Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Ruồng Bỏ

David Lurie, một giáo sư dạy tiếng Anh người Nam Phi, là người mất mát mọi thứ: uy tín, công việc, sự yên bình trong tâm trí, vẻ ngoài bảnh bao, những giấc mơ về thành công trong môn mỹ thuật và ngay cả khả năng bảo vệ đứa con gái của chính mình, ông cũng không còn. Ông đã ly hôn hai lần, không thỏa mãn với công việc làm giáo sư môn Thông tin. Ông đang dạy một lớp học chuyên đề về Thơ ca lãng mạn tại một trường đại học kỹ thuật ở Cape Town ở Nam Phi. Ông bị “ruồng bỏ” sau khi ông dụ dỗ một trong những sinh viên của mình mà không làm bất cứ điều gì để bảo vệ chính bản thân mình tránh khỏi những hậu quả của việc làm đó. Thời điểm bị mọi người trong trường xa lánh, dè chừng, Lurie đang viết vở nhạc kịch Byron ở Italy. Lurie từ bỏ địa vị, công việc giảng dạy trong trường và quyết định tới thăm cô con gái Lucy đang sống một mình tại một trang trại ở Eastern Cape. Một quãng thời gian dài ba tháng, ông sống hòa nhập với cuộc sống nơi thôn dã, tham gia vào công việc chăm sóc những con vật bị bỏ rơi tại bệnh viện Phúc lợi Động vật, cùng cô con gái chăm sóc vườn tược và mấy chú chó. Nhưng rồi, một ngày nọ, sự yên bình ấy đã bị phá vỡ. Có ba kẻ lạ mặt đã tới trang trại, đánh đập và tính thiêu cháy ông, cưỡng hiếp con gái ông. Sau cuộc tấn công ấy, ông phải đối mặt với sự xa cách ngày một lớn với cô con gái mà ông vô cùng yêu quý nhưng lại không đủ quyền lực và tình yêu thương để dẫn dắt cô. *** John Maxwell Coetzee (sinh ngày 9/2/1940) sinh trong gia đình gốc Đức tại miền Tây Nam Phi, từ nhỏ đã giỏi cả tiếng Anh và tiếng Đức; học các trường đại học tổng hợp Cape Town và Texas; dậy tiếng Anh và văn học; bắt đầu viết văn từ năm 1969 và ngay lập tức được dư luận chú ý từ cuốc sách đầu tiên, nổi tiếng thế giới với tiểu thuyết Giữa miền đất ấy (In the heart of the country, 1977) viết về tính bạo lực và thói ghẻ lạnh là bản chất của chính sách thuộc địa của người da trắng. “Ruồng bỏ” (Disgrace) của John Maxwell Coetzee – Một nhà văn hai lần đoạt giải Booker: Cuộc sống và thời đại của Michael K. (1983) và Ruồng bỏ (1999) – và đoạt giải Nobel Văn học năm 2003. Những tác phẩm của Coetzee được viết bằng giọng văn điềm đạm, ngắn gọn, ít phô diễn kĩ thuật, người mới đọc dễ nắm bắt được mạch tác phẩm của ông và hiểu được cốt truyện. Tất nhiên, để hiểu toàn bộ kĩ thuật hay dụng ý của Coetzee lại không đơn giản lắm. Các tác phẩm của ông thường đi sâu vào cuộc sống và suy nghĩ riêng của một người nào đó đặt trong một bối cảnh có biến động, phức tạp vì chính trị hoặc bị xô đẩy bởi chiến tranh, như trong Cuộc sống và thời đại của Michael K. thì là hành trình của K. Ruồng bỏ là hành trình của David Lurie, hay Tuổi sắt đá là về bà Curren, một giáo sư sống và chết dần vì bệnh ung thư. *** Trong suy nghĩ của ông, một người đàn ông năm mươi hai tuổi, đã ly hôn như ông, giải quyết vấn đề tình dục như thế là khá tốt. Cứ đến chiều thứ Năm, ông lái xe đến Green Point. Đúng hai giờ chiều, ông bấm chuông ở lối vào biệt thự Windsor, xưng tên và bước vào, Soraya đợi ông bên cửa căn hộ số 113. Ông vào thẳng buồng ngủ, căn phòng tỏa ánh sáng dịu dàng và có mùi dễ chịu, rồi ông cởi quần áo. Soraya từ phòng tắm đi ra, buông rơi áo choàng và trườn lên giường cạnh ông.   - Anh có nhớ em không? - cô hỏi.   - Lúc nào cũng nhớ em - ông đáp. Ông vuốt ve tấm thân màu nâu vàng óng, không hề rám ánh mặt trời của cô; ông duỗi người cô ra, hôn lên ngực cô, rồi họ làm tình.   Soraya cao, mảnh dẻ, mái tóc đen dài, cặp mắt đen trong trẻo. Nói một cách nghiêm túc, ông đáng tuổi bố cô; nhưng cũng nói cho nghiêm túc, người ta cũng có thể làm bố ở độ tuổi mười hai. Ông yêu quý cô hơn một năm nay; ông thấy cô hoàn toàn thỏa mãn. Suốt tuần lễ như ở trên sa mạc, ngày thứ Năm trở thành một ốc đảo của xa xỉ và khoái lạc.   Trên giường, Soraya không phải là người nồng nàn. Thực ra, tính cô khá bình lặng, dịu dàng và ngoan ngoãn. Theo quan điểm của cô, cô là một người đạo đức đáng ngạc nhiên. Những vị khách du lịch để ngực trần trên các bãi tắm công cộng làm cô bất bình (cô gọi chúng là “vú bò”); cô mong gom những kẻ lang thang lêu lổng lại và bắt đi quét phố. Ông không hỏi làm sao cô có thể dung hòa những quan niệm với công việc của cô.   Ông thích cô, sự thích thú ấy không bao giờ cạn, và ông ngày càng yêu mến cô hơn. Ông tin rằng ở một mức độ nào đó, sự yêu mến này đang được đền đáp. Yêu mến có thể không phải là tình yêu, nhưng chí ít cũng như tình họ hàng. Cả hai người đều lấy làm may mắn trong mối quan hệ không hứa hẹn gì của họ: ông tìm được cô, và cô tìm được ông.   Hiểu sự đa cảm của mình, ông thỏa mãn, thậm chí bị xỏ mũi. Dù sao ông vẫn khư khư giữ lấy đặc tính đó.   Ông trả tiền cho chiếc R400 của cô, từng đợt chín mươi phút một, một nửa thời gian trong đó là tìm Người tháp tùng bí mật. Đáng tiếc là Người tháp tùng bí mật lại nhiều đến thế. Nhưng họ sở hữu căn 113 và nhiều căn khác trong biệt thự Winsor. Về mặt tình cảm, sở hữu cả Soraya, đây là nhiệm vụ, và nghề nghiệp của cô.   Ông đùa cợt với ý nghĩ bảo cô đến gặp ông trong khoảng thời gian riêng của cô. Ông muốn chia sẻ mọi thứ với cô, có khi suốt cả đêm. Nhưng không phải là sáng hôm sau. Ông biết quá rõ bản thân mình, chiều chuộng cô cho đến sáng hôm sau, lúc ở một mình, ông sẽ là người lạnh lùng, cáu kỉnh và thiếu kiên nhẫn.   Tính ông là như thế; ông đã quá già nên không thay đổi được tính nết. Tính ông đã ổn định. Tính tình ông đi theo đầu óc ông: đó là hai phần khó khăn nhất trong con người.   Với ông, tính tình không phải là một triết lý sống, ông không đề cao nó bằng cái tên ấy. Nó chỉ là một quy luật, giống như Luật của dòng tu Benedict.   Ông khỏe mạnh, đầu óc minh mẫn. Ông có nghề chuyên môn, hay nói đúng hơn, ông là một học giả, sự uyên bác của ông vẫn đầy hứa hẹn, là cốt lõi của ông. Ông sống bằng thu nhập, đúng tính khí và những cảm xúc của mình. Ông có hạnh phúc không? Trong hầu hết những tiêu chuẩn, ông tin rằng mình hạnh phúc. Tuy vậy, ông không quên câu đồng ca cuối cùng trong vở Oedipus: Không thể gọi một người là hạnh phúc cho đến lúc người ấy chết.   Mặc dù tính tình nồng nhiệt, trong lĩnh vực tình dục ông chưa bao giờ say đắm. Nếu chọn totem (vật thờ), ắt là ông sẽ chọn hình tượng con rắn. Ông hình dung những cuộc ái ân của ông với Soraya giống như sự giao cấu của loài rắn: dài dòng, mê mải, nhưng khá buồn tẻ, khá khô khan, ngay cả những lúc hăng hái nhất.   Liệu totem của Soraya có là rắn không nhỉ? Chắc chắn với những người đàn ông khác, cô trở thành một người phụ nữ khác: một người đàn bà năng động. Có thể tin rằng với tính khí của cô, say đắm ông nhất định không phải là giả vờ.   Dẫu cho vì nghề nghiệp, cô có là người phóng túng, ông vẫn tin cậy cô trong một giới hạn nào đó. Trong những lần gặp gỡ, ông trò chuyện với cô khá thoải mái, thậm chí có lần ông còn bộc bạch nỗi niềm với cô. Cô biết nhiều sự việc trong đời ông. Cô đã nghe nhiều chuyện về hai cuộc hôn nhân của ông, biết về con gái ông và những nỗi thăng trầm của con gái ông. Cô biết nhiều quan điểm của ông.   Soraya không hề thổ lộ về cuộc sống của cô ngoài biệt thự Windsor. Soraya không phải là tên thật của cô, đó là điều chắc chắn. Có nhiều dấu hiệu chứng tỏ cô đã sinh nở hoặc có nhiều con. Có lẽ cô không phải là gái điếm chuyên nghiệp. Có thể cô làm việc cho một hãng nào đó mỗi tuần chỉ một, hai buổi; và phần còn lại là một cuộc sống đứng đắn ở vùng ngoại ô Rylands hoặc Athlone. Điều đó thật không bình thường với dân Hồi giáo, nhưng ngày nay mọi chuyện đều có thể xảy ra.   Ông ít nói về nghề nghiệp của mình, không muốn làm cô buồn chán. Ông dạy ở Trường đại học Kỹ thuật Cape, trước kia là Trường Đại học tổng hợp Cape Town. Đã có thời ông là giáo sư các ngôn ngữ hiện đại, từ khi Ngôn ngữ Cổ điển và Hiện đại bị cuộc hợp lý hóa vĩ đại bóp chết, ông là giáo sư phụ giảng môn Thông tin. Giống như tất cả những người bị hợp lý hóa, ông được mời mỗi năm dạy một lớp chuyên đề, không phải ghi vào danh sách, vì đó là thiện chí. Năm nay ông được mời dạy một lớp về Các nhà thơ Lãng mạn. Còn lại ông dạy Thông tin 101, “Kỹ năng thông tin” và Thông tin 201, “Kỹ năng thông tin tiên tiến”.   Mặc dù mỗi ngày dành nhiều giờ cho môn học mới, ông nhận thấy những tiền đề đầu tiên trong Cẩm nang Thông tin 101 thật vô lý hết sức: “ Xã hội loài người sáng tạo nên ngôn ngữ để chúng ta có thể thông báo với nhau những suy nghĩ, tình cảm và ý định”. Theo quan niệm của ông, nguồn gốc lời nói nằm trong bài hát, và nguồn gốc bài hát là từ nhu cầu lấp đầy tâm hồn quá rộng lớn và trống rỗng của loài người bằng những âm thanh.   Trong sự nghiệp trải dài một phần tư thế kỷ, ông đã xuất bản ba cuốn sách, chẳng cuốn nào gây nên tiếng vang gì: cuốn đầu tiên về opera (Truyền thuyết về Boito và Faust: Nguồn gốc của Mefistofele), cuốn thứ hai về nghe - nhìn (Cái nhìn của Richard về St. Victor), cuốn thứ ba về Wordsworth[1] và lịch sử (Wordsworth và gánh nặng của quá khứ).   Trong mấy năm gần đây ông ôm ấp ý tưởng viết một tác phẩm vể Byron. Lúc đầu ông có ý định viết một tác phẩm phê bình opera nữa. Nhưng ngay từ những dòng đầu tiên, ông đã bị sa vào cảnh tẻ ngắt. Thực ra, ông chán phê bình, chán văn xuôi dài lê thê. Thứ ông muốn viết là âm nhạc: Byron ở Italy, một khúc mộng tưởng về tình yêu khác giới dưới dạng một vở opera.   Trong lúc dạy các lớp Thông tin, những câu cú, âm điệu của bài hát trong tác phẩm chưa viết ra cứ vụt qua tâm trí ông.   Vì chẳng kính trọng gì những thứ ông giảng dạy, nên ông chẳng gây được ấn tượng gì với các sinh viên của ông. Trong lúc ông nói, họ nhìn lướt qua ông, và quên bẵng tên ông. Sự dửng dưng của họ làm ông cay đắng hơn ông thừa nhận. Dù sao thì ông cũng hoàn thành chu đáo nghĩa vụ của ông đối với họ, với bố mẹ họ và với nhà nước. Hết tháng này sang tháng khác ông sắp xếp, thu thập, giảng bài, chú giải các tiểu luận của họ, chữa dấu chấm câu, lỗi chính tả và cách dùng, chất vấn những lý lẽ không có sức thuyết phục, ký tên vào từng tờ trong bản tóm tắt, cân nhắc từng lời phê.   Ông tiếp tục giảng dạy vì nó cung cấp cho ông một kế sinh nhai; nó cũng dạy cho ông tính nhún nhường, giúp ông hiểu ông là ai trên cõi đời này. Sự trớ trêu không buông tha ông: có những người đến học được nhiều điều sâu sắc nhất trong các bài giảng của ông, trong khi những người khác đến học lại chẳng thu nhận được gì. Đây là một đặc điểm trong nghề nghiệp của ông mà ông không bình luận với Soraya. Ông cho rằng cô chẳng có sự trớ trêu nào tương xứng.     Trong bếp của căn hộ ở Green Point có một ấm đun nước, những chiếc tách nhựa, một bình cà phê tan, một bát đựng nhiều gói đường nhỏ. Tủ lạnh chứa nhiều chai nước. Phòng tắm có xà phòng và một chồng khăn mặt, trong tủ quần áo có vải trải giường sạch bằng lanh. Soraya để đồ trang điểm trong một cái túi cá nhân. Chẳng là gì hơn một nơi hẹn hò bí mật, chính thức, sạch sẽ, thu xếp cẩn thận. ... Mời các bạn đón đọc Ruồng Bỏ của tác giả John Maxwell Coetzee.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Qui Cố Hương - Jiro Osaragi
“Nghĩ đến con cái tự nhiên lòng mình thanh sạch. Đó là diễm phúc của kẻ làm cha mẹ đó, cô biết không!” [Jiro Osaragi, Qui Cố Hương. Bản dịch Bùi Ngọc Lâm, Saigon 1973] Đọc Jiro Osaragi thấy cái không khí Âu châu của Kazuo Ishiguro phả khắp. Đây là tác gia tôi ít đọc, hình như chỉ biết có Hành Trình (The Journey), và nay làHomecoming. Nước Nhật của Osaragi là nước Nhật hậu chiến, nước Nhật thất trận. Thay vì nhìn đất nước dưới nhãn quan của người trong cuộc tham luyến và tội tình, của người cố gắng níu giữ vàng son đã mất như Y. Kawabata, Osaragi đặt mình là kẻ bàng quan. Ông cho nhân vật của mình đào thoát ra hải ngoại rồi quay về nhìn cố hương. Để thấy rằng những ngôi đền trên đỉnh núi vẫn đáng ngưỡng vọng, những cội anh đào sân chùa vẫn đáng chiêm bái, những vườn đá vườn sỏi vườn rêu vẫn đẹp đẽ, nhưng là cái đẹp của nghèo. Bởi nghèo nên buộc phải làm đẹp theo cách ấy. Gian nhà hoang chỉ có một vò rượu chơ vơ, là vì nghèo. Minimalism hóa ra là con đẻ của sự hoang tàn, túng thiếu. Nó đẹp một cách đau xót. Tình phụ tử, tình yêu trong văn Osaragi cũng được cảm bằng mắt người-ngoài-cuộc. Tỉnh táo, điềm tĩnh. Cha rất sung sướng khi con đã đến, nhưng lẽ ra con không nên làm thế, con không nên gặp một hồn ma, con đã đủ can đảm để lớn lên, thì con có thừa can đảm để xa cha. Em là người đàn bà khác thường, nhưng em đã gây ra cho tôi bao nhiêu oan khiên, vậy xin phép em, mai tôi đi sớm, tôi rửa hận bằng cách từ chối tình yêu của em. Tuyệt vời! Khi được hỏi mình có những tật xấu gì, Đức Dalai Lama nói, tôi còn tham luyến, chẳng hạn tôi không rời được cái đồng hồ đeo tay này. Còn bám chấp vào một cái gì, là còn phiền não. Đọc Osaragi để học cách yêu thương mà không nhất thiết phải dính chặt vào đối tượng yêu thương. *** Jiro Osaragi (4/10/1897 – 30/4/1973) tên thật là Haruhiko Nojiri. Ông sinh ra tại Yokahama, Nhật Bản. Sau khi tốt nghiệp từ Đại học Hoàng gia Tokyo, ông được nhận vào giảng dạy tại trường nữ sinh Kamakura (ngày nay là trường trung học Kamakura Jogakuin) nằm tại Kamakura, tỉnh Kanagawa. Nhờ các kỹ năng ngôn ngữ của mình, năm 1922, ông được tuyển dụng vào Bộ Ngoại giao. Nhưng sau trận động đất Great Kanto năm 1923, ông mất việc và quyết định trở thành nhà văn. Năm 1924, ông xuất bản quyển tiểu thuyết lịch sử đầu tiên Hayabusa no Genji. Các tiểu thuyết của ông phổ biến với bối cảnh lịch sử như Kurama Tengu (1924 – 1959), Teru Hi Kumoru Hi (“Sunny Days Cloudy Days”, 1926 – 1927), và Ako Roshi (“Loyal Retainers of Ako”, 1927 – 1928) đã được phát hành trên báo và tạp chí mang lại cho ông một lượng lớn những người ủng hộ. Nhiều truyện sau này được chuyển thể thành phim ảnh. Mời các bạn đón đọc Qui Cố Hương của tác giả Jiro Osaragi.
O, Mari! - Robert Enghibarian
N hận được cuốn tiểu thuyết O, Mari! của tác giả Robert Enghibarian từ tay bà Raisa Vardanyan, Đại sứ Armenia mới nhận nhiệm vụ ở Việt Nam, với đề nghị tôi sớm tổ chức dịch ra tiếng Việt để có cơ hội sắp tới giới thiệu với đông đảo bạn đọc chúng ta thêm hiểu về đất nước của bà, tôi thấy có cảm tình ngay với cuốn sách. Sách dày dặn, in ấn chững chạc, bìa các tông cứng, mặt bìa trang nhã với gương mặt xinh đẹp hiền hậu của một cô gái phương Tây bên cạnh ngọn tháp Epphen Pari quen thuộc. Linh cảm mách bảo tôi cuốn sách hẳn nói đến một mối tình có dính líu giữa chàng trai Armenia - xứ sở thuộc châu Á, vốn là một nước Cộng hòa Xô viết nằm ở cực Nam Liên xô trước đây, và cô gái bên trời Âu - cô gái Pari chăng? O, Mari! Bất giác tôi nhớ ngay tới khúc hát quen hình như đã được nghe ở đâu đó chỉ một hai lần mà cứ nhớ mãi: “Ô, Mari! Đóa hoa hồng. Trên đồng nội nơi em đi qua hoa cỏ ngả rạp mình đón chào em…”. Có lẽ trong bộ phim đạo diễn điện ảnh Liên xô nổi tiếng Rôman Karmen quay những ngày cuối chiến dịch Điện Biên Phủ có cảnh nhiều gương mặt các sĩ quan Pháp bị bắt làm tù binh buồn rầu ngẫm nghĩ trong tiếng hát của ca sĩ giọng teno da diết “Ô, Mari! Đóa hoa hồng...” Về nhà, tôi đã bắt tay vào đọc cuốn sách O, Mari! và càng đọc càng thấy hấp dẫn. Đúng là câu chuyện về một tình yêu sét đánh, say đắm giữa chàng trai người bản địa, sinh viên năm thứ hai khoa Luật trường Đại học Tổng hợp Erevan Armenia và cô gái "tóc sáng màu, cao không dưới một mét bảy lăm, dáng thể thao,…. gợi nhớ hình ảnh một nữ diễn viên nước ngoài…với một sự khác biệt chưa từng thấy, hoàn toàn nổi bật so với các khuôn mẫu sắc đẹp địa phương…Một thân hình được luyện tập, một bộ ngực nhỏ nhắn gần như không lộ ra, cặp chân dài, cần cổ cao, mái tóc vàng, ánh bạch kim chấm vai..." Chàng tên là Đavid, con trai một cán bộ cao cấp- tổng biên tập phụ trách một tờ báo lớn của một nước cộng hòa, từ bé đã luyện tập thể thao, đã đạt tới danh hiệu cấp quốc gia về môn vật tự do, là một trang nam nhi tuấn tú, học giỏi, nghĩa hiệp, được bạn bè cùng trường kính nể. Còn tên nàng chính là Mari, như trong bài hát quen thuộc, sinh ra ở Pari, bố là người gốc miền tây Armenia đã phải lưu lạc sang sống ở Pari từ sau Đại chiến thế giới thứ nhất, mẹ là một phụ nữ Pháp. Lên chín tuổi Mari theo cha mẹ hồi cư theo lời kêu gọi chiêu hồi của chính phủ Liên xô vào năm 1948, nay là sinh viên khoa Ngữ văn cùng một trường Đại học Tổng hợp Erevan. Một lần làm nhiệm vụ đội trưởng đội tự quản sinh viên ở cổng trường, Đavid đã tình cờ để ý thấy Mari…lập tức hình ảnh của Mari gây ấn tượng mạnh cho Đavid và chàng trai đã mê mẩn tìm cách làm quen với nàng. Chàng đã có cơ hội tự nguyện giúp nàng từ việc nhỏ nhất, mua hộ bữa ăn trưa cho nàng đến việc giải thoát cho nàng khỏi sự quấy quả hăm dọa của bọn côn đồ đường phố. Từ những sự quan tâm và nghĩa hiệp ấy dần dần nàng có cảm tình lại với Đavid. Mặc cho sự can ngăn chân thành của người bạn “nối khố” ngay từ sau những rắc rối đầu tiên xảy ra khi Đavid bắt đầu “dính" Mari, anh chàng Rapha hơn tuổi nhưng cùng khoa Luật: “tớ không khuyên cậu lằng nhằng với con búp bê đó. Quanh nó có cả trung đoàn bọn lượn vè vè, lại thêm một số cậu nghiêm túc nữa. Cậu sẽ vất vả, sẽ nhận được là: “vĩnh biệt, chàng trai, au revoir!”. Cô ta không dành cho cậu. Cô ta cần một chàng trai trí thức chững chạc, có tương lai chứ không phải một sinh viên năm thứ hai, dù là nhất đẳng môn vật tự do…” Bố mẹ Đavid cũng can ngăn con trai. Bố Đavid khuyên: “…Mari - không nghi ngờ gì, là một cô gái tốt, nhưng nó đã biết nó cần gì trong cuộc đời này, còn con thì chưa. Người vợ tương lai của con hiện đang học cấp một. Đấy, con xem mẹ con lấy bố trẻ hơn bố đến tám tuổi…Mari là người đồng niên với con nhưng trong cuộc sống nó già dặn và thông minh hơn con nhiều, phải đến bảy - tám năm. Con có thể là người đàn ông yêu quý của nó, nhưng không bao giờ là uy tín thực sự. Con cứ đi lại với con bé, làm bạn, nếu có thể có tình bạn đơn thuần, đừng ngu ngốc, đừng làm hỏng đời của con và của nó”. Nhưng tình yêu giữa đôi trai gái vẫn cứ mỗi ngày một khăng khít gắn bó. Đavid và Mari quấn quýt bên nhau như hình với bóng, như đôi sam bể…Vượt qua biết bao trở ngại thử thách trong bối cảnh xã hội có nhiều vấn đề phức tạp của lịch sử thời kỳ “băng tan” những năm 50, 60 thế kỷ trước ở Liên xô. Tình yêu khăng khít kéo dài suốt hơn bốn năm trời ăn học cho đến khi cả hai người cũng đã nhận được bằng tốt nghiệp, bắt đầu thu xếp công ăn việc làm… Đavid và Mari lại phải chia tay… Tình yêu không trọn vẹn mặc dù cả hai phía đều có thiện chí…Mari theo bố mẹ một lần nữa đi tái định cư ở Pari. Còn Đavid kiên quyết ở lại đất nước, quê hương với những người thân: cha mẹ, em trai mình, bạn bè, đồng nghiệp, kể cả những người bạn cùng học không tốt đẹp gì. Đavid đã từng khẳng định suy nghĩ và quyết định đúng của mình. Phản đối lại cái nhìn của ông Varugian, chuyên gia hóa học cũng là người hồi hương, luôn thất vọng từ khi trở về nước, Đavid khẳng định: “Chú cứ yên tâm, cháu ở đất nước của mình cảm thấy mình là người chủ!” Điều chia cắt mối tình không phải hai người cùng lứa tuổi, không phải những ghen tuông hờn giận thỉnh thoảng lại bột phát ở anh ở chị, cái thói thường của bất cứ đôi trai gái yêu nhau nào, không phải ở những hiểm nguy xã hội luôn rình rập…mà là ở cái nhìn một hiện thực xã hội khác nhau xuất phát từ môi trường văn hóa giáo dục của mỗi người, như có lần chính Đavid cũng đã nhận thức ra… Đavid và Mari chia tay nhau một cách đau đớn đầy nước mắt: “trước khi ra máy bay cùng cha mẹ trở lại Pari, Mari òa khóc nức nở. Không e ngại những người chung quanh, nàng ôm chặt lấy tôi, ghì sát vào ngực tôi”. Và chàng trai cũng: “Mái tóc sáng của Mari vừa mất hút không còn thấy, tôi mặc cho tình cảm bùng ra. Lấy cổ áo bành tô che đi, tôi nức nở khóc tức tưởi”. Một câu chuyện tình yêu, rất chân thật, được kể lại với những bối cảnh xã hội chân thật, được viết ra bởi tác giả, gần như tự sự cuộc tình duyên của chính mình. Những điều tác giả, một nhà khoa học dày dặn kinh nghiệm trong cuộc đời hoạt động sôi nổi của mình, trên cương vị với trách nhiệm của một nhà hoạt động xã hội có uy tín, hiện giữ các trọng trách trong giới trí thức đương đại ở Liên bang Nga, đưa ra trong cuốn tiểu thuyết đem cho người đọc nhiều hiểu biết, nhiều suy nghĩ như những bài học trong cuộc sống đang đi lên, hướng đến cái thiện, cái đẹp, hạnh phúc của con người. Đối với riêng tôi, như một người đọc, tôi vô cùng biết ơn tác giả. Có lẽ tôi hân hạnh được là người cùng thế hệ với tác giả, tuổi đời sấp xỉ hơn kém nhau chút ít. Tôi may mắn được sống ở Liên xô những năm tác giả miêu tả trong sách. Tôi cũng đã có lần từng được đến Erevan thủ đô của quê hương Armenia của tác giả, đến thăm ngôi trường Đại học Tổng hợp quốc gia Erevan, quảng trường Lênin, nơi nhân vật của cuốn sách đã ăn học, đã sinh sống… Cám ơn tác giả đã cho tôi sống lại tuổi trẻ của tôi, cho tôi thấy rõ thêm quê hương của ông, cho tôi thấy rõ hơn những bước đường tôi đã đi qua và hướng đi tiếp tới tương lai trên đoạn đường đi tiếp cùng với nhân dân, đất nước quê hương của mình. Và hy vọng rằng cuốn sách cũng để lại cho không ít bạn đọc khác ở Việt Nam có được những trải nghiệm như bản thân tôi… Dịch giả: THÚY TOÀN   R obert Enghibarian - Giám đốc viện Quốc tế điều hành (Đại học tổng hợp) MGIMO thuộc Bộ Ngoại giao Nga, Tiến sĩ khoa học luật pháp, Giáo sư, Nhà hoạt động công huân các khoa học của Liên bang Nga, Tiến sĩ Danh dự của Viện Hàn lâm khoa học nước cộng hòa Armenia và nhiều nước ngoài (Serbia, Sloveniya, Canada), nhiều trường cao đẳng Nga và nước ngoài. Trong cuốn tiểu thuyết tâm lý - bi kịch: những sự việc bi thảm của cuộc sống những người đương thời của tác giả đã diễn biến trên nền rất nhiều sự kiện xã hội - chính trị, nhiều biến thái của các quan hệ xã hội. Con người và thể chế, tình yêu và tình cảm, nghĩa vụ, tình bạn và sự phản bội, sự nóng vội của tuổi trẻ và sự sáng suốt của tuổi trưởng thành, những mô típ của các hành động con người, những sự thất thường của số phận luôn thay đổi - đó chỉ là một ít vấn đề mà tác giả suy nghĩ tới. Các hoạt động được miêu tả trong cuốn tiểu thuyết, đều được dựa trên các sự việc có thật, tất cả các nhân vật đều có nguyên mẫu của mình và nhiều khi mang tên họ thật. Cốt truyện sinh động, các nhân vật sáng rõ mạnh mẽ, sự thật chướng tai gai mắt về sự không giới hạn trên bình diện quốc gia tái hiện lại bức tranh sống động của quá khứ vừa qua - mặt trái của thời kỳ băng tan(1) - thời kỳ Khơrusốp, .... được tiểu thuyết hóa. Mời các bạn đón đọc O, Mari! của tác giả Robert Enghibarian.
Lila K Hành Trình Tìm Lại - Blandine Le Callet
Một cuốn tiểu thuyết hướng nghiệp, nơi mà sự hồi hộp gay cấn pha lẫn với một câu chuyện tình gây bấn loạn. Hành trình tìm lại cuộc sống của Lila K cũng là một cuốn sách tự vấn về những tiến triển và những lệch hướng có thể về xã hội chúng ta. Trước tiên đó là một tiếng nói: tiếng nói của một cô gái trẻ nhạy cảm và chua cay, mong manh nhưng đầy ý chí, cô kể lại câu chuyện của mình kể từ ngay những người đàn ông bận đồ đen đến bắt cô khỏi tay mẹ mình, và đưa cô đến một Trung tâm, nửa ký túc xá, nửa nhà tù, nơi mà cô đã được ăn uống và học hành. Thông minh tuyệt đỉnh, không thích nghi với xã hội, bị trấn thương tinh thần nặng nề, Lila đã quên hẳn cuộc đời trước đây của mình. Cô chỉ có một nỗi ám ảnh: tìm lại mẹ mình, và những ký ức đã mờ nhạt xưa kia của mình mà thôi. Và thế là cô bắt đầu một công việc học tập hỗn độn, giữa một môi trường khác biệt hoàn toàn một cách kỳ dị, nơi mà sự an ninh hình như kể từ đây là rất đảm bảo, nhưng lại là nơi mà các tác phẩm sách báo không có chỗ trú. Theo dòng cuộc điều tra mà nó sẽ đưa cô ra đi trượt khỏi lề của sự chính đáng, Lila dần dần khám phá quá khứ của mình, và cuối cùng sẽ biết được mẹ của cô hiện giờ ra sao. Chặng đường đi của cô sẽ va phải con đường của nhiều nhân vật khác, trong số đó có một thầy giáo thông thái nhưng có tính khiêu khích, một người giáo dưỡng vừa rất đúng tập tục lại rất mẫn cán, một nữ nhạc công chơi đàn vi-ô-lon-xen bị suy nhược thần kinh do hiếm con, một nữ gác cổng hiểm độc, một thanh niên bị dị hình, một người ham tìm sách quý hiếm, một con mèo đa sắc… Mời các bạn đón đọc Lila K Hành Trình Tìm Lại của tác giả Blandine Le Callet.
Hoa Phượng Đừng Đỏ Nữa - Nhã Ca
Nhã Ca, tên thật là Trần Thị Thu Vân (sinh 1939), là một nữ văn sĩ người Việt với nhiều tác phẩm viết thời Việt Nam Cộng hoà, hiện định cư ở Hoa Kỳ. Nhã Ca sinh trưởng tại Huế đến năm 1960 thì vào Sài Gòn nơi bà bắt đầu viết văn. Trong thời gian 1960 - 1975, 36 tác phẩm của bà được xuất bản gồm nhiều thể loại như thơ, bút ký và tiểu thuyết. Một số tác phẩm của bà lấy xứ Huế làm trọng điểm. Theo lời kể của ông Nguyễn Đắc Xuân (nhà văn) thì bà vốn là một nữ sinh Huế (cùng thế hệ với Nguyễn Đắc Xuân), bỏ học Trung học vào Sài Gòn đi theo Trần Dạ Từ - một người Bắc di cư. Trần Dạ Từ viết báo chống các Phong trào tranh đấu chống Mỹ, hai vợ chồng Trần Dạ Từ và Nhã Ca là hai cây viết tâm lý chiến của Đài Tự do của Mỹ (Đài có nhiệm vụ tuyên truyền chiêu hồi và viết bài tấn công về tư tưởng đối với binh lính đối phương) Cũng vì nội dung trong những tác phẩm của bà, sau năm 1975, Nhã Ca bị chính quyền giam hai năm vì tội "biệt kích văn hóa" (có cuốn sách mang tên là ‘Biệt Kích Văn Hoá’ do các học giả, nhà văn ủng hộ Mặt trận giải phóng như Trần Văn Giàu, Lữ Phương, Vũ Hạnh... viết về 10 tác giả miền Nam. Trong sách này, ngoài bà có Hồ Hữu Tường, Nguyễn Mạnh Côn, Nhất Hạnh, Doãn Quốc Sỹ, Võ Phiến...). Trong tù, bà bị biệt giam và chính quyền tiến hành chính sách "khoan hồng, nhân đạo của Đảng" nhằm hạ gục uy tín của bà. Chính cuốn Giải khăn sô cho Huế bị liệt vào hạng tối kỵ, trưng bày trong "Nhà Triển Lãm Tội Ác Mỹ Ngụy" là chứng tích kết tội bà. Chồng bà, nhà văn Trần Dạ Từ, thì bị giam 12 năm. Do sự can thiệp của hội Văn Bút Quốc tế phối hợp với hội Ân xá Quốc tế và thủ tướng Thuỵ Điển Ingvar Carlsson, bà được sang Thuỵ Điển tỵ nạn. Năm 1992 bà cùng gia đình sang California định cư và lập hệ thống Việt Báo Daily News tại Quận Cam. Theo nhà văn Nguyễn Đắc Xuân thì cặp vợ chồng Trần Dạ Từ - Nhã Ca còn từng phụ trách nguyên cả một chương trình của đài Á Châu Tự do (RFA) của Mỹ. Tác phẩm: Nhã Ca mới (1965) Đêm nghe tiếng đại bác (1966) Bóng tối thời con gái (1967) Khi bước xưống (1967) Người tình ngoài mặt trận (1967) Sống một ngày (1967) Xuân thì (1967) Những giọt nắng vàng (1968) Đoàn nữ binh mùa thu (1969) Giải khăn sô cho Huế (1969) đoạt Giải Văn chương Quốc gia Việt Nam Cộng hòa năm 1970[4] (tái bản ở Hoa Kỳ năm 2008) Một mai khi hòa bình (1969) Mưa trên cây sầu đông (1969) Phượng hoàng (1969) Tình ca cho Huế đổ nát (1969) Dạ khúc bên kia phố (1970) Tình ca trong lửa đỏ (1970) Đời ca hát (1971) Lặn về phía mặt trời (1971) Trưa áo trắng (1972) Tòa bin-đing bỏ không (1973) Bước khẽ tới người thương (1974) v.v... Phim Đất khổ do Hà Thúc Cần sản xuất và hoàn tất năm 1973, đã một phần dựa theo cuốn Giải khăn sô cho Huế và Đêm nghe tiếng đại bác, do Nhã Ca viết đối thoại. Tại hải ngoại, bà tiếp tục sáng tác, như: Hồi ký một người mất ngày tháng Đường Tự Do Sài Gòn (2006). Mời các bạn đón đọc Hoa Phượng Đừng Đỏ Nữa của tác giả Nhã Ca.