Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Tuổi Già Tập 1 - Simone de Beauvoir

Simone de Beauvoir (1908 - 1986) là nhà văn, nhà triết học và một nhà đấu tranh cho nữ quyền người Pháp. Là một nhà văn từng được giải Goncourt nhưng cũng là một học giả uyên bác, các tác phẩm của bà được lấy cảm hứng từ chính cuộc đời mình đồng thời đầy ắp các dữ kiện khoa học, lịch sử, thống kê… Hai tác phẩm non-fiction được biết ở Việt Nam nhiều nhất của bà là Giới tính thứ nhì và Tuổi già. Giới tính thứ nhì (xuất bản năm 1949), được xem là một trong những quyển sách hay nhất của thế kỷ 20, là một cuốn bách khoa toàn thư về các giai đoạn của cuộc đời phụ nữ từ lúc sinh ra, dậy thì, lấy chồng, làm mẹ; đồng thời vạch ra con đường giành quyền lợi cho nữ giới. Với tác phẩm này, bà được xem là “Bà mẹ của phong trào nữ quyền". Tuổi già được viết lúc Beauvoir hơn 50 tuổi, mô tả chi tiết cuộc sống của người già và đấu tranh giành quyền cho họ. Người ta chỉ có thể hiểu được thân phận người già khi ở tuổi đó. “50 tuổi, tôi giật nảy mình khi một nữ sinh viên Mỹ kể lại với mình câu nói của một cô bạn: "Nhưng Simone de Beauvoir là một bà già chứ sao!" Cả một truyền thống dồn cho từ ngữ này một cái nghĩa xấu; nó vang lên như một lời thoá mạ. Vì vậy, người ta phản ứng, thường bằng giận dữ, khi nghe người khác bảo mình già. Tôi có biết nhiều người phụ nữ được biết tuổi tác của mình một cách khó chịu qua một kinh nghiệm giống như kinh nghiệm Marie Dormoy: một người đàn ông, bị vẻ trẻ trung của hình bóng bà đánh lừa, đi theo bà trên đường phố; đến khi đi vượt qua bà và trông thấy gương mặt bà, thì thay vì bắt chuyện, ông ta rảo bước.” "Bạn có biết khuyết tật nào lớn nhất trong các khuyết tật không? Đó là tuổi trên 55" – Tourgueniev. Vào tuổi 55, Trotsky phàn nàn người mệt mỏi, mất ngủ, hay quên; ông có cảm giác sức lực sút kém; và lo lắng. Ông gợi lại quá khứ: "Anh buồn bã nhớ lại tấm ảnh của em, tấm ảnh của chúng ta, trong đó chúng ta trẻ trung biết chừng nào”. Già đi – đó là một điều không thể tránh khỏi và cũng là một quá trình chấp nhận đầy đau đớn. "Wagner kinh hãi thấy mình già đi, 80 tuổi, ông viết: “Hình hài tôi làm người ta khiếp sợ và khiến tôi u sầu một cách xót xa”. Sự suy sụp về thể chất khiến người già không còn có thể tham gia sản xuất hay xây dựng, do đó họ bị xem như gánh nặng, phải phụ thuộc vào người khác. Beauvoir viết về những trại dưỡng lão ở ngoại ô Paris với những người già như bị xã hội bỏ quên, sống mòn mỏi chờ đợi những cuộc viếng thăm của con cháu. Theo Beauvoir, đối đãi công bằng với người già là cách ứng xử có trước có sau mà nếu khác đi là làm lung lay gốc rễ của xã hội hiện đại. *** Khi còn là thái tử Siddharta, bị vua cha nhốt trong một tòa lâu đài tráng lệ, nhiều lần Thích Ca trốn đi dạo chơi bằng xe ngựa trong vùng. Trong lần dạo chơi đầu tiên, thái tử gặp một người tàn tật, tóc bạc, răng rụng, da nhăn nheo, cúi gập người trên một cây gậy, miệng lập cập, hai tay run rẩy. Chàng lấy làm ngạc nhiên và người xà ích giải thích đó là một ông già. Thái tử liền thốt: “Những kẻ hèn yếu và dốt nát, chuếnh choáng vì niềm kiêu hãnh của tuổi trẻ, không thấy được tuổi già. Khốn khổ biết chừng nào! Hãy trở nhanh về nhà thôi. Các trò chơi và niềm vui mà làm gì, vì ta là nơi ẩn náu của tuổi già mai sau”. Qua một ông già Thích Ca nhận ra số phận của chính mình, sinh ra để cứu vớt loài người, Thích Ca muốn chia sẻ hoàn toàn với số phận của họ. Và về điểm này, Người khác họ: họ lẩn tránh những gì không làm họ vui lòng. Và đặc biệt là tuổi già. Châu Mỹ đã loại trừ ra khỏi từ vựng của họ từ: người chết: mà chỉ nói người khuất bóng thân yêu; cũng giống như vậy, họ tránh liên hệ tới tuổi già. Ở nước Pháp ngày nay, đó là một đề tài cấm kỵ. Khi bắt buộc phải vi phạm điều cấm kỵ ấy, tôi đã bị người ta la ó! Chấp nhận mình đã bước vào ngưỡng cửa của tuổi già, tức là cho rằng nó rình rập tất cả mọi người phụ nữ, rằng nó đã tóm cổ nhiều người. Với thái độ dễ thương hay giận dữ, nhiều người, nhất là người già, không ngớt nhắc đi nhắc lại với tôi rằng làm gì có tuổi già! Có những người không trẻ bằng những người khác, chỉ thế thôi! Đối với xã hội, tuổi già xuất hiện như một điều bí ẩn đáng xấu hổ, mà nói tới là điều khiếm nhã. Trong mọi lĩnh vực, văn học viết rất nhiều về phụ nữ, về trẻ em, về thiếu niên; ngoài các công trình chuyên môn, người ta rất ít ám chỉ tới tuổi già. Một tác giả băng hoạt hình đã phải làm lại cả một loạt tác phẩm vì trước đó ông ta đã đưa vào trong số các nhân vật một cặp vợ chồng đáng tuổi làm ông làm bà: “Hãy loại bỏ người già đi!” - người ta hạ lệnh cho ông ta[1]. Khi tôi nói mình viết một cuốn tiểu luận về tuổi già, người ta thường thốt lên: “Sao lại kỳ thế!... Bà đâu có già!... Đề tài ấy, ngán lắm...” Chính vì lý do ấy mà tôi viết cuốn sách này: để phá tan sự đồng tình im lặng. Theo Marcuse, xã hội tiêu thụ đem một ý thức tốt đẹp thay thế cho ý thức xấu xa và bài xích mọi ý nghĩ tội phạm. Cần khuấy động sự yên ổn của nó. Đối với người có tuổi, nó chẳng những là phạm tội, mà còn là một tội ác. Ẩn náu phía sau các huyền thoại bành trướng và phong túc, nó cho người già là những kẻ khốn cùng. Ở Pháp, nơi tỷ lệ người già cao nhất thế giới - 12% dân số trên 65 tuổi - họ bị dồn vào cảnh khốn cùng, cô đơn, tàn tật, thất vọng. Ở Mỹ, số phận của họ cũng không sung sướng hơn. Nhằm dung hòa sự man rợ này với thứ đạo lý nhân văn chủ nghĩa mà họ thuyết giáo, giai cấp thống trị có cách đơn giản là không xem họ là những con người; nếu nghe tiếng nói của họ, người ta bắt buộc phải thừa nhận đó là một tiếng nói của con người; tôi sẽ buộc độc giả của mình nghe tiếng nói ấy. Tôi sẽ miêu tả hoàn cảnh của họ và cách họ sống; tôi sẽ nói những gì diễn ra thực sự trong đầu óc và trong con tim họ - những thứ bị dối trá, huyền thoại và những lời sáo rỗng của nền văn hóa tư sản xuyên tạc. Vả lại, thái độ của xã hội đối với họ mang tính chất đồng lõa sâu sắc. Nói chung, xã hội không coi tuổi già là một lớp tuổi rõ rệt. Cuộc khủng hoảng về tuổi dậy thì cho phép vạch ra giữa một thiếu niên và người trưởng thành một đường ranh giới chỉ mang tính võ đoán trong những giới hạn chật hẹp; ở tuổi 18, 21, thanh niên được chấp nhận vào xã hội con người. Hầu như bao giờ xung quanh sự thăng tiến ấy cũng có những “nghi thức chuyển giai đoạn”. Còn thời điểm bắt đầu tuổi già thì không được xác định rõ rệt, nó thay đổi theo từng lúc, từng nơi. Không ở đâu, người ta bắt gặp “nghi thức chuyển giai đoạn” thiết lập một quy chế mới[2], về chính trị, suốt đời, cá nhân giữ nguyên những quyền lợi và nghĩa vụ giống nhau. Luật Dân sự không mảy may phân biệt giữa một cụ già trăm tuổi và một người tuổi bốn mươi. Các nhà làm luật cho rằng ngoài những trường hợp bệnh lý ra, trách nhiệm hình sự của người có tuổi cũng hoàn toàn đầy đủ như của thanh niên[3]. Trong thực tiễn, người ta không coi họ là một lớp người riêng, vả lại, họ cũng không muốn như vậy; có sách, báo, sân khấu, những buổi truyền hình và truyền thanh dành cho trẻ em và thiêu niên: còn đối với người già thì không[4]. Trên tất cả những bình diện này, người ta đồng hóa họ với lớp người lớn tuổi trẻ hơn. Nhưng khi quyết định quy chế kinh tế của họ, hình như người ta cho là họ thuộc một lớp người xa lạ: họ không có những nhu cầu cũng như những tình cảm giống như những người khác, nếu chỉ cần ban cho họ một chút bố thí khốn khổ là cảm thấy hết nợ đối với họ. Các nhà kinh tế học, các nhà làm luật tin vào cái ảo ảnh thuận tiện ấy khi phàn nàn cái gánh nặng những người không hoạt động gây nên cho những người hoạt động: như thể những người này không phải là những người không hoạt động trong tương lai và không bảo đảm chính ngày mai của mình trong lúc xây dựng việc nhận lấy trách nhiệm đối với những người có tuổi. Còn các nhà hoạt động công đoàn thì không nhầm lẫn: khi đưa ra những đòi hòi, bao giờ họ cũng coi trọng vấn đề hưu trí. Những người già không tạo nên một lực lượng kinh tế nào thì không có cách gì để đòi hỏi quyền lợi của mình: lợi ích của những kẻ bóc lột, là tiêu diệt tình đoàn kết giữa người lao động và người không sản xuất, sao cho không một ai bênh vực những người này. Những huyền thoại và lời sáo rỗng theo tư duy tư sản tìm cách chỉ ra một con người khác trong người già. “Chính với những thiếu niên sống khá nhiều năm mà cuộc đời tạo nên lớp người già” - Proust từng nhận định như vậy - họ giữ lại những nết tốt và những tật xấu của con người trong họ. Điều đó, dư luận không muốn biết tới. Nếu biểu thị những ham muốn, những tình cảm, những đòi hỏi giống như những người trẻ tuổi, thì người già làm người ta công phẫn; ở họ, tình yêu nam nữ, lòng ghen tuông hình như là bỉ ổi hay lố bịch, còn tình dục thì đáng ghê tởm và bạo lực thì chẳng có nghĩa lý gì. Họ phải là tấm gương về mọi đức tính. Trước hết, người ta đòi hỏi ở họ sự thanh thản; người ta khẳng định họ có lòng thanh thản ấy, nên cho phép người ta không quan tâm tới nỗi bất hạnh của họ. Cái hình ảnh người ta tô vẽ về họ là hình ảnh một nhà Hiền triết trong ánh hào quang của một mái tóc bạc trắng, giàu kinh nghiệm và khả kính, vượt lên rất xa thân phận con người; nếu rời khỏi hình ảnh ấy, là họ rơi xuống phía dưới; cái hình ảnh đối lập với hình ảnh trên đây, là hình ảnh một lão già điên lẩm cẩm, lố lăng, bị trẻ em chế giễu. Dẫu sao, do đức độ hay do sự đê tiện của họ, họ ở ngoài nhân loại. Vì vậy, người ta có thể không ngại ngần khước từ đối với họ những gì tối thiểu được coi là cần thiết cho một cuộc sống con người. Người ta đẩy xa sự loại thải này tới mức làm cho nó quay trở lại chống chính bản thân mình; người ta sẽ không công nhận bản thân mình trong hình ảnh ông già mà chính mình là ông già đó. Proust nhận xét một cách xác đáng: “Trong mọi hiện thực, (tuổi già) có lẽ là hiện thực mà chúng ta giữ lại một khái niệm thuần túy trừu tượng lâu bền nhất trong đời”. Tất thảy mọi người đều khả tử: họ nghĩ tới điều đó. Nhiều người trong số họ trở thành người già: hầu như không một ai hình dung trước sự biến đổi ấy. Người ta không chờ đón, không dự kiến một cái gì khác ngoài tuổi già. Khi được hỏi về tương lai của họ, thanh niên, nhất là nữ thanh niên, cho đời mình kéo dài nhiều nhất đến tuổi 60. Một số cô gái bảo: “Em không chờ đến ngày ấy, em sẽ ra đi trước đó”. Và thậm chí, một vài cô nói: “Em sẽ tự sát trước ngày ấy”. Người trưởng thành hành động như thế không bao giờ phải trở thành người già. Thông thường, người lao động kinh hoàng khi điểm giờ nghỉ hưu: thời hạn nghỉ hưu vốn đã được ấn định trước, người đó biết thời hạn ấy, nhẽ ra họ phải chuẩn bị sẵn. Sự thật là sự hiểu biết ấy vẫn xa lạ đối với họ cho tới giây phút cuối cùng - trừ phi nó thực sự mang tính chất chính trị. Đến ngày đó, và khi đã bước tới gần, thông thường, người ta thích tuổi già hơn là cái chết. Tuy vậy, đứng cách xa, người ta xem xét cái chết sáng suốt hơn cả. Cái chết nằm trong phạm vi những khả năng trực tiếp của chúng ta, uy hiếp chúng ta ở mọi lứa tuổi; có lúc chúng ta suýt chết; thông thường, chúng ta sợ chết. Con người ta không trở nên già nua trong chốc lát; ở tuổi thanh niên hay lúc tráng niên, chúng ta không nghĩ là tuổi già tương lai đã tiềm ẩn trong con người mình như Thích Ca: tuổi già ấy cách xa chúng ta tới mức khoảng cách ấy lẫn lộn trước mắt mình với sự vĩnh hằng: tương lai đối với chúng ta như thể phi hiện thực. Vả lại, cái chết không là gì cả; người ta có thể cảm thấy một nỗi bàng hoàng siêu hình trước cái hư vô ấy, nhưng bằng một cách nào đó, nó làm người ta yên lòng, nó không đặt thành vấn đề. “Ta sẽ không còn nữa”. : ta giữ hình tích của mình trong sự tiêu vong ấy[5]. Ở tuổi 20, hay 40, tôi nghĩ mình già, tức là nghĩ mình là người khác. Trong mọi sự biến đổi, đều có một cái gì đó khủng khiếp. Ở tuổi ấu thơ, tôi bàng hoàng, và thậm chí kinh hoàng khi hiểu ra sẽ có ngày mình sẽ trở thành người lớn. Nhưng ý muốn mình vẫn là bản thân mình, thường được bù đắp ở buổi thiếu thời bởi những lợi thế của quy chế người trưởng thành. Còn tuổi già thì xuất hiện như một nỗi bất hạnh: ngay cả ở những người mà người ta cho là vẫn giữ được vẻ quắc thước, sự suy sụp về thể chất mà tuổi già kéo theo cũng vẫn lồ lộ trước mắt. Vì ở loài người, sự đổi thay do năm tháng là nổi bật nhất. Loài vật thì gầy đi, yếu đi, nhưng không biến đổi. Còn con người thì có. Người ta se lòng khi nhìn thấy bên cạnh một thiếu phụ trẻ, phảng phất trong gương hình ảnh chính mình những năm tháng sau này: tức là mẹ mình. Theo Lévi-Strauss, người Da đỏ Namblikwara chỉ có một từ để nói “trẻ và đẹp” và một từ để nói “già và xấu”. Trước hình ảnh người già gợi ý với chúng ta về tương lai của mình, chúng ta không tin; một tiếng nói nội tâm thầm thì một cách phi lý với chúng ta rằng điều đó sẽ không đến với mình: sẽ không còn là chúng ta nữa khi điều đó xảy tới. Trước khi nó ập xuống chúng ta, tuổi già là cái chỉ liên quan tới ngườl khác. Vì vậy, có thể hiểu vì sao xã hội có thể khiến chúng ta không coi người già là đồng loại của mình. Thôi, chúng ta đừng tự lừa dối mình nữa; ý nghĩa cuộc sống chúng ta nằm trong tương lai đang đón đợi mình; chúng ta không biết mình là ai, nếu không muốn biết mình sẽ là người thế nào: chúng ta hãy tự nhận biết mình ở ông lão kia, ở bà già nọ. Cần phải như vậy nếu chúng ta muốn đảm nhận thân phận con người của mình một cách trọn vẹn. Chỉ có như vậy, chúng ta mới không còn chấp nhận một cách thờ ơ nỗi bất hạnh của lứa tuổi cuối cùng, chúng ta sẽ cảm thấy mình ở trong cuộc: và quả chúng ta ở trong cuộc. Nỗi bất hạnh ấy tố cáo một cách vang dội chế độ bóc lột chúng ta đang sống. Người ta không thể tự mình thỏa mãn nhu cầu của mình, bao giờ cũng bị coi là một gánh nặng. Nhưng trong những tập thể có một sự bình đẳng nào đó - trong lòng một cộng đồng nông thôn, ở một số dân tộc nguyên thủy - người đứng tuổi, tuy không muốn biết, vẫn biết ngày mai thân phận của mình sẽ là thân phận mà ngày hôm nay người đó quy cho người già. Đấy là ý nghĩa truyện cổ tích của Grim, được thuật lại ở mọi miền thôn dã. Một gã nông dân bắt người cha già ăn riêng, trong một cái máng gỗ nhỏ; hắn bất chợt thấy đứa con trai đang ghép những miếng ván. Nó bảo ông bố: “Cho bố đấy, khi bố về già”. Thế là ông già lại ngồi vào bàn ăn cùng cả nhà. Trước lợi ích lâu dài và lợi ích trước mắt, các thành viên còn hoạt động trong tập thể sáng tạo nên những sự thỏa hiệp. Tình trạng cấp bách của nhu cầu buộc một số người nguyên thủy giết chết bố mẹ, dù về sau, có phải chịu một số phận như thế. Trong những trường hợp ít căng thẳng hơn, sự phòng xa và tình cảm gia đình chế ngự tính ích kỷ. Trong thế giới tư bản, lợi ích dài hơn không còn tác dụng: những kẻ có đặc quyền và quyết định số phận của đám đông không sợ phải nếm trải số phận ấy. Còn những tình cảm nhân văn chủ nghĩa thì không bao giờ can thiệp tới, mặc dù những lời huyênh hoang dối trá. Cơ sở của nền kinh tế là lợi nhuận; trên thực tiễn, toàn bộ nền văn minh phụ thuộc vào nó: người ta chỉ quan tâm tới tập thể người trong một doanh nghiệp trong chừng mực tập thể ấy có lợi. Sau đó, họ bị vứt bỏ. Tại một hội nghị gần đây, tiến sĩ Leach, nhà nhân chủng học ở Cambritgiơ tuyên bố: “Trong một thế giới đang chuyển động, trong đó máy móc có những cuộc đời rất ngắn ngủi, con người không nên phục vụ quá lâu. Tất cả những gì vượt qua 55 năm tuổi đều phải loại bỏ”[6]. Cái từ “đồ bỏ đi” nói đúng điều nó muốn nói. Người ta kể lể với chúng ta rằng nghỉ hưu là thời gian của tự do và giải trí; có những nhà thơ ca ngợi “lạc thú nghỉ ngơi”. Đó là những lời dối trá vô liêm sỉ. Xã hội áp đặt cho số đông người già mức sống khốn khổ tới mức từ ngữ “già nua và đói nghèo” trở thành hầu như một từ thừa (pléonasme); ngược lại, số đông người bần cùng là người già. Nhàn rỗi không mở ra cho người nghỉ hưu những khả năng mới; vào lúc cá nhân, đến phút cuối cùng, được giải thoát khỏi những sự ràng buộc, người ta tước đoạt của họ mọi phương tiện sử dụng quyền tự do. Họ buộc phải sống lay lắt trong cô đơn và phiền muộn, như một vật phế thải không hơn không kém. Khi trong mười lăm hay hai mươi năm cuối đời, một con người chỉ còn là một vật chẳng ai đoái hoài, thì đó là sự thất bại của nền văn minh chúng ta: sự thật hiển nhiên ấy khiến chúng ta nghẹn ngào nếu chúng ta coi người già là những con người từng có một cuộc sống con người phía sau họ, chứ không phải là những xác chết dật dờ. Những ai tố cáo cái chế độ đọa đày vốn là chế độ chúng ta, phải đưa điều điếm nhục ấy ra ánh sáng. Chính bằng cách tập trung nỗ lực của mình vào thân phận những người xấu số nhất, người ta có thể làm lay chuyển một xã hội. Để phá hủy hệ thống đẳng cấp, Gandhi tìm cách giải quyết thân phận tầng lớp Tiện dân (parias); nhằm tiêu hủy gia đình phong kiến, nước Trung Hoa cộng sản giải phóng phụ nữ. Đòi hỏi con người cứ phải là con người ở lứa tuổi cuối cùng của họ bao hàm một sự đảo lộn triệt dể. Không thể thu được kết quả ấy với một vài cải cách hạn hẹp không đụng chạm tới hệ thống: chính nạn bóc lột người lao động, chính quá trình phân hủy xã hội và sự khốn cùng của một nền văn hóa chỉ dành riêng cho tầng lớp quan lại, dẫn tới những cảnh già nua phi-nhân văn ấy. Chúng chỉ ra rằng cần làm lại tất cả, từ đầu. Chính vì vậy, vấn đề này bị nhấn chìm trong im lặng hết sức kỹ lưỡng; và chính vì vậy, cần phá tan sự im lặng ấy: tôi mong đợi độc giả giúp đỡ tôi trong công việc này.   Mời các bạn đón đọc Tuổi Già Tập 1 của tác giả Simone de Beauvoir.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Hiểu Về Trái Tim
Trong cả cuộc đời nghiên cứu của tôi, động cơ thúc đẩy công việc làm không phải là danh hay lợi, mà là tình người, tình thương dân tộc và đất nước. Khi đánh giá một người nghệ sĩ, tôi không đặt trọng tâm vào tài sắc vẹn toàn, mà vào tài đức vẹn toàn, luôn luôn tôi chú trọng vào cái tâm của người nghệ sĩ hơn cái tài của họ, vì "chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài" (Nguyễn Du). Có trái tim để yêu thương, nhưng lắm lúc cũng vì trái tim mà đau khổ, và đau khổ vì nội tâm thì không thể dùng những phương thuốc theo Y học. Đối với tôi chữ tâm quan trọng nhứt trong cuộc đời. Yêu thương là cho đi trọn vẹn chứ không nhận lãnh về mình. Khi yêu thương thì tận hưởng tình thương, nhưng không để mình say mê và khổ lụy về tình thương đó. Trong đời tôi chưa biết ghen, vì khi ghen tức là mình không tin cậy lòng chung thủy của người mình thương và không tự tin rằng mình có đủ khả năng để giữ được tình thương của người bạn đường. Nên khi nhận được quyển sách này, tôi say mê, đọc kỹ, nhận thấy có những điểm tương đồng trong quan điểm sống. Và tâm đắc với những trải nghiệm, những khám phá thấu đáo qua từng vấn đề, khía cạnh phong phú của nội tâm, tâm hồn con người. Có thể nói đây là một cuốn sách đầu tiên thuộc chủ đề Hạt giống tâm hồn do một tác giả Việt Nam viết. Tôi thấy đây là cuốn sách có giá trị, nội dung và ý tưởng phù hợp với người Việt Nam, rất hữu ích, dễ hiểu và dễ ứng dụng. Cuốn sách sẽ giúp người đọc hiểu được cảm xúc của tâm hồn, trái tim của chính mình và của người khác - và tận cùng - là để loại bỏ bớt nỗi buồn, tổn thương và tìm được hạnh phúc trong cuộc sống. Để chữa lành những tổn thương và nỗi đau đó, từ trước đến giờ, không chỉ ở Việt Nam mà trên thế giới đã có rất nhiều nhà tâm lý và khoa học đã nghiên cứu những phương cách khác nhau để chữa lành một trái tim đang tan vỡ, một tâm hồn bị tổn thưong. Và cách tốt nhứt và hữu hiệu nhứt là cần hiểu rõ được trái tim, tâm hồn của mình, và của người khác, cuốn sách Hiểu Về Trái Tim chính là cuốn sách giúp bạn đọc làm được điều đó: Hiểu rõ và chữa lành trái tim, tâm hồn của mình và của những người xung quanh, để mọi người cùng được sống trong hạnh phúc và yêu thương. Với cuốn sách này, chúc bạn đọc sẽ luôn hạnh phúc và không bao giờ phải sống với một trái tim tan vỡ hay một tâm hồn tổn thương. Thành phố Hồ Chí Minh ngày 2/6/2010 Trần Văn Khê *** Cách đây mười tám năm, tôi đã quyết lòng ra đi tìm hạnh phúc chân thật. Dù thời điểm ấy, ý niệm về hạnh phúc chân thật trong tôi còn rất mơ hồ, nhưng tôi vẫn tin rằng nó có thật và luôn hiện hữu trong thực tại. Đến mười năm sau tôi mới tìm thấy được con đường. Rồi mãi đến bây giờ tôi mới tự tin đặt bút xuống ghi lại những gì mình đã khám phá và trải nghiệm để chia sẻ với mọi người. - Minh Niệm LỜI NÓI ĐẦU CỦA LẦN TÁI BẢN CÓ CHỈNH LÝ Để sống trong hạnh phúc và thương yêu "Mỗi lần đọc, chắc chắn sẽ có một nhận thức mới" - tác giả của Hiểu Về Trái Tim đã từng nói như thế. Và sự thật đúng là như vậy. Nhận thức mới này một phần do chúng ta đã mở lòng ra và tạm buông những nhận thức cũ mà chúng ta đã từng bám chặt để xây dựng nên hiểu biết của mình. Một phần do mỗi lần đọc chúng ta mang một tâm trạng khác nhau, tâm càng bình yên thì sự thấu hiểu và độ thấm sẽ càng sâu. Một phần do trong tác phẩm có những từ ngữ hay ý tưởng buộc chúng ta phải suy ngẫm rất nhiều mới lãnh hội hết được. Và một điều quan trọng nữa là có nhiều vấn đề chúng ta nghĩ mình đã hiểu rồi nhưng khi đọc lại vẫn thấy nó mới mẻ, hồ như chưa từng biết nó bao giờ. Đó là vì chúng ta chỉ mới biết qua mà chưa ứng dụng để biến nó thành kinh nghiệm thân quen của mình, hoặc chúng ta vẫn chưa nghiền ngẫm kỹ về nó, hoặc chí ít là chúng ta vẫn chưa khắc sâu những điều tâm đắc ấy trong lòng. Vì vậy, đọc nhiều lần một tác phẩm, nhất là những tác phẩm tâm lý sâu sắc như Hiểu Về Trái Tim, là một điều hết sức cần thiết. Trong đợt tái bản này, chúng ta sẽ đón nhận Hiểu Về Trái Tim với những cảm nhận mới mẻ hơn nữa. Vẫn là tác phẩm được đông đảo bạn đọc yêu thích và "gối đầu giường", nhưng nó lại được chính tác giả làm mới lại bằng sự chăm chút tỉ mỉ từng câu từng ý, khiến cho tác phẩm vốn đã dễ đi vào lòng người lại càng dễ đi vào lòng người hơn. Tác giả đã kiên nhẫn viết lại khá nhiều đoạn văn, thậm chí nhiều bài để đơn giản hóa ý tưởng và để chia sẻ thêm nữa những kinh nghiệm tiếp cận và chuyển hóa phiền não. So với bản in đầu tiên, riêng tôi thích bản hiệu đính súc tích này hơn. Và nếu so bản in đầu tiên với bản nguyên thủy được lưu truyền nhiều năm trước thì bản in đầu tiên lại đầy đủ và hay hơn. Điều đó cho chúng ta thấy sự tận tâm của tác giả, luôn muốn cống hiến những điều tốt đẹp và hoàn hảo nhất đến mọi người. Vì như chúng ta đã biết, diễn đạt những cung bậc cảm xúc là một việc không đơn giản chút nào. Tác phẩm Hiểu Về Trái Tim ngày càng hay hơn. Tinh thần của quyển sách đã thực sự đi vào tâm hồn và có khả năng chuyển hóa đời sống của những ai đã từng tiếp xúc với nó, đúng như câu phụ đề trong bản hiệu đính lần này: "Hiểu Về Trái Tim - Nghệ thuật sống hạnh phúc". Ước mong tinh thần này sẽ tiếp tục soi sáng và nâng đỡ những tâm hồn còn khổ đau hay lạc hướng vì chưa tìm thấy con đường đi đúng đắn trong cuộc đời. Điều này còn tùy thuộc vào cách chúng ta cảm nhận, ứng dụng và chia sẻ "cuốn cẩm nang sống" này. Chúc các bạn hiểu về trái tim để thực sự sống trong hạnh phúc và thương yêu. Giám đốc First News - Trí Việt  Nguyễn Văn Phước Mời các bạn đón đọc Hiểu Về Trái Tim của tác giả Minh Niệm.
Chuyện Của Chú Gián - Giải Pháp Tối Ưu Cho Bạn
Không phải ngẫu nhiên mà Craig Hovey lấy con gián, một con gián thực sự theo nghĩa đen, làm một trong hai nhân vật chính cho tác phẩm của mình. Nếu bạn biết rằng loài vật xuất hiện từ thời tiền sử này (trước khủng long khoảng 150 triệu năm và trước khi tổ tiên chúng ta biết đứng thẳng và đi bằng hai chân khoảng... 300 triệu năm) có một bản năng sinh tồn mạnh mẽ, vượt qua mọi biến đổi khí hậu và địa chất khắc nghiệt nhất để sinh sôi nảy nở trên khắp mặt đất cho đến ngày nay, bạn sẽ hiểu ngay vì sao tác giả lấy chú gián Gregory làm biểu tượng cho sức mạnh của tồn tại và bí quyết thành công trong quyển sách của ông. Thành công trong công việc và hạnh phúc trong tình yêu là ước mơ muôn thuở của con người. Thế nhưng, trong cuộc sống hiện đại, để đạt được ước mơ này, mỗi người cần phải nỗ lực và phấn đấu rất nhiều. Cuộc sống của chúng ta đang ngày càng trở nên sôi động và theo đó, môi trường kinh doanh ngày càng trở nên khốc liệt. Thế nhưng, một điều dễ nhận thấy là việc cạnh tranh ngày nay không chỉ diễn ra giữa các công ty mà còn tồn tại ngay trong bản thân mỗi tổ chức. Do vậy, nếu chúng ta không biết cách hoàn thiện bản thân cũng như nắm bắt được quy luật tồn tại trong môi trường cạnh tranh đó, việc trở nên lạc hậu hoặc bị đào thải là điều khó tránh khỏi. Tương tự cuốn sách kinh điển Ai lấy miếng pho mát của tôi? của tác giả nổi tiếng Spencer Johnson, "Chuyện của chú gi á n" của Craig Hovey là một câu chuyện ngụ ngôn sâu sắc nói về cách thức ứng phó với thay đổi, cho dù đó là thay đổi trong công việc hay trong cuộc sống. Câu chuyện bắt đầu vào một buổi sáng sớm, khi đó, Joseph, một quản lý cấp trung đang đau đầu với hàng loạt vấn đề cần phải giải quyết, cả trong công việc lẫn tình cảm, bất ngờ nhìn thấy một con gián trên bàn làm việc của mình. Sau khi thương lượng để không bị giết, con gián đồng ý hướng dẫn Joseph mười "Nguyên tắc của loài Gián" để giúp anh đạt được thành công như mong muốn. Dù nhận được sự giúp đỡ bất ngờ từ chú gián thông minh, nhưng bản thân Joseph cũng đã cố gắng rất nhiều để có được kết quả như mong đợi. Đây chính là thông điệp mà tác giả muốn gửi gắm đến chúng ta: Mỗi người phải luôn nỗ lực cho mục tiêu mà mình đã đề ra, còn những yếu tố khác chỉ đóng vai trò hỗ trợ khách quan mà thôi. Mười nguyên tắc mà chú gián thông minh mang đến cho nhân vật chính trong câu chuyện cũng chính là mười bài học cần thiết giúp chúng ta giải quyết những khó khăn trong công việc cũng như những khúc mắc trong quan hệ tình cảm. Với văn phong tự nhiên và hóm hỉnh, Craig Hovey đã mang đến cho độc giả những lời khuyên sâu sắc và bổ ích. Thành công không tự nhiên mà đến. Nó là sự kết hợp của rất nhiều yếu tố, trong đó có sự nỗ lực không ngừng của bản thân mỗi người cùng với một chút may mắn. Với "Chuyện của chú gián", chúng tôi hy vọng bạn sẽ tìm thấy chìa khóa để thành công trong công việc cũng như trong cuộc sống. - First News *** Bạn không có gì để sợ ngoại trừ chính bản thân mình   Joseph mệt mỏi nhìn đồng hồ - vẫn chưa đến 6 giờ sáng, nhưng anh lại đang cắm cúi bên bàn làm việc, cố gắng vắt óc tìm mọi cách nhằm chuyển đổi kết quả kinh doanh ảm đạm trong tháng. Nếu không đề xuất được phương án khả thi, anh có thể bị sa thải khi trình lên ông Harshteld sau giờ ăn trưa. Joseph hình dung cảnh tượng ông Harsh, trong cương vị của một ông chủ như cách mà ông luôn thích được gọi, đang ngồi phía sau một cái bàn lớn bằng kim loại, vừa lắc lắc đầu vừa cau mày trong khi vẫn giả vờ lắng nghe anh nói. Cặp lông mày rậm rạp thỉnh thoảng lại nhướng lên, hạ xuống phía trên đôi mắt lạnh lùng, vô cảm. Bên dưới vầng trán rộng và nhẵn thín của ông, đôi mắt trông càng gần nhau hơn. Cảnh tượng này khiến anh bất giác rùng mình. Mặt trời chỉ vừa mới ló dạng và dưới ánh sáng của chiếc đèn bàn nhỏ xíu, Joseph bắt đầu ngày làm việc mới của mình trong sự tĩnh lặng hoàn toàn. Anh lơ đãng đưa tay kéo ngăn kéo trên cùng và lấy ra một thỏi bánh dinh dưỡng mà Monica, cô bạn gái của anh cứ đoan chắc là có lợi cho sức khỏe và tuổi thanh xuân. Mỗi miếng bánh đều rất tốt cho sức khỏe, từ nguyên liệu làm vỏ bánh cho đến phần nhân bánh. Điều đáng nói là khi những thành phần này kết hợp với nhau lại tạo nên một chiếc bánh có mùi vị thật dễ sợ. Căn phòng yên tĩnh đến lạ. Joseph biết mình sắp có thêm một ngày dài nữa nên anh cố nuốt miếng bánh. Anh tập trung vào những con số tàn nhẫn trước mắt đến nỗi chẳng thèm nhìn gói bánh trong khi xé phăng miệng túi và há miệng cắn một miếng. Có cái gì đó rơi xuống chồng giấy trước mặt. Tiếng động rất khẽ nhưng giữa sự yên lặng của căn phòng này, Joseph nghe thấy rất rõ. Anh cúi người một chút để nhìn rõ hơn. Nó là một cái gì đó màu nâu, dài khoảng năm centimét. Nó là một sinh vật sống! Ôi trời, một con gián! Sinh vật kinh tởm kia rơi xuống trong tư thế nằm ngửa, mấy cái chân của nó ngọ nguậy dữ dội. Nó đang cố gắng lật trở lại để chạy trốn. Nhưng nó không tài nào làm được điều đó. Joseph nhanh tay chộp quyển sách hướng dẫn sử dụng máy in phía bên phải. Con gián khiến anh hết sức sợ hãi và anh định hy sinh tờ giấy nằm trên cùng để giết nó. Khi Joseph nhấc quyển sách lên và chuẩn bị giáng một đòn chí mạng lên con gián thì bất chợt anh nghe thấy một giọng nói khẽ vang lên. - Đừng... Đừng! Xin anh thương tình đừng giết chết tôi. Joseph hoảng hốt nhìn quanh. Hẳn là có ai đó đang muốn chọc ghẹo anh. Nhưng Joseph chọt nhớ ra rằng tất cả đồng nghiệp của anh đều ít khi đến công ty sớm thế này. Giọng nói đó lại cất lên: - Làm ơn đừng giết tôi. Tôi bị ngã và không thể lật ngược lại được. Xin hãy thương tình, tôi còn có những đứa con và chúng cần có tôi! - Ai đó? - Joseph dè dặt hỏi với giọng can đảm nhất. - Tôi biết anh ở đâu đây thôi... Anh và trò đùa của anh. Thôi, ra đi nào. Tôi chỉ muốn giải quyết cho xong công việc ở đây thôi. -Tôi không đùa đâu. Tôi ở ngay trước mặt anh đây này. Giọng nói đó cất lên từ một con gián sao? Không thể thế được! Joseph cho rằng hẳn có ai đó đã bày trò cài máy ghi âm trên bàn làm việc của anh và bật băng phát. Nhưng những cái chân vẫn đạp liên tục và không những thế, anh còn nhìn thấy cái râu của con gián đang ngọ nguậy trên tờ giấy. - Ôi, mình bắt đầu thấy mệt rồi. - Joseph làu bàu. - Mình phải nghỉ một chút hoặc làm một cái gì khác... Mình bị ảo giác rồi. - Anh không bị làm sao đâu. Tôi là có thật mà. Và nếu anh không có ý định giết tôi, anh có thể lật ngửa tôi lại được không? Tôi hứa sẽ không làm phiền anh thêm lần nào nữa đâu. Joseph nhìn con gián một lần nữa. Bây giờ, những cái chân của nó đạp chậm hơn ban nãy, thỉnh thoảng có vài cái nảy mạnh nhưng rõ ràng là nó không thể chạy đi đâu được. Anh nhấc quyển sách hướng dẫn sử dụng máy in lên lần nữa. - Liệu có thật là mi đang nói không đấy? Nhưng xui cho mi rồi, ta rất ghét gián. - Đừng, đừng. - Những cái chân lại bắt đầu vùng vẫy điên cuồng. - Xin đừng giết tôi, tôi có thể giúp anh mà. Tôi hiểu được mọi khó khăn của anh trong công việc ở công ty cũng như những rắc rối trong quan hệ tình cảm của anh với Monica ở nhà. Tôi thật sự có thể giúp được anh mà. - Cái gì? Làm sao mi, một con gián lại biết tên bạn gái của ta và có thể giúp ta được? Thật không thể hiểu nổi. - Điều đó là có thật. Và tôi còn biết nhiều điều hơn thế nữa. Chẳng hạn, tôi biết căn phòng của anh rất nhỏ và giữa anh và người bạn gái đang tồn tại khá nhiều bất đồng. Tôi còn biết cả kế hoạch đám cưới của anh cũng như việc anh chị dự định sẽ đi đâu trong tuần trăng mật nữa. Không chỉ có thế... Làm sao mi có thể biết về đám cưới của ta được khi bản thân ta còn chưa có ý định kết hôn. Mà thậm chí ta đã kết hôn đi chăng nữa thì làm sao mi hiểu được tuần trăng mật là gì chứ. - Tên tôi là Gregory và tôi đã đến căn hộ của anh nhiều lần rồi. - Cái gì? Không thể thế được. Ta sống cách đây hơn mười lăm kilômét, sao ngươi có thể đến đó được? - Joseph không tin vào những gì mình vừa nghe thấy. - Việc đến nhà anh thật ra rất đơn giản. Tôi chỉ cần đi nhờ một trong những ngăn rỗng trong cặp tài liệu của anh là đến được đó rồi. Joseph bỗng cảm thấy buồn nôn mặc dù bao tử của anh đang rỗng. - Thật là kinh khủng. Ý mi là ta đã mang một con gián về nhà hả? Monica mà biết được chuyện này thì sẽ giết chết ta mất. - Anh đừng lo. Cho đến giờ thì chỉ có mình tôi đi đến nhà anh thôi. Chỉ riêng món rau trộn dưa chuột mà anh mang vào văn phòng này cũng đủ để mấy người bạn của tôi tránh xa rồi. Để ta giải thích cho mi hiểu. Cách đây vài tháng, mẹ ta đến chơi và làm món rau trộn mà ta rất thích. Ta đã mang theo một ít cho bữa trưa hôm đó. Mời các bạn đón đọc Chuyện Của Chú Gián - Giải Pháp Tối Ưu Cho Bạn của tác giả Craig Hovey.
Kỹ Năng Tạo Ảnh Hưởng Đến Người Khác
Để trở thành một người quản lý giỏi thì yếu tố quan trọng nhất cần phải có là kỹ năng xây dựng các mối quan hệ hợp tác hữu nghị và tôn trọng lẫn nhau với các đồng nghiệp, đồng thời thuyết phục được họ lắng nghe ý kiến của bạn. Có ảnh hưởng tốt đến mọi người sẽ giúp bạn giành được sự ủng hộ của họ khi đưa ra những đề xuất, những ý kiến và nhờ đó khả năng thành công của bạn rất cao. Quyển sách “Kỹ năng tạo ảnh hưởng đến người khác” sẽ giúp bạn rèn luyện và phát triển các kỹ năng giao tiếp, nâng cao khả năng thu hút sự chú ý và hợp tác của người khác, cũng như xây dựng địa vị và danh tiếng cho bản thân. Ngoài ra, quyển sách còn đưa ra 101 lời khuyên hữu ích và những nội dung rất quan trọng giúp bạn học cách trở thành người có ảnh hưởng với người khác và trở thành người mà các đồng nghiệp tin tưởng, quý mến. Phần cuối quyển sách là bài tập trắc nghiệm giúp bạn tự kiểm tra và đánh giá những kỹ năng xây dựng sự ảnh hưởng của bạn đối với người khác. *** HIỂU NHƯ THẾ NÀO VỀ SỰ ẢNH HƯỞNG Khi bạn nêu lên những chính kiến, những đề nghị...và được mọi người lắng nghe và chấp nhận, thì lúc đó bạn đã có tác động, ảnh hưởng đến người khác. Nếu bạn có được khả năng này thì cơ hội thành công sẽ rất cao. TRỞ THÀNH NGƯỜI CÓ ẢNH HƯỞNG 1. Hãy sắp xếp các ý tưởng một cách lô-gic trước khi trình bày chúng. Những người có ảnh hưởng tốt thường có sức thuyết phục và đáng tin cậy hơn những người khác. Và để thuyết phục mọi người chấp nhận quan điểm của mình, bạn cần trình bày một cách mạch lạc sao cho người khác thấy rằng vấn đề đó đáp ứng được nhu cầu của họ. NGHỆ THUẬT THUYẾT PHỤC NGƯỜI KHÁC Hơn 2.300 năm trước, trong quyển sách của mình về nghệ thuật hùng biện, triết học gia người Hy Lạp Aristotle đã đúc kết những kỹ năng cần thiết để trở thành người có ảnh hưởng. Ông định nghĩa thuyết phục là làm cho người khác chấp nhận ý kiến của bạn. Người có ảnh hưởng tốt có thể trình bày vấn đề một cách lô-gíc, trôi chảy và tự tin. Ngoài ra, người đó có khả năng khích lệ và truyền cảm hứng cho người khác bằng cách khơi dậy sự hứng thú tiềm ẩn trong con người của họ. NGUỒN GỐC CỦA SỰ ẢNH HƯỞNG Theo Aristotle, để thuyết phục được người khác, bạn cần phải học cách chinh phục lý trí của họ bằng sự tư duy lô-gic; chinh phục tình cảm của họ bằng những cảm xúc chân thật và khả năng kiểm soát được bản thân. CHINH PHỤC LÝ TRÍ VÀ TÌNH CẢM 2. Học hỏi các kỹ năng phát biểu trước công chúng. 3. Củng cố niềm tin của người khác bằng những hiểu biết sâu sắc của bạn Bạn sẽ chiếm được tình cảm của người khác nếu tôn trọng nguyện vọng, sở thích và những mối quan tâm của họ. Để thuyết phục người khác có nhận định đúng về giá trị của một đề xuất, bạn cần chứng minh cho họ thấy những ý tưởng của bạn đáp ứng được các yêu cầu của họ. Bạn hãy thể hiện lòng nhiệt huyết của mình thông qua các ý tưởng sáng tạo, đồng thời chú ý đến những quan điểm của người khác. Để chinh phục lý trí, bạn cần lựa chọn chủ đề tốt và nghiên cứu cẩn thận, sau đó trình bày một cách rõ ràng, rành mạch. Nếu mỗi người vẫn giữ ý kiến và quan điểm riêng của mình thì cần phải dành nhiều thời gian thảo luận vấn đề để tìm KIỂM SOÁT BẢN THÂN Một giải pháp chung tốt nhất . Những người có ảnh hưởng tốt thường kiểm soát tốt cảm xúc của họ. Bạn có thể củng cố sự tự tin của bản thân bằng cách nỗ lực thay đổi những nỗi lo lắng, hồi hộp sang những suy nghĩ, trạng thái tích cực hơn. Ví dụ bạn thấy hồi hộp, bồn chồn trước khi lên phát biểu tại cuộc họp, hãy nghĩ đến những lần phát biểu thành công trước đây và tưởng tượng rằng lần này bạn cũng sẽ làm tốt. CÓ ẢNH HƯỞNG Những người có ảnh hưởng tốt thường tỏ ra rất tự tin, chuẩn bị chu đáo và lịch lãm. Họ rất nhạy cảm trước những cảm xúc của người khác và luôn biết cách điều chỉnh ngôn từ cho phù hợp với từng hoàn cảnh. PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GÂY ẢNH HƯỞNG Ở ví dụ bên, Jan nhận thấy rằng mình không được thành công như đồng nghiệp của cô, mặc dù năng lực của cô trội hơn người đó. Cô bắt đầu quan sát những kỹ năng làm việc của người đồng nghiệp và so sánh với mình. Cuối cùng, Jan nhận ra rằng, cô cần phải thay đổi để cải thiện hình ảnh của mình trong mắt của người khác   Mời các bạn đón đọc Kỹ Năng Tạo Ảnh Hưởng Đến Người Khác của hai tác giả Roy Johnson & John Eaton.
Làm Ít Được Nhiều
Trong quyển sách kinh điển Con đường ít người đi, M. Scott Peck đã bắt đầu với lời khẳng định “Cuộc sống thật khó khăn”. Còn trong quyển sách nhất định cũng sẽ thành kinh điển này, Chin-Ning Chu lại lập luận rằng cuộc sống thật đơn giản. Sau khi lĩnh hội được sự thông thái được dàn trải trên những trang chữ tiếp sau đây, tôi chắc chắn bạn cũng sẽ hiểu được sự thâm thúy của Làm ít, được nhiều. Những gì có hình thức đơn giản thì thâm thúy. Sự thâm thúy tối cao có được là nhờ tính đơn giản của sự vật, sự việc. Và những gì đơn giản thì sẽ dễ nắm bắt. Chin-Ning Chu, nhà chiến lược toàn cầu và nhà dự đoán kinh tế, là một cá nhân xuất sắc tiêu biểu với xuất thân khiêm tốn. Bà sở hữu thứ năng khiếu hiếm có nhất của con người: khả năng lý giải những chân lí vĩnh hằng và phức tạp bằng những ẩn dụ và minh họa thật dễ hiểu và đầy ý nghĩa. Bà là người duy nhất trên thế giới có thể viết nên cuốn sách này. Nó giống một bức tranh hơn là một tổ hợp câu từ - là nhận thức dựa trên kinh nghiệm bản thân hơn là lời khuyên bảo. Làm ít, được nhiều nhắm đúng vào gốc rễ của hiện trạng cạn kiệt văn hóa1 trong xã hội hiện đại. Chúng ta có tất cả những tiện nghi và lợi thế nhưng hiệu quả đạt được lại quá ít. Chúng ta dường như bị đẩy vào một cuộc đua không mong đợi và ngay cả đích đến ở đâu chúng ta cũng không hình dung ra được. Phần lớn chúng ta đều có nhà cửa, nhưng lại không có được cuộc sống gia đình như mong ước. Chúng ta có rất nhiều ảnh chụp và đoạn ghi hình của con cháu mình, nhưng lại không có cái sức mạnh tinh thần tạo nên nền tảng của một gia đình lành mạnh. Chúng ta hết sức bận rộn, đôi khi đến quay cuồng, nhưng lại hoàn toàn không biết được mình đang đi đến đâu. Chúng ta mãi loay hoay với những vấn đề cấp bách, nhưng lại xao lãng những việc mà ta ý thức được là quan trọng thật sự. Chúng ta thường tranh thủ thời gian cho những trò tiêu khiển, đôi khi là những thú vui rất đắt tiền, nhưng chúng ta lại không thật sự hạnh phúc. Một số người trong chúng ta đang làm những việc đúng nhưng không đúng lúc; một số khác thì lúc nào cũng toàn làm những điều sai lầm. Khi bước vào thời đại mới, chúng ta cần phải xem xét và đánh giá lại lối tư duy của mình, và cách chúng ta tiếp nhận những thử thách của cuộc sống thường ngày trong thời buổi của những thay đổi đáng kinh ngạc. Trong kỷ nguyên mới này, kiến thức chính là nguồn sức mạnh; tư duy thông suốt và tinh thần giàu mạnh có thể trở thành những hạt giống ươm mầm cho sự hòa hợp và cao đẹp của nhân loại. Để chăm tưới cho những hạt giống cao đẹp của loài người, Chin-Ning Chu đã triệu mời vị pháp sư cầu mưa, người sẽ chỉ bảo cho chúng ta làm thế nào để làm ít mà được nhiều.   Denis Waitley, Giám đốc Học viện Waitley, tác giả của những quyển sách bán chạy nhất nước Mỹ “Hạt giống của sự vĩ đại” và “Đế chế của tinh thần” *** Bằng việc kết hợp ba bí quyết của Vị Pháp Sư Cầu Mưa - điều tiết hành động, giữ tâm trí thanh thản, và kết nối với năng lực thần thánh - bạn sẽ nâng cao khả năng của bản thân trong việc làm cho những biến cố và kết quả trong đời mình xảy ra hoàn hảo và đúng lúc. Những hoạt động hàng ngày của bạn sẽ trở nên suôn sẻ và đơn giản. Thành tích của bạn sẽ đạt đến những đỉnh cao mới. Còn có một lợi ích quan trọng hơn nữa là: giống như vị pháp sư cầu mưa, bạn sẽ nâng cao được khả năng khơi gợi tính đồng bộ và sự liên kết vô hình của vạn vật. Những con người, những biến cố và những yếu tố có triển vọng - vào đúng thời điểm - sẽ cùng nhau đến để giúp đỡ bạn đạt được kết quả bạn mong muốn. Khi chúng ta chuẩn bị đón nhận thành công bằng cách kết nối với sức mạnh của vũ trụ thì vạn vật sẽ tự nhiên đồng bộ hóa với nhau. Vạn vật đồng bộ và gắn kết, thiên thời địa lợi, là điều mà phần đông chúng ta gọi là “vận may”, bởi vì chúng là những biến cố xa lạ xảy ra mà không vì một lý do rõ ràng nào của ngoại cảnh. Vì không có công thức đặc biệt để thúc đẩy tính đồng bộ và mối liên kết tiềm ẩn ấy đến sớm để đem lại lợi ích cho chúng ta, nên chúng ta phải tạo một môi trường đúng đắn để thu hút phép lạ vào đời sống của mình vào thời điểm hoàn hảo. Bạn không thể thúc ép hoặc dàn xếp điều đó - bạn chỉ thực hành những quy luật để phát sinh sức hấp dẫn tâm linh để thu hút những sức mạnh thuận lợi ấy. Bằng việc thực hành và thể hiện ba bí quyết ấy, bạn sẽ có thêm cơ hội để biến tính đồng bộ và sức mạnh của sự liên kết thần bí ấy trở thành yếu tố thường trực trong đời mình.   BUÔNG BỎ BẰNG CÁCH BUÔNG BỎ Qua cuộc tiến hóa của nhân loại phần lớn chúng ta đã hình thành một hệ thống tín ngưỡng trong đó cho rằng: “Để thành công trong công việc của tôi, đời sống tôi phải đau khổ và đầy khó nhọc.” Một cách vô thức, chúng ta cảm thấy rằng nếu chúng ta không thấy vất vả vì phải nỗ lực cho đến khi thành công mới thôi thì chúng ta sẽ không bao giờ thực hiện được những mục tiêu của mình. Mấy ngày trước đây tôi đã nhận được một bức thư của một người bạn, anh ấy kể cho tôi nghe về những nhọc nhằn trong cuộc đời anh. Anh đã viết, “Tôi biết là nỗi sợ phải ngừng nỗ lực và chịu khổ khiến cho tôi cứ phải nỗ lực và chịu khổ mãi. Nhưng không hiểu sao, trong tâm trí, tôi nghĩ việc buông bỏ những nỗ lực và đấu tranh sẽ làm cho bao công sức và mồ hôi nước mắt đã bỏ ra bao năm nay và cả toàn bộ đời sống của mình trở thành dư thừa vậy. Tâm trí tôi cảm thấy rằng nếu tôi có thể thành công mà không nỗ lực và chịu khổ, điều đó có nghĩa là một ai khác hay một vật gì khác kiểm soát đời sống tôi suốt đó giờ. Cái tôi của tôi ghét điều đó. Tôi cũng cảm thấy một nỗi sợ hãi mới xuất hiện, rằng nếu tôi từ bỏ nỗ lực và sự tranh đấu, Thượng đế sẽ phạt tôi vì tôi đã không tranh đấu và cố gắng nhiều hơn.” Tâm trí chúng ta giống như một cái đĩa vi tính đầy những vết in sâu. Những dấu vết đó được gọi là samskara trong tiếng Phạn - dấu vết của nghiệp. Ở phương Tây, chúng ta gọi những dấu vết ấy là lập trình tiêu cực. Các samskara bao gồm hàng tỉ ẩn tượng gom góp từ nhiều kiếp trước đây. Đối với những người không tin mình đã từng có nhiều kiếp trước, thì samskara có thể là những ấn tượng được tích lũy trong kiếp này hoặc được thừa hưởng qua ký ức di truyền. Càng bám víu vào tư tưởng cũ, chúng ta càng lún sâu vào lối sống của mình. Cách buông bỏ chính là buông bỏ. Biết được chân tướng của một sự việc, ta sẽ thoát khỏi cảm giác muốn bị bó buộc bởi suy nghĩ dối trá đối lập với chân tướng ấy. Tự do được sinh ra từ việc cảm nghiệm được ta không cần phải đau khổ và tranh đấu nữa. Tự do là biết được rằng: “Tôi đang giải thoát và buông bỏ.”   HÃY ĐỂ ĐẤNG MỤC TỬ LÀM CHIẾN BINH BẤT BẠI CỦA BẠN Những bí quyết của vị pháp sư cầu mưa nâng chúng ta lên từ ý thức vật chất thông thường đến một trạng thái đặc biệt giúp chúng ta có nhiều trí tuệ một cách dễ dàng; chúng ta hiểu được cách thức mà những yếu tố tâm linh tác động đến thế giới thực tiễn hàng ngày. Trong suốt cuộc đời, tôi là một người chiến sĩ hung hãn. Tôi đã luôn luôn phải vươn vuốt ra tranh đường để có được điều tôi mong ước. Và rồi một lần, trong khi đang thiền định, một thị kiến chợt đến với tôi. Đấng Mục Tử Nhân Hậu đến với tôi, và tôi là con chiên của Ngài. Con chiên không phải chiến đấu nếu chúng sẵn lòng đón nhận sự chăm sóc của Đấng Mục Tử Nhân Hậu. Trong giấc mơ, tôi đã cảm nghiệm Đấng Mục Tử ấy là Hiệp sĩ Bảo vệ của tôi. Người nói với tôi rằng, vì Người là Chiến Sĩ Tối Thượng, Người sẽ chiến đấu trong những cuộc chiến của tôi, bởi Người giỏi chiến đấu hơn tôi. Khi ra khỏi trạng thái thiền ấy, tôi đã không thể ngăn được những giọt nước mắt hân hoan và khuây khỏa.   Mời các bạn đón đọc Làm Ít Được Nhiều của tác giả Chin-Ning Chu.