Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

3.3.3.9 Những Mảnh Hồn Trần

Tóm tắt & Review (Đánh Giá) sách 3.3.3.9 Những Mảnh Hồn Trần của tác giả Đặng Thân. Đỗ Lai Thúy (Nhà lý luận phê bình văn học) Trước Đổi mới và Mở cửa, 1986, một số truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu như “Bến quê”, “Bức tranh”, “Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành”… gây cho người đọc nhiều băn khoăn, bối rối. Báo Văn nghệ bấy giờ, tôi nhớ, đã mở một hội thảo, triệu các nhà văn, nhà phê bình khả kính về để cùng đọc cho ra. Vốn quen với những truyện có cốt truyện, con người có tính cách, nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển hình, chủ đề tư tưởng rõ ràng…, nay đọc Nguyễn Minh Châu thấy khó hiểu cũng phải. Đọc văn mới, quả thực, phải có mã đọc mới, mà mã đọc này, xét cho cùng, lại phụ thuộc vào mã văn hóa thời đại. Công lao của Đổi mới, có thể nói, đã mở ra một thức nhận: không có mã đọc vĩnh cửu, thời nào có mã đọc ấy. Chả thế, chỉ một hai năm sau đó, các truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài được người đọc tiếp nhận một cách dễ dàng, hồ hởi, mặc dù “khó đọc” hơn Nguyễn Minh Châu nhiều. Ấy vậy mà hiện nay, chỉ chừng khoảng hai mươi năm sau, người đọc lại đang đứng trước một thách đố mới. Văn mới mới (nếu có thể gọi như vậy) xuất hiện ngày một nhiều. Mà khởi xướng cho lần này đa số là các nhà văn trẻ, thậm chí rất trẻ. Các tác phẩm của họ đa số là tiểu thuyết, một thể loại vốn quá ngưỡng với tư duy văn học Việt Nam… Chừng ấy những cái “ngoại biên”, “phi/chưa chính thống”, “giải trung tâm”… đó càng làm khó cho sự tiếp nhận văn học hậu-Đổi mới, tức đổi mới (không viết hoa) từ dưới lên, này. Tiểu thuyết 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] của Đặng Thân là điển hình của văn chương hậu-Đổi mới. Nó có đầy đủ những đặc điểm của tiểu thuyết hậu-hiện đại. Ở đây, tôi chỉ xin nêu ra hai đặc điểm: sự phân mảnh và tính diễu nhại. Sự phân mảnh này làm cho cái Một, cái Duy nhất trở thành cái nhiều, chứ không phải cái-không-có-gì. Một câu truyện, mà thường là “chuyện lớn”, trở thành nhiều câu chuyện, một trung tâm trở thành nhiều trung tâm, một tư tưởng trở thành nhiều tư tưởng. Mà câu chuyện nào, trung tâm nào, tư tưởng nào cũng đều quan trọng như nhau cả, nếu có hơn kém là tùy ở hệ quy chiếu của người đọc. Nhân vật của 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] cũng vậy, thực ảo lẫn lộn. Trong đó, tác giả không phải chỉ là kẻ dẫn chuyện, mà là một nhân vật trong truyện, như các nhân vật khác. Có thể, vị thế “chân trong chân ngoài”, hoặc hoàn toàn là “người trong cuộc” này làm cho tính diễu nhại Đặng Thân trở thành tự diễu nhại. Người đọc cũng tự diễu nhại. Biết nhìn mình như một kẻ khác, nhất là có thái độ với mình vừa nghiêm túc vừa hài hước, bao dung là bước đầu của sự thức tỉnh. Tiểu thuyết Đặng Thân, tuy là một cuốn sách in để đọc, nhưng lại có kết cấu như thể của một tiểu thuyết mạng. Câu chuyện trôi chảy tự nhiên, nhiều khi phụ thuộc vào những nhân vật chen ngang. Đó là một tác phẩm mở. Nếu coi những truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp là văn chương hiện đại, thì tiểu thuyết Đặng Thân là hậu-hiện đại. Xã hội ta chưa đi hết con đường hiện đại hóa. Hiện đại vẫn vừa là ga đến cũng lại là ga đi. Nên, người đọc Đặng Thân hôm nay mới bước đầu có sự bức xúc xã hội và những bức xúc thẩm mỹ hậu-hiện đại, chưa có được bề dày như của người đọc Nguyễn Huy Thiệp ngày xưa. Nhưng, công nghệ tin học bây giờ đang san phẳng thế giới. Một mã đọc mới phù hợp với thời-hiện-nay đã hình thành trong văn học thế giới và đang hình thành trong văn học Việt Nam. Nên điều không thể, hoặc tưởng như không thể, đang lừng lững trở thành có thể. 1/2010 – Đ.L.T *** Tóm tắt 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] là một tiểu thuyết hậu hiện đại của nhà văn Đặng Thân, được xuất bản năm 2009. Tác phẩm gồm 60 chương, được viết theo lối phân mảnh, không có cốt truyện thống nhất, nhân vật không có tính cách rõ ràng, không có chủ đề tư tưởng rõ ràng. Câu chuyện xoay quanh một nhóm bạn trẻ, gồm: Thiện: Một nhà văn trẻ, đang vật lộn với cuộc sống và sự nghiệp của mình. Trang: Một cô gái xinh đẹp, nhưng có cuộc sống nội tâm phức tạp. Dũng: Một chàng trai giàu có, nhưng có lối sống buông thả. Quyên: Một cô gái ngây thơ, nhưng có trái tim nhân hậu. Bên cạnh đó, tác phẩm còn có sự xuất hiện của nhiều nhân vật khác, như: Nhà tiên tri: Một người đàn ông bí ẩn, luôn xuất hiện trong những giấc mơ của Thiện. Cô gái trong gương: Một hình ảnh phản chiếu của Thiện, tượng trưng cho những mặt tối trong tâm hồn anh. Chú mèo đen: Một biểu tượng của sự ma mị và bí ẩn. Review Theo nhà lý luận phê bình văn học Đỗ Lai Thúy, 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] là một tác phẩm điển hình của văn chương hậu hiện đại. Nó có hai đặc điểm nổi bật là sự phân mảnh và tính diễu nhại. Sự phân mảnh thể hiện ở chỗ tác phẩm không có cốt truyện thống nhất, không có nhân vật chính, không có chủ đề tư tưởng rõ ràng. Câu chuyện được kể theo lối đa tuyến, nhiều nhân vật, nhiều tình tiết, không theo một trật tự nhất định. Điều này khiến cho người đọc phải tự tìm cách giải mã, liên kết các mảnh ghép lại với nhau để tạo thành một bức tranh toàn cảnh. Tính diễu nhại thể hiện ở chỗ tác phẩm sử dụng nhiều thủ pháp trào lộng, giễu cợt để châm biếm, đả kích những thói hư tật xấu của xã hội. Tác giả đã sử dụng nhiều hình ảnh, ngôn từ gây sốc để tạo ra hiệu quả châm biếm mạnh mẽ. Ý nghĩa 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] là một tác phẩm mang tính chất phản ánh hiện thực xã hội một cách sâu sắc và đa diện. Tác phẩm đã thể hiện một cách chân thực những mâu thuẫn, xung đột trong cuộc sống của con người hiện đại. Bên cạnh đó, tác phẩm còn mang tính chất phê phán, lên án những thói hư tật xấu của xã hội. Đánh giá 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] là một tác phẩm văn học xuất sắc, có giá trị nghệ thuật và tư tưởng cao. Tác phẩm đã góp phần làm phong phú thêm nền văn học Việt Nam đương đại. Tuy nhiên, tác phẩm cũng có một số hạn chế, như: Nội dung và ý nghĩa của tác phẩm còn khá mơ hồ, khó hiểu đối với một số người đọc. Tác phẩm sử dụng nhiều ngôn từ gây sốc, có thể khiến một số người đọc cảm thấy khó chịu. Nhìn chung, 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] là một tác phẩm đáng đọc, đặc biệt là đối với những người yêu thích văn học hậu hiện đại.   Mời các bạn mượn đọc sách 3.3.3.9 Những Mảnh Hồn Trần của tác giả Đặng Thân.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Nặng Gánh Cang Thường - Hồ Biểu Chánh
Thanh Tòng - Lệ Bích, con của Tả Tướng quốc Thân Nhơn Trung và Thái Úy Lê Niệm, là đôi trai tài gái sắc được cha mẹ hai bên hứa gả. Không may, sau đó, giữa Tả Tướng quốc và quan Thái Úy nảy sinh xung đột. Tả Tướng quốc cảm thấy bị sỉ nhục nên nói con trai đi trả thù cho cha. Thanh Tòng đến gặp cha vợ để phân phải trái, nhưng tính tình quan Thái Úy nóng nảy nên hai bên tranh cãi và giao đấu kịch liệt. Trong lúc giao đấu, không ngờ quan Thái Úy tử vong. Thanh Tòng bị khép vào tội giết hại trung thần. Tình duyên theo đó cũng lỡ làng. Kể từ đây, cuộc đời Thanh Tòng trải qua nhiều biến đổi thăng trầm...  *** Hồ Biểu Chánh là một nhà văn lớn của Nam Bộ, người có công mở đường cho nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại. Người đương thời và nhiều thế hệ về sau đã đón nhận tác phẩm Hồ Biểu Chánh với tất cả sự nồng nhiệt, trân trọng. Lịch sử văn học Việt Nam không thể phủ nhận đóng góp to lớn của Hồ Biểu Chánh. Một trong những yếu tố làm nên sự thành công ấy chính là tác phẩm của ông có được một hình thức ngôn ngữ đầy ấn tượng, thể hiện phong cách ngôn ngữ văn xuôi Nam bộ những năm cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX. Hồ Biểu Chánh sinh năm 1884 (trong giấy khai sinh ghi ngày 1 tháng 10 năm 1885) tại làng Bình Thành, tỉnh Gò Công (nay thuộc huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang). Ông xuất thân trong một gia đình nông dân, thuở nhỏ học chữ Nho, sau đó chuyển qua học quốc ngữ, rồi vào trường trung học ở Mỹ Tho và Sài Gòn. Năm 1905, sau khi đậu Thành chung, ông thi vào ngạch ký lục của Soái phủ Nam Kỳ; làm ký lục, thông ngôn, thăng dần đến đốc phủ sứ (1936), từng giữ chức chủ quận (quận trưởng) ở nhiều nơi. Ông vốn có tiếng thanh liêm, yêu dân, thương người nghèo khổ. Tháng 8 năm 1941, sau khi ông về hưu, được Pháp mời làm cố vấn với danh hiệu Nghị viện Hội đồng Liên bang Đông Dương và Phó Đốc lý thành phố Sài Gòn, đồng thời làm giám đốc những tờ báo tuyên truyền cho chủ nghĩa Pháp-Việt. Sau khi tái chiếm Nam Bộ năm 1946, Cộng hòa tự trị Nam Kỳ được thành lập, ông được mời làm cố vấn cho chính phủ Nguyễn Văn Thinh. Nhưng chỉ được mấy tháng, khi chính phủ Nguyễn Văn Thinh sụp đổ, ông lui về quê ở ẩn và giành trọn những năm tháng còn lại cho sự nghiệp văn chương. Ông mất ngày 4 tháng 9 năm 1958 tại Phú Nhuận, Gia Định; thọ 74 tuổi. Lăng mộ ông hiện nay được đặt ở đường Thống Nhất, phường 11 quận Gò Vấp. Tác phẩm: Nợ Đời Bỏ Chồng Bỏ Vợ Dây Oan Đóa Hoa Tàn Đoạn Tình Nặng Gánh Cang Thường Cay Đắng Mùi Đời Con Nhà Giàu ... Mời các bạn đón đọc Nặng Gánh Cang Thường của tác giả Hồ Biểu Chánh.
Cay Đắng Mùi Đời - Hồ Biểu Chánh
Tiểu thuyết Cay Đắng Mùi Đời của ông bao quát những mảng hiện thực, những nét văn hóa đặc trưng của Nam bộ vào những thập niên đầu thế kỷ 20. Đó là sự tha hóa của con người trước sự lớn lên vùn vụt của đầu óc trọng thương, là số phận đáng thương của những thường dân rơi vào cảnh cùng quẫn, là những câu chuyện thế sự giàu chất nhân văn của những con người trên vùng đất mới... *** Hồ Biểu Chánh là một nhà văn lớn của Nam Bộ, người có công mở đường cho nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại. Người đương thời và nhiều thế hệ về sau đã đón nhận tác phẩm Hồ Biểu Chánh với tất cả sự nồng nhiệt, trân trọng. Lịch sử văn học Việt Nam không thể phủ nhận đóng góp to lớn của Hồ Biểu Chánh. Một trong những yếu tố làm nên sự thành công ấy chính là tác phẩm của ông có được một hình thức ngôn ngữ đầy ấn tượng, thể hiện phong cách ngôn ngữ văn xuôi Nam bộ những năm cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX. Hồ Biểu Chánh sinh năm 1884 (trong giấy khai sinh ghi ngày 1 tháng 10 năm 1885) tại làng Bình Thành, tỉnh Gò Công (nay thuộc huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang). Ông xuất thân trong một gia đình nông dân, thuở nhỏ học chữ Nho, sau đó chuyển qua học quốc ngữ, rồi vào trường trung học ở Mỹ Tho và Sài Gòn. Năm 1905, sau khi đậu Thành chung, ông thi vào ngạch ký lục của Soái phủ Nam Kỳ; làm ký lục, thông ngôn, thăng dần đến đốc phủ sứ (1936), từng giữ chức chủ quận (quận trưởng) ở nhiều nơi. Ông vốn có tiếng thanh liêm, yêu dân, thương người nghèo khổ. Tháng 8 năm 1941, sau khi ông về hưu, được Pháp mời làm cố vấn với danh hiệu Nghị viện Hội đồng Liên bang Đông Dương và Phó Đốc lý thành phố Sài Gòn, đồng thời làm giám đốc những tờ báo tuyên truyền cho chủ nghĩa Pháp-Việt. Sau khi tái chiếm Nam Bộ năm 1946, Cộng hòa tự trị Nam Kỳ được thành lập, ông được mời làm cố vấn cho chính phủ Nguyễn Văn Thinh. Nhưng chỉ được mấy tháng, khi chính phủ Nguyễn Văn Thinh sụp đổ, ông lui về quê ở ẩn và giành trọn những năm tháng còn lại cho sự nghiệp văn chương. Ông mất ngày 4 tháng 9 năm 1958 tại Phú Nhuận, Gia Định; thọ 74 tuổi. Lăng mộ ông hiện nay được đặt ở đường Thống Nhất, phường 11 quận Gò Vấp. Tác phẩm: Nợ Đời Bỏ Chồng Bỏ Vợ Dây Oan Đóa Hoa Tàn Đoạn Tình Nặng Gánh Cang Thường Cay Đắng Mùi Đời Con Nhà Giàu ... Mời các bạn đón đọc Cay Đắng Mùi Đời của tác giả Hồ Biểu Chánh.
Chỉ Một Lần Yêu - Bà Tùng Long
Khi được tin Sơn bị thương ở mặt trận Tây Nam, Tuyết lo lắng đứng ngồi không yên:  - Không biết anh bị thương ra sao, có hề gì không, đang nằm điều trị ở đâu? Tuyết hồi hộp chờ Lan, em gái Sơn, đem tin về cho Tuyết biết nơi Sơn nằm điều trị là Tuyết sẽ xin phép cha mẹ đi thăm Sơn. Tuyết cho đó là bổn phận mà mình phải làm. Người ta không quen nhau, chưa có cảm tình với nhau, mà các em gái hậu phương còn đem quà ủy lạo các thương binh nằm ở Quân y viện, thì lẽ nào Tuyết lại làm ngơ khi nghe Sơn bị thương? Tuyết và Sơn là bạn học từ khi còn ngồi "ê, a" trên ghế trường làng. Tình bạn thời thơ ấu đã đưa họ đến tình yêu khi cả hai khôn lớn. Biết bao lần Tuyết và Sơn bàn đến chuyện tương lai, hy vọng được cha mẹ chấp thuận để tình yêu họ được kết thúc bằng một đám cưới. Nhưng rồi cũng như bao thanh niên khác trong khi nước nhà có chuyện binh đao, Sơn nhập ngũ đi làm nghĩa vụ đối với Tổ quốc và Tuyết ở nhà đỡ đần cha mẹ, may vá thêu thùa chờ ngày Sơn hoàn thành nghĩa vụ trở về. Hai năm nay, cha mẹ Tuyết nhiều lần khuyên Tuyết nên lập gia đình có nhiều người đến dạm hỏi, nhưng Tuyết vẫn một lòng chờ đợi Sơn. Cha mẹ Tuyết cũng biết Tuyết đã yêu Sơn nên không muốn lấy quyền làm cha mẹ ép buộc Tuyết phải quên Sơn. Bà Hương, mẹ của Tuyết, không khỏi ái ngại cho con gái. Thêm một năm trôi qua là bà thêm sợ Tuyết phải ế ẩm hoặc dở dang. Bà thường nói:  - Đời con gái như cánh hoa sớm nở tối tàn, khi còn hương sắc thì o­ng bướm dập dìu, nhưng đến khi hoa phai phấn lạt thì biết tìm đâu ra người yêu thương mình? Tuyết không nghĩ vậy. Tuyết tin ở tình yêu của Sơn, một mối tình dệt những mười mấy năm, ngày tháng chỉ làm thêm bền chặt chứ không thể làm phai lạt. Tuyết thuộc hạng người yêu chỉ một lần, vì thế dù phải đợi Sơn đến bao giờ, Tuyết cũng đợi được. Những ngày được về phép, Sơn đến thăm Tuyết và nhắc Tuyết lời hẹn ngày nào. Sơn luôn giữ gìn cho Tuyết, lúc nào cũng yêu thương trong sự tôn trọng, quý mến. Sơn nói với Tuyết:  - Anh phải giữ cho em là vì đời lính không có gì chắc chắn. Nếu mai đây anh có bề gì thì em vẫn còn được tấm thân trong trắng để về với người chồng sau này. Như thế anh sẽ không ân hận... *** Làng văn, làng báo Sài Gòn những năm 50-60 thế kỷ 20, Bà Tùng Long là một cái tên nổi tiếng. Tên thật của bà là Lê Thị Bạch Vân (1915-2006). Bà từng đi dạy Pháp văn, Việt văn ở các trường Tân Thịnh, Đạt Đức, Les Lauriers ở Sài Gòn, làm thư ký tòa soạn một số tờ báo và bắt đầu viết văn từ những năm 1953. Bà nổi tiếng với những tiểu thuyết về đề tài xã hội có nhân vật chính là người phụ nữ. Bà Tùng Long cũng là cây bút quen thuộc trên các báo như Sài Gòn Mới, Tiếng Vang, Phụ nữ Ngày mai, Phụ nữ Diễn đàn, Văn nghệ Tiền phong… Trong cuốn hồi ký của mình, bà viết: “Tôi chưa bao giờ dám tự hào xưng mình là văn sĩ, nữ sĩ. Tôi chỉ nói tôi viết văn là để nuôi con, chỉ thế thôi”. Dù chỉ nhận viết văn là nghề tay trái, nhưng bà đã cho ra đời 400 truyện ngắn, và 68 tiểu thuyết - một lượng tác phẩm lớn với sức làm việc đáng nể, nếu không muốn nói là sức lao động phi thường. Với Bà Tùng Long, viết văn là niềm vui lớn nhất đời. Sau năm 1975, nhiều tiểu thuyết của Bà Tùng Long được in và đông đảo công chúng đón nhận. Một số tác phẩm của tác giả Bà Tùng Long: Đường tơ đứt nối Bên hồ Thanh Thủy Một vụ án tình Những ai gieo gió Bóng người xưa Người xưa đã về Đời con gái Duyên tình lạc bến Con đường một chiều Hồi ký Bà Tùng Long Một lần lầm lỡ Mẹ chồng nàng dâu Nẻo về tình yêu Nhị Lan Giang San Nhà Chồng Chúa tiền Chúa bạc Định mệnh ... Mời các bạn đón đọc Chỉ Một Lần Yêu của tác giả Bà Tùng Long.
Đời Con Gái - Bà Tùng Long
Mười hai tuổi, Xuân Lan bắt đầu nhận thấy mình không được yêu thương như các anh chị em khác trong nhà. Mẹ Xuân Lan, bà Phương, dường như ghét bỏ nó. Chỉ có cha và chị Mai Lan, người chị đã đi tu, con riêng của bà Phương với chồng trước, là thương con bé. Những buồn tủi, nghi ngờ trong Xuân Lan lớn lên cùng với sự bất hòa, hục hặc trong gia đình, để rồi khi tất cả bùng nổ đã hé lộ bí mật đầy trái ngang, tội lỗi về sự ra đời của con bé. Đời con gái chỉ cần được yêu thương, nhưng yêu thương cũng chính là nguồn cơn bất hạnh… *** Xuân Lan bắt đầu hiểu chút ít về chuyện đời và nhận xét những sự việc xảy ra trong gia đình từ khi lên mười hai tuổi. Năm ấy nó thi đậu vào lớp đệ thất trường Gia Long, một trường nữ trung học lớn nhất ở miền Nam. Trong khi nó đậu thì Ngọc Hương, chị nó, lớn hơn nó một tuổi, lại rớt và phải ghi tên học ở một trường tư. Vì lẽ ấy mà sự thi đậu của nó không được gia đình đón tiếp một cách vui vẻ. Nó đậu không ai khen, không ai mừng, trái lại cha nó, mẹ nó, các chị nó đều thương Ngọc Hương vì không may bằng nó. Xuân Lan biết suy nghĩ từ lúc đó. Tại sao cũng là con mà nó lại không được yêu thương như các chị nó? Tại sao mỗi sáng chủ nhật, trong khi cha mẹ nó và các chị các anh, cả mấy em nữa, đều được lên chiếc xe sang trọng để đi Thủ Đức, hoặc về quê hay ra Vũng Tàu đổi gió, thì nó lại được mẹ dặn: – Con ở nhà trông nhà nhé. Chóng ngoan mẹ về sẽ thưởng. Khi mọi người đi rồi, chị bếp, người giúp việc trung thành của gia đình, đã nhìn nó với tối mắt đầy thương xót, rồi lắc đầu nói một mình: – Tội nghiệp con bé! ... *** Làng văn, làng báo Sài Gòn những năm 50-60 thế kỷ 20, Bà Tùng Long là một cái tên nổi tiếng. Tên thật của bà là Lê Thị Bạch Vân (1915-2006). Bà từng đi dạy Pháp văn, Việt văn ở các trường Tân Thịnh, Đạt Đức, Les Lauriers ở Sài Gòn, làm thư ký tòa soạn một số tờ báo và bắt đầu viết văn từ những năm 1953. Bà nổi tiếng với những tiểu thuyết về đề tài xã hội có nhân vật chính là người phụ nữ. Bà Tùng Long cũng là cây bút quen thuộc trên các báo như Sài Gòn Mới, Tiếng Vang, Phụ nữ Ngày mai, Phụ nữ Diễn đàn, Văn nghệ Tiền phong… Trong cuốn hồi ký của mình, bà viết: “Tôi chưa bao giờ dám tự hào xưng mình là văn sĩ, nữ sĩ. Tôi chỉ nói tôi viết văn là để nuôi con, chỉ thế thôi”. Dù chỉ nhận viết văn là nghề tay trái, nhưng bà đã cho ra đời 400 truyện ngắn, và 68 tiểu thuyết - một lượng tác phẩm lớn với sức làm việc đáng nể, nếu không muốn nói là sức lao động phi thường. Với Bà Tùng Long, viết văn là niềm vui lớn nhất đời. Sau năm 1975, nhiều tiểu thuyết của Bà Tùng Long được in và đông đảo công chúng đón nhận. Một số tác phẩm của tác giả Bà Tùng Long: Đường tơ đứt nối Bên hồ Thanh Thủy Một vụ án tình Những ai gieo gió Bóng người xưa Người xưa đã về Đời con gái Duyên tình lạc bến Con đường một chiều Hồi ký Bà Tùng Long Một lần lầm lỡ Mẹ chồng nàng dâu Nẻo về tình yêu Nhị Lan Giang San Nhà Chồng Chúa tiền Chúa bạc Định mệnh ... Mời các bạn đón đọc Đời Con Gái của tác giả Bà Tùng Long.