Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Một Tỉ Sáu

Khi cả nhân loại đang đứng trước nguy cơ nòi giống bị diệt vong... Khi người đàn ông hoàn hảo với kho "hạt giống" khổng lồ xuất hiện... Liệu anh ta sẽ là báu vật quốc gia?... Hay sẽ là nạn nhân?... Cuốn tiểu thuyết về xã hội đương đại Trung Quốc với những tình tiết giả tưởng đầy kịch tính và giọng văn hài hước, châm biếm một lần nữa khẳng định Trương Hiền Lượng xứng đáng là một trong số 100 nhà văn có ảnh hưởng lớn đến thế kỉ XX do tạp chí Time bầu chọn. *** Review Phương Thảo: Sáu Tỉ Đường Đến Hạnh Phúc là một cuốn sách viết vềnhững khía cạnh của hạnh phúc dưới góc nhìn của một nhà khoa học. Hạnh phúc không chỉ là cảm xúc trong mỗi chúng ta mà nó còn được nghiên cứu bởi khoa học. Đây là một quyển sách rất hay được viết một cách rất kỹ lưỡng, logic và bài bản bởi một nhà khoa học. Người ta thường nghĩ hạnh phúc là một điều gì đó lớn lao, khó có được nhưng sau khi đọc xong sách ta sẽ hiểu khác. 6 tỷ đường tới hạnh phúc, giống như tên của cuốn sách, với 6 tỷ người, mỗi người sẽ có một hạnh phúc riêng, không ai giống ai. Con đường hạnh phúc ta đang đi, nó có nhiều ngã rẽ lắm, và thế nào là hạnh phúc thì chỉ có mỗi ng mới cảm nhận được. Nhiều lúc chúng ta cứ mãi đi tìm hạnh phúc, cứ quẩn quanh, ước nguyện hạnh phúc của người khác, mà lại quên đi mất đi những điều hạnh phúc nhỏ ngay bên cạnh mình. Hạnh phúc hay không chính là ở mình mà thôi. Tác giả đã dành rất nhiều thời gian, tâm huyết phân tích não bộ, hành vi, giải thích các thí nghiệm, nghiên cứu khoa học, cho đến dẫn chứng cụ thể rõ ràng các quan điểm của triết học và các tôn giáo khác nhau để đưa ra những niềm tin và quan niệm về hạnh phúc, cách để con người cảm thấy hạnh phúc. Đọc xong cuốn sách mình càng trân trong những điều nhỏ bé xung quanh mình vì sẽ một ngày bạn nhận ra nó chính là những điều hạnh phúc mà bạn khó có thể có lại được khi đã mất đi. *** Nếu bạn là một người đánh giá cao hạnh phúc và đang vật vã đi tìm nó, cuốn sách này là dành cho bạn. Nếu bạn đang rất hạnh phúc rồi, hãy vẫn cứ đọc nó – vì cuốn sách này sẽ khẳng định lại rất nhiều lựa chọn trong cuộc đời bạn. Stenfan Klein là một trong những nhà báo khoa học có ảnh hưởng nhất ở châu Âu. Tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là “The Science of Happiness” (Sáu tỉ đường đến hạnh phúc) được dịch ra hàng chục ngôn ngữ trên thế giới.   “Sáu tỉ đường đến hạnh phúc” là một cuốn thuộc dạng khoa học thường thức – loại sách khá phổ biến ở phương Tây. Trong những cuốn sách này, các vấn đề khoa học được diễn đạt lại một cách gần gũi và dễ hiểu để ai cũng có thể tiếp cận. Điểm khác biệt rõ rệt giữa cuốn sách này và các cuốn self-help hay súp gà cho tâm hồn khác là tất cả các kết luận ở đây đều dựa trên các bằng chứng, các nghiên cứu… nói chung là rất khách quan, khoa học nhưng vẫn không mất đi sự lãng mạn và nhạy cảm. Cuốn sách sẽ mang tới cho độc giả rất nhiều hiểu biết về cách bộ não chúng ta hoạt động, vì sao những cảm xúc tích cực lại quan trọng đến thế trong đời sống của mỗi người. Không chỉ thế, Stephan Klein còn đề cập và “giải phẫu” mọi vấn đề cơ bản nhất của đời sống con người: ham muốn, khoái cảm, tình yêu, tình bạn, đam mê, bất hạnh, thăng hoa… đồng thời giới thiệu một chiến lược khoa học để đi tới hạnh phúc. Nếu bạn là một người đánh giá cao hạnh phúc và đang vật vã đi tìm nó, cuốn sách này là dành cho bạn. Nếu bạn đang rất hạnh phúc rồi, hãy vẫn cứ đọc nó – vì cuốn sách này sẽ khẳng định lại rất nhiều lựa chọn trong cuộc đời bạn, xoá đi các băn khoăn về việc tại sao chúng ta phản ứng với mọi sự như vậy, và làm thế nào để đời sống của mình tích cực, hạnh phúc và khoẻ mạnh hơn nữa. Và điều quan trọng nhất, dựa trên những gợi ý dày đặc trong cuốn sách, mỗi độc giả sẽ có thể tìm được cách xây dựng một con đường mới để đến hạnh phúc của chính mình. Sáu tỉ đường đến hạnh phúc được xuất bản vào năm 2002, lúc đó, dân số thế giới chỉ có khoảng 6 tỉ người, và đây là một số khám phá và một số lời khuyên có thể khiến những độc giả tương lai của cuốn sách chú ý: – “Chúng ta cố tình lờ đi sự thật rằng, mặc dù có rất nhiều khác biệt giữa người với người, con người ta vẫn có nhiều điểm chung với nhau hơn là những khác biệt, ở cả khía cạnh sinh học lẫn trong tâm tính. Chúng ta thường có xu hướng coi hạnh phúc như là một niềm thích thú mà không cần có lịch sử, không phải trả giá, không phải một quá trình. Và điều này là phi thực tế”.   – “Chúng ta có thể kiểm soát cảm xúc một cách gián tiếp bằng cách đối xử tốt với chính mình – thông qua việc thay đổi môi trường sống hoặc suy nghĩ, hay bằng cách nhớ lại những hoàn cảnh dễ chịu”. – “Con vật phải hành động theo mệnh lệnh của cảm xúc, còn chúng ta thì không. Chúng ta có thể quyết định không tuân theo cảm giác, điều này cho phép ta có nhiều lựa chọn hơn để phản ứng hợp lý” – “Chỉ khi ý thức được cảm xúc của mình thì ta mới có thể tự do quyết định xem có theo nó hay không: hiểu được cái cảm giác của mình cho chúng ta sự linh hoạt. – “Chỉ khi ý thức được cơn thịnh nộ của mình thì ta mới có thể triệt được cơn rung trong cổ họng và quyết định nói năng một cách bình tĩnh – việc này thường đem lại hiệu quả hơn là để cho cơn thịnh nộ bùng nổ. Không muốn để cho hai đầu gối run lẩy bẩy tước đoạt mất của ta một trải nghiệm mới, ta có thể kiềm chế những cảm giác rụt rè và sợ hãi. Lũ chó sẽ không dám nhảy bungee ngay cả nếu chúng có thể nhảy; cảm xúc sợ hãi vô thức đã ngăn chúng lại – chúng là nô lệ của cảm xúc đó”. – “Khi tập luyện việc tự kiểm soát, ta sẽ có một tác động kép lên não bộ. Thứ nhất, chúng ta ít có khả năng phản ứng tiêu cực lúc ban đầu, bởi vì kết nối giữa kích thích và phản ứng cảm xúc tương ứng bị yếu đi. Thứ hai, chúng ta tăng cường được khả năng (đặc biệt là của thuỳ trước trán) kiềm chế những cảm xúc đó, nếu sau cùng chúng vẫn bùng lên. Cũng giống như những thành tựu khác, việc kiểm soát cảm xúc một cách có ý thức cần được luyện tập. Và luyện tập, đến lượt nó, lại làm thay đổi cấu trúc não bộ – với kết quả rằng, theo thời gian, chúng ta học được cách xử lý những cảm giác của mình dễ dàng hơn”. – “Hạnh phúc có được là do hành động đúng. Aristotle viết: ‘Hạnh phúc là kết quả của một hành động’. Hạnh phúc không phải là một món quà ngẫu nhiên hay thần thánh; nó được trao cho người biết cách sử dụng tối ưu các khả năng sẵn có để đạt được”. – “Bí quyết thực sự của đường đến hạnh phúc là quyết tâm, nỗ lực và thời gian, Đạt Lai Lạt Ma đã giảng giải như vậy.” Mời các bạn đón đọc Một Tỉ Sáu của tác giả Trương Hiền Lượng.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Tình Yêu và Nỗi Buồn - Yasunari Kawabata
 Tình Yêu Và Nỗi Buồn là cuốn tiểu thuyết cuối cùng của Kawabata trước khi ông tự tử. Đây là một trong những tiểu thuyết đẹp nhất của ông, và có phần hấp dẫn hơn các cuốn Xứ Tuyết và Ngàn Cánh Hạc. Câu chuyện mở đầu khi nhân vật chính, Oki, một nhà văn ở tuổi ngoài năm mươi, đang trên đường trở về Kyoto vì một lòng hoài niệm nước Nhật Bản cổ. Nhưng có lẽ động lực chính, thúc đẩy Oki trở về Kyoto, là lòng ao ước đi tìm lại chút hương cố nhân ở người tình cũ của hai mươi bốn năm về trước là Otoko. Otoko hiện là họa sĩ, và vẫn còn rất đẹp. Nàng đang sống trong nhà khách của một ngôi đền cùng với Keiko, người học trò họa sĩ. Keiko là một nhân vật vô cùng đam mê và không quan tâm đến luân lý, và cũng vừa mới hai mươi tuổi. Khi ba người gặp nhau tại một điểm hẹn của định mệnh, thì chính Keiko là người đã tạo ra một sự tàn phá chết chóc vì lòng ghen và một cuộc trả thù rất lạ lùng.   Tình Yêu Và Nỗi Buồn mô tả nhiều đến khía cạnh tình dục, nhưng bằng một văn phong rất nhẹ nhàng, như mặt hồ thu phẳng lặng trong một hoa viên yên tĩnh. Tình Yêu Và Nỗi Buồn chính là một bằng chứng về nét điêu luyện tâm lý của Kawabata, cùng với nghệ thuật kể chuyện siêu đẳng, một sắc thái độc đáo trong tinh thần cổ truyền Nhật Bản. Chuyến đi của Oki về Kyoto để nghe tiếng chuông chùa và gặp lại người tình cũ, phải chăng biểu tượng niềm hoài cổ và lòng yêu mến nước Nhật Bản cổ xưa của tác giả? Buồn thương và tinh tế, sáng tác của nhà văn người Nhật Yasunari Kawabata là một trong những di sản tinh thần quý giá nhất của thế kỷ 20. Tác giả của những trang văn nhạy cảm và mong manh ấy cũng là người mang nhiều nỗi sầu thương, kết đọng lại từ cuộc đời riêng đầy tang tóc, từ cảm thức hoài cổ và những suy tư trầm mặc về cuộc sống và con người. *** Năm chiếc ghế xoay được xếp dọc một phía trong toa dành cho khách ngắm cảnh của chuyến xe lửa tốc hành Kyoto. Oki Toshio thấy chiếc ghế cuối dẫy đang lặng lẽ quay theo chuyển động của xe lửa. Chàng không thể rời mắt khỏi chiếc ghế ấy. Những chiếc ghế bành thấp bên cạnh chàng không quay. Oki ngồi một mình trong toa ngoạn cảnh. Thu mình trong chiếc ghế bành, chàng ngồi nhìn chiếc ghế cuối quay. Chiếc ghế không quay theo cùng một chiều, hoặc cùng một tốc độ: đôi khi nó quay hơi nhanh hơn, hoặc hơi chậm hơn, hoặc ngừng lại rồi quay ngược lại. Nhìn chiếc ghế quay trước mặt trong một toa xe trống vắng, chàng cảm thấy cô đơn. Những ý nghĩ của quá khứ bắt đầu chập chờn qua tâm trí chàng. Hôm ấy là ngày hai mươi chín tháng mười hai. Oki đang đi Kyoto để nghe tiếng chuông đêm giao thừa. Chàng nghe những tiếng chuông ấy qua máy phát thanh đã bao nhiêu năm rồi? Những buổi phát thanh đó bắt đầu từ bao giờ? Có lẽ kể từ đó, năm nào chàng cũng nghe những tiếng chuông, cùng với lời bình luận của nhiều xướng ngôn viên, trong lúc họ phát lại tiếng chuông từ nhiều ngôi đền khác nhau tại khắp nước. Năm cũ nhường bước cho năm mới trong buổi phát thanh, nên những lời bình luận thường có vẻ hoa mỹ và cảm động. Âm thanh rộn ràng thăm thẳm của một cái chuông khổng lồ từ một ngôi đền Phật giáo vang lên thong thả cách quãng nhau, và tiếng ngân kéo dài gợi nhắc đến nước Nhật Bản cổ và báo hiệu sự trôi đi của thời gian. Sau tiếng chuông của những ngôi đền miền Bắc thì đến tiếng chuông của Kyushu, nhưng giao thừa nào cũng chấm dứt bằng tiếng chuông của Kyoto. Kyoto có nhiều đền chùa đến nỗi đôi khi nhiều tiếng chuông hòa lẫn với nhau qua máy phát thanh. Vào lúc nửa đêm, vợ và con gái chàng vẫn bận rộn lắm, sửa soạn những món ăn đặc biệt cho ngày Tết trong bếp, dọn dẹp lại nhà cửa, hoặc có lẽ soạn sẵn những chiếc áo kimono, hoặc cắm hoa. Oki thường ngồi trong phòng ăn và lắng nghe máy phát thanh. Khi những tiếng chuông vang lên thì chàng quay nhìn lại năm cũ đang ra đi. Chàng thường cảm thấy đó là một kinh nghiệm cảm động. Có năm cảm xúc ấy rất mãnh liệt hoặc đau đớn. Đôi khi chàng bị dầy vò bởi những đau buồn và hối tiếc. Ngay cả khi sự cảm xúc của các xướng ngôn viên làm chàng khó chịu thì tiếng chuông chùa vẫn âm vọng lên trong tâm chàng. Đã từ lâu chàng ước muốn có mặt tại Kyoto vào đêm giao thừa để nghe âm thanh sống thực của những tiếng chuông đền chùa cổ xưa ấy. Điều ao ước ấy trở lại với tâm trí chàng vào cuối năm nay, và chàng bốc đồng quyết định đi Kyoto. Chàng cũng hồi hộp vì sự ao ước dai dẳng được gặp lại Ueno Otoko sau những năm xa cách, và cùng nghe tiếng chuông chùa với nàng. Otoko không hề viết thư cho chàng, kể từ khi nàng dọn về sống tại Kyoto, nhưng bây giờ nàng đã trở thành một họa sĩ theo trường phái cổ điển Nhật Bản. Nàng vẫn chưa lập gia đình. Bởi vì đó là một việc làm nổi hứng bất ngờ và chàng không thích giữ chỗ trước trên xe lửa, nên chàng chỉ tới ga Yokohama và lên toa xe ngoạn cảnh của chuyến xe lửa tốc hành Kyoto. Gần ngày lễ nên xe lửa chắc đông lắm, nhưng chàng quen một người bồi tầu và tin sẽ lấy được chỗ nhờ người ấy. Oki thấy xe lửa tốc hành Kyoto rất là thuận tiện, vì chuyến xe rời Đông Kinh và Yokohama ngay lúc xế trưa, đến Kyoto vào buổi tối, và cũng rời vào lúc xế trưa trên đường về. Chàng luôn luôn đi Kyoto bằng chuyến xe này. Phần lớn các chiêu đãi viên trên toa hạng nhất đều biết chàng. Khi đã lên xe lửa rồi, Oki ngạc nhiên thấy toa xe trống trơn. Có lẽ không bao giờ có nhiều hành khách vào ngày hai mươi chín tháng mười hai. Có thể xe lửa sẽ lại đông vào ngày ba mươi mốt. ... Mời các bạn đón đọc Tình Yêu và Nỗi Buồn của tác giả Yasunari Kawabata.
Thủy Tiên Đã Cưỡi Chép Vàng Đi - Trương Duyệt Nhiên
Thủy tiên đã cưỡi chép vàng đi là khúc nhạc buồn bã, đẹp đến kì dị về cuộc đời của những bông thủy tiên. Thủy tiên là một ẩn dụ, từ điển tích chàng trai Narcisuss xinh đẹp trong thần thoại Hi Lạp, vì quá yêu bản thân mình nên đã bị hóa thành bông hoa Thủy Tiên. Trong tiểu thuyết này, hình tượng Thủy Tiên xuất hiện trong ba nhân vật nữ. Đó là Tùng Vy – dù phần lớn chỉ xuất hiện trong tâm tưởng của Quỳnh – nhưng có lẽ là bông thủy tiên rực rỡ, ấn tượng nhất. Bà có tâm hồn sôi nổi, mãnh liệt tới mức vì quá yêu bầu trời tự do và rồ dại của mình, bà đã từ bỏ Tôn Dật Hán để trôi dạt về phương trời xa lắc, sống cuộc đời bấp bênh, vô định…Đó là Quỳnh, cô gái luôn thần tượng Tùng Vy và cố gắng trở thành một tiểu thuyết gia tài hoa. Nhưng Quỳnh lại yêu cái bóng của mình theo một cách khác: cô sống quá nhiều với ký ức, ngày ngày vuốt ve những vết thương. Thế nên vết thương cũ chẳng thể lành, mà cô lại vô tình rạch thêm những vết thương mới… Và đó còn là Mạn, người mẹ ruột đài các của Quỳnh. Bà Mạn là hình ảnh bông thủy tiên Narcissus với cái nghĩa đơn giản, trần thế nhất: bà quá yêu mến, quyến luyến nhan sắc của mình, tới nỗi bà oán hận Quỳnh – bởi việc mang thai, sinh nở Quỳnh khiến bà mất đi vẻ trẻ trung thời con gái, mất bao nhiêu ánh mắt đàn ông ngưỡng mộ, xuýt xoa… Những bông thủy tiên xinh đẹp, kiêu hãnh, với một thế giới nội tâm đầy phức tạp, nhạy cảm và nhiều độc tố, họ rồi sẽ tới đâu trong cuộc đời này? Trương Duyệt Nhiên bao giờ cũng vậy, tài hoa và u oán, giọng văn mềm mại như nước, mãnh liệt như lửa, cốt truyện hấp dẫn, thế giới nội tâm được miêu tả tinh tế đến nỗi ta cảm thấy đây chính là câu chuyện của mình, ta thấy đau trong tim. Thủy tiên đã cưỡi chép vàng đi sẽ là cuốn sách phù hợp cho một buổi chiều mưa, khi bạn đang cần một cớ nào đó để được khóc. *** C on yêu, những điều này mẹ muốn nói với con: 1. Con hãy nhớ rằng đã từng đến , mẹ con mình từng cùng sống những tháng ngày, dù ngắn ngủi. 2. Con hãy nhớ rằng đã từng đau , nhớ những nuối tiếc mà bất lực của mẹ khi xa con. 3. Con hãy nhớ rằng đã từng nghe , một câu chuyện được kể bằng tình yêu – truyền từ mẹ sang con. Mồng 6/1, mình ăn sáng với bánh mì lát và mứt hạnh. Đó là bữa sáng cuối cùng, con yêu ạ. Sẽ đến một ngày, mẹ già đi, là lúc con khôn lớn như mẹ bây giờ. Còn họ , đều đã xa – những người đã từng rất quan trọng đối với mẹ, trong đó có cha con. Họ đã đi trên con thuyền đang chìm dần xuống đáy nước, về phía tiên giới lạnh lẽo. Sẽ chẳng có ai kịp chứng kiến con lớn khôn, chẳng ai kịp cùng con qua hết mọi ghềnh vượt thác, để tới những đỉnh cao hạnh phúc của cuộc đời. Họ bất quá chỉ là những thời khắc – dài ngắn khác nhau - trong đời một người. Sẽ đến một ngày, mẹ cũng trở thành - chỉ một đoạn – trong cuộc đời con, con yêu. Nhưng đừng vì vậy mà đau buồn quá. Khi còn trẻ mẹ cũng đã từng ăm ắp những kỷ niệm: chia li, vĩnh biệt, mất mát. Mỗi khi nghĩ đến sự xa lìa với những người mình yêu, tim nhói đau mà chẳng cam tâm, bởi mẹ còn quá tham lam, quá ham mê với cuộc đời này. Mẹ tin con sẽ trưởng thành nhanh chóng, và sẽ như mẹ: đến một ngày có thể buông xuôi những gì mình vốn không thể nắm bắt được, trong tâm trạng thoải mái. Con có nhớ về một giấc mơ mẹ kể, về chuyện thả cá chép không? Mẹ thường mơ về thành cổ Lệ Giang có con sông nhỏ, nước chảy rì rào, như ước mơ được bay nhảy chưa bao giờ thôi. Mẹ mơ thấy cùng cha con ra bờ sông thả cá chép. Trời ngả tối, cô bé mặc bộ áo rực rỡ của dân tộc NẠP TÂY ngồi bên thùng gỗ đầy cá chép, tay cầm cây nến hình bông hoa. Mẹ đưa tiền cho cô ấy. Cô bé dùng chiếc gáo gỗ vớt lên hai chú cá chép, xách nến dẫn hai người ra bờ sông. Cha của con là một chàng trai cao lớn, lúc nào cũng đứng bên trái mẹ. Cha mẹ cúi xuống, nhìn nhau cười, rồi nhắm mắt ước nguyện. Sau đó, thả hai chú cá chép vàng óng ánh xuống nước. Chỉ một loáng chúng đã bơi đi. Dưới ánh nến yếu ớt, chỉ thấy cá chép ve vẩy cái đuôi rực rỡ, dần dần mất hút. Con sẽ hỏi mẹ đã ước điều gì – con nhất định là một đứa bé hiếu kì, nhưng thú thật, mẹ cũng không nhớ rõ. Đại khái cũng chỉ là những điều mà nam nữ yêu nhau vẫn quan tâm, những lời vàng đá, những thủy chung, gắn bó. Con yêu, con có biết khi mẹ nhúng tay xuống nước, cá chép vùng vẫy để thoát thân, đến lúc nó bơi đi, mẹ tiếc đến nhường nào. Nhưng thời gian chờ đợi quá dài, khi ước nguyện thành hiện thực, tâm hồn có lẽ không còn là của lúc ấy nữa. Vậy nên, thời khắc ước nguyện mới chính là điều trân trọng nhất, tựa như bông hoa đầu tiên nở với mùa xuân, hương thơm chợt bừng lên, nhắm mắt lại cũng cảm thấy như đang đứng giữa một rừng hoa. Thời khắc ấy, thời gian đã dừng lại. Con yêu, con đến vào ngày thu, như một bông bồ công anh bay giữa trời, mệt nhoài đậu xuống trong cơ thể mẹ. Con là một đứa bé yên tĩnh và biết điều, con biết cuộc sống của mẹ lúc đó rối bời, nên chẳng hề làm cho mẹ thêm vất vả. Chân tay con ngọ nguậy rất nhẹ, khi mẹ đang ngủ. Vì vậy lần đầu tiên mẹ thấy con, là trong giấc mơ. Từ khi con đến, mẹ thường mơ giấc mơ thả cá chép vàng. Giấc mơ rực rỡ, lung linh, tựa hoa đăng không tắt trong đêm trăng của mùa xuân. Lúc đó, mẹ còn chưa biết rằng con đã đến, nhưng giấc mơ, đã mang lại một dự báo mơ hồ. Sách giải mộng viết, mơ thấy cá chép là điềm lành, sau đó không lâu thì con đến. Con là đóa san hô rực rỡ, dưới đáy nước, cô độc. Mẹ đoán con là bé gái, hay mang đến cho mẹ cảm xúc lãng mạn nho nhỏ và những giấc mơ. Hơn nữa, ở trong mẹ, con luôn tạo ra cảm giác dằng dai, giống như một cuộc thi kéo co. Cảm giác ấy thật kì diệu, nhưng chắc chắn đó là cuộc kéo co giữa một phụ nữ với một phụ nữ. Có lúc con nhõng nhẽo, có lúc lại bao dung. Mẹ gọi con là Narcicuss, bởi con xinh đẹp như chàng thiếu niên Narcicuss của thần thoại Hi Lạp, có khuôn mặt trắng ngần như hoa thủy tiên, và tĩnh lặng như bông hoa trong nước. Trong giấc mơ của mẹ, cá vàng bơi đi, và con đã đến. Vì thế, con sẽ sinh ra bên mặt nước, và mẹ muốn con biết yêu bản thân mình, biết tự hào về mình, tìm được niềm vui khi chỉ có một mình. Con phải biết rằng, chẳng có ai có thể vĩnh viễn đi cùng con. Nếu một khi họ bỗng nhiên ra đi, con không được hốt hoảng, không được sợ hãi. Con cần học theo Narcicuss yêu chính mình, cậu ta yêu cả cái bóng của mình, suốt ngày vui chơi cùng cái bóng, không hề chán. Mẹ ước được đem con đến thăm khu thành cổ mơ màng trong ánh nắng dịu ấy, mua cho con những áo quần sặc sỡ nhiều màu như những dải cờ đuôi nheo, ước được ngồi trên chiếc kỉ, xem con chơi xếp hình. Khi con bắt đầu bi bô, tiếng con trong như tiếng suối, con nhất định sẽ rất giỏi kể chuyện, ngồi trên xích đu, xung quanh là một vòng những người bạn nhỏ háo hức lắng nghe. Không biết con có giống mẹ, thích những câu chuyện buồn, lặng lẽ nhìn bạn bè đang rơi nước mắt, trong lòng lại thấy vui vui mãn nguyện?… Đợi con lớn thêm chút nữa, con sẽ tình cờ tìm thấy trên giá những cuốn sách mẹ viết, con có háo hức reo lên “Mẹ ơi, mẹ ơi!” và chạy về phía mẹ? Lúc đó, mẹ thấy con như chú chim đang tập bay, lông cánh rung rung dưới nắng mặt trời. Nhưng trên thực tế, mẹ đã quyết định ngăn cản con đến. Chính là hôm nay, sau ba giờ chiều, sẽ dứt con ra khỏi cơ thể của mẹ. Chúng ta sẽ xa nhau, không bao giờ gặp lại. Cho nên những điều trên chỉ là những ảo ảnh. Con ơi, mẹ của con là một nhà văn, viết lách để sống, bà ta viết rất nhiều câu chuyện. Từ những hồn ma trên tường thành cổ đến những thanh niên thác loạn trong thôn xóm, từ những bông hoa tuẫn tiết theo tình đến những con mèo đen truyền kiếp. Thế nhưng những câu chuyện của bà ta chẳng có cái nào là thật. Bà ta coi chuyện của người khác như của chính mình, coi câu chuyện của mình như của người khác. Bà ta viết truyện của người khác thì rơi lệ, viết truyện của mình thì tê dại vô cảm. ... Mời các bạn đón đọc Thủy Tiên Đã Cưỡi Chép Vàng Đi của tác giả Trương Duyệt Nhiên.
Sáu Người Đi Khắp Thế Gian - James Albert Michener
Sáu người đi khắp thế gian (The Drifters), nhận giải thưởng Pulitzer, kể về cuộc hành trình vĩ đại của 6 người đến từ những vùng đất khác nhau khi bị dạt đến Torremolinos (Tây Ban Nha) vào những năm 1960. Mỗi nhân vật là một mảnh đời, một số phận riêng, tất cả đều trốn chạy cuộc sống hiện tại. Sáu Người Đi Khắp Thế Gian, như cái tên đã chuyển tải, là một cuộc hành trình của những kẻ lang bạt, hơn thế, là hành trình của những con người miệt mài trên những chặng đường vô tận để tìm cho mình một nơi dừng chân. Sáu con người, Joe, Cato, Yigal, Gretchen, Britta và Monica, là sáu mảnh đời, sáu số phận. Điểm chung duy nhất giữa họ chính là đều đang chạy trốn hiện tại đầy hỗn loạn. Và thế là câu chuyện được kể lại, thông qua một ông già ít nhiều quen biết cả sáu người, quen biết cả những gì họ chối bỏ, những gì họ muốn thoát khỏi để dấn thân vào cuộc du hành với đầy đủ mọi góc cạnh của cuộc sống đương thời. Sức mạnh, cám dỗ, cảm xúc, nhục cảm, buông thả, thương tổn... mọi trạng thái tinh thần hiện lên trong trang sách thông qua hình ảnh của những kẻ bỏ xứ để trôi dạt vô định. Sáu Người Đi Khắp Thế Gian có bóng dáng của một thiên tiểu thuyết sử thi khi lồng ghép nhiều câu chuyện vào một, tái hiện lại những khung cảnh thông qua cách kể vừa như tường thuật, vừa như nhìn thấu mà lại vừa như chiêm nghiệm. Sau cùng, Sáu Người Đi Khắp Thế Gian là hành trình vô tận con người tìm kiếm chính mình, tìm kiếm một nơi mình thuộc về dù hành trình ấy có khi kết thúc trong một cái kết hoàn hảo nhưng có khi để ngỏ vô định và mờ mịt. *** Đôi nét về tác giả James Albert Michener James Albert Michener (1907-1997) là nhà văn nổi tiếng người Mỹ với trên 40 đầu sách. Ông từng học và giảng dạy ở nhiều trường đại học, nhận bằng Thạc sĩ Văn chương năm 1937 và có hơn 30 học vị Tiến sĩ Danh dự về Nhân văn, Luật, Thần học, Khoa học. Các tác phẩm của Michener bán được gần 80 triệu bản trên khắp thế giới, nhiều lần được chuyển thể thành phim và nhận rất nhiều giải thưởng văn học uy tín (Giải Pulitzer, giải Franklin, Huy chương Vàng của Viện Nghiên cứu Tây Ban Nha, Giải Einstein của Einstein Medical College...). Michener đã tặng hơn 100 triệu đô la tiền nhuận bút cho một số trường đại học, thư viện, viện bảo tàng, chương trình nghiên cứu... Bảo tàng Nghệ thuật ở Doylestown, Pensylvania, quê ông, mang tên Michener. Sáu người đi khắp thế gian (tên gốc The Drifters) được xuất bản năm 1971 và suốt sáu tháng liền được nằm trong danh sách những tác phẩm bán chạy nhất New York. *** Lời khen tặng dành cho Sáu người đi khắp thế gian "Đặc biệt thấu hiểu giới trẻ." - Christian Science Monitor "Cuốn tiểu thuyết giang hồ thượng hạng… và một tấm gương chân thực phản chiếu đời sống đương thời." - John Barkham Reviews "Dường như chạm tới mọi khía cạnh của đời sống hiện đại." - Publishers Weekly "Truyền tải nhận thức về một thời đại mới, một thế hệ mới… cung cấp cái nhìn thấu suốt vào tình hình ‘hiện tại’." - Chicago Sun-Times "Cuốn sách bom tấn… tràn ngập sự bất ngờ, kịch tính và thú vị." - Philadelphia Bulletin     Mời các bạn đón đọc Sáu Người Đi Khắp Thế Gian của tác giả James Albert Michener.
Nơi Trái Tim Hội Ngộ - WM. Paul Young
LỜI GIỚI THIỆU Liệu bạn có thể tin được chăng nếu một người quả quyết rằng mình đã sống trọn một kỳ cuối tuần với Chúa, trong một căn chòi? Thậm chí là chính căn chòi định mệnh ấy . Tôi biết Mack đã hơn hai mươi năm, kể từ ngày hai chúng tôi cùng đến phụ một người láng giềng gom cỏ ngoài đồng. Kể từ ấy, anh ta và tôi đã chia ngọt sẻ bùi, nói theo kiểu bọn trẻ ngày nay, đi chơi chung, cùng uống cà phê - hay là uống chai-tea nóng hổi pha với đậu nành. Những cuộc chuyện trò của chúng tôi đầy lý thú, lúc nào cũng rộn tiếng cười và thỉnh thoảng ứa cả nước mắt. Thật tình mà nói, càng lớn chúng tôi lại càng khăng khít. Tên đầy đủ của anh là Mackenzie Allen Phillips dù hầu như ai cũng gọi anh là Allen. Họ nhà anh, tất cả đàn ông con trai đều mang tên giống nhau nhưng thường được gọi theo tên lót, chắc là để tránh cách gọi phô trương kiểu Đệ nhất, Đệ nhị và Đệ tam hay là Cha và Con. Cách này cũng rất hiệu quả để nhận diện những tay tiếp thị từ xa, nhất là những cú phôn đường đột mà cứ ra vẻ thân thiết. Vậy là anh ấy và ông nội, bố, và bây giờ là thằng con trai cả đều mang tên Mackenzie nhưng thường được gọi bằng tên lót. Chỉ có Nan, vợ anh, và mấy người bạn thân gọi anh là Mack. Mack sinh trưởng trong vùng Midwest, một cậu trai con nhà nông trong một gia đình Ái Nhĩ Lan - Hoa Kỳ vốn quen làm lụng và khắt khe. Mặc dù bề ngoài thì mộ đạo, ông bố roi sắt của anh ta, một bậc trưởng lão trong giáo xứ, lại là một kẻ nát rượu, nhất là khi trời không mưa, hoặc mưa sớm quá, hoặc là bất cứ khi nào. Mack chẳng bao giờ nói nhiều về bố, nhưng mỗi khi nhắc đến thì gương mặt anh vô cảm như nước triều đang rút ra khơi, chỉ còn lại ánh mắt u tối và nguội lạnh. Từ những câu chuyện ít ỏi Mack kể lại, tôi biết bố anh không phải là loại nốc rượu rồi vô tư lự ngủ khì mà là một gã bợm nhậu xấu nết đánh chửi vợ con rồi lại xin Chúa xá tội. Biến cố xảy đến khi cậu Mackenzie mười ba tuổi miễn cưỡng bày tỏ tâm tình với một vị trưởng lão trong một dịp khôi phục đức tin cho giới trẻ. Trong một khoảnh khắc, day dứt với cảm giác tội lỗi, Mack đã bật khóc thú nhận rằng nhiều lần cậu đã chẳng làm gì để giúp mẹ khi ông bố say xỉn đánh mẹ đến ngất đi. Điều Mack không ngờ là lời xưng tội ấy thật hiệu nghiệm và đến tai cả bố mình, và khi cậu về đến nhà thì bố đang chờ sẵn ngoài hiên còn mẹ và các em gái thì rõ ràng đã đi vắng. Về sau cậu mới biết rằng mọi người đã đến nhà cô May để bố rảnh tay dạy cho thằng con phản loạn một bài học về sự tôn kính. Gần suốt hai ngày sau đó, bị trói vào cây sồi sau nhà, cậu bị quật bằng thắt lưng xen lẫn trong những câu kinh mỗi khi ông bố tỉnh cơn say và nốc xong ngụm rượu. Hai tuần sau, khi hồi phục và nhúc nhắc đi được, cậu bỏ nhà đi thẳng. Nhưng trước khi đi, cậu cho thuốc độc vào tất cả chai rượu tìm thấy trong nông trại. Rồi cậu ra cạnh nhà ngoài đào lên một chiếc hộp thiếc nhỏ chứa kho tàng nhân gian của cậu: một tấm ảnh gia đình với gương mặt mọi người đang nheo mắt vì ánh nắng mặt trời (bố cậu đứng khuất sang một bên), một tờ chương trình bóng chày giải Luke Easter 1950, một chai nhỏ đựng chút Ma Griffe (thứ nước hoa duy nhất của mẹ cậu), một cuộn chỉ và vài cây kim, một chiếc mô hình máy bay F-86 của Không lực Hoa Kỳ đúc bằng bạc, và toàn bộ tiền dành dụm của cậu - 15.13 đôla. Cậu lẻn vào nhà và luồn một mảnh giấy dưới gối của mẹ trong khi bố cậu đang ngáy sau một trận đánh chén. Giấy chỉ ghi: “Một ngày kia, con hy vọng mẹ có thể tha thứ cho con.” Cậu thề sẽ không bao giờ nhìn lại, và cậu đã không làm thế - chẳng được bao lâu. Mười ba thì còn quá nhỏ để gọi là hoàn toàn trưởng thành, nhưng Mack chẳng có mấy lựa chọn và đã thích nghi một cách thật nhanh chóng. Cậu chẳng nói nhiều về những năm tháng sau đó. Hầu hết quãng thời gian ấy trôi qua ở nước ngoài, cậu đi làm lụng khắp thế giới, gửi tiền về cho ông bà để nhờ chuyển lại cho mẹ cậu. Ở một nước xa xôi, tôi nghĩ thậm chí cậu đã cầm súng trong một cuộc xung đột dữ dội; cậu đã từng căm ghét chiến tranh một cách ghê gớm từ khi tôi biết cậu. Sau mọi chuyện, rốt cục ngoài hai mươi tuổi cậu bước chân vào một trường dòng tại Úc. Học xong thần học và triết học, cậu quay về Hoa Kỳ, làm lành với mẹ và các em gái, rồi chuyển đến Oregon nơi cậu gặp và cưới Nannette A. Samuelson. Trong một thế giới của những người chỉ nói, Mack là một người suy nghĩ và hành động. Anh chàng chẳng nói nhiều trừ phi bạn hỏi thẳng anh, mà hầu hết mọi người đều đã biết là không nên. Khi anh ta mở miệng, bạn sẽ nghĩ anh ta là một loại người trên trời rơi xuống bởi các ý tưởng và trải nghiệm hoàn toàn theo cách khác thường. Vấn đề là, anh thường mang lại cảm giác bất thường trong một thế giới mà hầu hết mọi người chỉ thích nghe những gì họ thường nghe, tức là chẳng có gì đáng bận tâm. Những người quen biết nói chung đều không ghét anh, miễn sao anh giữ các ý tưởng cho riêng mình. Và khi anh nói, không phải là họ không thích anh nữa - mà họ sẽ không cảm thấy thoải mái trong thâm tâm. Mack có lần bảo tôi rằng lúc trẻ anh thường bộc lộ ý nghĩ thoải mái hơn, nhưng anh thú nhận rằng hầu hết các cuộc nói chuyện như thế là một cơ chế sinh tồn để che đậy tổn thương của mình; rốt cục anh thường gieo nỗi đau cho mọi người xung quanh. Anh nói cách của anh thường vạch ra lỗi lầm và làm bẽ mặt người khác trong khi chính mình thì tôn tạo cảm giác giả tạo của uy quyền và ngự trị. Thật không dễ ưa. Khi viết những dòng này, tôi tái hiện một chàng Mack mà tôi biết - thật bình dị, và dĩ nhiên không phải là một người đặc biệt, ngoại trừ đối với những ai thật sự biết anh. Anh sắp bước sang tuổi năm mươi sáu, và anh là một người khá bình thường, hơi nặng cân, hói, thấp và da trắng giống như hầu hết những người đàn ông vùng này. Ắt là bạn sẽ chẳng nhận ra anh trong một đám đông hay cảm thấy khó chịu ngồi bên cạnh trong khi anh chợp mắt trên tàu MAX (tàu điện trung chuyển) trong hành trình mỗi tuần một lần vào thành phố dự cuộc họp về bán hàng. Anh làm việc chủ yếu từ văn phòng nhỏ tại nhà ở Wildcat Road. Anh bán các món đồ kỹ thuật cao và những dụng cụ mà tôi không định tìm hiểu: các thiết bị để làm cho mọi thứ diễn ra nhanh hơn, như thể cuộc sống này chưa đủ nhanh. Bạn không thể nhận ra Mack thông minh như thế nào trừ phi bạn tình cờ nghe lỏm cuộc đối thoại giữa anh với một chuyên gia. Tôi đã từng rơi vào tình huống đó, và chợt như nghe thấy ngôn ngữ không phải là tiếng Anh nữa, rồi tôi thấy mình phải vất vả để nắm bắt các ý niệm tuôn trào như thác. Anh có thể nói chuyện một cách minh triết về hầu hết mọi điều, và cho dù bạn cảm thấy anh có sức thuyết phục mạnh mẽ, anh vẫn có một phong thái dịu dàng để giúp bạn giữ quan điểm của mình. Các chủ đề anh ưa thích đều thuộc về Thiên Chúa và Đấng Tạo hóa và nguồn cội niềm tin của con người. Mắt anh sáng lên, nụ cười bừng nơi khóe môi, trong khoảnh khắc, như một đứa trẻ, nét mệt mỏi tan biến và anh trở nên không còn tuổi tác và vô tư lự. Nhưng trong lúc ấy, Mack không phải quá sùng đạo. Dường như anh có một mối quan hệ yêu/ghét với Tôn giáo, và thậm chí với cả Chúa mà anh hồ nghi rằng đang suy niệm ở nơi xa xôi và cách biệt. Thỉnh thoảng những lời châm chọc đầy mỉa mai lại dè dặt buông ra từ miệng anh như những mũi phi tiêu sắc lẻm tẩm độc dược từ một giếng sâu trong tâm can. Mặc dù cả hai chúng tôi đôi khi xuất hiện vào ngày chủ nhật tại chính ngôi giáo đường phúc âm (mà chúng tôi thích gọi là Hội Ngũ tuần Độc lập thứ 55 của Thánh John Baptist), bạn có thể thấy rằng anh ấy không thật thoải mái nơi đó. Mack đã kết hôn với Nan hơn ba mươi ba năm mà gần trọn thời gian là những năm tháng hạnh phúc. Anh nói người vợ đã cứu chuộc đời mình và đã trả một cái giá đắt để làm việc đó. Vì một lý do nào đó, nằm ngoài sự hiểu biết, giờ đây dường như cô ấy yêu anh hơn bao giờ hết, mặc dù tôi có cảm giác anh đã làm cô ấy tổn thương dữ dội trong những năm tháng đầu. Tôi cho rằng vì hầu hết những tổn thương của chúng ta đến từ các mối quan hệ nên sự hàn gắn cũng xuất phát chính từ đó, và tôi biết rằng sự khoan dung chẳng có nghĩa gì đối với những ai nhìn sự việc qua bề ngoài. Dù gì thì Mack đã có một cuộc hôn nhân xứng đôi. Nan chính là trát vữa để kết dính những viên gạch gia đình. Trong khi Mack vật lộn trong một thế giới đầy màu xám, thế giới của chị chủ yếu là trắng và đen. Chị tư duy theo lẽ thường một cách tự nhiên đến độ chẳng cảm nhận được cái năng khiếu lý tính ấy. Công cuộc chăm lo một gia đình khiến chị từ bỏ giấc mơ trở thành bác sĩ, nhưng trong vai trò y tá, chị tỏ ra vượt trội và được mọi người đánh giá cao trong công việc mà chính chị đã lựa chọn, là chăm sóc các bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối. Trong khi quan hệ của Mack với Thiên Chúa thiên về chiều rộng, quan hệ của Nan lại có chiều sâu. Cặp vợ chồng xứng hợp một cách khác thường này có năm đứa con khôi ngô. Mack ưa nói rằng chúng đều cuỗm lấy nét đẹp từ anh “...vì Nan vẫn còn giữ được nét đẹp riêng cho cô ấy.” Hai trong ba cậu con trai đã ra riêng: Jon, vừa mới cưới, làm mãi vụ cho một công ty địa phương, còn Tyler, mới tốt nghiệp đại học, đang làm việc tại trường để theo đuổi luận án thạc sĩ. Josh và một trong hai đứa con gái, Katherine (Kate), vẫn còn ở nhà và theo học tại đại học cộng đồng địa phương. Rồi đến một đứa con muộn màng, Melissa - hay Missy, như cách chúng tôi thích gọi cô bé. Cô bé... mà thôi, rồi bạn sẽ biết về chúng rõ hơn qua những trang sách này. Những năm vừa qua đã trở nên, tôi nên nói như thế nào nhỉ, hết sức đặc biệt. Mack đã thay đổi; anh ấy giờ đây thậm chí còn khác hơn và đặc biệt hơn trước đây nữa. Suốt bao nhiêu năm tháng, tôi biết anh ấy là một tâm hồn khá dịu dàng và tử tế, nhưng từ lúc nằm bệnh viện cách đây ba năm, anh đã trở nên... thậm chí còn tử tế hơn nữa. Anh đã trở thành một trong những người hiếm hoi thật sự hoàn toàn thoải mái một cách chân tình. Và tôi cảm thấy thoải mái bên cạnh anh ấy, khác với bất cứ ai. Khi chia tay, dường như tôi vừa có được một cuộc nói chuyện tuyệt nhất trong đời, cho dù tôi thường là người nói hầu hết. Và ơn Chúa, Mack không chỉ phóng khoáng mà còn rất sâu sắc. Nhưng cú sốc ấy đã khiến anh phải trả giá đắt. Những ngày này rất khác với khoảng chừng bảy năm trước, khi nỗi đau xâm chiếm đời anh và anh gần như không nói chuyện nữa. Vào khoảng thời gian ấy và trong gần hai năm chúng tôi không qua lại, như thể có một sự thỏa thuận ngấm ngầm nào đó. Tôi chỉ gặp Mack thi thoảng tại hiệu tạp phẩm địa phương hoặc thậm chí còn hiếm hơn nữa tại nhà thờ, và mặc dù thường ôm choàng lấy nhau một cách lịch sự, chúng tôi chẳng nói gì mấy chuyện quan trọng. Thậm chí anh ấy còn khó khăn khi nhìn vào mắt tôi; có lẽ anh ấy không muốn khơi mào một cuộc trò chuyện có thể làm tróc vảy vết thương trong tim mình. Nhưng tất cả mọi chuyện đã thay đổi sau biến cố ác ôn với... Nhưng tôi lại buột miệng rồi, không kiềm chế được. Rồi đến lúc chúng ta sẽ biết chuyện. Tôi chỉ muốn nói mấy năm qua dường như cuộc sống đã trở lại với Mack và cất đi gánh nặng của nỗi đau . Chuyện xảy ra cách đây ba năm đã hoàn toàn thay đổi nhịp điệu cuộc sống của anh và đó là một khúc ca mà tôi muốn tấu lên cho các bạn cùng nghe. Mặc dù giao tiếp ngôn từ khá tốt, Mack lại không thoải mái với kỹ năng viết lách của mình - một việc mà anh biết rằng tôi rất đam mê. Cho nên anh đã đề nghị tôi chắp bút cho câu chuyện này - câu chuyện của anh ấy, “vì bọn trẻ và vì Nan.” Anh muốn câu chuyện giúp anh giải bày với vợ con không chỉ tình thương yêu sâu lắng của mình mà cả những gì đã diễn ra trong thế giới nội tâm của mình. Bạn biết thế giới ấy: nơi chỉ có riêng mình bạn - và có lẽ Chúa nữa, nếu bạn tin có Ngài. Dĩ nhiên, Chúa vẫn có thể hiện diện ở nơi ấy cho dù bạn không tin người. Người là như thế đó. Không phải vô cớ mà người được xưng tụng là Đấng Can thiệp. Những gì các bạn sắp đọc là những gì Mack và tôi đã vất vả hàng tháng trời để viết ra. Có một chút, à... không, có nhiều điều kỳ lạ. Cho dù có những phần thật sự có thật hay không, tôi không phải là người phán xét. Cũng phải nói rằng, mặc dù có những điều không thể chứng minh được một cách khoa học, thì nó vẫn đúng đấy thôi. Thật lòng tôi phải nói rằng khi tham gia vào câu chuyện này, tôi đã bị tác động sâu thẳm bên trong vào những ngóc ngách mà chính tôi chưa bao giờ biết đến sự tồn tại của nó; tôi phải thú thực rằng tôi vô cùng muốn mọi chuyện Mack kể với tôi là sự thật. Hầu hết các ngày tôi ở bên cạnh Mack, nhưng có những ngày - khi thế giới hữu hình của xi măng và máy tính trông như là thế giới thật - thì tôi tách biệt và cảm thấy hồ nghi. Một vài lời cuối: Mack muốn bạn biết rằng nếu bạn tình cờ đọc câu chuyện này và ghét nó thì, anh nói: “Xin lỗi... câu chuyện chủ yếu được viết ra không dành cho bạn.” Mà nghĩ lại, biết đâu đấy. Những gì bạn sắp đọc là ký ức rõ rệt nhất mà Mack có thể nhớ về những gì đã xảy ra. Đây là câu chuyện của anh ấy, không phải của tôi, cho nên những khi xuất hiện, tôi sẽ nhắc đến chính mình bằng ngôi thứ ba - từ góc nhìn của Mack. Ký ức có những lúc là một kẻ đồng hành quỷ quyệt, nhất là với một tai ương, và bất chấp những nỗ lực chung của chúng tôi để đạt được sự chính xác, tôi sẽ không quá ngạc nhiên nếu trong các trang sách có những sự kiện sai sót hoặc ký ức lầm lạc. Đó không phải là sự cố ý. Tôi có thể cam đoan với bạn các cuộc trò chuyện và biến cố được ghi lại trung thực tối đa theo những gì Mack nhớ được, cho nên ta hãy rộng lượng với anh ấy. Rồi bạn sẽ thấy, đó không phải là những điều dễ bộc bạch. Mời các bạn đón đọc Nơi Trái Tim Hội Ngộc của tác giả WM. Paul Young.