Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Một Nụ Cười Nào Đó

Sau “Buồn ơi chào mi” vang dội rực rỡ, Françoise  Sagan cho ra mắt thuyết thứ hai “Một nụ cười nào đó” vào năm 1956, tiếp tục khẳng định tài năng và phong cách độc nhất vô nhị. Câu chuyện xoay quanh một cô sinh viên Luật đại học Sorbonne phải lòng một người đàn ông lớn tuổi đã có vợ, oái oăm thay lại là cậu ruột của người bạn trai. Một câu chuyện giản đơn, thậm chí là tầm thường với những nỗi buồn vặt vãnh, những ray rứt trẻ con, những nghi ngờ, khám phá về mặt tinh thần lẫn thể xác mà ở thời đại đó đã bị gán cho cái mác băng hoại đạo đức, khiêu dâm. Nhưng tiểu thuyết thứ hai này cho thấy một sự ngây thơ và dễ tổn thương mà “Buồn ơi chào mi” không có được. Hơn nữa, “Một nụ cười nào đó” đằm thắm hơn, cố chấp hơn với tình yêu  để rồi vỡ mộng hơn, nhưng là một vỡ mộng không tàn bạo mà dịu dàng như một bản nhạc. Nhân vật nam chính – một người đàn ông “mắt xám, trông mỏi mệt, gần như u buồn” – là người duy nhất làm cho cô gái hạnh phúc vì chỉ hai người họ mới giống nhau và chia sẻ cho nhau nỗi chán chường cố hữu của đời sống. Nhân vật nữ chính – trung tâm của cuộc tình tay tư – là một cô nàng vô ưu, lẳng lơ, có những lúc tự nhận bản thân vô sỉ, song từ đầu đến cuối luôn bị giày vò bởi nỗi cô đơn của một đời sống vô vị và nhàm chán. Mối quan hệ lén lút giữa Dominique và Luc sẽ không khiến hai người phải ray rứt và khổ đau như họ đã cảm thấy nếu, Françoise – vợ Luc không tỏ ra là một người phụ nữ ấm áp, dịu dàng và từ ái. Françoise luôn đối xử với Dominique như một người mẹ thương con, bởi vì bà cho rằng cô sinh viên ấy cùng một bản chất với chồng bà: họ là những kẻ có đôi chút bất hạnh cần được vỗ về. Ở cuối tác phẩm, Francoise vẫn không đổi thay trong lối cư xử và trong tình cảm với tình địch dù đã biết câu chuyện dan díu, nhưng chỉ bằng một câu nói, bà đã đập tan cái cố chấp của cô gái trẻ, khiến cô không còn gì ngoài tan nát… *** Một nụ cười nào đó – Françoise Sagan Một chút nỗi buồn cũng đáng giá hơn cả vạn niềm vui, bởi nó đọng lại, day dứt, dằn vặt con người ta quá nhiều, quá sức khủng khiếp. Sagan khi chỉ mới là nàng thiếu nữ chưa trải hết mọi sự đời đã kịp nắm bắt, rồi mô tả lại từng đường nét của nỗi buồn ấy một cách tinh tế và tỉ mỉ nhất có thể. Nếu trong tác phẩm đầu tay Buồn ơi chào mi gây chấn động văn đàn Pháp của mình, Sagan để cô tiểu thư mục ruỗng Cecile gọi tên nỗi buồn khá muộn màng thì tới cuốn sách thứ hai, ra đời chỉ hai năm sau đó, nỗi buồn một lần nữa quấn quýt không rời khỏi từng câu chữ, những lúc Dominique ngơ ngẩn, những khi cô ngắm nhìn mọi thứ xung quanh, những thứ không hề khơi gợi trong cô xúc cảm mãnh liệt nào, hay thậm chí cả tận khi cô khao khát được hồi đáp tình cảm từ nhân tình, người đàn ông với đôi mắt xám u buồn đã gây ấn tượng cho cô ngay buổi đầu gặp gỡ. Chưa từng có phút giây nào nỗi buồn không hiện diện trên trang giấy. Thậm chí tới hình hài của từng nhân vật cũng nhòa dần đi theo cảm giác buồn nản chán chường nhàn nhạt ấy. Ta chỉ còn mơ hồ nhận ra, Dominique hời hợt và dễ dãi, Luc già dặn và dịu dàng, Francoise lại quá đỗi đôn hậu cùng khoan dung, Bertrand tuy đôi phần xốc nổi nhưng vẫn khá rộng lượng. Các nhân vật của Sagan quẩn quanh trong một vòng tròn vốn đã mục ruỗng từ lâu, nơi mỗi cá nhân từ phóng khoáng tới phóng túng, hoặc hiền hòa tới đáng thương. *** TRỌN BUỔI CHIỀU CHÚNG TÔI NGỒI TRONG một quán cà phê đường Saint-Jacques, một buổi chiều mùa xuân như mọi buổi chiều khác. Tôi cảm thấy hơi buồn, buồn một cách khiêm tốn. Tôi đi đi lại lại từ chỗ để cái máy quay dĩa hát đến cửa sổ trong lúc Bertrand đang bàn cãi bài giảng của Spire. Tôi nhớ có một lúc, đứng tựa máy hát, tôi nhìn cái đĩa hát được từ từ nâng lên đến nằm nghiêng bên cây kim “xa-phia”, âu yếm tựa như ta áp má vào một ai. Và, không hiểu tại sao, lúc đó lòng tôi dạt dào hạnh phúc, tôi có trực giác tràn trề một ngày nào đó tôi sẽ chết, bàn tay tôi không còn đặt trên cái cạnh tủ mạ kền nầy nữa, mắt tôi không còn đựng ánh mặt trời. Tôi quay về phía Bertrand. Anh nhìn tôi, và khi thấy tôi mỉm cười anh đứng lên. Anh không chịu được sự tôi sung sướng riêng rẽ một mình, lúc nào cũng phải có anh bên cạnh. Những phút vui sướng của tôi phải chỉ là những lúc cần thiết cho cuộc sống tay đôi của chúng tôi. Điều này tôi cũng đã biết mập mờ từ lâu, nhưng hôm đó nghĩ tới, tôi không chịu được nên quay mặt chỗ khác. Dương cầm bắt đầu chơi bản Lone and Sweet, tiếng kèn cla-ri-nét tiếp sức tiếng đàn, tôi biết rõ từng hơi thổi một. Tôi gặp Bertrand trong mùa thi năm ngoái. Chúng tôi sống cạnh nhau trọn một tuần, cả hai cùng âu lo hồi hộp, sau đó tôi về nghỉ hè tại nhà ba má tôi. Đêm chót, khi chia tay, anh hôn tôi. Rồi anh gởi thư cho tôi. Ban đầu trong thư anh chỉ nói lơ là. Nhưng về sau, giọng thư đổi khác. Tôi theo dõi sự thay đổi đó của anh mà lòng không khỏi run, thành thử khi anh viết : “Tôi thấy sự tỏ tình nầy buồn cười, nhưng có lẽ tôi đã yêu em”, thì tôi có thể trả lời anh cũng bằng một giọng như thế, rất thành thật, không dối trá chút nào : “Sự tỏ tình của anh buồn cười đó, nhưng em cũng yêu anh”. Câu trả lời nầy đến với tôi một cách tự nhiên, hay nói đúng hơn đến với tôi như một tiếng vang. Vườn của ba má tôi nằm trên bờ sông Yonne, ở đó không có gì thú vị để tôi tiêu khiển. Tôi đi xuống bờ sông, nhìn những đám rong vàng uốn mình trên mặt nước rồi nhặt những miếng đá mỏng màu đen ném cho bay lướt trên mặt sông như một bầy chim én. Suốt mùa hè đó, tôi thì thầm gọi tên Bertrand và miên man nghĩ đến tương lai. Kể ra tôi cũng thích cái lối yêu nhau và viết cho nhau như thế. Bây giờ thì Bertrand đang đứng sau tôi. Anh đưa cho tôi cái ly đang uống, lúc quay lại người tôi sát vào người anh. Anh hay làm mặt giận khi thấy tôi tỏ ý lơ đãng không chú ý đến những cuộc thảo luận giữa anh và các bạn anh. Tuy thích đọc nhưng tôi lại không ưa bàn cãi văn chương. Anh không quen được với cái tánh đó của tôi. Anh nói : - Lúc nào em cũng cho nghe điệu nhạc cũ nầy. Nhưng không hiểu sao, anh lại thích. Em có thấy thế không. Câu chót nầy anh nói bằng một giọng bình thản làm tôi nhớ lại lúc mới quen nhau lần đầu hai đứa chúng tôi đã ngồi cạnh nhau để nghe cái đĩa đó. Bao giờ tôi cũng tìm thấy ở Bertrand những lối bộc lộ tình cảm kín đáo như thế, những cái mốc đánh dấu mối tình của chúng tôi, những cái mốc mà hiện giờ tôi không còn nhớ nữa. Đột nhiên tôi nghĩ : “Đối với mình Bertrand nào có nghĩa gì. Mình chán anh ta, mình dửng dưng với mọi sự; mình không là gì, hoàn toàn không là gì cả”. Rồi cũng chính cái cảm giác vô lý nầy đã xâm chiếm trọn tôi. Bertrand nói : - Anh phải đến thăm cậu anh, ông cậu giang hồ. Em đi với anh không ? Nói xong anh quay đi trước và tôi lẽo đẽo theo sau. Tôi không quen ông cậu Bertrand và cũng không muốn quen với ông ta. Nhưng trong tôi có một cái gì thúc giục tôi đi theo sau mớ tóc cắt gọn ghẽ của một chàng trai, có một cái gì khiến tôi hóa ra thụ động để ai muốn dắt đi đâu cũng được mà không cưỡng lại bao giờ. Có những ý nghĩ vụn vặt, lạnh buốt, trơn như những con cá nhỏ len lỏi trong đầu tôi. Lúc đó tôi cảm thấy mến Bertrand lạ. Hai đứa chúng tôi đi dài theo con đường lớn trong thành phố. Bước chân hai đứa ăn nhịp nhau không khác gì xác thịt hai đứa trong những đêm hai đứa yêu nhau. Bertrand cầm tay tôi. Chúng tôi hợp thành một cặp nhân tình mảnh mai, dễ yêu, giống như những cặp nhân tình trong tranh vẽ. Suốt lúc đi trên con đường lớn và suốt lúc đứng trên chiếc xe buýt đưa Bertrand và tôi đến gặp ông cậu giang hồ tôi thấy yêu Bertrand hết sức. Xe xóc, làm tôi ngả vào mình anh, anh cười, choàng tay qua lưng tôi ra dáng che chở. Tôi dựa vào áo anh, nép sát vào vai anh, đôi vai đàn ông cứng cáp rất tiện cho tôi ngả đầu vào. Tôi hít mùi thơm của người anh, mùi quen thuộc, mùi thơm đó làm tôi cảm động. Bertrand là mối tình thứ nhất của đời tôi. Nhờ anh tôi mới biết được mùi thơm của chính người tôi. Bao giờ cũng thế, phải nhờ đến thân thể của một người khác mình mới khám phá được thân thể của chính mình, khám phá cả chiều dài, cả mùi thơm của thân thể đó. Ban đầu với đôi chút ngờ vực, về sau với tất cả sự biết ơn. Bertrand đem những chuyện về ông cậu ra kể cho tôi nghe, coi bộ anh không ưa ông cậu anh cho lắm. Anh kể những chuyện buồn cười đã xảy ra trong cuộc đời rày đây mai đó của cậu anh. Bertrand có một tật xấu : anh thích moi móc những tấn hài kịch xảy ra trong đời thiên hạ đến nỗi lúc nào anh cũng hồi hộp e có ngày thiên hạ sẽ nhìn thấy được những khía cạnh mà anh không ngờ là có thể lố bịch của đời anh. Tôi thường chế nhạo anh về điểm nầy khiến anh nổi khùng vì tôi không ít. Ông cậu Bertrand ngồi chờ Bertrand dưới mái hiên một quán cà phê. Thoạt trông thấy ông ta tôi bảo ngay với Bertrand là ông ta có một bộ dáng không đến nỗi nào. Lúc chúng tôi đến gần ông kéo ghế đứng lên, Bertrand giới thiệu : - Cháu đến với một cô bạn, cô Dominique. Còn đây cậu Luc, ông cậu giang hồ. Tôi ngạc nhiên một cách thích thú. Tôi nói thầm : “Có thể lắm. Đúng là dáng điệu một nhà đại giang hồ”. Ông ta có đôi mắt màu nâu, một vẻ vừa buồn vừa mệt mỏi. Tóm lại, có thể nói ông ta khá đẹp trai. Bertrand hỏi : - Chuyến đi vừa rồi của cậu ra sao ? Vui chớ ? - Chán chết được. Đến Boston lại phải giải quyết một vụ thừa kế rất lôi thôi. Đi đâu cũng gặp toàn những loại thầy cãi gàn đến cái mực chết người. Chán lắm. Còn cháu ? Bertrand đáp : - Hai tháng nữa là bọn nầy thi cử đến nơi. Anh nhấn mạnh khi nói hai chữ “bọn nầy”. Chính điểm đó đã khiến các cô cậu sinh viên Sorbonne cảm thấy gần nhau như vợ với chồng. Họ nói đến thi cử âu yếm như nói đến một đứa con nhỏ. Ông cậu quay nhìn tôi : - Còn cô, cô cũng thi nữa chớ ? Tôi trả lời mơ hồ : - Dạ.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Vòng Tay Người Khác - Đào Hiếu
Ð ôi khi nhìn ra đường phố, thấy xe cộ dập dìu, tôi nghĩ: những người đi đường kia, thoạt nhìn có vẻ như là những cái bóng thoáng qua nhưng thực sự bên trong mỗi con người ấy là cả một thế giới bí ẩn mà ngoài người ấy ra không ai có thể hiểu nổi. Nếu không có một biến cố gì đặc biệt chẳng hạn như một tai nạn giao thông thì người ta làm sao có thể biết dưới đáy hộp đựng son phấn kia có một bức thư hẹn hò, làm sao người ta có thể biết trong ngăn tủ khóa kín kia có những phác thảo chân dung khỏa thân. Ðó chỉ là một vài thứ mà tôi có thể biết được. Còn biết bao nhiêu thứ khác đã được tiêu hủy đi, bao nhiêu thứ khác không để lại dấu vết. Hai người đã làm gì trong những cuộc hẹn hò kéo dài suốt hai năm trời? Thế thì mấy cô gái đang đi ngoài đường kia, trong túi xách của họ đựng những gì? Trong ngăn tủ của họ chứa những gì? Và trong tâm hồn họ, trong ký ức họ? Cả những người đàn ông nữa. Trước đây tôi vẫn nhìn con người một cách đơn giản theo đúng cái lối đánh giá nhân viên, lính lác của mình. Chẳng hạn như về ưu điểm có gì, khuyết điểm có gì, mặt mạnh của người đó là gì, mặt yếu là gì… Và suốt mấy năm làm giám đốc tôi đã không hiểu gì về tâm hồn của một con người. Tôi đã không hiểu gì về vợ tôi. Và tôi cũng chẳng hiểu gì về tay họa sĩ ấy. Bởi vì xưa nay tôi vẫn coi thường hắn. Người mà tôi nghi ngờ có quan hệ với vợ tôi lại là Ðặng Tài. Tôi thấy hắn theo tán tỉnh vợ tôi, mời vợ tôi đi nhảy đầm, đi ăn nhà hàng… Vậy mà hắn chỉ là gã nhân tình hạng nhì của Huệ. *** Đào Hiếu (sinh năm 1946), tên khai sinh: Đào Chí Hiếu. Các bút danh khác: Biển Hồ, Đào Duy. Hiện ông là hội viên Hội nhà văn Việt Nam. Đào Hiếu, sinh ngày 10 tháng 2 năm 1946 tại Tây Sơn, tỉnh Bình Định. Ông sớm gia nhập phong trào sinh viên cách mạng tại Quy Nhơn. Năm 1968 ông gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam. Năm 1970 ông bị bắt quân dịch và trở thành binh nhì sư đoàn 22 Quân lực Việt Nam Cộng hoà. Sau sáu tháng, ông trốn vào Sài Gòn bắt liên lạc với Tổng hội sinh viên hoc sinh để tiếp tục hoạt động chống Mỹ đến ngày 30 tháng 4 năm 1975. Ông tốt nghiệp cử nhân văn chương trước 1975 tại Sài Gòn. Từng làm phóng viên báo Tuổi Trẻ và Nhà xuất bản Trẻ. Hiện Đào Hiếu sống và viết tại TP. Hồ Chí Minh. Truyện dài Giữa cơn lốc, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 1978. Một chuyến đi xa, Nhà xuất bản Măng Non, 1984, nxb Trẻ 1994. Qua sông, Nhà xuất bản Văn Nghệ, 1986. Vùng biển mất tích, Nhà xuất bản Đồng Nai 1987. Vượt biển, Nhà xuất bản Trẻ 1988, 1995. Vua Mèo, Nhà xuất bản Trẻ 1989. Người tình cũ, Nhà xuất bản Văn Nghệ 1989. Kẻ tử đạo cuối cùng, Nhà xuất bản Trẻ 1989. Thung lũng ảo vọng, Nhà xuất bản Trẻ 1989. Hoa dại lang thang, Nhà xuất bản Văn Học 1990. Trong vòng tay người khác, Nhà xuất bản Tác phẩm Mới 1990. Kỷ niệm đàn bà, Nhà xuất bản Văn Nghệ 1990. Nổi loạn, Nhà xuất bản Hội Nhà Văn 1993. Lạc Đường (tự truyện), Nhà xuất bản Giấy Vụn 2008, Nhà xuất bản Kim Thư Production USA 2008. Tuyển tập Đào Hiếu (tập 1 và tập 2) Nhà xuất bản Kim Thư Production USA 12. 2009. Mạt lộ, Nhà xuất bản Lề Bên Trái (tự xuất bản)[1], 03. 2009. Truyện ngắn và tạp văn Bầy chim sẻ, Nhà xuất bản Văn Nghệ 1982. Những bông hồng muộn, Nhà xuất bản Trẻ 1999. Tình địch, Nhà xuất bản Trẻ 2003. Thơ Đường phố và thềm nhà, Nhà xuất bản Trẻ 2004. Mời các bạn đón đọc Vòng Tay Người Khác của tác giả Đào Hiếu.
Tiếng Gọi Từ Vì Sao Xa - Shinkai Makoto & Ooba Waku
“Noboru hai tư tuổi ơi,  Mikako mười lăm tuổi đây. Này, cho đến giờ, mình vẫn cực kỳ, cực kỳ thích Noboru đấy…” Bằng giọng văn tự sự, cam chịu mà đau thấu tim, Tiếng Gọi Từ Vì Sao Xa đẩy khoảng cách vật lý trong tình yêu tới cực hạn. Câu chuyện khởi đầu bằng cách đưa cô bé lên vũ trụ, còn cậu bé ở địa cầu. Không điện thoại, không tin nhắn, càng không thể gặp mặt, chỉ có những dòng email bay qua bay lại nhờ các trạm trung chuyển không gian. Những rung động đầu đời non thơ, ngây ngô nhưng đã vấp phải thử thách ghê gớm nhất về thời gian, không gian, lẫn biến đổi sinh học. Một ngày trên trời bằng cả năm dưới hạ giới… Câu miêu tả tưởng chừng hoang đường thường gặp trong truyện cổ bỗng trở thành hiện thực đối với họ, thậm chí còn khắc nghiệt hơn, vì một email gửi đi có thể tám năm sau mới nhận được, làm lỡ làng bao nhiêu tháng ngày tuổi trẻ tươi đẹp lẽ ra đã được dùng để vun đắp cho những rung động kia nảy nở tròn vẹn thành tình yêu. Đọc xong, ta sẽ nhận ra rằng, khoảng cách trái đất tới thiên hà có khi chẳng đến nỗi đáng sợ bằng khoảng cách giữa hai con tim. Không rõ tiếng lòng mình có được người thương đón nhận hay không, đó mới là điều đáng buồn nhất trong một mối tình. *** Tuy mới nhập ngũ, lại vừa qua Tuần lễ Vàng nhưng tôi vẫn muốn xin nghỉ phép thử xem sao. Có điều, việc bỏ tiền ra mua vé tàu con thoi về Trái đất bằng tháng lương đầu còm cõi mới khiến tôi đau đầu hơn cả. Tôi gần như đã quen với công việc của hạm đội, tuy vậy, từ sau chiến dịch cứu trợ Lysithea, tôi vẫn chưa được leo lên chiến hạm liên sao đời mới thêm lần nào, thay vào đó phải tiếp tục khóa huấn luyện trên căn cứ Mặt trăng. Theo lịch trình, tháng Sáu tới, tôi có thể bắt đầu làm việc trên tàu. Tương tự như các thành viên được tuyển chọn khác của hạm đội, Nagamine đã giải ngũ. Trước mắt, cô có thể ở nhà nghỉ ngơi suy ngẫm về những chuyện đã qua. Tuy vẫn muốn tiếp tục phục vụ hạm đội nhưng chỉ ngồi trên Tracer, cô mới thấy thỏa mái. Tổng tư lệnh đánh giá rất cao khả năng của Nagamine nên ông vẫn đang nỗ lực để giữ cô ở lại. Lúc gặp nhau. cô đang mặc đồng phục y tá. Cô từng nói với tôi, nếu có thể ở trong cùng một hạm đội thì cô làm y tá cũng tốt. Từ Agartha trở về, tuy chẳng có bằng cấp gì nhưng cô đã cố gắng giúp đỡ đội ngũ y bác sĩ và trên thực tế đã trải qua công việc này suốt bốn năm trời. Có lẽ cô nên đi học ngành Y để lấy bằng. Đó là một ý tưởng không tồi. ... Mời các bạn đón đọc Tiếng Gọi Từ Vì Sao Xa của tác giả Shinkai Makoto & Ooba Waku.
Nhân Ngư Công Chúa - Thẩm Thệ Hà
Thủy Tinh cung hôm nay tưng bừng, rực rỡ. Toàn dân rộn ràng tấp nập dự hội Mùa Xuân vừa là ngày lễ mừng Nhân Ngư công chúa vừa đến tuổi cập kê, theo tục lệ triều đình Thủy quốc. Xứ Thủy Tinh là một xứ của giống Nhân ngư một giống dân đầu người, mình người, đuôi cá, ở tận dưới đáy đại dương. Hoàng đế và Hoàng hậu vô cùng phúc hậu. Công chúa Nhân ngư được vua ban danh hiệu là Thủy Tinh công chúa. Nàng là một trang quốc sắc, không một mỹ nhân nào ở trần gian có thể so sánh được với nàng. Dân cư vui vẻ sống trong cảnh thái hòa. Tiếng trúc, tiếng tơ hòa với giọng hát mê hồn ngày ngày vang lên khắp nơi... Hôm nay là ngày Đại hội nên Công chúa trang điểm cực kỳ diễm lệ. Mái tóc huyền óng ả được điểm thêm những cánh hoa li ti đủ màu. Gương mặt xinh tươi, duyên dáng lạ thường, sáng rỡ như một viên ngọc trân châu, dịu hiền như một đài hoa còn phong kín nhụy. Đôi mắt long lanh tỏa ra một hấp lực huyền diệu, lại phảng phất vẻ tình tứ qua làm mi chớp chớp mơ màng. Nụ cười tươi thắm thỉnh thoảng điểm trên làn môi mọng đỏ. Theo phong tục của loài Nhân ngư, mặc dầu là Công chúa, nàng không vận xiêm y kín đáo như người trần, cho nên nhan sắc của nàng càng mơn mởn tuyệt vời trong dáng dấp yểu điệu, ngây thơ. Hoàng đế ngự trên một cái ngai bằng san hô, mã não. Bên cạnh ngài, Hoàng hậu uy nghiêm ngồi trên một chiếc ghế bằng vàng. Công chúa khép nép đứng bên, tựa mình bên tay ghế của Mẫu hậu. Trước sân rồng, các hàng văn ban võ bá phân ngôi thứ ngồi hai bên, chờ đợi thưởng thức cuộc trình diễn nghệ thuật của đoàn vũ nhạc hoàng gia. ... Mời các bạn đón đọc Nhân Ngư Công Chúa của tác giả Thẩm Thệ Hà.
Một Thời Đang Qua - Nhật Tiến
Ở ngoài đời, tôi chưa bao giờ gặp Nhật Tiến. Điều này, nếu đối vớí cá nhân tôi có thể được xem là một sự thiệt thòi thì trái lại, đối vớí tác phẩm có khi lại là một điều hay: tôi không có cách nào khác hơn là đến với anh qua tác phẩm. Tuy chưa được gặp anh song Nhật Tiến trong Văn Học Việt Nam thì không phải là một ai xa lạ. Sau khi bước vào văn đàn với truyện dài Những người áo trắng (1959) và nhất là Những vì sao lạc (1960) nói về những trẻ "bụi đời" có cả mười mấy, hai chục năm trước khi có từ ngữ sau này, anh đã, ở tuổi 25, đạt tới được một vinh dự không nhỏ là được Giải thưởng Văn chương Toàn quốc cho hai năm 1961-1962 vì truyện Thềm Hoang do nhà xuất bản Đời Nay của Nhất Linh in ra năm 1961. Là người yêu văn học, từ đó không ai là không để ý đến những tác phẩm gần như năm nào Nhật Tiến cũng có mặt để đóng góp vào văn học miền Nam tự do. *** Những Chặng Đường Văn Học Của Nhật Tiến N gười ta để ý đến anh không phải vì anh viết nhằm vào cái sôi nổi, như Chu Tử với những Loạn, Ghen, Yêu của ít năm sau đó hay Hoàng Đông Phương (tức Nguyễn Thị Hoàng) của Vòng tay học trò hoặc Lệ Hằng của những năm 70. Người ta cũng lại không để ý đến anh vì anh đi tìm cái mới như Thanh Tâm Tuyền hay thử nghiệm nhiều như Bùi Giáng, Phạm Thiên Thư trong thơ. Người ta tìm đọc Nhật Tiến vì anh rất "cổ điển", cổ điển không thua gì những bậc đàn anh (và cả đàn chị) như Nhất Linh và Nguyễn Thị Vinh, những người đầu tiên đã nhìn ra văn tài của anh và khuyến khích anh trên con đường sự nghiệp. Ở anh nổi bật lên những đức tính như một lòng thương xót bao la dành cho những kẻ xấu số trong xã hội, một con mắt thật tinh đời nhưng không ác ý, một trái tim ôn hòa nhưng không phải không biết phẫn nộ, một con ngườỉ thuần túy dành cho giáo dục (kể cả giáo dục có bề ngoài hình thức như ở trong học đường lẫn giáo dục tưởng như không có hình thức như báo chí, tiểu thuyết, truyền thanh, truyền hình... ). Người ta, do đó, tìm ở Nhật Tiến một cái gì chân thật, một lương tâm xã hội đôi khi có thể xem là hơi lý tưởng quá nhưng lúc nào cũng đầy một lòng trìu mến đối vớỉ tuổi thơ (như trong Chim hót trong lồng, Chuyện bé Phượng, hay Tay Ngọc), đối với những người dân lành bị kẹt vào trong một cuộc chiến thảm khốc mà họ không có đủ trí tuệ hay hiểu biết để tách bạch, phân tích các vấn đề (điển hình như những truyện dài Giấc ngủ chập chờn hay Quê nhà yêu dấu, viết vào trong những giờ phút khốc liệt ngay theo sau trận Mậu Thân). Ở trong một khung cảnh chiến tranh mà nhiều khi ta cảm thấy như bị bẫy, không trách có người cảm thầy mình điên lên được, không trách có người điên thực sự như trong truyện ngắn "Tặng phẩm của dòng sông", một trong những truyện ngắn hay nhất của anh và được lựa chọn vào trong tuyển tập Những truyện ngắn hay nhất của quê hương do nhà xuất bản Sống in ra ở Saigon năm 1973. Ở Nhật Tiến có nhiều con người xa lạ, tưởng không bao giờ có thể gặp nhau trong một người. Từ ngày trưởng thành, là một sinh viên di cư vào Nam, anh trong căn bản là một nhà giáo. Ra đời, anh đi dạy tư ở Mỹ Tho, nơi đây anh gặp Truơng Cam Vĩnh. Đời sống tỉnh lẻ, anh không biết làm gì hơn là ngồi viết văn – trước hết là cho mình, chưa dám nói là cho ai khác vội. Rồi một cơ may (qua sự giới thiệu của anh Trương Cam Vĩnh) anh đã đến với Nhất Linh, và từ đó anh trở thành một tác giả có sách xuất bản. Hỏi anh có làm gì về văn chương trong khung cảnh học đường không? "Thưa không, tôi dạy Toán, Lý, Hóa...." Cho đến tận những năm cuối cùng trước khi miền Nam sụp đổ, anh vẫn làm nghề ‘‘gõ đầu trẻ" và trong đám "trẻ" này đôi khi cũng có cả những ông bà trung niên được anh luyện thi mà nhiều người không hề bao giờ biết là anh viết văn. "Tôi không bao giờ nói về văn chương ở trong lớp cả", anh tuyên bố. Anh dạy từ khi mới vào đời, anh dạy từ trong thời gian dài làm báo, viết văn, anh dạy tư thêm trong lúc bị động viện, ở trong quân đội, anh dạy cả sau khi Cộng sản vào thành. Nói tóm lại, ở trong anh từ trước đến sau là một nhà giáo. Nhưng là vì anh dạy tư suốt đời nên khi Cộng sản vào, anh cũng không phải đi học tập gì nhiều. Anh chỉ phải theo có một đợt học tập ngắn ngày dành cho diện các văn nghệ sĩ (lần đó anh đi có cả Thái Thanh, Phạm Đình Chương, Lệ Hằng, Nguyên Thị Hoàng v...v... bị gọi đi cùng). Và cũng vì người ta, cả xã hội chung quanh anh nhìn anh là một "ông thầy" dậy trẻ nên không ai nỡ tâm khai anh đã từng là giảng viên trong quân đội, Cục Chính Huấn. (Có ai ở trong hoàn cảnh này mới rõ được lòng yêu mến, tình bao bọc của đồng bào là quý đến chừng nào !) Mãi đến năm 78 anh mới thôi dạy học vì trong một xã hội Cộng sản, dạy học dầu là Toán, Lý, Hóa....mà không được dạy theo ý mình, phải theo giáo án, phải theo chỉ thị, phải theo yêu cầu chính trị của Nhà nước và Đảng thì quả là hơn một cực hình. Anh chị Nhật Tiến quay ra mở quán cà phê. Ta hãy nghe Mai Thảo nói về anh trong giai đoạn này: "Một buổi chiều Saigon, ít ngày sau khi 30 tháng tư 1975, ngồi sau chiếc xe gắn máy của Duyên Anh, cũng tác giả Ngựa Chứng Trong Sân Trường dạo quanh một vòng trên những phố phường tan hoang của thành phố vừa đổi chủ, tôi bổng nhìn thấy Nguyễn Thụy Long trên một khúc vì hè ở khu đại học Duy Tân. Long ngồi sau một cái quán lộ thiên mọc lên như nấm ở Saigon lúc đó. Tác giả Loan Mắt Nhung đang nhậu, mặt mày đỏ sậm, kính trắng dầy cộm. Và cạnh đó, là một quán hàng khác, với Nhật Tiến, Nhật Tiến không nhậu, không nhậu bao giờ, đang lụi hụi với một chậu nước và một chồng bát đũa nhớp cạnh một gốc cây. Cái cảnh tượng đập vào mắt tôi lúc đó, về hai cái quán liền sát, cũng ở trước một vi tường thấp chạy dài, là cái cảnh tượng của một đối nghịch hoàn toàn. Mang chung sự thất thế của văn nghệ gác bút ra đường bán quán trước hoàn cảnh mới, cái quán của Nguyễn Thụy Long với những xị đế ngổn ngang trên mặt bàn và mấy người khách hàng trẻ tuổi cũng ngất ngưởng như Long, hiện rõ vẻ bụi đời anh chị. Cái quán của Nhật Tiến khác hẳn. Nó lành mạnh hơn và cũng gia đình hơn gấp bội, với những đĩa rau muống chẻ nhỏ đặt ngay ngắn, bên cạnh là một chảo mỡ sôi bắn khói bốc xanh um, chị Nhật Tiến má hồng củi lửa chiên những cái bánh tôm vàng ngậy và đứa cháu lớn, nơ cài mái tóc, váy xếp chững chạc đang phụ một tay với ông bố nhà văn. Nhìn Long một bên, Tiến một bên, cũng đã lăn cả ra với sương nắng thời thế với gió bụi hè đường, cũng đã trở thành hai ông chủ quán tài tử bất đắc dĩ mà quán bạn là quán bạn, quán tôi là quán tôi, bạn anh chị bụi đời, tôi gia đình nghiêm chỉnh, tôi đã nhìn thấy một lần nữa, và lần đó là lần cuối cùng, điều tôi yêu thích và tự hào nhất cho văn nghệ miền Nam 20 năm, là cái trạng thái đa diện và đa dạng không bao giờ đồng dáng và đồng tính. Đó là cái thế giới văn nghệ của mỗi người một trời mình, mỗi kẻ một biển mình. Đó là vùng đất đai văn nghệ của mỗi người một non sông, mỗi người một sông núi. Cái không đồng dáng, không đồng phục nơi mỗi người trước bàn viết cũng như trong đời sống ấy, lại là điều văn nghệ miền Bắc đổ khuôn và con số thù ghét nhất. Và bởi vì thù ghét nhất nên muốn triệt hủy nhất. Đó cũng chính là nguyên nhân của đại nạn đã tới với mọi ngành văn học nghệ thuật muôn nghìn hình vẻ của ta. Và đương nhiên là đại nạn ấy cũng đã đến với Nguyễn Thụy Long và Nhật Tiến. Nhớ hôm đó, tôi và Duyên Anh đã ngưng xe lại. Đã vào ngồi xuống mấy cái ghế đẩu thấp. Đã lên tiếng ca ngợi cái tinh thần quả cảm của gia đình Nhật Tiến, hàng ngày từ thật xa cổng xe lửa số sáu xuống, vui vẻ nhập được tức khắc vào nếp sinh hoạt mới ở quanh mình. Nhớ lời hôm đó, chúng tôi đã ăn ủng hộ Thềm Hoang Quán mỗi người một đĩa bánh tôm, rất ngon, và tôi đã hỏi đùa Nhật Tiến: - Rửa bát thạo ngay. Giỏi nhỉ? Và Nhật Tiến đã cười nụ cười bình thường, chừng mực, nụ cười hơi già trước tuổi một chút của một nhà giáo. Nhật Tiến bao giờ cũng trước hết xác nhận mình là một nhà giáo: - Giỏi quỷ gì. Việc làm thì phải làm. Để cho ai đây (Trích Văn số 6, tháng 12,1982) ***   H ồi nhỏ, khi còn cắp sách đi học ở lớp nhất trường Hàng Vôi, ngày nào tôi cũng có dịp đi qua nhiều khu phố tráng lệ ở Hà Nội. Tôi học lớp chiều và hay đi học sớm vì có thói quen la cà chỗ này, chỗ kia. Qua phố Hàng Trống, tôi hay đứng tại tòa báo Giang Sơn hay Liên Hiệp để đọc những tiểu thuyết in từng kỳ trên tờ báo ra trong ngày, được tòa soạn treo trước cửa ở khu cho người qua lại xem tự do. Qua phố Hàng Khay, tôi hay đứng lại ở khu chợ Hoa ven bờ hồ ngắm nhìn những bông hồng, bông cúc hay glaïeul phô những mầu sắc rực rỡ trên những nền đá xanh biếc. Nhưng điều mà tôi ghi nhớ sâu xa nhất vẫn là bức hình chân dung được trưng bầy tại một tiệm ảnh có tên là Dung Photo ở ngay trên Phố Bờ Hồ. Tôi không phải là loại người say mê nghệ thuật chụp ảnh. Tôi cũng không quan tâm đến những bức hình chụp phong cảnh hay tĩnh vật trưng bầy ở hai bên tủ kính lồng trong những khung cảnh đẹp đẻ mỹ thuật. Tôi chỉ chú ý, hay nói đúng hơn bị thu hút bởi mỗi một tấm chân dung chụp hình một thiếu nữ. Nàng là ai, tên là gì, tôi chẳng đủ số tuổi mơ mộng để quan tâm nhưng thực sự tôi đã bị lôi cuốn bởi đôi mắt đó, vầng trán đó, mái tóc đó và nụ cười đó. Người thiếu nữ trong hình còn rất trẻ, chỉ trạc khoảng mười lăm, hay mười sáu, cái số tuổi chưa làm cho đôi mắt trong veo kia vương vấn một nét buồn, cho nụ cười kia vẫn còn mang đầy vẻ hồn nhiên, vô tư và duyên dáng như những búp hồng mới nở ? Hôm đầu tiên bức ảnh chân dung được bầy ra trong tủ kính, tôi đã chiêm ngưỡng một cách sững sờ?. Rồi kể từ đó, không ngày nào đi qua mà tôi lại không đứng lại, nhìn, ngắm, ghi gói từng chân tóc, từng kẽ mày, từng những nốt đen lốm đốm trên giấy ảnh ở vành môi của nàng, ở khóe mắt của nàng, ở hàm răng trắng nuốt có một cái răng khểnh rất xinh, rất nghịch ngợm và đầy vẻ hồn nhiên, vô tư của nàng. Thời gian si mê bức chân dung ấy kéo dài có đến trên bốn năm. Bốn năm trời trôi qua, bức ảnh ấy vẫn còn tồn tại ở đó, trong khung kính sáng lòa, ở vị trí chính giữa, thuận tiện cho khách qua lại bên đường ghé lại nhìn ngắm và hầu như chủ nhân của tiệm Dung Photo cũng đắc ý với tác phẩm của mình nên không chịu thay đổi đi mặc dầu những hình ảnh phong cảnh khác cứ vài tháng lại được thay đổi một lần. ... Mời các bạn đón đọc Một Thời Đang Qua của tác giả Nhật Tiến.