm kiếm thi hài các binh sĩ của đạo quân phát xít nước hắn đã tử trận ở Albania. Theo những bản danh sách và bản đồ được lập sẵn một cách công phu, tỉ mỉ, hắn và ông linh mục, có một cán bộ chuyên môn Albania và một kíp công nhân đi cùng, đã lặn lội khắp đất nước Albania, đào bới, thu nhặt những nắm xương tàn của đạo quân phát xít hai mươi năm trước đây đã bại trận. Cuộc tìm kiếm kéo dài hai năm ròng rã; các bộ hài cốt tìm thấy được bỏ vào các túi nylon đặc biệt màu xanh, sọc trắng, viền đen và gửi về cho các gia đình đã bao năm nay chờ đợi chồng con họ. Cuối cùng, viên tướng hoàn thành công việc, tổ chức lễ cầu hồn, mở một tiệc chiêu đãi nhỏ rồi lên đường về nước. Câu chuyện chỉ có vậy, bình thường và có thể nói là khô khan nữa, đến cái mức tưởng đâu như không có gì để viết được thành một cuốn tiểu thuyết. Nhưng Ismail Kadare đã biết chọn một góc nhìn độc đáo. Ông không kể lại câu chuyện theo chủ quan của ông, một người Albania, mà là thông qua con mắt của viên tướng, quân nhân một nước trước đây đã tiến hành một cuộc xâm lăng tàn bạo và đẫm máu trên đất nước Albania và giờ đây nhận nhiệm vụ đi sang Albania với rất nhiều định kiến. Ismail Kadare chỉ để cho nhân vật chính của ông nhìn thấy và kể lại những gì phù hợp với tính cách của hắn. Có thể nói đất nước Albania được miêu tả ở đây không phải là đất nước Albania của bản thân tác giả mà là một đất nước xa lạ nhìn qua con mắt của viên tướng: toàn núi non ghê rợn, với bùn lầy, mưa tuyết, gió lạnh… Ngay câu mở đầu cuốn sách đã xác định rõ cách nhìn ấy: «Mưa pha tuyết rơi trên đất khách…»; đó cũng là câu bắt đầu chương chót và cuốn sách chấm dứt với câu: «gió vẫn thổi không ngừng». Trong hai năm trời lang thang đây đó để khai quật mồ mả, viên tướng chỉ nhìn thấy có bùn lầy mùa thu và mưa tuyết mùa đông. Qua câu chuyện kể lại theo một trình tự thời gian chặt chẽ, Ismail Kadare đã không để cho viên tướng được thấy cảnh mùa xuân, cũng như không để cho ông ta có được một nụ cười. Câu chuyện bắt đầu với mưa, tuyết và kết thúc với gió thổi. Như vậy, câu chuyện không phải đơn thuần chỉ kể lại sự việc mà thực ra chính là quá trình diễn biến trong tâm tư viên tướng từ khi đặt chân lên Albania cho đến lúc ra sân bay trở về nước. Chính vì thế mà, nếu như độc giả không biết gì về tên tuổi, dung mạo, bề ngoài của viên tướng - trừ chiều cao một thước tám mươi hai, - thì trái lại, qua đoạn này, đoạn khác, đây một nét, kia một chi tiết, người ta biết rất rõ tâm trạng của hắn từng lúc một. Hắn lên đường sang Albania với quan niệm đây là một sứ mệnh cao cả, thiêng liêng; hắn rất thích thú câu nói của một mụ quý tộc nước hắn ca tụng hắn trước ngày khởi hành: «Như một con chim oai hùng và đơn độc, ngài sẽ bay lượn trên những ngọn núi lặng lẽ và bi thảm ấy để lôi kéo con em khốn khổ của chúng ta ra khỏi nanh vuốt chúng». Hắn luôn luôn muốn người Albania hiểu là hắn cầm đầu cái phái đoàn hai người, hắn là nhân vật quan trọng nhất. Hắn ngầm chê bọn tướng lĩnh ngu dốt xưa kia đã đưa quân đội nước hắn «những con em của chúng ta, oai hùng và dũng cảm», đến chỗ thất bại và bị tiêu diệt, còn hắn, hắn đến Albania để đưa các tử sĩ đó ra khỏi quên lãng. Hắn tự cho mình là đại diện của một cường quốc văn minh đi đến một nước dã man, lạc hậu, nhỏ xíu chỉ bằng một cái chấm trên bản đồ. Hắn đặc biệt chú ý tìm kiếm di hài viên đại tá Z, con trai độc nhất của mụ quý tộc giàu có, quyền thế nọ, «con cưng» của Bộ Chiến tranh, «có bản lĩnh của một thiên tài quân sự» đã «mất tích» ở Albania. Gia đình viên đại tá đã xây sẵn một ngôi mộ nguy nga bằng cẩm thạch, có dựng tượng, trồng hoa hồng để chờ đón hài cốt của «người anh hùng» đó và đặt hết hy vọng vào viên tướng… Trong một lúc rượu say chuếnh choáng, tâm sự với người bạn đồng hành, viên tướng đã thổ lộ ý muốn của hắn là «sẽ hiên ngang đi giữa những người Albania, nhìn họ một cách căm hờn và khinh bỉ»; hắn đã «hình dung trước buổi lễ bàn giao hài cốt, long trọng và nghiêm trang,» và sẽ «cho diễu các quan tài binh sĩ nước hắn giữa đám dân chúng Albania để cho họ thấy là cái chết của chúng ta còn đẹp hơn cả cuộc sống của họ»… Nhưng rồi sự việc đã diễn ra khác hẳn, như hắn về sau đã đau khổ thú nhận: «Thái độ kiêu hãnh của chúng ta biến mất trước tiên, rồi tất cả những công việc này chẳng còn gì là long trọng nữa và cuối cùng những ảo tưởng của tôi cũng tan biến và bây giờ chúng ta đi dạo trong sự hờ hững chung của mọi người, dưới những con mắt bí hiểm và giễu cợt, như những thằng hề thảm hại của chiến tranh, còn đáng thương hơn cả những kẻ đã chiến đấu và chiến bại trên đất nước này». Thật vậy, hai năm trời trèo đèo, lội suối, xuôi ngược trên khắp các nẻo đường đất nước Albania, viên tướng đã đi từ phát hiện này đến phát hiện khác, từ thất vọng này đến thất vọng khác, những định kiến của hắn sụp đổ dần. Cái bi kịch của hắn là ở chỗ chính hắn đã từng sống những ngày đầu của chiến tranh vào mùa xuân 1939, khi quân phát xít đổ bộ lên Albania: đài phát thanh nước hắn báo tin «chiến thắng» dồn dập, dân chúng Albania đem hoa ra đón tiếp những đạo quân «sẽ dẫn văn minh và hạnh phúc đến cho họ». Rồi báo chí đăng bài, tranh ảnh, ca ngợi mùa xuân rực rỡ, bầu trời, mặt biển Albania chan hòa ánh nắng, các cô gái Albania duyên dáng, những y phục và những điệu múa đầy màu sắc. Binh lính nước hắn và cả bản thân hắn nữa - lúc đó hắn đang ở châu Phi - đều náo nức mơ ước được điều sang cái nơi thanh bình, tươi đẹp ấy, dưới bóng những cây ô liu cổ thụ… Và giờ đây, chính hắn lại tới đó để thu nhặt tàn tích của chính những đạo quân ấy và đồng thời cũng là thu nhặt những bằng chứng tuyệt đối về sự thất bại thảm hại của chúng. Có những đơn vị đã bị tiêu diệt hoàn toàn, xương người lẫn lộn với xương lừa ngựa, có những tên, kể cả sĩ quan, đã đào ngũ, đi ở cho nông dân Albania để mưu cầu cái sống thừa trong ô nhục, rồi cuối cùng chết vì tay những đơn vị trừng phạt của chính quân đội phát xít. Viên đại tá Z, «người anh hùng» của hắn, thực ra chỉ là một tên sát nhân hung ác, chỉ huy «Tiểu đoàn xanh» khét tiếng tàn bạo, đã cưỡng dâm một cô bé Albania 14 tuổi khiến cô bé tủi nhục nhảy xuống giếng tự tử; y đã bị giết chết không biết chôn ở đâu. Cho đến một tối nọ, công việc sắp hoàn thành, viên tướng cao hứng tự động đến dự một bữa tiệc cưới của một gia đình nông dân Albania, một bà cụ đã ném cái túi đựng hài cốt tên đại tá Z xuống trước mặt hắn, «như nhổ vào mặt hắn», với những lời nguyền rủa thậm tệ vì bà cụ chính là mẹ cô bé Albania nọ, chồng bà cụ đã bị «Tiểu đoàn xanh» treo cổ, chính bà cụ đã giết tên đại tá Z khi tên này - không biết cô gái đã tự tử - hôm sau lại mò đến nhà cô ta. «Và trong sự im lặng chung, viên tướng từ từ cúi xuống, run rẩy nắm lấy cái túi bê bết bùn,… hất lên vai, khom khom đi ra, như mang trên vai tất cả nỗi sỉ nhục và sức nặng của trái đất.» Bên cạnh những mẩu chuyện biết được về từng trường hợp binh sĩ nước hắn, viên tướng cũng được biết nhiều chuyện về người Albania, về truyền thống và phong tục tập quán Albania, về cuộc chiến đấu của nhân dân Albania… Sự hy sinh của Nik Martini, một người dân miền núi, đã để lại trong lòng hắn một ấn tượng sâu sắc: Nik Martini đã một mình vác súng đi xuống bờ biển, một mình đương đầu với cả đạo quân đổ bộ, đông như kiến cỏ. Tất nhiên, như viên tướng xác nhận, anh đã chiếm được một vị trí chiến đấu lợi hại, chỉ có trọng pháo mới đánh bật được anh ra khỏi đó, nhưng dù sao thì Nik Martini, cũng như biết bao người Albania khác, từng nhóm năm ba người một, hoặc đơn độc một mình, từ khắp nơi đổ đến bờ biển để cản đường quân xâm lược rồi hy sinh, không để lại dấu vết, trừ những bài hát của nhân dân sáng tác để ca ngợi và tưởng nhớ họ, - dù sao đi nữa, viên tướng cũng cảm thấy kinh ngạc, xấu hổ: Ních Martini, cũng như các chiến sĩ Albania khác, là những hình ảnh hoàn toàn khác hẳn binh sĩ nước hắn, khác hẳn tên đại tá Z. Một bên là những con người chân chính, biết mình chiến đấu cho cái gì và bất chấp những cuộc giao phong chênh lệch, đã dũng cảm lao vào quân thù, làm trọn nhiệm vụ con người của họ; một bên là sức mạnh mù quáng, ngu ngốc, hung ác và xét cho cùng, hèn nhát. Rút cuộc, chuyến đi hai năm trời của viên tướng là một nỗi ê chề, nhục nhã kéo dài, một cơn ác mộng, lắm lúc khiến hắn gần như sa vào tình trạng thác loạn tinh thần. Cuối cùng, đêm hôm trước ngày hắn lên đường trở về hước, hắn đã nghĩ đến cách đánh tráo hài cốt, lấy một bộ xương cũng cao một thước tám mươi hai để thế vào di hài viên đại tá Z mà, trong một lúc hoang mang thảng thốt, hắn đã hất xuống suối. Đang lúc say rượu, hắn loạng choạng đến cửa buồng ông linh mục đã khóa chặt, lom khom nói qua lỗ khóa để bày tỏ ý đồ gian lận của hắn. Bất đồ, hắn nhầm buồng, cửa buồng sịch mở, một bà to béo hiện ra, sỉ vả hắn tàn tệ đã nhòm vào buồng bà ta giữa lúc đêm hôm khuya khoắt. Cái cảnh vừa kệch cỡm, vừa thảm hại ấy, đánh dấu sự rã rời, suy sụp hoàn toàn trong con người hắn: còn đâu «con chim oai hùng, đơn độc bay lượn…», còn đâu sứ mệnh thiêng liêng, cao cả? Rõ ràng qua diễn biến tâm tư của viên tướng, có tính chất một biểu tượng, Ismail Kadare đã giễu cợt và lên án quân đội phát xít và nói chung, tất cả các đạo quân xâm lược. Nhưng vượt lên trên cả nhân vật trung tâm ấy, choán hết cả cuốn sách chính là hình ảnh đất nước và nhân dân Albania. Mặc dù câu chuyện được kể lại qua con mắt viên tướng nước ngoài, người ta vẫn thấy Ismail Kadare yêu tha thiết đất nước ông với những núi non hiểm trở, hùng vĩ, với những truyền thống đẹp đẽ, lâu đời, với những con người ngoan cường dũng cảm, từ bao đời nay vẫn trọng danh dự và nhân phẩm và hiện đang xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội. Ông ca ngợi cuộc chiến đấu anh hùng của nhân dân nước ông và nói chung, của tất cả các dân tộc đứng lên chống ngoại xâm để bảo vệ độc lập, tự do của mình. Qua cái chết của bác thợ đấu già Gjoleka - bị nhiễm trùng vì chiếc khuy gỉ trên quân phục một tên lính phát xít chết đã 20 năm nay - ông còn ngụ ý rằng chiến tranh chưa thật sự kết thúc hay nói cho đúng hơn, hòa bình chưa phải đã vững chắc: như những con vi trùng, tuy bị vùi sâu dưới đất cùng với xác tên lính hàng mấy chục năm trời, khi gặp khí trời, ánh sáng, lại phục hồi tất cả cái tính độc hại ác liệt của nó, chiến tranh vẫn còn ngấm ngầm âm ỉ, chờ lúc chúng ta lơ là để nổ ra, tàn phá. Tất cả những ý đó, Ismail Kadare đã thể hiện với một nghệ thuật già dặn, vững vàng. Những hình ảnh tương phản, những so sánh về hai mẫu người, hai hệ tư tưởng, hai thế giới khác nhau, ông để người đọc tự rút ra, tự suy nghĩ lấy. Ông chỉ trình bày những sự việc rất thực và chọn lọc, theo lối nhìn và cảm nghĩ của viên tướng nước ngoài, và kể lại câu chuyện một cách rất tự nhiên, thoải mái, gọn gàng, giản dị, khiến người đọc có cảm giác như ông rất «khách quan», hầu như thản nhiên với nhân vật của ông, với những sự việc ông kể, và do đó, từ một đề tài rất bình thường, đơn giản, nếu không phải khô khan, ông đã viết nên một cuốn sách thật hấp dẫn, có sức mạnh thuyết phục và tác động sâu sắc, xứng đáng là một tác phẩm ưu tú của Albania, một tác phẩm chúng ta có thể học tập được nhiều chẳng những về nội dung mà cả về nghệ thuật thể hiện. NGUYỄN VĨNH Mời các bạn đón đọc Viên Tướng Của Đạo Quân Chết của tác giả Ismail Kadare.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Thiên Thần
Thiên thần vẫn trụ chốn xưa, Động Tiên xịch mở, cánh vươn ngàn trùng Người ơi, duyên số lao lung, Huy hoàng muôn vẻ, nhớ nhung đời đời. FRANCIS THOMPSON *** Vài nét về Barbara Taylor Bradford Sinh ra ở Lees, Yorkshire, nước Anh. Năm 16 tuổi, bà làm phóng viên cho tờ The Yorkshire Evening Post. Đến năm 20 tuổi, bà là ký giả chuyên viết bình luận cho báo chí ở Luân Đôn. Năm 1979, bà viết cuốn tiểu thuyết đầu tiên: Woman of Substance. Và tiếp theo là 7 cuốn tiểu thuyết bán chạy nhất:Voice of the heart, Hold the dream, Act of Will, To be the best, The woman in his life, Remember và Angel. Phần lớn các tác phẩm của bà đã được thực hiện thành phim truyền hình nhiều tập. Các tác phẩm cửa bà đã được ấn hành 21 triệu bản tại Mỹ và 48 triệu bản bằng 34 thứ tiếng khác nhau trên toàn thế giới. Một số trong các tác phẩm nói trên của bà cũng đã được dịch ra tiếng Việt. Barbara Taylor Bradford hiện sống ở New York và Connecticut với chổng là ông Robert Bradord, một nhà sản xuất phim điện ảnh. Tác phẩm:   Thiên Thần Ba Tuần Ở Paris Chuyện Tình Như Huyền Thoại Tên Gọi Khác Của Tình Yêu Những Người Đàn Bà Trong Đời Anh Người Thừa Kế Khát Vọng Yêu Đương Đời Vẫn Đáng Sống Niềm Vui Chiến Thắng Nghị Lực Người Đàn Bà Em Thuộc Về Đâu Nhớ Người đàn bà đích thực ... Mời các bạn đón đọc Thiên Thần của tác giả Barbara Taylor Bradford.
Tôi và Em
Rồi một ngày kia, tôi được tạm trả tự do. Một chút tự do bấp bênh và tạm thời, vì tôi vẫn chưa được hoàn toàn tự do thực hiện được những điều tôi mơ ước, vì tôi vẫn chưa được nhìn thấy tự do đến cho tất cả mọi người. Hưởng vội đôi chúg khí trời thanh thản trong lành, vài ngày sung sướng an ủi không kéo dài lâu, hạnh phúc riêng tư chưa kịp biến thành hạnh phúc hội ngộ. Mây đen đã tan thành mưa, nhưng bầu trời đã kéo đầy thêm bóng tối đe dọa. Vì từ miền xa ấy, Mơ Nữ đã ngập ngừng báo cho tôi những điều phiền muộn đơn độc của em, mà từ lâu nay tôi không bao giờ ngờ đến: Đáng lẽ em không nên nói gì hết với anh Những chuyện không vui trong lúc đáng mừng này Nhưng em sợ anh hiểu lầm Nếu một ngày kia bỗng dưng thấy em tan biến Mất tích giữa dòng đời mất tích giữa đời anh Anh biết sao không Thứ hai vừa rồi em bị ngất xỉu Trong sân trường, và đây không phải là lần thứ nhất Cái bệnh quái quỉ của em đã bắt đầu tái phát Đó là điều duy nhất từ lâu em vẫn dấu diếm anh Và em vốn mắc bệnh đau tim từ hồi còn nhỏ Bệnh nan y tự trời sao em thật xui gánh phải Thỉnh thoảng tạm bớt nhưng không lúc nao dứt hẳn Trong cặp sách chứa đầy vở học và thư anh Lúc nào cũng sẵn sàng mang theo đủ thứ thuốc nhỏ Phòng khi gặp cơn kích ngất bất thình lình xỉu giữa đường. Tôi bàng hoàng giây lâu, rồi chợt nhớ lại lúc em ngồi bên tôi trong quán vắng nghe nhạc. Khi một bản sầu ca quá buồn bã vang lên, em đưa tay lên ngực như cố chặn một cơn đau nhói nào. Lúc ấy tôi đã hỏi nhưng em làm lơ mỉm cười không nói. *** Những ai đã từng trải qua những năm tháng trẻ tuổi sống tại miền Nam Việt Nam trước năm 1975, không mấy ai không biết nhà văn Hoàng Ngọc Tuấn. Ông là nhà văn nổi tiếng với những truyện ngắn viết cho tuổi ô mai, học trò vô cùng dễ thương, như các tác phẩm “Dường như là tình yêu”, “Cô bé treo mùng”, “Ở một nơi ai cũng quen nhau”, “Thư về đường Sơn Cúc”, “Hôn lễ”… Tin từ trong nước cho hay, nhà văn Hoàng Ngọc Tuấn, sau một thời gian bị bệnh ung thư đã từ trần lúc 14 giờ 50 phút ngày 9 tháng 7 năm 2005, hưởng dương 59 tuổi. Linh cữu quàn tại chùa Long Vân, 44 Trần Minh Quyền, phường 11, quận 10, Sài Gòn. Lễ di quan lúc 7 giờ ngày 12 tháng 7 năm 2005, hỏa táng tại Bình Hưng Hòa. Sau năm 1975 như nhiều trí thức khác của miền Nam, nhà văn đã phải làm rất nhiều công việc khác nhau để kiếm sống và viết báo là một nghề của Hoàng Ngọc Tuấn. Ông viết báo với các bút danh: Huấn Toàn, Nhị Ngọc, Mây Biếc… gần đây là Ngọc Nhị. Khoảng tháng 3 năm 2005, bệnh tình của nhà văn trở nặng và phải vào bệnh viện Chợ Rẫy điều trị. Ông không lập gia đình và vì thế hoàn cảnh của ông khi đau ốm rất thương tâm. Ðã có rất nhiều bằng hữu, mạnh thường quân cả trong nước lẫn hải ngoại giúp đỡ ông về tiền bạc, thuốc men nhưng ông không qua khỏi. Ðể hiểu rõ hơn về nhà văn Hoàng Ngọc Tuấn, mời quý độc giả xem bài viết của nhà thơ Nguyễn Ðạt, một bạn văn của Hoàng Ngọc Tuấn trên trang Việt Nam số báo ngày hôm nay.   Mời các bạn đón đọc Tôi và Em của tác giả Hoàng Ngọc Tuấn.
Tổ Ấm Nơi Tận Cùng Thế Giới
Câu chuyện được kể lại qua lời tự thuật của bốn nhân vật là Bobby, Jonathan, Clare và Alice. Bobby là một cậu bé lớn lên ở vùng ngoại ô của Cleveland, bang Ohio, trong thập kỷ 60 và 70, khi ma túy và tiệc tùng đang là mối quan tâm của giới thanh niên. Cậu đã phải chứng kiến cái chết thương tâm của người anh trai yêu quý trong một vụ tai nạn kỳ lạ ở trong nhà, và rồi sau đó là cái chết của bà mẹ. Không được nuôi dạy chu đáo, Bobby đã lớn lên cùng người cha tối ngày say xỉn và cậu mau chóng chìm đắm vào ma túy và âm nhạc. Sau đó, cậu kết bạn với Jonathan, một cậu bé xuất thân từ một gia đình có vẻ ngoài yên ấm nhưng lại có những lệch lạc về giới tính. Họ đã trở thành những người bạn rất thân và thậm chí còn cùng nhau trải qua những kinh nghiệm đầu đời về việc khám phá bản năng giới tính. Mẹ của Jonathan là Alice đã tình cờ phát hiện ra bí mật đó của hai cậu bé, và đã đặt ra một vật cản giữa họ bằng cách lôi kéo Bobby đến với việc làm bánh. Thời gian trôi đi, Jonathan đến New York học đại học, còn Bobby an phận với vai trò một thợ làm bánh ở Cleveland. Tình cảm của họ tưởng như đã lắng dịu qua năm tháng, cho đến khi Bobby đến New York sống cùng với Jonathan và người bạn sống chung nhà với cậu là Clare. Lúc này Jonathan đã trở thành một kẻ đồng tính công khai. Cậu mong muốn có chung một đứa con với Clare, người đã chán ngấy việc yêu đương và chỉ muốn làm một bà mẹ độc thân đơn thuần. Tuy nhiên, kế hoạch đó đã bị xáo trộn khi Bobby và Clare có quan hệ tình cảm với nhau, và trở thành tình nhân, dù cả hai người đều không rõ mình có thực sự yêu người kia không. Và rồi Clare mang thai. Và ba người họ đã cùng nhau nuôi dạy “đứa con chung” của mình trong một căn nhà ở nông thôn, nơi họ đã có những ngày tháng vui vẻ và hạnh phúc, và tạo ra một kiểu gia đình mới. Thế nhưng cuộc sống không chỉ đơn giản như vậy… Tổ ấm nơi tận cùng thế giới đã xuất sắc mô tả những mối quan hệ xúc động, mong manh của cuộc sống thị thành ngày nay. Một cuốn tiểu thuyết tuyệt vời về tình yêu, tình thân, tình bạn, và tình người. Cuốn tiểu thuyết này đã được đạo diễn Michael Mayer dựng thành film năm 2004. *** Michael Cickyham là một tiểu thuyết gia và nhà biên kịch người Mỹ. Ông nổi tiếng với cuốn tiểu thuyết The Hour năm 1998, đã giành giải Pulitzer cho tiểu thuyết và giải thưởng PEN / Faulkner năm 1999. Cickyham là giảng viên cao cấp về văn bản sáng tạo tại Đại học Yale. Tác phẩm: Thời Khắc Tổ Ấm Nơi Tận Cùng Thế Giới Nữ Hoàng Băng Giá ... *** Tôi bước vào cuốn sách trong trạng thái của một kẻ say rượu, điên cuồng gặm nhấm sự si mê của nỗi cô đơn đến vắt kiệt tất cả các cảm giác của một con người còn đang sống. Tôi chìm vào trong đó như kiếm tìm, như bước theo, như vùng vẫy trong cái tổ ấm nơi tận cùng thế giới mà bản thân tôi cũng đang cần vô cùng, vô cùng. Lật giở từng trang của cuốn sách tôi đã bị cuốn vào một cõi bi thương, lập dị, bí hiểm và cũng tuyệt diệu nhất thế gian này. Nơi mà những kẻ cô đơn đã vùng vẫy và khao khát cháy bỏng có được sự yêu thương của một tổ ẩm thực sự. “Tổ ẩm nơi tận cùng thế giới” là nơi duy nhất khiến tôi có cảm giác của một tình yêu thương vĩ đại nhất thế gian này. Câu chuyện về ba người trẻ Bobby, Janathan, Clare là một câu chuyện khiến người đọc sững sờ trong những đau thương, tuyệt vọng, nghẹn ngào, mơ mộng, khao khát và hạnh phúc. Tất cả những xúc cảm ấy đều luôn được đẩy đến tận cùng của ranh giới mong manh của cuộc sống này. Bobby là một đứa trẻ lớn lên trong không gian ngập ngụa mùi bia rượu và sự ớn lạnh của những ám ảnh chết chóc, với một thứ âm nhạc u mê cay đắng bao trùm. Đen kịt. Quạnh đắng. Cuộc sống của cậu đã chìm ngâp trong một nỗi cô đơn kinh hoàng như bóng đêm. Cả cha, mẹ và anh trai đều chết – những cái chết uất nghẹn trong đớn đau và khổn khổ. Cuộc sống ấy đã dẫn lối cậu đến với cái khói mê hoặc của cần sa, như tìm kiếm sự lãng quên, như trốn chạy thực tại ủ ê và chán chường. Cuộc sống của cậu tưởng như mãi chìm trong những đêm tối nghiệt ngã ấy, nhưng rồi sự gặp gỡ với Jonathan đã khiến cậu khác đi. Tình cảm của hai gã đàn ông đơn côi giữa cuộc đời này lại khiến tôi cảm thấy trân trọng và cảm động. Cái cách họ yêu thương, quan tâm và chăm sóc đến cuộc sống của nhau đã khiến tôi nghĩ đến một mối tình đồng tính tuyệt đẹp. Nhưng rồi, cuộc sống của họ cũng thay đổi khi Jonathan lên thành phố học đại học.  Cuộc gặp gỡ giữ Jonathan, Bobby và Clare chính là một diều đặc biệt, và là cái duyên cớ để câu chuyện cuốn hút hơn đối với bản thân tôi. Tôi chìm đắm trong những ngỡ ngàng về tình cảm con người mà tác giả đã cố gắng xây dựng nên trong “Tổ ấm nơi tận cùng thế giới”. Jonathan đã thực sự thừa nhận chuyện anh là người đồng tính nhưng anh vẫn luôn khao khát có một đứa con với Clare. Nhưng rồi Clare và người bạn thân yêu Bobby của anh lại nảy sinh tình cảm với nhau. Họ đã trở thành tình nhân của nhau và có với nhau một đứa con. Điều đó đáng ra đã chẳng khiến tôi ngạc nhiên và cũng không làm cho câu chuyện hấp dẫn hơn, nhưng điều thực sự đã làm tâm hồn tôi phải cảm động trong một sự day dứt vô cùng đó chính là niềm hạnh phúc bao dung của cả ba con người ấy. Cả Jonathan, Bobby và Clare đã quyết định sẽ cùng sống chung với nhau và cùng nhau đợi chờ đến ngày đứa trẻ ra đời. Khoảnh khắc gần gũi của ba kẻ cô đơn trong cuộc đời này đã khiến tôi ngỡ ngàng, vì một tổ ấm lạ lẫm, nhưng vẫn là một tổ ấm thực sự và duy nhất với họ ở thế giới này. Một tổ ấm nơi tận cùng của những đau đớn, hạnh phúc và hi vọng. Tổ ấm của họ có ba người lớn đã từng trải qua những khốn khổ nhất của cõi đời, và một đứa trẻ mới sinh đáng yêu, trong veo nhất thế giới. Tôi đã khóc rất nhiều khi đọc từng trang, từng trang sách của “Tổ ấm nơi tận cùng thế giới” và chứng kiến cuộc sống của những con người được xem là kì dị trong thế giới người nhộn nhạo này. Hạnh phúc của họ mong manh như sương khói, và rồi dễ tan biến đi mất dù họ khao khát và cố gắng níu giữ, nhưng rồi khi câu chuyện kết thúc, tổ ấm ấy đã khuyết thiếu và mất mát. Kết thúc câu chuyện, các nhân vật đáng thương ấy vẫn vùng vẫy trong niềm cô đơn, chới với và níu kéo cuộc sống với sức lực kiệt cùng khiến tôi tâm hồn tôi nặng trịch và day dứt khôn nguôi. Khi gập trang cuối cùng của cuốn sách lại, tôi lục tung đống băng đĩa của mình để tìm âm nhạc. Tôi thèm khát một thứ âm khiến tôi trải nghiệm những cảm giác u ám, cô đơn và hạnh phúc này, giống như những nhân vật trong truyện. Vậy là tôi nằm im lìm, và mở Gun’n Rose. Âm nhạc chảy trôi vào trái tim tôi nghẹn ngào bật thành những giọt hình cầu mặn chát, và khiến những nhân vật của “Tổ ấm nơi tận cùng thế giới” trở về trong tôi rõ ràng đến từng nét cười. Tôi đã nằm như thế suốt cả một buổi chiều với đôi mắt chẳng thể nhắm lại. Phải mất khá lâu sau tôi mới có thể viết lại được những dòng chữ cảm nhận về cuốn sách này khi cảm xúc đã dần lắng lại. Một cuốn sách thực sự khiến tôi phải nhớ. Và người viết nên câu chuyện ấy thực sự làm tôi khâm phục, biết ơn vì những cảm giác mà ông đã khiến tôi cùng tất cả những người đọc như tôi phải trải nghiệm trong cuộc sống này. Tôi xin thay lời kết bằng một nhận định của nhà phê bình Sherry Rosenthal dành tặng cho “Tổ ấm nơi tận cùng thế giới”: “Lâu lắm rồi mới xuất hiện một cuốn tiểu thuyết quá lôi cuốn bởi vẻ đẹp và sự nhạy cảm đến mức độc giả ngấu nghiến nó gần như hoàn toàn, với một vẻ vô cùng háo hức, để rồi sau đó cảm nhận nỗi đau dai dẳng, khôn nguôi”... THỤY   Mời các bạn đón đọc Tổ Ấm Nơi Tận Cùng Thế Giới của tác giả Michael Cunningham.
Những Người Tình Cô Đơn Kỳ Lạ Của Tôi
"Tôi" ở đầu truyện chỉ là một cô sinh viên bình thường, ngoan ngoãn với những suy ngẫm về tình cảm gia đình với đứa em trai và bố, mẹ cô đã ra đi sau khi họ li dị, về tình bạn với Tee - cô bạn có những nét đồng cảm đã gắn bó với cô suốt thời thơ ấu. 21 tuổi, cô đã quyết định dọn ra ở riêng với Tee để tìm kiếm cuộc sống tự do của một người trưởng thành, và từ đó những câu chuyện kỳ lạ xảy ra: những mối quan hệ, những câu chuyện tình, những ám ảnh...Càng đi sâu hơn bạn sẽ càng trải nghiệm những cảm xúc mạnh mẽ và thực sự "kì lạ", chúng sẽ cuốn bạn đi mặc dù bản thân bạn không ý thức được điều đó. Những ngày đầu trong cuộc sống riêng của "tôi" cùng Tee trôi đi, cũng như những con người khác ở lứa tuổi đó, họ cùng nhau chia sẻ việc học hành, gia đình... sự thân thiết giữa họ chỉ có thể lí giải bằng một sợi dây vô hình nào đó. Cho đến khi họ gặp Chi Ngắn tại một lớp tiếng Trung, anh chàng này bước vào cuộc sống của họ rất tự nhiên. Sau một lần ba người họ - tôi, Tee, Chi Ngắn đi chơi, "tôi" thức dậy trong một căn phòng hết sức kỳ lạ, có phần quái dị "...thằn lằn hàng trăm con đủ màu ở đâu kéo nhau chui ra...chúng nằm đè lên nhau, chúng đang làm tình. Thứ nước màu vàng tuột ra từ những thân hình lắc lư cuồng dại của chúng... Vô số những con gián màu da cam đầu và râu trắng ởn đang xòe cánh đập toán loạn,... dường như chúng đang mắc kẹt, có vẻ gì đó hốt hoảng, đau đớn...". Điều khó tin hơn nữa là Chi Ngắn và Tee hoàn toàn biến mất. Cảm giác cô đơn, lo lắng, sợ hãi và bị phản bội xâm chiếm "tôi" mà cô không thể giải thích. "Tôi" còn có một mối quan hệ kỳ lạ với Taurus - người hấp dẫn "tôi" ngay từ lần gặp đầu tiên. Chàng trai này xuất hiện một cách bất ngờ, ngay cả đến nhân vật chính của chúng ta còn không ngờ được có người thu hút cô từ những hành động ban đầu ấy. Tình cảm của cô dành cho Taurus ngày một lớn hơn cũng là lúc cô nhận được những lời cảnh báo từ Tee về những chuyện cô ấy đang phải trải qua, về sự biến mất khó hiểu của bạn và một ngày nào đó cô sẽ phải đứng trước sự lựa chọn. Liệu điều gì sẽ đến với nhân vật chính, cô sẽ lựa chọn ra sao, sống yên ổn chờ đợi Tee trở về hay chủ động đi tìm tình yêu của mình?, Có sự liên quan nào giữa những con người kỳ bí đó: Taurus, Chi Ngắn và họ có sự liên hệ nào tới hình ảnh của căn phòng "quái dị" với những con thằn lằn và gián kia? Bạn sẽ cùng nhân vật chính trải nghiệm trong "Những người tình cô đơn kỳ lạ của tôi". Với cách dẫn dắt truyện nhẹ nhàng, lối văn không quá cầu kì bạn dần dần bị ngấm vào cốt truyện ấy. Không phải tất cả đều có cùng một cảm nhận, rút ra được cùng một ý nghĩa khi đọc xong cuốn sách này. Hãy đọc và bạn sẽ tìm ra được ý nghĩa của riêng mình trong câu chuyện này. *** Tôi không gặp lại Taurus từ đêm hôm ấy. Đôi khi, vào những đêm dài mất ngủ, tôi vẫn thoáng nhìn thấy vài hạt bụi nhỏ li ti lấp lánh buồn bã trong đáy ly rượu vang gần cạn của mình. Có thể anh ấy đúng. Tất cả đã quá muộn. Madame J cũng biến mất, như chưa hề tồn tại trong thế giới mà tôi từng biết. Sau vài lần tìm cách liên lạc với cô, tôi buộc phải thừa nhận sự biến mất sạch sẽ ấy. Văn phòng đại diện, điện thoại, địa chỉ email. Tất cả đều câm lặng. Trong những giấc mơ cũ kỹ của mình, tôi vẫn thấy cô, với dáng vẻ trễ nải thường thấy, nằm sưởi nắng dưới những cái ô trắng tinh dọc hiên nhà trong ngôi biệt thự trắng. Để rồi thứ tình cảm nồng ấm gần gũi hoàn hảo của cô lại ôm ấp tôi suốt những ngày dài sau đó. Chúng ta đã đều có sự lựa chọn của mình. Những lựa chọn khiến đường ray cuộc đời chúng ta bẻ sang một hướng khác. Như những con tàu chạy trên những đường ray song song, có thể nhìn thấu nhưng không còn có thể gặp nhau. Một buổi sáng đầu hè ấm áp, khi cái nắng mới lên khiến thứ không khí ẩm ướt còn vương lại từ cuối mùa xuân tan biến, tôi bị đánh thức bởi tiếng mở cửa lách cách, tiếng cái khóa rơi đến choang xuống nền nhà lát gạch, tiếng một ai đó rất quen làu bàu khi xô vào cánh cửa. Tee kéo lê cái vali màu đỏ sẫm đầy bụi của mình vào tận giữa nhà, chống nạnh, nheo mắt nhìn tôi dưới cái mũ lưỡi trai. - Giờ này còn ngủ. Bạn về mà không thèm chui ra khỏi giường tiếp đón. Tôi bật dậy, dụi nhẹ vào đầu mũi cay cay của mình, cười xuề xòa. - Về rồi đấy à? - Ừ, cuối cùng thì cũng về rồi đấy. Hai đứa ôm lấy nhau, bật khóc. Nắng trải từng viên lấp lánh xuống sàn nhà. Mời các bạn đón đọc Những Người Tình Cô Đơn Kỳ Lạ Của Tôi của tác giả An Hạ.