Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Cuốn Sổ Vàng

Lần đầu tiên được xuất bản năm 1962 và hiện đã trở thành một trong các tác phẩm vĩ đại nhất thế kỷ hai mươi, Cuốn Sổ Vàng là câu chuyện của Anna Wulf, một người mẹ đơn thân với hàng loạt các mối quan hệ bế tắc, một nhà văn từng thành danh nhưng hiện cũng bế tắc với một cuốn tiểu thuyết dở dang. Sợ mình phát điên, cô đã ghi lại các trải nghiệm của mình trong bốn cuốn sổ có màu khác nhau. Nhưng cuốn sổ thứ năm, Cuốn Sổ Vàng, mới là thứ kết nối các mảnh cuộc sống của cô lại và là chìa khóa giúp cô bình phục về mặt tinh thần. Cuốn tiểu thuyết đồ sộ này là hành trình nội tâm của Anna qua những mảnh vỡ của bản thân trong một thế giới cũng đang tan rã: Tình yêu, tự do, cái chết, tín điều, đặt giữa hỗn loạn các hệ tư tưởng, trong tiếng ầm ì của chiến tranh, mối đe dọa hủy diệt của bom H, quá trình phi thực dân hóa của nước Anh, sự hình thành của các quốc gia mới. Phức tạp nhưng vẫn thanh tú đến kỳ lạ, tác phẩm dẫn người đọc theo bước Anna đến những trang cuối cùng, không phải tới một đáp án toàn năng cho toàn bộ các vấn đề của cá nhân và nhân loại, mà khả thi hơn thế, dễ chịu hơn thế, tới một chút khai sáng, cảm giác mới mẻ như vừa tái sinh, khi nhận ra những thất bại và thiếu sót trong quá khứ, cả hỗn loạn của hiện tại hay u ám của tương lai, vẻ đẹp và sự phù phiếm của chúng, tất cả đều đáng giá từng giây ta sống trên đời. *** Doris May Lessing (1919-2013) là nhà văn, nhà thơ, nhà biên kịch người Anh từng được trao giải Nobel Văn chương năm 2007. Bà là người lớn tuổi nhất khi được trao giải thưởng cao quý này. Bà cũng từng được trao giải David Cohen cho thành tựu trọn đời đóng góp cho nền văn học Anh và đứng thứ 5 trong danh sách “50 nhà văn Anh vĩ đại nhất kể từ năm 1945”. *** Tiểu thuyết “Cuốn sổ vàng” của nhà văn Doris Lessing, đạt giải Nobel Văn chương năm 2007, được liệt vào hạng kinh điển làm đau đầu không biết bao nhiêu thế hệ bạn đọc với một nỗi băn khoăn rất thực tế và rất hãi hùng: Ai và tại sao lại xếp nó vào kinh điển? Bởi câu hỏi ấy được khởi từ một khổ sở khác, thực tế không kém, Làm nào vượt qua được nỗi chán ngán vô tận để không vứt luôn cuốn sách từ hai chục trang đầu tiên? Sau rất nhiều nghị lực, tôi nghĩ mấu chốt nằm ở điểm này, xin trích lại lời của chính nhân vật chính, nhà văn Anna Wulf, trong một buổi sinh hoạt văn chương định hướng của Đảng, “điều tôi thấy quan trọng nhất, đó là câu chuyện đó có thể đọc theo lối giễu nhại, mỉa mai, hay nghiêm túc đều được.” Quả đúng như thế, “Cuốn sổ vàng” hoàn toàn có thể là một câu chuyện nửa nghiêm nửa nhại về những người phụ nữ tự nhận mình là tự do đầy nhiệt huyết cách mạng lang chạ với Chủ nghĩa cộng sản và đàn ông có vợ, với văn chương và ngôn ngữ. Song song với những cú đánh đu đó, lại là những ham muốn và lo lắng không bao giờ được giải đáp, kéo theo những hao tổn về tinh thần xuống đáy hố của điên loạn. Trước hết, “Cuốn sổ vàng” là một công trình đầy tham vọng về một đại tiểu thuyết mô tả cả một giai đoạn lịch sử những năm 1950 của nước Anh của những phụ nữ trung lưu không còn bị ràng buộc về những chuẩn mực giới tính. Ngay trong lời nói đầu cuốn sách, tác giả đã ấp ủ mình sẽ thành công hơn George Eliot, để sánh ngang Tolstoy và Stendhal, là một điểm bùng nổ, một bước ngoặc trong truyền thống văn chương Anh, khi phản ánh được hiện thực như hai tác gia kia đã làm với, lần lượt, Nga và Pháp. Dẫu có chối bỏ và nổi giận với những bài phê bình về sách của mình, một việc Lessing làm hơi bị thường xuyên, thì tiểu thuyết này đầu tiên và thứ đến, đề cập đến phong trào phụ nữ, và phòng trào của phụ nữ tham gia Chủ nghĩa xã hội. Và tiếp đến nữa, có lẽ, là quan hệ con người. Nhân vật chính của “Cuốn sổ vàng” là Anna Wulf, một nhà văn từng có tiểu thuyết đầu tay nổi tiếng “Những biên giới chiến tranh”, một bà mẹ đơn thân, Đảng viên, chơi thân với Molly một diễn viên chưa nổi, cũng li dị và cũng đơn thân, hay cãi nhau với Richard, chồng cũ của Molly, yêu Michael, một đàn ông có vợ, để rồi bị ruồng bỏ, tuyệt vọng, và quan trọng hơn, đang rơi vào trạng thái tắc tị không sáng tác được. Ấy vậy mà, Anna vẫn ghi chép đều và không mệt mỏi, những trải nghiệm của cá nhân, vào bốn cuốn sổ, phân theo các màu khác nhau. Đủ cả, như Lessing đã tóm tắt, “Ràng buộc. Tự do. Tốt. Xấu. Có. Không. Tư bản chủ nghĩa. Xã hội chủ nghĩa. Tình dục. Tình yêu…” Tưởng như phân định được rạch ròi, như cách định vị của ngôn ngữ, bằng cách dùng một phần gọi là “Phụ nữ tự do” như một sợi chỉ đỏ cho người đọc lần theo, Anna phân cho cuốn sổ màu đen là những trang viết năm tháng 1940 ở châu Phi nơi cô sinh hoạt Đảng cùng một nhóm trung lưu phù phiếm khác, cuốn sổ màu đỏ ghi chép sinh hoạt Đảng của Anna ở Anh nơi cô dần thất chủ nghĩa Cộng sản là một cái giếng cạn khô, cuốn sổ màu vàng là cuốn tiểu thuyết ngoại tình nơi Anna lấy chính mình làm cảm hứng và nhân vật mẫu, còn cuối sổ màu xanh là những ghi chép thường nhật và những giấc mơ. Anna đã tách rời bốn cuốn sổ nhưng rồi trên thực tế chúng lại ới ời gọi nhau, với những cấu trúc song song, của đầy những ngổn ngang, ẩn ức, bất an, rối loạn, sụp đổ, của chính Anna Wulf. Các trải nghiệm của Anna, tuy bị ràng buộc bởi cái lực duy lí là tách biệt để tránh sự hỗn độn, lại vòng vo và rối như tơ vò, bện chặt tất cả lại với nhau, các hiện thân của Anna, các hiện thực khác, các cuộc đời và các tinh thần khác. Những cái tôi vừa giống vừa khác Anna, được kể bằng các phong cách, điểm nhìn, giọng văn, khác nhau, ở các cuốn sổ, cho phép độc giả và chính nhà văn trải nghiệm những gì mà Anna không thể trải nghiệm và hiểu được Anna ở nhiều khía cạnh hơn. Những mảnh tự sự này giúp cấu trúc một nhân cách nhiều mặt ở Anna và cũng là tham vọng kiến tạo một sự hoàn chỉnh mang tính chất hồi phục và hướng tới ổn định, mạch lạc và gắn kết, khi Anna ghép bốn cuốn sổ thành một. Nhưng liệu đây có phải là một niềm tin đầy ảo tưởng khác của Anna, rằng trật tự chống lại được hỗn loạn? Như bao ảo tưởng đã mai một, như chủ nghĩa cộng sản, như Phụ nữ tự do. Chính ở bốn cuốn sổ với hình thức truyện lồng trong truyện này mà người đọc nhận ra tham vọng vượt quá những giới hạn của văn chương của Lessing: không kiến tạo những định danh rạch ròi của trải nghiệm, và đẩy cao sự nhập nhằng giữa tiểu thuyết và sự thật, và vì thế tạo nên sự đọc đa dạng. Sự phân tách thành các mảnh tự sự, với một sự nghiêm túc hiếm có nhưng lại kể những câu chuyện lố bịch đến khó hiểu, mà cuốn tiểu thuyết đã xuất bản của chính Anna là một minh chứng: bối cảnh một châu Phi chủ nghĩa phân biệt chủng tộc nơi những con người không thuộc giới cần lao sinh hoạt Đảng đi kèm với sinh hoạt tình dục, với tiệc tùng và khiêu vũ. Trở lại London, đời sống của Anna cũng không thay đổi nhiều lắm, với đồng chí anna và đồng chí molly làm tình với đồng chí michael và đồng chí Ella làm tình với đồng chí Paul và nhiều đồng chí khác nữa. Tình cảm của phụ nữ trong “Cuốn sổ vàng” thì lên xuống như thủy ngân, khi có giai đoạn họ nhăng nhít với cộng sản một cách nghiêm túc, và khi họ dè nhau phải cẩn thận để không chuyển sang căm ghét Đảng. Và đây chính là một điểm quan trọng của “Cuốn sổ vàng” sự mâu thuẫn không bao giờ giải quyết được, sự phi lý đến từ nhân vật, cho đến hình thức của cuốn tiểu thuyết, bằng một giọng văn vừa chân thành, vừa lấp ló nhài nhại phù phiếm. Anna là hiện thân của một mẫu hình giới nữ, với những đau khổ dằn vặt thường nhật của yêu và không được yêu, của làm tình cực khoái và không cực gì cả, của cãi cọ và làm hòa, của buồn khổ chán chường, tuyệt vọng và hy vọng. Quan trọng hơn, của không thể giải thích, không thể hiểu, không thể tự thoát, mối trầm cảm không kiểm soát, để cuối cùng chính Anna nhận ra, vấn đề của cô, là không biết hạn chế cảm xúc. Với tham vọng như tiểu thuyết lịch sử, được sắp xếp theo trình tự thời gian, cuốn tiểu thuyết này của Lessing, trình bày các mối quan hệ bằng một lối viết chân thực ròng rã, của những trang viết dài dòng về làm tình và hành kinh, như thể đối chọi là với James Joyce và đại tiện. Giọng văn đều đều như máy khoan, chi tiết và cụ thể, phân tách và chì chiết, chảy hết từ tâm trạng này sang tâm trạng khác của nhân vật chính, trôi từ người tình này sang người tình kia, cuốn từ cuộc họp Đảng này sang cuộc họp Đảng khác, không sự kiện, không kịch tích, không giải trí, như năm tháng, như cuộc đời của Anna và Molly. Cho đến một ngày, truyện đột ngột kết thúc, không báo trước, không trông đợi, không gây hấn, với quyết định của nhân vật là trở thành anh của mọi nhà là em của mọi kiếp phôi pha. Bật lên trên cái nền đầy chán ngán này, là những trải nghiệm phụ nữ trong mối quan hệ đàn ông đàn bà nơi đàn bà thì liên tục thèm muốn cần chở che cần được yếu ớt còn đàn ông thì thù địch chối từ mọi nhu cầu của đàn bà. Anna Wulf nằm ở cái nan đề giữa là một người đàn bà ý thức rõ cái tình thế tiến thoái lưỡng nan kia và việc là một người đàn bà bình thường không chối lại cái tình thế đó, không giải phóng mình ra khỏi đó. *** Cuốn tiểu thuyết này được sắp xếp như sau: Có một bộ xương, hoặc bộ khung, tên là Phụ nữ tự do, là một tiểu thuyết ngắn viết theo lối truyền thống dài khoảng 60.000 từ, có thể đứng độc lập được. Nhưng nó được chia thành năm đoạn, xen giữa là các phần của bốn cuốn sổ có bìa màu đen, đỏ, vàng và xanh dương. Các cuốn sổ này thuộc về Anna Wulf, nhân vật trung tâm của Phụ nữ tự do. Cô viết vào bốn chứ không phải một cuốn bởi vì, như cô thừa nhận, cô phải tách rời các thứ với nhau, vì sợ sự hỗn loạn, sự vô định hình - sợ sụp đổ. Áp lực, từ bên trong lẫn bên ngoài, đã khép lại các cuốn sổ; một dòng đen đậm được kẻ ngang trang giấy từ cuốn này sang cuốn khác. Nhưng giờ khi bốn cuốn sổ đã kết thúc, từ các mảnh vỡ của chúng có thể xuất hiện một thứ mới mẻ, Cuốn Sổ Vàng. Từ đầu đến cuối các cuốn sổ, các nhân vật đã đưa ra những lời bàn luận, giả thuyết, giáo điều, dán nhãn, chia ngăn - đôi khi bằng một giọng chung chung và tiêu biểu cho thời đại tới mức họ trở thành ẩn danh, bạn có thể đặt cho họ những cái tên như trong các vở kịch luân lý thời trước, ông Giáo-Điều và ông Tôi-Tự-Do-Bởi-Vì-Tôi-Chả-Thuộc-Về-Nơi-Nào-Cả, cô Tôi-Phải-Có-Được-Tình-Yêu-và-Hạnh-Phúc và bà Tôi-Phải-Giỏi-Trong-Mọi-Việc-Tôi-Làm, ông Phụ-Nữ-Đích-Thực-Ở-Đâu? và cô Đàn-Ông-Đích-Thực-Ở-Đâu?, ông Tôi-Điên-Vì-Người-Ta-Bảo-Vậy, và cô Cuộc Đời-Qua-Trải-Nghiệm-Mọi-Việc, ông Tôi-Làm-Cách-Mạng-Vì-Vậy-Tôi-Tồn-Tại, và ông bà Nếu-Chúng-Ta-Xử-Lý-Tốt-Vấn-Đề-Nhỏ-Này-Thì-Có-Lẽ-Chúng-Ta-Có-Thể-Quên-Đi-Rằng-Chúng-Ta-Không-Dám-Nhìn-Vào-Những-Vấn-Đề-Lớn. Nhưng họ cũng phản ánh lẫn nhau, là các mặt của nhau, khai sinh ra suy nghĩ và hành vi của nhau - là nhau, tạo thành các chỉnh thể. Trong Cuốn Sổ Vàng bên trong cuốn sách này, tất cả đã tập hợp lại, mọi ngăn cách bị phá vỡ, tình trạng phân mảnh chấm dứt để lại sự vô định hình - sự chiến thắng của chủ đề thứ hai, tức là thống nhất. Anna và tay người Mỹ Saul Green đều “đổ vỡ”. Họ điên, họ rồ, họ tâm thần - muốn dùng từ gì cũng được. Họ “vỡ” vào nhau, vào người khác, phá tan những mô hình giả dối họ dựng lên từ quá khứ của mình, những mô hình và công thức mà họ tạo ra để chống đỡ cho bản thân và cho nhau, họ tan rã. Họ nghe thấy ý nghĩ của nhau, nhận ra người kia trong chính mình. Saul Green, con người từng ghen tị và là tác nhân hủy diệt Anna, giờ ủng hộ cô, khuyên nhủ cô, gợi ý chủ đề cho cuốn sách thứ hai của cô, Phụ nữ tự do- một cái tên mỉa mai, mở đầu bằng: “Chỉ có hai người phụ nữ trong căn hộ ở London.” Và Anna, từng ghen vì Saul đến mức phát điên, chiếm hữu và đòi hỏi, đã cho Saul cuốn sổ mới xinh đẹp, Cuốn Sổ Vàng, mà trước đó cô đã từ chối không cho, gợi ý cho anh chủ đề mới cho cuốn sách tiếp theo của anh, viết vào đó câu đầu tiên: “Trên một sườn đồi khô ráo ở Algeria, người lính ngắm ánh trăng lấp lánh trên khẩu súng trường.” Trong Cuốn Sổ Vàng bên trong Cuốn Sổ Vàng, do cả hai cùng viết, không còn phân biệt nổi đâu là Saul và Anna, hoặc đâu là họ và đâu là những người khác trong cuốn sách. Chủ đề “sụp đổ” này - rằng đôi lúc khi người ta “đổ vỡ” đấy cũng là một cách chữa lành bản thân, cách mà bản thể nội tại gạt bỏ những lưỡng phân và chia rẽ sai lầm - từ đó đến nay đã được nhiều người khác, cũng như chính bản thân tôi, đề cập tới. Nhưng nếu không tính đến vài cái truyện ngắn thi thoảng thì cuốn sách này là tác phẩm đầu tiên tôi viết về nó. Ở đây nó thô ráp hơn, gần với trải nghiệm thực hơn, trước khi trải nghiệm thực đã định hình thành ý nghĩ và mô hình - và có giá trị hơn có lẽ vì nó là nguyên liệu thô. Nhưng không ai để ý mấy đến chủ đề trọng tâm này, bởi vì cuốn sách này lập tức hoặc bị coi thường, bởi những nhà phê bình thân thiện cũng như thù địch, rằng nó chẳng qua chỉ viết về cuộc chiến giới tính, hoặc được những người phụ nữ chiếm lấy làm một thứ vũ khí hữu dụng trong cuộc chiến giới tính. Kể từ đó tôi ở vào một vị thế không thành thật, bởi vì từ chối ủng hộ những người phụ nữ không phải là một việc tôi muốn làm. Để chốt lại cái đề tài Giải phóng Phụ nữ này - tất nhiên là tôi ủng hộ phong trào đó, bởi vì phụ nữ là những công dân hạng hai, như người ta đang nói rất hay và rất hăm hở ở nhiều quốc gia. Có thể nói rằng họ đang thành công, dù thành công của họ chỉ đến mức là đang được nghiêm túc lắng nghe. Những người trước đây thù địch hoặc thờ ơ thì giờ đã nói: “Tôi ủng hộ mục tiêu của họ nhưng tôi không thích giọng nói the thé cũng như cái kiểu hành xử thô tục, xấu tính của họ.” Đây là một giai đoạn không thể tránh khỏi và dễ nhận thấy trong bất cứ phong trào cách mạng nào: những người cải cách phải chuẩn bị tinh thần bị chối bỏ bởi những người đang sung sướng hưởng thụ những thành quả mà họ đã giành được. Mặc dù vậy, tôi không nghĩ rằng phong trào Giải phóng Phụ nữ sẽ thay đổi được nhiều - không phải là vì mục tiêu của nó có gì sai, mà vì rõ ràng là những biến cố mà chúng ta đang trải qua đang khiến cả thế giới rung chuyển thành một mô hình mới: có thể là khi chúng ta trải qua xong chặng này, nếu chúng ta sống sót được, những mục tiêu của Giải phóng Phụ nữ trông sẽ rất nhỏ bé và kỳ khôi. Những cuốn tiểu thuyết này không phải là tiếng kèn cổ vũ cho Giải phóng Phụ nữ. Nó mô tả nhiều cảm xúc của phụ nữ như hung hăng, thù địch, oán giận. Nó đưa chúng ra trang giấy. Rõ ràng là những gì mà nhiều phụ nữ vẫn đang nghĩ, cảm nhận, trải nghiệm, đã đem đến một niềm kinh ngạc lớn. Ngay lập tức rất nhiều vũ khí cổ xưa được đem ra, những món chính, như thường lệ, chính là các câu kiểu như “Cô ta chả đàn bà tí nào”, “Cô ta là một mụ ghét đàn ông”. Dường như phản xạ này không thể nào bị phá hủy. Đàn ông - và nhiều phụ nữ, từng nói rằng phụ nữ đòi quyền bầu cử đầu thế kỷ 20 là phi nữ tính, là nam tính, là đã nhiễm thói hung bạo. Tôi chưa đọc được một tài liệu nào nói về một xã hội trong đó phụ nữ đòi hỏi nhiều hơn những gì tự nhiên ban phát cho mà lại không ghi nhận phản ứng này từ phía đàn ông - và một số phụ nữ. Nhiều phụ nữ nổi giận với Cuốn Sổ Vàng. Những gì phụ nữ vẫn nói với những phụ nữ khác, cằn nhằn trong nhà bếp, phàn nàn, buôn chuyện hoặc bộc lộ qua cái cách họ sung sướng với nỗi khổ của mình, lại không phải là những gì họ muốn nói lớn thành tiếng - vì sợ đàn ông có thể nghe lỏm thấy. Phụ nữ hèn nhát như thế bởi vì họ đã sống gần như là nô lệ trong thời gian quá dài. Số phụ nữ sẵn sàng đứng lên bảo vệ những gì họ thực sự nghĩ, cảm nhận, trải nghiệm với người đàn ông họ yêu vẫn còn ít ỏi. Hầu hết phụ nữ vẫn sẽ bỏ chạy như những chú cún con bị ném đá khi đàn ông nói: Em không nữ tính, hung hăng, em đang làm mất hết nam tính của anh. Tôi tin rằng bất cứ phụ nữ nào kết hôn với một anh chàng sử dụng kiểu đe dọa này, hoặc đặt niềm tin vào anh ta theo một cách nào đó, đều xứng đáng với những gì cô ta nhận được. Vì đàn ông như thế chỉ là một kẻ ức hiếp người khác, không biết gì về thế giới anh ta đang sống, hoặc về lịch sử của nó - đàn ông và phụ nữ đảm nhiệm vô số vai trò trong quá khứ, và cả hiện tại, trong các xã hội khác nhau. Vì vậy nên anh ta hoặc dốt nát, hoặc sợ bị lạc loài - một tên hèn… Tôi viết tất cả những nhận xét này bằng đúng cái cảm giác như thể tôi đang viết thư gửi vào quá khứ xa xôi: Tôi chắc chắn rằng mọi thứ chúng ta bây giờ coi là đương nhiên, sẽ bị quét sạch trong thập kỷ sau. (Thế thì tại sao lại viết tiếu thuyết? Thật sự đấy, tại sao! Tôi đồ rằng chúng ta phải tiếp tục sống như thể…) Một số cuốn sách không được đọc đúng cách bởi vì chúng đã nhảy cóc qua một giai đoạn phát triển quan điểm, giả định một sự kết tinh thông tin trong xã hội mà thực tế vẫn chưa xảy ra. Cuốn sách này được viết như thể mọi thái độ mà các phong trào Giải phóng Phụ nữ tạo ra đã tồn tại trong thực tế. Lần đầu tiên nó xuất hiện là cách đây ngót mười năm, 1962. Nếu ra mắt bạn đọc vào thời điểm hiện tại, có lẽ người ta sẽ thực sự đọc nó chứ không chỉ đơn thuần là phản ứng lại: tình hình đã thay đổi rất nhanh. Một số thói đạo đức giả nhất định đã biến mất. Chẳng hạn, mười, hoặc thậm chí năm, năm trước - một thời nổi loạn về mặt tình dục - tiểu thuyết và kịch được viết rất nhiều bởi những anh đàn ông giận dữ chỉ trích phụ nữ - đặc biệt là ở Mỹ, nhưng ở cả đất nước này cũng có - được mô tả như những người thích gây hấn và phản bội, nhưng đặc biệt là phá hoại và đào mỏ. Nhưng những thái độ này ở các nhà văn nam lại được coi là đương nhiên, được chấp nhận như là một cơ sở triết học đúng đắn, một điều khá bình thường, và chắc chắn không bị coi là ghét phụ nữ, hung hăng, hay loạn thần kinh. Điều này vẫn tiếp diễn, tất nhiên - nhưng mọi chuyện đã tốt hơn, không có gì phải nghi ngờ cả. Tôi chìm đắm vào việc viết cuốn sách này đến nỗi không nghĩ đến cảnh nó sẽ được đón nhận như thế nào. Tôi toàn tâm toàn ý với nó không chỉ đơn thuần là vì cuốn sách này khó viết - giữ dàn ý trong đầu, tôi viết liền tù tì từ đầu đến cuối, một việc không hề đơn giản - mà vì thứ tôi học hỏi được trong lúc viết. Có thể là bằng việc đưa ra cho bản thân một cấu trúc chặt chẽ, quy định những giới hạn cho bản thân, ta sẽ vắt ra được chất liệu mới nơi ít mong đợi nhất. Đủ loại ý tưởng và trải nghiệm mà tôi không nhận ra là của mình đã nổi lên khi viết. Vì thế, thời gian viết thực tế, chứ không chỉ những trải nghiệm đã đi vào việc viết lách ấy, thực sự là một kinh nghiệm có tính sang chấn: nó khiến tôi thay đổi. Bước ra từ quá trình kết tinh này, giao bản thảo cho nhà xuất bản và bạn bè xong, tôi được nói cho biết rằng mình đã viết một luận văn về cuộc chiến giới tính, và nhanh chóng khám phá ra rằng bất kể tôi nói gì cũng chẳng thể nào thay đổi được nhận định đó. Nhưng cốt lõi của cuốn sách, cách thức tổ chức của nó, mọi thứ trong đó, đã nói một cách cả thẳng thắn và ngầm ẩn rằng chúng ta không được tách rời mọi thứ, không được chia ngăn. “Ràng buộc. Tự do. Tốt. Xấu. Có. Không. Tư bản chủ nghĩa. Xã hội chủ nghĩa. Tình dục. Tình yêu…” Anna nói, trong Phụ nữ tự do, tuyên bố chủ đề của cuốn sách - gào lên, trống giong cờ mở thông báo một mô típ xuyên suốt… hoặc là tôi tưởng tượng như vậy. Cũng như khi tôi tin rằng trong một cuốn sách có tên Cuốn Sổ Vàng, cái phần bên trong đặt trùng tên với nó có thể được cho là tâm điểm, mang theo sức nặng của toàn bộ cuốn sách, và đưa ra một tuyên bố. Nhưng không. Còn có nhiều chủ đề khác cũng đi vào cuốn sách này, với tôi đây là một thời điểm quan trọng: những suy nghĩ và chủ đề mà tôi vẫn đang giữ trong đầu nhiều năm nay giờ đã được nối vào với nhau. Một trong số đó là không thể tìm thấy cuốn tiểu thuyết nào mô tả môi trường trí thức và đạo đức cách đây một trăm năm, vào khoảng giữa thế kỷ vừa qua, ở nước Anh, theo cách mà Tolstoy làm cho nước Nga, Stendhal làm cho nước Pháp. (Đến đây cần phải đưa ra những lời tạ sự không tránh được.) Đọc Đỏ và Đenvà Lucien Leuwen là biết về nước Pháp như thể ta đang sống ở đó, đọc Anna Karenina là biết nước Nga khi đó. Nhưng một cuốn tiểu thuyết thời Victoria rất hữu ích như vậy lại không bao giờ được viết nên. Hardy cho chúng ta biết cảm giác thế nào khi người ta nghèo, khi có một trí tưởng tượng lớn hơn những gì một thời đại chật hẹp như vậy cho phép, khi làm một nạn nhân. George Eliot, trong phạm vi của mình, cũng rất hay. Nhưng tôi nghĩ hình phạt mà bà phải trả giá khi làm một phụ nữ thời Victoria là bà vẫn phải tỏ ra là một phụ nữ tốt, ngay cả khi bà không “tốt” nếu chiếu theo những tiêu chuẩn đạo đức giả của thời đó - có rất nhiều điều bà không hiểu bởi vì bà chú trọng đạo đức. Meredith, nhà văn bị đánh giá thấp một cách đáng kinh ngạc, có lẽ gần đạt được điều này nhất. Trollope thử đề tài này nhưng thiếu tầm. Không có lấy một cuốn tiểu thuyết nào có đủ khí lực và thể hiện được sự xung đột giữa các tư tưởng đương thời như trong một cuốn tiểu sử đàng hoàng về William Morris. Mời các bạn đón đọc Cuốn Sổ Vàng của tác giả Doris Lessing & Lê Khánh Toàn (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Isabelle Vỡ Mộng
Mộng và thực, hư cấu và đời thật đã hòa quyện lấy nhau trong đời sống tâm hồn của một thanh niên lý tưởng và đa cảm. Lâu đài Quartfoutche cổ xưa như chốn Đào nguyên, tách biệt với cõi nhân gian rộn ràng đã đổ bóng xuống nỗi cô độc của chàng Lacase. Ở đó, mùi vị của thứ tình ái viễn mơ, sự theo đuổi đam mê đã tự khắc trỗi dậy và cũng tự khắc tàn phai. Một không khí hoang phế gió lộng của thời thanh xuân được André Gide đưa vào trong cuốn tiểu thuyết truyện lồng trong truyện nhuốm u hoài và quyến rũ. *** Bộ sách là kiệt tác văn chương Pháp vừa ra mắt bạn đọc nhân dịp Giáng sinh 2018. “Đứa con đi hoang trở về” (Le retour de l’enfant prodigue, 1907) của tác giả André Gide khởi nguồn cảm hứng từ dụ ngôn Đứa con hoang đàng trong Kinh Thánh Tân ước. Với một sự triển khai đa chiều, André Gide đưa vào đó bốn cuộc đối thoại, như một vở kịch bốn màn, kéo câu chuyện khỏi không gian của bản kinh giáo điều để nối kết với cuộc sống nhân gian vốn dĩ phức tạp. Qua ngôi nhà và khát vọng tự do, chọn lựa phiêu lưu của tuổi trẻ và sự trở về kiếm tìm cứu rỗi nơi một con người đã nếm trải gió bụi lạc lối…, André Gide mở ra các cảnh huống triết lý mà ở đó, có thể mỗi người đọc đều đã từng “nhập vai”. “Vỡ mộng” (Isabelle, 1911) cũng là tác phẩm của André Gide nói về mộng và thực, hư cấu và đời thật đã hòa quyện lấy nhau trong đời sống tâm hồn của một thanh niên lý tưởng và đa cảm. Lâu đài Quartfoutche cổ xưa như chốn Đào nguyên, tách biệt với cõi nhân gian rộn ràng đã đổ bóng xuống nỗi cô độc của chàng Lacase. Ở đó, mùi vị của thứ tình ái viễn mơ, sự theo đuổi đam mê đã tự khắc trỗi dậy và cũng tự khắc tàn phai. Một không khí “hoang phế gió lộng” của thời thanh xuân được André Gide đưa vào trong cuốn tiểu thuyết truyện lồng trong truyện nhuốm u hoài và quyến rũ. “Thư gửi một con tin” (Lettre à un otage, 1943) của Antoine de Saint-Exupéry nói về giá trị tuyệt đối của con người. Từng bay trên những sa mạc, biển cả, đô thị, xuyên biên giới các quốc gia, vùng lãnh thổ, cha đẻ của Hoàng tử bé tiếp tục truyền trao nguồn cảm hứng du hành cùng những chiêm niệm về nhân sinh trong tập sách nhỏ này. Tinh thần tự do, lòng ái quốc, tình bạn, giá trị con người và cả những khuyết tật của văn minh, những biên giới văn hóa được ông trải ra trên các đoản văn đầy thi tính và giàu triết lý. Nhà văn, nhà giáo, dịch giả Bửu Ý nguyên là giảng viên Pháp văn, trưởng khoa ngoại ngữ của Trường đại học Sư phạm Huế. Ông từng được Pháp trao Huân chương Cành cọ hàn lâm. Huân chương cao quý này dành cho những người được xem là cầu nối văn hóa - giáo dục giữa hai nước Việt - Pháp, quảng bá văn hóa Pháp tại Việt Nam và giảng dạy tiếng Pháp... *** André Paul Guillaume Gide (22 tháng 11 năm 1869 – 19 tháng 2 năm 1951) là một trong những nhà văn xuất chúng của thế kỷ 20, người đoạt giải Nobel Văn học năm 1947. Sáng tác đầu tay của ông là cuốn tự truyện Les cahiers d'André Walter (Những cuốn vở của André Walter, 1891) viết bằng thơ và văn xuôi đầy chất thơ, kể về sự giằng xé, giày vò giữa thể xác và tâm hồn và sự tìm kiếm lối thoát trong các hình thái thần bí và thanh cao của tình yêu. Do bị bệnh lao không phải chịu quân dịch, những năm 1893-1894 André Gide du lịch sang Algérie và Tunisia, nơi ông phát hiện ra mình là người đồng tính luyến ái. Thời gian khủng hoảng kéo dài được ghi nhận bởi sự bất ổn tinh thần và những kiếm tìm chân lý thể hiện trong truyện vừa Le Retour de l'Enfant prodigue (Cuộc trở về của đứa con du đãng, 1907). Về mặt phong cách, Gide đã khắc phục lối viết cầu kì ban đầu, đến với một ngôn ngữ giản dị rõ ràng. Năm 1908, ông trở thành người đồng sáng lập Tổng quan mới của nước Pháp, một trong những tạp chí có ảnh hưởng đối với sự phát triển nền văn học Pháp và thế giới. Tiểu thuyết châm biếm Les Caves du Vatican (Những động ngầm dưới Vatican, 1914) đặt vấn đề về sự chấp nhận một cách mê muội những tín ngưỡng và lý tưởng. Năm 1926, tiểu thuyết Les Faux-monnayeurs (Những kẻ làm bạc giả) ra đời mang lại nhiều thành công cho ông, đó là một đóng góp thực sự vào sự phát triển thể loại tiểu thuyết. Một năm sau khi xuất bản truyện vừa Thésée (Theseus, 1946) - mà ông coi như một bức di thư văn học - André Gide được bầu làm Giáo sư Danh dự trường Đại học Oxford và được tặng giải Nobel năm 1947. Năm 1950, André Gide xuất bản tập cuối cùng của bộ Journal (Nhật kí). Ông mất năm 1951 ở Paris. Mời các bạn đón đọc Isabelle Vỡ Mộng của tác giả André Gide & Bửu Ý (dịch).
Evergreen Love: Từ Điển Tranh Về Thực Vật
Evergreen Love – Từ điển tranh về thực vật được chắp bút bởi Hiro Arikawai, nữ nhà văn nổi tiếng Nhật Bản. Phát hành năm 2009, tác phẩm đã nhanh chóng trở thành một trong những cuốn sách bán chạy nhất năm và nhận được nhiều giải thưởng, đề cử văn học. Đặc biệt, Evergreen Love đã được mua bản quyền chuyển thể thành phim điện ảnh vào năm 2016. Ngay trong tuần đầu tiên ra mắt, bộ phim đã đứng nhất phòng vé với doanh thu 3.2 triệu USD. Cuốn tiểu thuyết là câu chuyện về cuộc gặp gỡ kỳ lạ giữa Sayaka và Itsuki. Sayaka làm việc trong một công ty tư vấn nhà đất, tuy nhiên cô lại thường xuyên bị quở trách vì năng lực của bản thân, không những sống một cuộc đời nhàm chán, thảm hại, Sayaka lại không hề khéo léo trong tình yêu nên vẫn còn cô đơn. Một đêm nọ, trên đường trở về nhà, Sayaka bắt gặp Itsuki, một người lạ mặt bất tỉnh ngay trước cửa nhà. Cô đưa anh vào nhà, khi tỉnh dậy, Itsuki bất ngờ xin Sayaka cho anh sống nhờ trong vòng nửa năm. Lạ thay, Sayaka gật đầu đồng ys. Và thế là họ bắt đầu sống chung và dần dần nảy sinh tình cảm với nhau lúc nào chẳng hay. Itsuki như một phép màu được gửi đến cứu rỗi cuộc đời tẻ nhạt của Sayaka. Trong thời gian sống chung, Itsuki luôn nấu ăn cho cô - một người con gái vụng về không hề biết gì về nữ công gia chánh, anh dạy cô cách sử dụng các loại thảo mộc và cỏ dại để nấu nướng. Thế nhưng Itsuki lại giữ trong mình quá nhiều bí ẩn như cách anh xuất hiện trong cuộc đời Sayaka và đột ngột biến mất khỏi cuộc đời cô sau bữa tiệc sinh nhật… Lạc vào thế giới của Evergreen Love, bạn sẽ dễ dàng chìm đắm trong sự ngọt ngào, lãng mạn bởi những “phản ứng hóa học” giữa hai nhân vật chính, sự kì diệu về thế giới của những loài cỏ dại, thảo mộc quanh ta đi cùng với cảm giác tò mò về những bí mật giấu kín của Itsuki… Evergreen Love hứa hẹn sẽ là một tác phẩm lãng mạn tươi mới giúp bạn xóa tan cảm giác oi bức trong hè này. *** Hiro Arikawa   Sinh năm 1972, đến từ Kochi, Nhật Bản. Bà chủ yếu sáng tác thể loại light novel hướng tới đối tượng học sinh trung học. Năm 2003, bà đạt giải thưởng nhà văn mới trong giải thưởng văn học thường niên lần thứ 10 Dengeki Novel Prize với tác phẩm Shio no Machi và được xuất bản sách trong năm 2004. Cuốn tiểu thuyết ăn khách Evergreen Love - Từ điển tranh về thực vật (Shokubutsu Zukan) của bà đã được chuyển thể thành phim điện ảnh vào tháng 6 năm 2016. *** Ngày cô phải ra ngoài cùng trưởng phòng là một ngày giữa mùa hè, cái nắng oi ả chiếu xuống mặt đường nhựa, phả lên từng đợt hơi nóng. Đôi chân của mỗi người đều tự động lựa chọn đi vào vùng bóng của hàng cây hai bên đường. Thế rồi đột nhiên có một bóng trắng nho nhỏ lướt qua khóe mắt cô. Ở bãi đỗ xe bên cạnh một tòa nhà gần đấy có một loại dây leo đang cuốn lên hàng rào chắn. Và bóng trắng nho nhỏ chính là những bông hoa trắng nhỏ xinh của loài dây leo đó. Những bông hoa nhỏ xinh với những cánh hoa trắng xòe rộng tạo hình quả chuông như hoa bách hợp, chính giữa bông hoa lại được điểm thêm bằng màu đỏ đậm. “Ô kìa.” Trưởng phòng cũng nhận ra bóng trắng đó mà ngừng lại. “Thật đẹp quá đi. Chủ ở đây trồng nó sao?” “Không phải đâu trưởng phòng.” Kouno Sayaka lại giội một gáo nước lạnh vào mớ cảm xúc đang dâng trào trong sếp. “Nó là cỏ dại đấy ạ.” “Cỏ dại!!” Trưởng phòng tròn mắt ngạc nhiên. “Thế nhưng nó trông đẹp thế cơ mà.” “Cỏ dại không phải là tên của một loại cỏ cây mà là chỉ chung cho tất cả các loại cỏ. Thiên hoàng Chiêu Hòa đã nói như vậy. Ít nhất thì nó không phải là loại cây cỏ được trồng trong vườn.” Sayaka vô thức nói thêm: “Nó là cây rắm thúi, trong tiếng Nhật gọi là Hekuso kazura.” “Hekuso… thú…?” “Vâng. Nếu vò nát những chiếc lá mọc trên thân dây leo kia thì nó sẽ tỏa ra mùi khó chịu giống như cái tên ấy. Mặc dù dựa theo những bông hoa dễ thương hay những đặc điểm khác thì nó còn được gọi với những tên khác như Saotome kazura nghĩa là cô gái đội nón đang làm ruộng hay Yaitobana vì hoa giống với hình mồi ngải dùng trong chữa bệnh hay xông huyệt, thế nhưng, Hekuso kazura vẫn là cái tên được dùng nhiều nhất.” Nói một tràng dài, Sayaka đột nhiên nhận ra trưởng phòng của mình còn đang ngây người. “Trưởng phòng làm sao thế?” “Không…” Trưởng phòng cười nói: “Chỉ là thấy bất ngờ khi cô còn trẻ vậy mà lại biết được nhiều điều như thế thôi. Đúng rồi, nó là rắm thúi chứ gì…” Thế rồi trưởng phòng lại nói tiếp: “Cái tên này cũng đủ để bị kết tội quấy rối tình dục đấy nhé.” “Không, tôi không có…” Sayaka vội lầm bầm tôi không cố ý hay gì đó. Bản thân cô cũng đã hơn hai mươi mấy rồi, thế nên cô không nghĩ mình cũng được coi là một cô gái trẻ trung gì nữa. Sau khi nói xong, trưởng phòng lại lần nữa ngắm nhìn bông hoa rắm thúi… không, hãy gọi nó là thiếu nữ xinh đẹp đi. “Rõ là bông hoa đẹp thế này cơ mà. Cái tên này làm hỏng hết cả một loài hoa rồi.” Đứng bên cạnh nghe trưởng phòng ca thán, Sayaka lại đang thầm xỉ vả bản thân mình. Ngu ngốc, mày thật ngu ngốc quá đi! Cho dù người ta có thân thiết và không để ý đến đâu đi chăng nữa thì người ta cũng là một người đàn ông đấy! Sao lại có một cô gái mở miệng ra là rắm thúi chứ! Thúi, thúi thúi! Nghe xong trưởng phòng cũng phải chạy xa rồi đấy! Có phải mày không biết các tên khác của nó đâu cơ chứ. Tại sao! Tại sao! Tại sao lại không nói là Yaitobana cơ chứ! Thế nhưng, chuyện mày nhanh nhảu nói ra cái tên thông dụng nhất đấy cũng đâu phải lỗi của mày đâu. Itsuki! Tất cả là tại anh đấy! Sayaka thầm rủa xả anh chàng đã nhồi nhét tên của đủ các loại cây cỏ vào trong đầu cô. Hãy đặt tên cho chàng trai đã rời xa bạn bằng tên của một loài hoa. Và hoa mỗi năm đều sẽ nở. Đại văn hào Kawabata Yasunari đã từng viết như vậy. Ấy thế nhưng trong lòng Sayaka lại cho rằng nó chẳng có gì là lãng mạn hay tình tứ cả. Nếu dùng một từ để nói về câu văn ấy thì đó chính là “ủy mị”. Thêm vào đó, phụ nữ tuyệt đối sẽ không nghĩ nhiều đến thế. Và vốn dĩ cô cũng không nghĩ mình sẽ khắc sâu ký ức về người đàn ông đã chia tay đến mức ấy đâu. Nếu coi trí nhớ của con người là bộ nhớ của một chiếc máy tính thì tình yêu của phụ nữ được lưu lại dưới dạng lưu đè, còn tình yêu của đàn ông lại được lưu lại dưới các file khác nhau. Phụ nữ dù có day dứt, dù có khổ sở đến đâu đi chăng nữa thì khi tình yêu mới xuất hiện, những ký ức về người yêu cũ của họ cũng sẽ phai mờ. Chỉ vì một câu nói ủy mị của ngài mà ba mươi năm sau khi ngài mất, một cô gái vô tội lại đang phải xấu hổ ở đây đây này. Thế nhưng, Sayaka lại thở dài. Cũng không thể nói là cô và người đàn ông đó đã chia tay được. Bởi… Anh ta cứ thế biến mất mà chẳng nói một lời. Mà dù sao giữa cô với anh ta cũng có hứa hẹn gì đâu cơ chứ. “Kouno này, mình đi thôi.” Nghe trưởng phòng cất tiếng gọi, Sayaka vội vàng “vâng” một tiếng rồi đi theo. ✥ Chữ “thụ” trong từ “đại thụ”, đọc là Itsuki. Đó là điều duy nhất về thông tin cá nhân của người đàn ông đó mà Sayaka có thể hỏi được. Lần đầu tiên hai người gặp nhau chính là một đêm cuối đông lạnh giá trước kỳ nghỉ của cô. Tối hôm đó, sau cuộc nhậu, Sayaka vừa vặn bắt kịp chuyến tàu cuối cùng. Trên đường về, cô còn trông thấy cả ánh trăng trong vắt hiếm thấy. Hiện tại, Sayaka đang sống trong một chung cư cũ, phòng của cô có một phòng khách và một phòng bếp, mặc dù khu nhà đã lâu đời nhưng vẫn rất rộng rãi, thoải mái đủ cho cô sống một mình. Chủ nhà trọ hay thích tán chuyện nhưng cũng chưa đến mức ầm ĩ. Vả lại căn nhà đó lại khá gần nhà ga và trước nhà ga lại có một dãy phố mua sắm nhỏ nên có thể nói là trọ ở đấy vô cùng tiện lợi. Sau bữa nhậu, Sayaka đã hơi chếnh choáng say. Cô vừa đi bộ từ nhà ga về vừa ngâm nga một giai điệu yêu thích trong cổ họng. Cô cũng chẳng còn nhớ rõ lời bài hát nữa nên chỉ có thể ngâm nga vài nốt như vậy mà thôi. Thế rồi đến khi gần tới khu nhà trọ, đột nhiên Sayaka nhận ra một thứ. Đó là một chiếc túi rác màu đen to đùng chắn ngay giữa lối đi bộ vốn chỉ vừa một người đi này. Không, chỗ này có phải là bãi rác đâu cơ chứ. Cái túi to như thế kia thì chắc là của công ty, văn phòng nào đó rồi. Chẳng lẽ là người ta lén vứt ra đây? Vừa nghĩ như vậy, Sayaka vừa chậm rãi tiến lại gần. “Oaaaaa!” Một tiếng hét thất thanh vang lên, phá vỡ sự tĩnh lặng của khu phố về đêm, tiếng hét ấy cũng không hợp với một cô gái trẻ chút nào. Hét lên một tiếng, Sayaka vội vàng lùi về sau. Bên trong cái túi ấy… vậy mà lại có một con người. Đó là một người đàn ông tầm tuổi cô đang cuộn tròn trong đó, cùng với một cái ba lô sau lưng. Anh ta ch… chết rồi sao? Nếu là có một xác chết ngay trước nhà trọ thế này thì cô phải báo cảnh sát thôi. Trong con say, Sayaka lấy hết dũng khí duỗi cánh tay về phía trước, dùng ngón tay trỏ của mình khẽ chạm vào má người đàn ông. Còn ấm. Dường như cảm giác được có người đang chạm vào mình, người đàn ông nhẹ nhàng mở mắt ra. Ôi Chúa ơi, anh ta đẹp trai quá đi. “Cái đó…” Sau một hồi bối rối, Sayaka cũng quyết định lên tiếng. “Có chuyện gì với anh vậy?” Người đàn ông chớp đôi mắt còn ngái ngủ đáp: “Tôi bị lả đi.” “Vậy sao anh ở chỗ này?” “Bởi nếu tôi mà ngất ngay ngoài đường thì sẽ bị chết cóng mất.” “Tại sao ở ngoài đường thì sẽ bị chết cóng chứ?” “Nếu nằm thẳng xuống nền nhựa đường, bê tông hay mặt đất thì cơ thể sẽ bị mất nhiệt. Nằm thẳng xuống đất buổi tối không thích hợp để duy trì thân nhiệt cho con người, thế nên ta cần có thứ gì đó ngăn cách ở giữa.” “Thế tại sao anh lại bị lả đi?” “Tôi đói quá. Không thể đi thêm một bước nào nữa.” “Tiền của anh đâu?” “Tôi bây giờ không còn một xu dính túi.” “Hả… đáng thương quá.” Người đàn ông ấy không khiến Sayaka cảm thay phải cảnh giác, thậm chí cô còn ngồi xổm xuống trước mặt anh ta. Ngay lập tức, người đàn ông ấy đặt tay trên đầu gối cô và: “Tiểu thư, liệu cô có thể thu nhận tôi được không?” Nhìn cứ như là một chú chó đang duỗi chân trước chủ vậy. Vừa nhìn bàn tay đặt trên đầu gối mình, Sayaka vừa nghĩ như vậy. Và bất giác, cô lại thốt lên: “Thu nhận… sao lại giống thu nhận mấy con cún ngoài đường vậy chứ?” Nói rồi, Sayaka còn cười khanh khách. Thấy vậy, người đàn ông lại nói tiếp: “Tôi sẽ không cắn người và rất ngoan đấy.” “Đủ rồi đấy.” Giờ nghĩ lại thì chắc hẳn lúc đó cô đã say đến không biết gì rồi. Đế bố mẹ ở quê nghe được chuyện cô đưa một người đàn ông xa lạ về phòng thì họ giết cô mất. Thế nhưng, trông anh ta thực sự là đã đói lả đi rồi, khi về được đến phòng của cô ở tầng một thì anh ta cũng chẳng còn tí hơi sức nào nữa cả. “Anh không sao chứ? Đừng có ngã ra đấy!” Bản thân Sayaka cũng phải đỡ ở một bên rồi nhanh chóng đưa anh ta vào phòng khách của mình. Trước hết phải cho anh ta ăn thứ gì đó mới được. Mặc dù nghĩ vậy, nhưng Sayaka lại là kiểu người không hay nấu ăn ở nhà. Giờ trong nhà cô cũng chỉ có mấy hộp mì ăn liền cô mua trữ sẵn từ trước. Nấu một cốc mì trong ba phút, Sayaka mang ra ngoài cho người đàn ông, ngay lập tức, anh ta đã nhận cốc mì với vẻ biết ơn vô cùng. “Giờ bất cứ thứ gì với tôi đều là món ăn ngon cả.” Anh ta nói một câu thật khó chịu, nhưng xét đến việc anh ta vừa đói đến lả người thì Sayaka lại tạm thời bỏ qua cho lần này. “Anh có đi tắm không?” “A, tuyệt quá. Người tôi đang lạnh cóng rồi.” “Vậy anh cứ ăn trước đi. Tôi đi tắm trước đã.” Giờ nghĩ lại thì hành động lúc đó của cô… cũng chẳng có tí cảnh giác nào cả. Để một người đàn ông xa lạ vào phòng, lại còn để đồ đạc, tài sản ở ngoài như thế mà yên tâm đi tắm nữa chứ. Lúc đi tắm, Sayaka còn nghĩ được là đã uống khá nhiều thì hay là chỉ tắm vòi hoa sen thôi, không cần ngâm mình nữa, nhưng chuyện mà một cô gái trẻ nên nghĩ lúc ấy cũng không phải là chuyện này. May mà “chú cún” mà cô nhặt về đúng là “không cắn người và rất ngoan”, thế nên cuối cùng cũng không có chuyện gì xảy ra. Đợi khi Sayaka ngâm mình xong đi ra ngoài thì chú cún lớn đã quỳ trên sàn, cúi đầu thật sâu với cô. “Cảm ơn vì bữa ăn.” Đúng là anh ta đã quá đói, đến mức anh ta còn uống hết cả nước súp mì nữa. “Xin lỗi vì chỉ có mỗi mì cốc cho anh. Nước nóng thì tôi xả sẵn ra rồi đấy.” “Tôi xin phép mượn một lát.” “Anh có đồ ngủ không?” “Tôi có đồ lót. Còn đi ngủ thì tôi vẫn mặc nguyên mấy bộ thế này” “Vậy sao. Thế thì…” Nửa năm trước Sayaka mới chia tay người yêu. Cô lôi từ trong tủ ra một túi quần áo của người yêu cũ mà lúc trước cô đã nhét xuống tận đáy tủ. Mặc dù lúc đó cô đã phân nó ra thành rác tái chế, thế nhưng cô lại quên mất ngày vứt rác tái chế và cứ thế nhét nó trong tủ cho tới tận bây giờ. (Dù sao thì một tháng cũng chỉ có hai ngày để vứt loại rác này thôi mà.) “Nếu anh không ngại quần áo cũ thì cứ lấy mà dùng. Trong này có nhiều áo phông, áo nỉ lắm, cũng toàn là áo free size cả.” “Cái đó…” Trông Sayaka cũng chẳng có vấn đề gì cả, thế nhưng chú cún ngoan của cô thì lại khá ngại ngùng. “Tôi dùng chúng không sao chứ?” “Không sao đâu. Đây là quần áo của bạn trai cũ đã chia tay cả nửa năm nay rồi. Tôi cũng giặt sạch, gấp gọn chúng rồi mà. Chỉ là để nó bên ngoài hơi vướng nên tôi mới nhét vào trong tủ thôi. Sau đó thì tôi lại quên mất ngày vứt rác tái chế thành ra cứ để cái bọc này ở đây nửa năm rồi. Nó cũng chỉ là bọc quần áo bình thường thôi. Anh không cần phải để ý đâu, chú cún của tôi ạ. Anh mà dùng chúng giúp tôi thì tốt quá ấy chứ?” “Vậy tôi xin cảm ơn cô.” Vừa nói, người đàn ông vừa mở bọc quần áo và lấy một bộ đồ thun ra làm quần áo ngủ, rồi lại lấy đồ lót và bàn chải, khăn mặt trong ba lô của mình ra và đứng dậy đi về phía nhà tắm. “Dầu gội, sữa tắm anh cứ dùng thoải mái, cả khăn tắm nữa. Nhưng nếu anh muốn dùng máy giặt thì để ngày mai nhé. Giờ cũng khá muộn rồi.” “Vâng, cảm ơn cô.” Anh ta đã nói cảm ơn đến ba lần rồi. Và tối hôm đó, trước khi người đàn ông đó tắm xong, Sayaka đã đi về phòng và ngã nhào lên giường. Sáng hôm sau, khi cô thức dậy thì đã thấy mình nằm trong chăn ấm đệm êm rồi. Sao cô không nhớ gì về chuyện mình đã chui vào trong chăn nhỉ. “A, chào buổi sáng. Cô dậy rồi sao?” Nhìn thấy người đàn ông đứng trong bếp, Sayaka bỗng thấy bối rối. Thấy Sayaka như vậy, người đàn ông vội vàng rụt vai lại nói: “Bình tĩnh, cô đừng hét lên nhé. Hôm qua cô đã đồng ý cho tôi ở đây rồi đấy nhé. Nếu cô không nhớ thì tôi sẽ giải thích lại.” Tôi bị lả đi. Liệu cô có thể thu nhận tôi được không? Tôi không cắn người và sẽ ngoan. Lúc này, ký ức tối hôm trước lần lượt ùa về và Sayaka lại phá lên cười. Thấy cô như vậy, người đàn ông cũng thở phào một hơi. “May quá. Tôi còn tưởng sẽ bị đưa lên đồn cảnh sát vì tội đột nhập nhà dân chứ.” “Được rồi, thế anh đang làm gì thế cún con?” “Trước hết cô cứ rửa mặt đi đã. Tôi tỉnh dậy trước nên có mượn nhà tắm của cô một lúc rồi.” Lúc này, Sayaka lại ngửi thấy mùi canh miso thơm nức mũi. “Cơm sáng… trong nhà tôi có thứ gì có thể nấu được cơm sáng sao?” “Mà bất ngờ thật đây, tủ lạnh của cô trống trơn chẳng khác nào tủ lạnh của một người đàn ông độc thân cả. May mà gia vị thì vẫn có. Tôi có mượn chút hành tây và trứng sắp hỏng của cô để nấu ăn.” “Hành!? Tôi có thứ đó ở trong nhà sao?” Trứng thì cô còn nhớ. Khoảng mười ngày trước đột nhiên cô muốn ăn món cơm trứng sống nên đã đi cửa hàng tiện lợi mua một giỏ sáu quả về. Thế nhưng, hành tây thì lần gần đây nhất khi cô mua hành cũng phải từ một tháng trước rồi. “Vần còn một củ héo quắt như thể bị chủ nhà bỏ quên nằm trong một góc. Nó cũng mọc mầm rồi, nhưng vẫn còn dùng được một chút. Nhân tiện, món cá muối Tsukudani của cô để tận trong cùng ấy, thời gian lâu nó chảy nước ra nên tôi vứt nó đi rồi.” “Ngại quá…” Xấu hổ bước xuống giường, Sayaka chợt nhận thấy một chiếc túi ngủ được trải trong phòng khách bên cạnh. “Cái gì thế này? Anh bảo là lả đi mà còn có cả túi ngủ thế này á?” “Thì tôi đói quá, chẳng còn tí sức nào để lôi nó ra khỏi ba lô cả. Tối hôm qua mặc dù chỉ có một cốc mì nhưng ít nhất tôi cũng được cô cho ăn nên mới có sức để kéo chăn đệm giúp cô đấy.” Hóa ra cô được nằm chăn ấm đệm êm ngủ ngay ngắn trên giường hôm qua là nhờ chú cún ngoan này sao? “Cảm ơn, cảm ơn anh…” Sao càng lúc cô càng cảm thấy xấu hổ thế này? Chờ khi Sayaka đánh răng rửa mặt xong thì trên chiếc bàn thấp ở phòng khách đã bày bữa sáng nóng hổi rồi. “Tôi có mượn dùng nồi niêu, bát đũa của cô một chút.” “A vâng, anh cứ dùng tự nhiên.” Vừa nói, Sayaka vừa ngồi xuống chỗ mà người đàn ông kia chỉ. Còn anh ta đang ngồi ở ghế gần bếp nhất. Nhìn thấy cảnh này, Sayaka lại có cảm giác giống như một bầu không khí gia đình vậy. Mời các bạn đón đọc Evergreen Love: Từ Điển Tranh Về Thực Vật của tác giả Hiro Arikawa & Như Nữ (dịch).
Đẹp
Tác phẩm Tự lực văn đoàn đều chĩa mũi nhọn đả kích lễ giáo phong kiến và nếp sống đại gia đình phong kiến với những tác phẩm như: “Nửa chừng xuân”, “Đoạn tuyệt”, “Lạnh lùng”, “Đôi bạn”, “Gia đình”, “Thoát ly”,…. Họ hô hào giải phóng phụ nữ khỏi cảnh mẹ chồng nàng dâu, cảnh thủ tiết của những người phụ nữ trẻ góa bụa, đòi quyền hạnh phúc của đôi lứa yêu nhau. *** “Đẹp”(1940) là tiểu thuyết áp chót cuối đời của Khái Hưng, trụ cột nhóm Tự Lực Văn Đoàn lừng lẫy một thời. “Đẹp” đúng như cái tên của nó, mô tả một thế giới đặc biệt nơi nghệ thuật trở thành một vị thần để tôn thờ, một điểm tựa tinh thần và tình yêu cho giới nghệ sĩ đương thời bên thềm cuộc đại chiến thế giới lần 2 và phong trào cách mạng vô sản đang sục sôi khắp cả nước. Nhưng song hành với đó là tình trạng sống vô phương, bê tha và vị kỉ không có thuốc chữa của những tín đồ “nghệ thuật vị nghệ thuật” mù quáng này. Trung tâm câu chuyện là mối tình giữa họa sĩ Nam và Lan, con gái một người bạn của anh. Một tình yêu trên danh nghĩa nghệ thuật hiếm có trên đời. Nếu quan hệ giữa Humbert và Lolita được gọi bằng căn bệnh ái nhi, tức là sự mê đắm dục vọng vô độ, thì Nam lại là một phiên bản Humbert lý trí và đứng đắn hơn, anh khao khát có được trái tim Lan, nhưng không phải bằng sự chiếm đoạt, mà nhờ sự đan chéo giữa tâm hồn lãng mạn và lòng yêu nghệ thuật của hai người. Lolita là thánh nữ trong lòng Humbert, và Lan cũng vậy. Nam bị ám ảnh bởi vẻ đẹp thanh thuần của cô bé tuổi dậy thì, anh đóng khung cái lần đầu gặp mặt đó như một niềm cảm hứng nghệ thuật mãi mãi trọn đời mãi không thể quên. Đó là bức họa của kỉ niệm! Một bức họa lưu giữ tuổi xuân vĩnh viễn! Hai người “nghệ sỹ” đó đã cùng bước vào thế giới của nhau qua những rung động đẹp đẽ và kì lạ nhất. Nhưng sự lãng mạn của họ chỉ giữ trong khoảnh khắc đó thôi, chỉ đóng đinh trong bức tranh vô tri đó như tấm chân dung Dorian của Wilde. Một đám cưới chóng vánh đã kết thúc tất cả. Hai kẻ mơ mộng trở về với bản tính trần trụi nhất: ảo tưởng, phóng túng và ích kỉ. Chẳng còn gì ở lại ngoài những tổn thương, những cuộc cãi vã và một giấc mộng đẹp đã vỡ tan tành! “Đẹp” được ví như tấm gương phản chiếu một lịch sử thăng trầm của phong trào Thơ Mới những năm 1930s, từ thai nghén trong nền giáo dục tân tiến, đến cách mạng và dấu hiệu suy đồi. Ở “Đẹp”, độc giả bắt gặp những hình ảnh ấn tượng về quá trình vươn lên của những cô cậu sinh viên ưu tú với khao khát làm rạng danh đất nước qua con đường cách mạng nghệ thuật chân chính, và về một tình yêu dám bước qua ranh giới. Nhưng khi đạt được nó, họ lại bị rập khuôn theo tư tưởng “nghệ thuật vị nghệ thuật” của riêng mình, mất đi lý tưởng sống, trở nên thiếu trách nhiệm trước cuộc đời và tình yêu. Họ chấp nhận buông thả trong khoái lạc như một căn bệnh nan y không giải được. Điều đó cũng lý giải phần nào sự bế tắc và tan rã của nhóm Tự Lực trước Cách Mạng. *** Khái Hưng tên thật là Trần Khánh Giư. Bút danh Khái Hưng được hình thành khi ông dùng phép đảo chữ để sắp xếp lại các chữ cái trong tên thật Khánh Giư. Là một trong những cây bút chính của nhóm, tiểu thuyết đầu tay của Khái Hưng Hồn bướm mơ tiên (1933) là tiểu thuyết đầu tiên của Tự Lực Văn Đoàn. Giống như các tiểu thuyết Tự Lực Văn Đoàn khác, tác phẩm của Khái Hưng thường đề cao tình yêu tự do, chống lại các lễ giáo phong kiến, ít nhiều mang tính cải cách xã hội.. Mời các bạn đón đọc Đẹp của tác giả Khái Hưng.
Cảm Giác Hygge - Về Ánh Sáng, Sự Ấm Áp Và Những Điều Bí Mật
Hooga? Hhyooguh? Heurgh? Dù bạn chọn phát âm (hay thậm chí đánh vần) từ hygge theo cách nào thì cũng không quan trọng. Giống như Winnie-the-Pooh từng nói về hạnh phúc: “Cậu không đánh vần được nó. Cậu cảm nhận nó.” Không ngẫu nhiên mà Cảm giác HYGGE trở thành hiện tượng xuất bản trên thế giới và liên tục là best seller. Bởi Meik Wiking đã cho thấy, hygge không phải thứ “nguyên liệu” bí mật chỉ người Đan Mạch mới có. Bạn hoàn toàn có thể tìm thấy hygge để cho vào công thức hạnh phúc của chính mình. Hành trình tìm kiếm hygge chính là hành trình khám phá ánh sáng, sự ấm áp, và kết nối. Cốt lõi của hygge không phụ thuộc vào vật chất, mà là không khí và trải nghiệm. Đó là cảm giác được ở cạnh những người ta yêu mến. Cảm giác được trở về nhà. Cảm giác thoải mái và an toàn ở chốn thân thuộc, pha một cốc cà phê ấm nóng, nằm cuộn tròn trong chăn.Vậy nên, (có thể) bạn không đánh vần được hygge. Nhưng bạn hoàn toàn cảm nhận được nó. *** [Review Sách] “Cảm Giác Hygge”: Cẩm Nang Hạnh Phúc và Những Điều Bí Mật Khác Cảm giác Hygge của Meik Wiking đã phác họa cho chúng ta hạnh phúc là gì và những điều bí mật khác của quốc gia hạnh phúc nhất thế giới -Đan Mạch. Không ngẫu nhiên mà Cảm giác Hygge trở thành một hiện tượng xuất bản trên thế giới, tác giả cho thấy rằng hygge không phải là điều người Đan Mạch mới có. Bạn cũng có thể tìm thấy hygge để cho vào công thức hạnh phúc của chính mình. *Về tác giả Meik Wiking là CEO của Viện Nghiên Cứu Hạnh Phúc (Happiness Research Institute), một tổ chức độc lập  chú trọng vào sức khỏe, hạnh phúc và chất lượng cuộc sống của con người. Ngoài việc nghiên cứu về khoa học chính trị, ông còn viết lách, thích chụp ảnh và chơi thể thao. /HYGGE BẮT NGUỒN TỪ ĐÂU?/ Hygge xuất hiện đầu tiên trong chữ viết Đan Mạch vào đầu thế kỷ 19, nhưng thực chất nó bắt nguồn từ tiếng Na Uy. Hygge chúng ta có thể phát âm là /hooga/, không phải là /hy-gee/ nhé. Từ gốc hygge trong tiếng Na Uy có nghĩa là hạnh phúc. Tuy nhiên, theo nghĩa gần nhất thì hygge có nghĩa là hug (ôm). Theo một vài nghiên cứu, thì hygge lại bắt nguồn từ hygga (tiếng Bắc Âu cổ), từ này lại bắt nguồn từ hugr (tâm trạng). Hugr lại xuất phát từ một tiếng Đức có nghĩa là “suy nghĩ, cân nhắc”. Thú vị thay, những yếu tố “ tâm trạng”, “ôm”, “hạnh phúc” là những từ dùng để mô tả những yếu tố hygge như ngày nay. Hygge được hiểu là sự ấm áp, hạnh phúc và gần gũi đối với điều bình dị nhất trong cuộc sống. Một buổi tối cùng quây quần bên bếp lửa cùng với gia đình và những người ta yêu thương đã là hygge rồi. /CHÚNG TA BÀN GÌ VỀ HYGGE?/ Với phong cách sống của Đan Mạch, yếu tố ấm áp là điều không thể thiếu trong bất cứ gia đình nào. Sau đây chúng ta  sẽ cùng lướt qua một số yếu tố đặc trưng chỉ có Đan Mạch mới có thôi nhé. 1/ÁNH SÁNG Vì là một quốc gia có mùa đông kéo dài, bầu trời lúc nào cũng chìm trong bóng tối thì việc tối đa việc hấp thụ ánh sáng vào nhà là một điều vô cùng quan trọng. Ánh sáng ở đây có thể được hiểu là ánh sáng dịu nhẹ và ấm áp như ánh sáng của hoàng hôn. Đan Mạch là quốc gia sử dụng nến nhiều nhất trên thế giới. Vì yêu thích sự ấm áp nên họ thường dùng nến trong tất cả những ngày trong tuần, một ngọn nến nhỏ trên bàn ăn vào buổi tối cũng đủ làm bừng sáng cả không gian ngôi nhà. Điều đặc biệt là vào tháng 12 (Giáng sinh), đây là thời điểm nến được tiêu thụ gấp ba lần bình thường. Nến sử dụng cho thời gian này được gọi là nến Mùa Vọng. Loại nến này thường được đánh dấu bằng 24 dòng kẻ, mỗi dòng tượng trưng cho một ngày trước Giáng sinh. *Mùa Vọng: là khoảng thời gian 4 tuần trước ngày Giáng sinh, thường kéo dài từ 22-28 ngày, và có 4 ngày Chủ Nhật tính từ trước ngày lễ Giáng sinh. 2/ĐỒ ĂN VÀ THỨC UỐNG Phong cách Hygge khi bàn đến đồ ăn và thức uống thì đồ ngọt, cà phê và thịt là ba món thực phẩm không thể thiếu ở đất nước hạnh phúc nhất thế giới này. Đan Mạch nổi tiếng nhất thế giới về lượng tiêu thụ đồ ngọt, chỉ đứng sau Phần Lan. Trung bình một người Đan Mạch tiêu thụ 8.2kg đồ ngọt mỗi năm. Đồ ngọt ở đây có thể được hiểu là bánh kẹo, bánh ngọt, hay “người bánh” (món đặc sản của họ dành cho việc tổ chức sinh nhật cho trẻ con). Ngoài ra, người Đan Mạch còn yêu thích các loại đồ uống nóng như: trà, sô cô la nóng hay rượu vang nóng. Tuy nhiên, thức uống yêu thích nhất của họ là cà phê. Trong tiếng Đan Mạch, họ gọi là kaffehygge ( vừa cà phê vừa hygge) ở khắp nơi với bạn bè hay người thân của họ. 3/TRANG PHỤC Hygge trong cách ăn vận của người Đan Mạch cũng rất đơn giản, thanh lịch và tinh tế. Có một điều đặc biệt là người Đan Mạch thường rất thích mặc đồ màu đen, mang khăn choàng và mặc áo nhiều lớp (hay còn gọi là layer). Vì đặc tính thời tiết lạnh giá, chính vì vậy sẽ không hygge chút nào nếu không có một chiếc áo len hay một đôi tất dày để sưởi ấm cơ thể trong những ngày đông giá rét. 4/TƯƠNG TÁC XÃ HỘI Các mối quan hệ xã hội với bạn bè hay những người xung quanh cũng chú trọng yếu tố hygge này. Họ đề cao sự tôn trọng và sự gần gũi bên nhau, chia sẻ những câu chuyện ý nghĩa cùng nhau. Tuy nhiên, có một thách thức đối với những người mới chuyển sang sinh sống tại Đan Mạch thì rất khó cho họ để kết thân với một người bản xứ nào đó. Vòng tròn quan hệ của người Đan Mạch thường rất bền chặt, vì vậy sẽ rất khó để họ có thể mời ai đó vào cộng đồng của mình. Điều này cần thời gian, nhưng nếu bạn đã là bạn của họ, thì mối quan hệ ấy sẽ rất lâu bền đấy. Vậy tại sao hygge lại khiến cho người dân nơi đây lại cảm thấy hạnh phúc như thế? /NGHIỆN HYGGE/ Khi nhắc đến hygge, chúng ta sẽ nghĩ đến cảm giác hạnh phúc và ấm áp. Bạn không thể mua được hạnh phúc, nhưng bạn có thể mua bánh ngọt- và hai điều này gần như giống hệt nhau, ít nhất đó là những gì não bộ nghĩ. Như đã thảo luận trước đó, người Đan Mạch rất ưa chuộng đồ ngọt, đặc biệt là bánh ngọt. Khi bạn chọn một miếng bánh yêu thích, cảm giác hưng phấn sẽ lan tỏa khắp cơ thể bạn. Đã bao giờ bạn nghĩ vì sao bạn lại cảm thấy vui vẻ như vậy khi ăn đồ ngọt chưa? Ở cơ sở não trước có một vùng gọi là trung tâm tận hưởng (cucleus accumbens). Đây là một phần của hệ thống khen thưởng của não bộ, và có vai trò quan trọng trong việc tạo động lực, cảm giác thỏa mãn và sự tăng cường. Khi làm những việc có tính chất khen thưởng, não bộ giải phóng một chất hóa học và chất tín hiệu dopamine (hóc môn hạnh phúc) được kích hoạt.  Gần vị trí của vùng trung tâm tận hưởng là khu vực các tế bào thần kinh, nơi các hóc môn dopamine được giải phóng trong những tình huống khen thưởng. Khi dopamine được vận chuyển từ sợi thần kinh đến những cơ quan cảm giác ở một số phần khác nhau của bộ não, ta trải nghiệm cảm giác sung sướng và thỏa mãn. Các hoạt động tình dục, hay ăn uống đều có tác động đến hệ thống khen thưởng này. Chính vì vậy, chúng ta liên kết một loại thực phẩm nào đó với cảm giác thỏa mãn, điều này khiến chúng ta ăn nhiều hơn. Do đó, khi nhắc đến hygge, việc bạn cảm thấy vui sướng và hạnh phúc khi ăn một miếng bánh ngọt là một cảm giác bình thường và dễ hiểu. /TẠI SAO ĐAN MẠCH LÀ QUỐC GIA HẠNH PHÚC NHẤT THẾ GIỚI/ Có nhiều yếu tố để xem xét, tuy nhiên chúng ta sẽ cùng nhau một vài yếu tố nổi bật. 1/XE ĐẠP VÀ HẠNH PHÚC/ Đan Mạch là một quốc gia có sự đầu tư mạnh mẽ về cơ sở hạ tầng cho người đi xe đạp. Tại thủ đô Copenhagen, 45% cư dân, học sinh hay người đi làm đều đạp xe đến chỗ làm và trường học. Không chỉ thuận tiện, đạp xe đạp còn là một hoạt động mang tính thân thiện với môi trường và cũng là một cách dễ dàng để vận động cơ thể hằng ngày. Theo nghiên cứu, những người đạp xe đạp sẽ hạnh phúc hơn những người đi xe ô tô. Đạp xe không những giúp ích cho cá nhân, cho sức khỏe và hạnh phúc của mỗi người, nó còn là một chỉ số để đánh giá mức độ ý thức cộng đồng. Ở Đan Mạch, đạp xe sẽ giúp cho họ kết nối nhiều với mọi người hơn, mở rộng mối quan hệ và tin tưởng người khác nhiều hơn, vì đạp xe cùng một ai đó xa lạ cũng thú vị mà. 2/CÁC MỐI QUAN HỆ XÃ HỘI/ Nói đến hạnh phúc thì ngoại trừ GDP, sự tự do và chính sách quản lý của nhà nước ra thì các mối quan hệ xã hội đóng vai trò quan trọng, góp phần tạo nên chỉ số hạnh phúc cao ở Đan Mạch. Điều này được hiểu đơn giản là: Liệu một người có thể trông chờ hay tìm kiếm sự sẻ chia khi họ cần hay không? Đây không phải là cách tốt nhất để đánh giá hệ thống hỗ trợ xã hội, tuy nhiên đây là số liệu chúng ta có thể thấy rõ ở tất cả những quốc gia được nhắc đến trong Báo Cáo Hạnh Phúc Thế Giới. Người Đan Mạch luôn chú trọng sự cân bằng trong công việc và cuộc sống của họ. Sau những bộn bề trong công việc, gia đình và những mối quan hệ bạn bè thân thuộc sẽ được họ ưu tiên hàng đầu. Họ không dành quá nhiều thời gian cho công việc mà bỏ quên những quan trọng trước mắt. Các mối quan hệ xã hội và chỉ số hạnh phúc có sự liên quan mạnh mẽ lẫn nhau. Khi chúng ta có cảm giác thuộc về ai đó hoặc là cảm giác được chia sẻ và trân trọng thì hạnh phúc sẽ luôn nằm trong tay bạn. Điều này được kiểm chứng trong mô hình biểu đồ kim tự tháp thể hiện nhu cầu của con người do nhà tâm lý học người Mỹ gốc Nga Abraham Maslow  phát triển. Nếu các nhu cầu mang tính sinh lý: thực phẩm, giấc ngủ, và cảm giác được che chở không được đáp ứng, chúng ta sẽ khó đạt được hạnh phúc. 3/TẬN HƯỞNG HIỆN TẠI & LÒNG BIẾT ƠN/ Cảm giác hygge là việc bạn tận hưởng những khoảnh khắc bình dị đời thường mỗi ngày. Sống cho hiện tại là cách người Đan Mạch vẫn luôn theo đuổi, họ tận hưởng những giây phút ý nghĩa bên gia đình, người thân của mình. Yếu tố quyết định mỗi ngày của họ đều là một ngày ý nghĩa đó là cảm xúc trong ngày. Việc bạn có cảm xúc tích cực hay tiêu cực về một ngày của mình sẽ quyết định bạn hạnh phúc như thế nào. Với một tâm trạng vui vẻ và thoải mái, thì không ngạc nhiên khi chúng ta thấy được đây là quốc gia hạnh phúc nhất thế giới. Ngoài ra, người Đan Mạch còn có thói quen ghi “nhật ký biết ơn” trong ngày. Hay nói cách khác, họ ghi chép lại những việc họ cảm thấy ý nghĩa và biết ơn hằng ngày. Chính từ lòng biết ơn này, họ trân trọng những gì mình có, sống hết mình và tận hưởng những niềm vui nhỏ bé và giản dị. Theo Robert A. Emmons, giáo sư ngành Tâm lý học của Đại học California cho rằng, những người cảm thấy biết ơn thường không chỉ hạnh phúc hơn mà còn có ích hơn, vị tha hơn và ít thực dụng hơn. Họ dễ dàng vượt qua những nghịch cảnh và hồi phục nhanh hơn sau tổn thương. /”BỘ SƠ CỨU” HYGGE/ Khi nhắc đến cảm giác hạnh phúc và ấm áp, danh sách dưới đây sẽ mang đến cho bạn một chút cảm hứng. “Bộ sơ cứu” này sẽ được sử dụng khi bạn cạn kiệt năng lượng và không muốn ra ngoài. Hay nói cách khác, bạn chỉ muốn ở một mình và tận hưởng trong không gian cá nhân của mình. Nến Một ít sôcôla hảo hạng Mứt Trà yêu thích Cuốn sách yêu thích Sổ tay Một tấm chăn ấm áp Một đôi tất len dễ chịu Bộ sưu tập những bức thư yêu thích Âm nhạc Khăn choàng Với những vật dụng như trên, bạn cũng có thể tạo cho một mình một không gian hyggelige (cảm giác hygge) hơn bao giờ hết. Còn gì tuyệt vời hơn khi nhâm nhi tách trà yêu thích trên chiếc ghế sofa, nghe những bản nhạc du dương và ngắm nhìn ra cửa sổ trong một buổi chiều mưa? /HYGGE WISHLIST:10 ĐIỀU KHIẾN CHO NGÔI NHÀ CỦA BẠN HYGGELIG HƠN/- THEO PHONG CÁCH ĐAN MẠCH 1/HYGGEKROG Hyggekrog có thể tạm dịch là “góc ẩn náu”. Đây là một góc trong phòng, nơi bạn thích được chui vào chăn cùng một cuốn sách, và một tách trà. Thường thì phong cách thiết kế của người Đan Mạch rất chú trọng vào nội thất sao cho ngôi nhà mang lại cảm giác hygge nhất có thể. Chốn hyggrekrog thường là sẽ ở cạnh cửa sổ, tuy nhiên không nhất thiết là phải như vậy. Hyggekrog có thể là một nơi có ánh sáng ấm áp, dịu nhẹ, cùng với chăn và gối, nơi bạn có thể thưởng thức trà và đọc một quyển sách yêu thích đã là quá hygge rồi. 2/ LÒ SƯỞI Lò sưởi là trái tim của hygge. Đây là nơi mọi người có thể ngồi cùng nhau thư giãn, tận hưởng những khoảnh khắc cùng gia đình và người thân. Chính cảm giác này lại mang đến sự ấm áp và cảm giác gần gũi cho tất cả mọi người. 3/ NẾN Như chúng ta đã biết, nếu không có nến thì sẽ không có hygge. 4/ NHỮNG THỨ LÀM TỪ GỖ Những nguyên liệu được làm từ gỗ luôn luôn mang lại cho người Đan Mạch một cảm giác đặc biệt. Gỗ khiến ta gần gũi hơn với thiên nhiên hơn. Các vật dụng làm bằng gỗ phổ biến như đồ chơi trẻ em bằng gỗ, một chiếc tủ gỗ, hay mặt sàn gỗ cũng đủ khiến cho chúng ta hygge rồi. 5/ THIÊN NHIÊN Ngoài gỗ ra, thiên nhiên đóng vai trò quan trọng trong việc tạo cảm giác hygge. Điều này hoàn toàn đúng khi nói đến những thiết kế nội thất, trang trí nhà cửa bằng những chậu cây xanh, một nhánh cây khô, lá cây, thậm chí là hạt cũng được người Đan Mạch mang vào nhà để làm vật trang trí. 6/ CHĂN & GỐI Chăn và gối là hai thứ nhất-thiết-phải-có trong bất cứ gia đình hygge nào, đặc biệt là trong những ngày đông lạnh giá. Cảm giác trùm lên một chiếc khăn thật là hyggelige đúng không nào? Vì văn hóa Bắc Âu yêu thích sự ấm áp và gần gũi, chính vì vậy có một vài chiếc gối trong nhà luôn là một ưu tiên hàng đầu. Còn gì tuyệt vời hơn việc dựa đầu lên một chiếc gối êm ái khi đọc cuốn sách yêu thích kia chứ?  7/ SÁCH Sách đóng vai trò quan trọng trong việc tạo cảm giác bình yên và ấm áp trong bất cứ gia đình hygge nào. Vào những ngày cuối tuần, người Đan Mạch thường dành thời gian gia đình và bản thân. Ngồi nhâm nhi tách trà và đọc một quyển sách hay thì còn gì tuyệt vời bằng. 8/ ĐỒ GỐM Một tách trà xinh xắn, một lọ hoa đơn giản trên bàn ăn, chiếc cốc yêu thích mà bạn hay dùng- tất cả đều hyggelig. 9/ ĐỒ VINTAGE Văn hóa Bắc Âu luôn nâng niu và giữ gìn những món đồ truyền thống. Họ yêu thích những món đồ cổ hay đồ vintage. Những đồ vật không đơn thuần là những vật dụng vô tri vô giác, mà chúng chứa đựng giá trị cảm xúc và câu chuyện riêng của mình. Chỉ cần chúng lưu giữ kỷ niệm và là những vật dụng truyền thống cũng đủ mang lại cảm giác ấm áp rồi. 10/ CẢM NHẬN BẰNG XÚC GIÁC Khi nói đến những cảm nhận bằng xúc giác thì chúng ta đang ám chỉ không chỉ là vẻ bề ngoài, mà còn là cảm giác với đồ vật nữa.  Để những ngón tay lướt qua những bộ lông cừu, hoặc một chiếc bàn gỗ lúc nào cũng có sự khác biệt so với những bề mặt thủy tinh hay nhựa. Vì vậy, hãy thử cảm nhận những cái chạm trong ngôi nhà của chính mình nhé. Lời kết Hành trình tìm kiếm hygge là hành trình khám phá ánh sáng, sự ấm áp và sự kết nối. Nó không phụ thuộc vào vật chất, mà liên quan đến không khí và trải nghiệm. Đó là cảm giác bên cạnh những người ta yêu mến, cảm giác an toàn và thân thuộc khi ở một nơi thân thuộc. Tuy bạn không thể đánh vần được hygge, nhưng bạn có thể cảm nhận nó. Hãy tự tạo cho mình cảm giác hygge trong bất kì hoàn cảnh nào nhé. Review chi tiết bởi: Tuyết Sơn- Bookademy Hình ảnh: Tuyết Sơn ----------------------------   Mời các bạn đón đọc Cảm Giác Hygge - Về Ánh Sáng, Sự Ấm Áp Và Những Điều Bí Mật của tác giả Meik Wiking & Thùy Chi (dịch).