Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Bọn Chiếm Đóng - Kobo Abe

Trong khi Murakami và Yoshimoto là những nhà văn đang nổi lên trên văn đàn Nhật Bản và là hai nhân vật hết sức quen thuộc ở Việt Nam hiện nay, tôi muốn lưu ý bạn đọc về một xu thế mới có lẽ tồn tại như một dòng chảy ngầm. Khi nói về xu thế này, vào năm 1990 nhà văn danh tiếng Kenzaburo Oe ( 1935 - 2007), Giải thưởng Nobel Văn chương năm 1998 có viết: “Lớp nhà văn này đã tích luỹ trong mình  cảm nghĩ về thực trạng xã hội và sức mạnh của văn học. Trong số họ nổi lên hàng đầu là Kobo Abe, một trong những gương mặt quan trọng nhất, nổi bật nhất sau chiến tranh. Ông sáng tác với ý thức tách khỏi truyền thống Nhật Bản, tuy gắn bó với việc xây dựng thế giới ảo tưởng, nhưng vẫn in đậm một lối nhìn riêng tư mà nghiêm túc về đời sống hiện đại”. Kobo Abe sinh ngày 7.3.1924 tại Tokyo. Tên thực của ông là Kimifusa (“Kobo” là cách phát âm theo Hán tự của từ “Kimifusa”). Cha ông là bác sỹ tại một bệnh viện nằm trong trường Cao đẳng Y khoa Hoàng gia ở Manchuria. Khi còn trẻ, Abe rất hứng thú với môn toán học và sưu tập côn trùng. Cũng giống nhiều nhà văn Nhật Bản hiện đại nổi tiếng thế hệ trước như Mori Ogai, Natsume Soseki, Tanizaki Junichiro... ông tiếp thu và chịu ảnh hưởng sâu sắc các nhà tư tưởng bậc thầy của phương Tây, có lẽ do nhiều năm sống ở nước ngoài và đời sống văn hoá đương đại của nó đã thôi thúc ông, nghiên cứu các nhà triết học phương Tây như Heidegger, Jaspers và Nietzsche... Năm 1941 Abe trở về Nhật Bản, năm 1943 ông thi đỗ Đại học Tokyo rồi theo học y khoa tại đây. Luôn ốm yếu do mắc bệnh đường hô hấp nên Abe được miễn quân dịch. Trong chiến tranh, ông tới sống ở Manchuria. Sau khi khỏi bệnh Abe tiếp tục việc học hành và tốt nghiệp vào năm 1948, nhưng ông tự nhủ sẽ không bao giờ hành nghề y. Từ đấy Abe đã bước vào sự nghiệp văn học. Ông tham gia nhóm văn chương do Kiyoteru Hamada dẫn dắt. Khuynh hướng sáng tác là hợp nhất các kỹ thuật của Chủ nghĩa siêu thực với tư tưởng Marxist. Ngay từ năm 1943 Abe đã cho ra đời một tác phẩm đầu tay. Bạn đọc hẳn đã nhận thấy Haruki Murakami tác giả Rừng Na-uy viết với một phong cách bộc trực, giọng điệu trung tính, lạnh lùng, câu ngắn gọn, đôi khi cộc lốc. Ông tránh lối diễn đạt uyển chuyển mà người Nhật hay dùng để câu nói mềm mại hơn khiến ngôn từ trở nên mập mờ. Còn văn  phong của Abe lại cô đọng và chuẩn mực, nó cho thấy nỗi bận tâm của ông đối với tư tưởng của tác phẩm hơn là kỹ thuật viết cốt tạo ra phong cách . Những nhà văn chủ chốt có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển thẩm mỹ văn học của ông: Edgar Allan Poe, Samuel Beckett, Rainer Maria Rilke và Fyodor Dostoyevsky, và đặc biệt là Franz Kafka. Ảnh hưởng Kafka càng rõ rệt trong tác phẩm Kabe - Esu Karuma shino hanzai (Bức tường - tội lỗi của S.Karma, 1951). Tác phẩm này được Giải Akutagawa, giải thưởng văn học cao quý nhất ở Nhật, kể chuyện một người phát hiện ra rằng tấm danh thiếp của anh ta tự hoá thành người và giả dạng anh ta mà phạm tội khiến anh bị toà án lôi ra phán xử. Năm 1947 Abe cho ra mắt một tuyển tập thơ. Abe chỉ thực sự được coi là một nhà văn nổi tiếng với tiểu thuyết Owarishi michi no shirube ni (1948), kể về cuộc đời một kẻ nghiện thuốc phiện. Vào những năm 1950, Abe gia nhập Đảng Cộng sản Nhật Bản. Năm 1962 ông xin ra khỏi đảng bởi những bài báo phê phán chính sách của đảng này. Những tác phẩm mang tính cách trải nghiệm của Abe được thế hệ độc giả trẻ hết sức ngưỡng mộ. Abe đã nhận được giải thưởng cho ba truyện ngắn của ông, “Akai mayu” (1950, Cái kén đỏ), “Kabe” (1951) và “S.Karuma - Shi no hanzai” (1951). Như nhiều nghiên cứu đã đề cập tới, vấn đề chủ đề và phong cách viết thường là nỗi ám ảnh đối với nhà văn Kafka đến mức ông đã phải khai thác nhiều yếu tố qua các truyện khoa học viễn tưởng và trinh thám để xây dựng tác phẩm của mình. Còn các tiểu thuyết và vở kịch của Abe thì đặc trưng ở sự quan sát kín đáo và các kỹ thuật viết tiên phong (avant - garde techniques). Khi đã quen thuộc một số tác phẩm của Kobo Abe bạn đọc sẽ nhận thấy thông thường các cảnh ngộ hay hoàn cảnh mà các nhân vật của ông phải đối mặt, hay đương đầu, thường là kỳ quặc, không giống thực tế và thái độ cùng hành vi của họ được bộc lộ qua khái niệm tự do ý chí. Các tác phẩm sau của Abe là những minh chứng cụ thể cho nhận định này: Daiyon kampyoki  (1959), Moetsukita chizu (1967, Tấm bản đồ rách), Mikkai (1977) và Hako otoko (1974, Người đàn ông trong chiếc hộp). Ở phương Tây, Abe hết sức nổi tiếng với hai tiểu thuyết The Woman in the Dunes, (1962, Người đàn bà trong cồn cát) và The Face of Another (1964, Khuôn mặt người khác). Chủ đề trung tâm trong các tác phẩm này của Abe là nỗi lạc lõng về thân phận, mặc cảm bị xa lánh và ghét bỏ, nỗi cô đơn cá nhân giữa một thế giới kỳ quặc, và những con người gặp khó khăn trong việc hòa nhập với cộng đồng. Hai kiệt tác này là các tác phẩm vượt khỏi mỹ quan truyền thống Nhật Bản, sáng tạo mới mẻ, dùng nhiều ẩn dụ, nhiều hình tượng cụ thể hay siêu thực để diễn tả nội tâm và tiềm thức con người bị tha hoá, vong ngã, trong xã hội đô thị. Các quan niệm giáo điều hay thành kiến đã được ông lật ngược lại. Thông thường con người được xem là trung tâm của vũ trụ, chúa tể của muôn loài, tác phẩm của ông lại chủ trương bình đẳng giữa các loài. không những thế còn có thể biến đổi từ loài này sang loài khác, và ngược lại, con người hoá thân thành sinh vật, sinh vật lại mang nhân cách như con người. Ông đề cao ý thức, lại chủ trương nhục thể chi phối tinh thần, hoàn cảnh xã hội quy định ý thức, và tự do chỉ có thật khi cá thể thoát ra khỏi mọi tập thể như quốc gia hay cộng đồng. Kobo Abe không ngừng thử nghiệm những thủ pháp và tư tưởng mới lạ, kể cả khoa học viễn tưởng, triết lý hiện sinh, chủ nghĩa hiện thực huyền ảo. Với số lượng tác phẩm to lớn và những đóng góp đặc sắc của ông cho văn học Nhật Bản, Kobo Abe  được đánh giá là một trong những tác gia quan trọng nhất của nền văn chương nước này ở thế kỷ XX. Những tác phẩm chính: Người đàn bà trong cồn cát (1963), Khuôn mặt người khác (1964), Người hộp (1973) Cái Kén Đỏ Chiếc thuyền Nô-Ê Bọn Chiếm Đóng Và một số và kịch. *** Abe Kôbô là một trong những nhà văn hậu chiến Nhật Bản thế hệ Shôwa 30 (từ năm 1955 trở đi) có khuynh hướng đi tìm một thủ pháp mới với mục đích bắt gặp con người toàn thể như một sinh vật có tính xã hội và chính trị. Nhà văn thế hệ nầy đều muốn tìm hiểu đâu là lối sống thích hợp của con người trong điều kiện của xã hội hiện tại. Abe Kôbô trên giấy tờ được gọi là Kimifusa theo cách đọc âm Nhật của hai chữ Hán Kôbô. Song thân gốc miền bắc (đảo Hokkaidô) nhưng ông sinh ra ở Tôkyô ngày 7 tháng 3 năm 1924. Cha ông, một bác sĩ y khoa tùng sự tại Mãn Châu. Do đó, ông lớn lên ở Phụng Thiên (nay là Thẩm Dương thuộc Trung Quốc) nhưng đã trở về nước để học thuốc và tốt nghiệp y khoa Đại học Đế Quốc Đông Kinh năm 1948. Sau khi Nhật bại trận và cha chết, ông sống cuộc đời nghèo túng nhưng vẫn cố gắng bỏ tiền túi in thơ (1947) và tiểu thuyết (1948). Không hành nghề y như cha, ông theo nghiệp văn như mẹ, một nhà giáo có đầu óc khuynh tả. Đầu tiên, ông sử dụng một bút pháp trừu tượng, xa rời hiện thực, nhưng sau chuyển qua văn phong tiền vệ với khuynh hướng đi tìm những ý tưởng và phương pháp biểu hiện mới mà trung tâm là những câu chuyện ngụ ngôn có tính khoa học giả tưởng. Đặc điểm của văn chương ông trước tiên là bản chất con người khoa học của ông. Thứ đến là tình cảm thiếu quê hương vì nơi ông gắn bó sâu đậm nhất là Mãn Châu, một nơi về sau đã trở thành một tỉnh của Trung Quốc. Ở Tôkyô, ông có cảm tưởng như mình sống trong một miền đất lạ. Quê hương ông là Mãn Châu có sa mạc ngút ngàn và những cơn bão cát chứ không phải là thành phố Tôkyô xô bồ, lạ mặt. Đặc điểm thứ ba là kinh nghiệm đau thương của cuộc sống khốn cùng sau những ngày Nhật Bản bại trận, lúc người di dân lập nghiệp ở thuộc địa trong số đó có gia đình ông đã phải vượt qua bao khó khăn để có thể về đến mẫu quốc. Người có ảnh hưởng đến lối suy nghĩ của ông là Abe Rokurô, ông giáo dạy tiếng Đức và là nhà nghiên cứu về triết học của Nietsche [1] và Shestov [2]. Qua Abe Rokurô, ông làm quen được Haniya Yutaka [3]. Trước khi ra trường (1947), ông kết hôn với Yamada Machiko, một nữ sinh viên ngành hội họa. Họ sống đạm bạc trong một căn nhà lợp tạm và đeo đuổi hoạt động nghệ thuật. Bà Machiko đã giúp đỡ ông rất nhiều trong việc trang trí hình bìa những tác phẩm và trong việc dựng phông cảnh khi Abe chuyển qua kịch nghệ. Tài năng của Abe đa dạng. Ông không những làm thơ, viết văn, dựng kịch, vẽ tranh mà còn chen vào các lãnh vực truyền thanh, truyền hình. Ở đâu, ông cũng chứng tỏ một tài năng phi thường và thí nghiệm không mệt mỏi những thủ pháp diễn đạt mới. Vì lúc nào cũng đi trước thời đại nên không phải ai cũng yêu chuộng ông. Mumyô shishuu "Tập thơ không tên" (1947) là tác phẩm đầu tay. Akai Mayu "Cái kén đỏ" (1950) giúp ông đoạt giải thưởng văn học hậu chiến, Kabe - S. Karuma nohanzai "Bức tường. tội của S. Karma" (1951) đem giải Akutagawa về tay ông lúc mới có 27 tuổi. Sau đó là một loạt tác phẩm như Daishikan Hyôki "Thời kỳ băng hà thứ tư" (1959), Suna no Onna "Người đàn bà trong động cát" (1962), Ta.nin no kao "Gương mặt kẻ khác" (1964), tất cả đều gây nên tranh cãi. Ngoài các vở kịch như Doreigari "Săn nô lệ" (1955), Yuurei wa koko ni iru "Đây có ma" (1958), sau nầy ông còn viết Hako-otoko "Người hộp"(1973) Hakobune sakuramaru "Chiếc thuyền lợp mái tránh lụt tên gọi anh đào" (1984). Với lối viết tiền vệ, nhà văn Abe Kôbô được sắp vào số tác giả khoa học giả tưởng qua "Bức Tường - Tội của ông Karuma","Thời băng hà thứ tư"nói trên, cũng như Moetsukitachizu "Bức địa đồ cháy rụi" (1967) mà ông viết theo phong cách nhà văn Pháp Alain Robbe-Grillet. Ông đặc biệt chú trọng tới chủ đề tha hóa (alienation). Abe Kôbô còn nhảy vào sân khấu như lạc bước vào một mê cung lúc nào không hay. Năm 1955, trong một cuốn tiểu thuyết nhan đề Seifuku "Đồng Phục" ngẫu nhiên có một số đoạn, ông trình bày như đối thoại của kịch. Thế rồi, Yuurei wa koko ni iru "Đây có ma" (1958) của ông đã ra đời 3 năm sau như ta đã biết. Ông đưa lên sân khấu những ảo tưởng (phantasm) của thời mới như ảo tưởng tinh thần, tâm lý hay thương mãi và muốn bắt nọn khán giả. Ông xem sân khấu phải là một loại chất dẻo để khán giả có thể nắn theo ý mình và để lại những dấu tích sự tham dự của họ vào quá trình xây dựng chung giữa nhà viết kịch bản, diễn viên và khán giả đó. Khán giả không thể là vô can. Họ được xem như có khả năng phạm tội. Ông muốn nói như thế về vai trò của người xem kịch khi viết vở Omae ni mo tsumi ga aru "Mầy cũng có tội nữa đấy" (1965). Một ví dụ khác với vở Enomoto Takeaki (1967), trong đó ông mô tả cuộc nổi loạn để thành lập một chế độ Cộng Hòa ở Hokkaidô năm 1870 của Enomoto Takeaki nhưng không phải là không muốn chất vấn khán giả về thái độ họ phải chọn lựa trước sự kiện ấy. Từ năm 1969, Kôbô chuyển qua dàn cảnh và thành lập trung tâm nghiên cứu và thí nghiệm kịch nghệ Abe Kôbô Studio (từ 1973), thử sửa đổi và dựng lại nhiều vở cũ, chuyển một số tiểu thuyết, kịch phóng thanh, kịch bản phim đã viết thành kịch nói. Danh tiếng ông vang dội trong lẫn ngoài nước. Hầu như cứ một lần viết một tác phẩm mới, ông lại như nới rộng thêm chân trời văn học. Ông được quốc tế đánh giá cao, tác phẩm được dịch ra nhiều thứ tiếng như Anh, Ý, Đức. Tháng 9 năm 1992, ông được Hàn Lâm Viện Khoa Học Nghệ Thuật Hoa Kỳ trao tặng danh hiệu hội viên danh dự. Chẳng bao lâu, một ngày cuối năm, đang ngồi viết trong thư phòng, ông bị tai biến mạch máu não, mê man và được đưa vào bệnh viện cấp cứu. Đầu năm sau, lại nhập viện vì vấn đề tim mạch và mất vào ngày 22 tháng giêng năm 1993, khép lại cánh cửa một cuộc đời hoạt động văn học nghệ thuật không ngừng nghĩ.   Mời các bạn đón đọc Bọn Chiếm Đóng của tác giả Kobo Abe.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Môi Kề Môi - Erin McCarthy
Môi kề môi không chỉ là một cuốn sách chứa đựng rất nhiều vấn đề của xã hội bao quanh một câu chuyện tình yêu bất ngờ nhưng thật đẹp và mãnh liệt của Erin McCarthy. Trong gần 400 trang sách dày dặn những xúc cảm và sự thật này, tác giả đã khắc họa rõ, lột tả một cách táo bạo và đầy chân thực từng khía cạnh nhỏ của cuộc sống, từng góc khuất sâu thẩm nhất trong tâm hồn của con người. Tình yêu đan xen cùng những mưu mô, hạnh phúc lẫn lộn trong những đam mê thể xác. Đích đến cuối cùng dường như quá xa vời và những ước mơ, những khao khát bản năng có lẽ như có nguy cơ sụp đổ... Đôi khi người đàn ông nàng chọn nhầm lại là người phù hợp… Đó là tình huống đã xảy ra trong cuốn tiểu thuyết Môi kề môi của Erin McCarthy. Cuộc gặp gỡ “nhầm lẫn” định mệnh đó xảy ra trong khi Russ Evans đang làm nhiệm vụ. Tên tội phạm chuyên lừa tình phụ nữ Trevor Dean có một cuộc hẹn với nạn nhân tiếp theo tại quán cà phê và anh vẫn nghi vấn cô gái tên Laurel này liệu là nạn nhân hay người tình của Dean. Khi không thấy Dean xuất hiện, Russ bước vào quán để thăm dò cô gái tên Laurel kia, và thật bất ngờ khi cô gái gọi tên anh và bày tỏ niềm vui mừng vì anh đã đến. Cô ta nói anh giống như bức ảnh cô đã thấy và rất vui được gặp anh. Russ choáng váng và dần nhận ra tên tôi phạm xảo trá kia đã dùng tên anh để làm quen và tán tỉnh Laurel qua mạng, thậm chí hắn còn tự xưng là cảnh sát nữa. Nhưng cơn bàng hoàng trước mánh lừa đảo của Dean cũng không làm anh kinh ngạc bằng việc nhận ra anh đang bị Laurel thu hút đến thế nào. Nàng thật ngây thơ, xinh đẹp và cần được che chở biết bao. Laurel mắc chứng khiếm thính, cô đã sống cô đơn suốt sáu năm trời và chỉ khao khát tìm kiếm một người đàn ông ở bên để thỏa mãn những nhu cầu cơ bản nhất của một người phụ nữ. Dean đã đánh trúng vào điểm yếu đó của cô, dẫn dụ cô vào trò lừa đảo của gã. Thật may Russ Evans thật đã có mặt ở đây... Sự cuốn hút giữa Russ và Laurel giống như một cơn bão lốc, nhưng tên lừa đảo nguy hiểm Trevor Dean vẫn lảng vảng theo dõi Laurel, đặc biệt khi cô là một phụ nữ đơn độc ngây thơ sống trong tòa biệt thự giàu có, đó quả là một con mồi ngon lành mà Dean không thể bỏ qua. Kẻ lừa đảo giấu mặt Trevor rình rập tiếp cận và lọt vào được nhà Laurel trong khi cô vẫn không hay biết và tưởng hắn là thợ sửa mạng khiến độc giả hồi hộp nghẹt thở… Mối quan hệ của Russ và Laurel sẽ đi đến đâu? Dean sẽ làm gì để đạt được mục đích xấu xa của hắn? Erin McCarthy đã tạo nên một câu chuyện cuốn hút, đầy đam mê và hồi hộp trong Môi kề môi. *** Laurel đưa những ngón tay mát lạnh vuốt cho phẳng vạt váy phía trước và liếc mắt hết nhìn người phiên dịch ngôn ngữ ký hiệu lại nhìn lên sân khấu, để nàng có thể thấy mọi thứ đang diễn ra. Nàng đã đứng sau cánh gà gần hai năm trời để chờ đợi thời khắc này, và nàng không muốn bỏ lỡ một thứ. Nền bê tông của phòng tập thể dục rung lên, tiếng ầm ầm đập lên chân nàng khi hàng trăm cử nhân đi qua để nhận bằng tốt nghiệp. Nàng đã chờ đợi, làm việc và mơ ước để tiến tới bục vinh quang của ngày hôm nay, và bây giờ khi đứng trên đó rồi thì nàng rất hồi hộp, nàng sợ sẽ bỏ lỡ một ký hiệu nào đó từ người phiên dịch đúng lúc nàng quay đi. Nàng bồn chồn trong ghế ngồi của mình, và quay đầu nhìn mọi hướng, lướt mắt khắp cả sân vận động lần nữa. Nàng không thể tìm thấy Russ giữa rất nhiều khuôn mặt trong đám đông tối thăm thẳm, ánh đèn chỉ chiếu tới những người sẽ tốt nghiệp hôm nay. Nhưng nàng biết anh có ở đó, luôn như vậy, nâng đỡ nàng, yêu thương nàng. Như nàng ủng hộ và yêu anh, từng giây phút trong mỗi ngày. Một cậu ngồi cạnh đập vào chân nàng. Cậu ta cũng điếc, và họ đã nói chuyện suốt buổi lễ trù bị ngày hôm qua. Cậu ta ít hơn nàng vài tuổi, tốt nghiệp ngành luật và nhận bằng kỹ sư. Chúng ta cạnh nhau. Anh ta chỉ tay và mỉm cười. Laurel hít sâu và cố giữ bình tĩnh. Cảm ơn. Đây rồi. Nàng là một giáo viên, hoàn toàn được chứng nhận và sẵn sàng lên lớp vào cuối mùa hè này. Mặc dù rất hồi hộp, nhưng nàng vẫn cảm thấy cực kỳ ổn. Nàng đã làm được. Với niềm vinh dự. Nàng đứng lên và nở một nụ cười sáng chói với người phiên dịch. “Tôi không thể tìm thấy Laurel.” Russ lướt mắt qua khu các cử nhân ngồi một lần nữa, tự hỏi không biết tại sao anh không thể nhìn thấy nàng. Nàng đã nói nàng được xếp ngồi hàng ghế thứ tư, ở phía cuối, cạnh chỗ người phiên dịch đang đứng. ... Mời các bạn đón đọc Môi Kề Môi của tác giả Erin McCarthy.
Lửa Hận - Jessica Hall
Một bi kịch của sự ghen ghét, hận thù, danh vọng đã khiến một người đàn bà trở thành kẻ đánh mất nhân tính, đẩy đưa bao số phận vào chốn hiểm nguy, mạng sống như ngàn cân treo sợi tóc. Với ngòi bút sắc bén, đôi khi có phần cay đắng, trần tục, Jessica Hall đã vén lên một bức màn cuộc sống đầy rẫy tội ác, hận thù và cả sự phân biệt sang hèn, giai cấp... Thế nhưng, ẩn sâu trong đáy trần tục ấy, vẫn lóe lên một tia sáng bất biến chiếu rọi mọi tâm hồn, đó chính là tình yêu thương, lòng bao dung độ lượng và niềm khát khao hạnh phúc. *** M ẹ anh đã có lời mời cả hai người đến dự Lễ hội Trắng Đen, và rất mừng là Sable đã vui lòng đón nhận lời mời thân mật ấy. “Chắc chắn. Ba anh đã hứa sẽ khiêu vũ với em mà, ông ấy nói còn đi bản vanxơ đẹp hơn anh nữa kia”. Nàng cầm tay anh và ngắm nhìn bộ đồ dạ vũ của anh. “Anh đâu thể sở hữu em nguyên cả buổi tối, phải không, ngài điệp viên 007 Jame Bond?” Anh bật cười và đưa nàng ra thang máy. Sau vụ tấn công cố sát cuối cùng của bà Laure, Jean-Del những muốn giữ cho Sable tránh xa báo chí nhưng nàng vẫn một mực muốn đối diện với giới truyền thông để làm rõ ngọn ngành những chuyện vừa qua. Họ hàng nhà Gamble và cộng đồng Cajun lần lượt vây lấy nàng, và giờ đây phần lớn bạn bè của Marc cùng các hội đoàn đều cam kết hỗ trợ cho các dự án cộng đồng Cajun của Sable. Sable vui mừng về sự hỗ trợ đó nhưng không mấy quan tâm đến sự chú ý dành cho nàng. “Em mang trong mình dòng máu của LeClare”. Nàng nói với Jean-Del. “Nhưng không nhập mình vào với xã hội ấy. Em vẫn là một người Cajun và em mãi mãi tự hào về điều đó”. Lễ hội lên đến đỉnh điểm khi họ về đến nhà Gamble và được đích thân bà Elizabet ra đón tận cửa. “Mẹ bắt đầu lo lắng rồi đấy”. Bà nói khi hôn lên má Jean-Del rồi quay sang ngắm Sable. “Xem nào, cháu sắm bộ áo váy này ở đâu vậy?” Nàng nhìn lại mình. “Cháu mua nó ở một quầy hàng mới tại Metairie và nghĩ nó hợp cho buổi tối hôm nay”. ... Mời các bạn đón đọc Lửa Hận của tác giả Jessica Hall.
Lễ Diễu Hành Phục Sinh - Richard Yates
Ai cũng có thể là một phóng viên hào nhoáng và vô trách nhiệm hoặc đơn thuần là một người sửa bài cần mẫn, nhưng đây lại là một người viết tiêu đề, biên tập bản thảo! Người mà phải đọc tất cả những tin tức phức tạp hàng ngày để lựa chọn ra những ý chính và tóm tắt lại bằng những từ đắt ý, khéo léo sắp xếp vừa vặn trong một chỗ trống có giới hạn - ông là một nhà báo tuyệt vời và là một người cha xứng đáng với danh tiếng của mình. Và người phụ nữ ấy: nhỏ bé, năng động, có một cuộc sống dường như gắn liền với giá trị không tưởng mà bà cho là “nhạy bén”. Bà mải mê với tạp chí thời trang, với việc ăn mặc có thẩm mỹ và đã nhiều lần cố gắng chỉnh lại mái tóc của mình, nhưng không thể giấu nổi đôi mắt hoang mang và thật sự, chưa bao giờ bà biết cách tô son trên môi của mình - một đôi môi luôn thể hiện dáng vẻ của sự thiếu kiên định đến mức độ đáng kinh ngạc và đầy yếu đuối. Hai người, đã từng yêu nhau say đắm, và hơn thế, họ từng là vợ chồng. Họ có hai cô con gái vô cùng xinh xắn, đáng yêu: Sarah và Emily. Tuy nhiên, không một ai trong hai chị em đó có được cuộc sống hạnh phúc, và nhìn lại thì dường như mọi bất hạnh đều bắt đầu từ việc ly dị của cha mẹ họ. Là nạn nhân của một cuộc hôn nhân tan vỡ, Sarah và Emily như hai cây non phải nương tựa, che chở cho nhau qua giông bão cuộc đời. Hai cô gái sớm bước vào thế giới tình yêu, như một người dạn dày, từng trải. Chính Sarah là người cho Emily biết kiến thức đầu đời về tình dục, khi chúng đang ăn kem que và đùa cợt với nhau quanh cái võng bị đứt ở sân sau nhà chúng ở Larchmont, New York. Emily lắng nghe đầu óc cô bé đầy những suy nghĩ băn khoăn và xáo trộn. Sẽ thế nào, khi mà Sarah được giao nhiệm vụ tham gia diễu hành trong ngày lễ Phục sinh, để một nhiếp ảnh gia chụp từ văn phòng quan hệ cộng đồng. Trông cô thật đáng yêu, có thể nói, chưa khi nào trông cô lại đáng yêu đến thế, khi vận chiếc váy đắt tiền bằng lụa dày - mốt dành cho những quý bà Trung Quốc trước chiến tranh, và đội một chiếc mũ rộng vành dệt bằng rơm. Cô sánh bước cùng Tony - chàng “hoàng tử” luôn đem đến những điều “tuyệt vời”. Cả hai cười với nhau rất lãng mạn trong cái nắng tháng Tư, tạo nên một bức ảnh ấn tượng đăng trên bản tin Chủ nhật của tờ Thời báo New York. Bức ảnh ấy còn được đóng khung treo trên tường và có giá trị mãi mãi. “Lễ diễu hành Phục sinh” là sự hồi sinh của nhà văn Mỹ Richard Yates và ông được đánh giá là một nhà văn lớn. Đây là một tác phẩm văn xuôi duyên dáng và thể hiện được chiều sâu của bi kịch. *** Đọc tiểu thuyết “Cuộc diễu hành phục sinh” của nhà văn Richard Yates, tôi cứ thấy có một đôi mắt u buồn, đau đáu, đắng đót đằng sau mỗi thân phận con người.  Ngập tràn trong cuốn tiểu thuyết là những cuộc làm tình chớp nhoáng, nóng bỏng nhưng phía sau ấy vẫn cháy lên những khao khát nào lớn hơn nhu cầu xác thịt. Richard Yates đã tung ra hai cuộc đời tương phản. Một bên là cuộc đời tự do của Emily với những cuộc làm tình, với rượu mạnh và những kì nghỉ dài bất tận. Một bên là cuộc đời nhạt nhẽo, buồn tẻ của người chị Sarah gắn liền với hôn nhân, với bạo lực, với cô độc và những vùng vẫy khao khát trong sự bất lực đến tuyệt vọng. Những thân phận con người trong tiểu thuyết “Cuộc diễu hành phục sinh” được nhà văn Richard Yates móc nối với nhau bằng hôn nhân, sex, rượu mạnh và nỗi cô đơn bất hạnh triền miên của con người.  Richard Yates không cần tạo ra sức hấp dẫn trong tiểu thuyết của mình bằng cách khai thác những sự kiện xã hội, những biến cố lịch sử vĩ đại. Thực tế cho thấy, ngay từ thiên tiểu thuyết đầu tiên danh tiếng “Con đường Cách mạng” của mình cho đến thiên tiểu thuyết “Cuộc diễu hành phục sinh”, ông là nhà văn có biệt tài đào sâu vào tận cùng nỗi đau thân phận. Cả cuốn tiểu thuyết chỉ xoay quanh cuộc đời của ba nhân vật chính, ba mẹ con nhà Grimes: Pookie, Emily và Sarah.  Những con người bình thường nhất, thậm chí là thấp kém nhất trong xã hội Mỹ qua ngòi bút của nhà văn Richard Yates đã trở thành biểu tượng đời sống tinh thần với nỗi tuyệt vọng triền miên kéo dài trong lịch sử nước Mỹ.  Richard Yates đã quăng nhân vật của mình vào cơn bão khốc liệt và rồi dang tay đón những “đứa con” mang trên thân thể mình đầy những thương tích bầm giập ở bên kia. Nhà văn chấp nhận hiện thực xã hội nghiệt ngã của nước Mỹ, chính vì thế, chỉ bằng thân phận ba người phụ nữ bất hạnh, ông đã khái quát cả một bức tranh rộng lớn về lịch sử đời sống nước Mỹ.  Độc giả Việt Nam sẽ có cơ hội để nhìn khác hơn về xã hội Mỹ những năm chiến tranh Việt Nam qua thiên tiểu thuyết này. Ở đó là một cuộc sống lặng lẽ, buồn tẻ và nhạt nhẽo. Bao người vùng vẫy trong một cuộc sống không lý tưởng với những nỗi cô đơn, bế tắc và tuyệt vọng. Chúng ta sẽ cảm nhận được sự ngây thơ của nhiều thanh niên Mỹ về chiến tranh ở những cuộc làm tình chớp nhoáng trước khi lên đường.  Chúng ta sẽ thấy khao khát được sống một cuộc sống hoà bình, an phận của những người tìm mọi cách trốn lính. Nỗi đau của nước Mỹ qua ngòi bút nhà văn Richard Yates là nỗi đau về những thế hệ thanh niên bị o bế tâm hồn. Đọc “Cuộc diễu hành phục sinh”, người đọc sẽ thực sự bất ngờ bởi trực diện bức tranh xã hội tình dục ở nước Mỹ. Nhà văn Richard Yates xây dựng số phận hai nhân vật chính là hai chị em nhà Grimes: Sarah và Emily với hai sự lựa chọn cuộc sống đối nghịch nhau. Sarah muốn có một gia đình ổn định với một người đàn ông mà cô yêu và tôn thờ như tất cả những người phụ nữ khác và như chính niềm ao ước của mẹ cô, Pookie.  Emily kịch liệt phản đối hôn nhân, đặc biệt là khi cô biết sự thật về những bạo hành mà người chị của mình phải chịu từ người chồng vũ phu. Dường như nhà văn Richard Yates xây dựng Emily trở thành một biểu tượng của cuộc sống tự do để cổ xuý cho khao khát tìm hạnh phúc qua cách sống ấy. Nhưng có lẽ là không phải như vậy. Những cuộc làm tình của Emily với bao nhiêu người đàn ông mà chính cô cũng không nhớ nổi được Richard Yates miêu tả vô cùng nóng bỏng. Emily chưa bao giờ yêu những người đàn ông đưa cô lên giường. Thế nhưng, cô vẫn lao vào những cuộc làm tình ấy không mệt mỏi để khao khát kiếm tìm một thứ vô hình. Hạnh phúc chăng? Không có ai trả lời cho cô điều ấy cả. Để rồi cuối cùng, có lẽ cô yêu Howard và mệt mỏi muốn dừng cuộc đời mình ở đó. Nhưng Howard đã ra đi. Thiên tiểu thuyết kết thúc ở sự cô độc của Emily, không gia đình, không người thân, không bạn bè, không tình yêu. Cô gục ngã trong những ký ức về người chị gái Sarah, người chị gái yêu quý của cô đã bị người chồng giết chết trong một lần say rượu.  Chỉ với hơn ba trăm trang tiểu thuyết, nhà văn Richard Yates đã xây dựng trọn vẹn ba cuộc đời bất hạnh nhà Grimes. Thành công xuất sắc ở khả năng miêu tả tâm lý và xây dựng một thế giới nội tâm sâu thẳm đầy bí hiểm, nhà văn đã đẩy nhân vật của mình vào tận cùng nỗi tuyệt vọng của thân phận con người để phản ánh một cách chân thực nhất đời sống nước Mỹ thế kỷ XX và khao khát đi tìm một lối thoát cho người Mỹ.  Đọc “Cuộc diễu hành phục sinh”, chúng ta sẽ bị chìm đắm trong ma trận của những cuộc làm tình, những ly rượu mạnh, những cơn khủng hoảng tinh thần, những nỗi xót xa và cuối cùng cay đắng nhận ra nỗi đau về thân phận con người không phải là của riêng Richard Yates nói về người Mỹ mà nó còn mãi là nỗi đau chung của toàn nhân loại. Vân Hà *** Richard Yates sinh năm 03/02/1926 và mất ngày 17/11/1992 là nhà văn Mỹ. Ông đã viết rất nhiều truyện ngắn và tiểu thuyết về cuộc sống của người dân Mỹ giữa thế kỷ 20. Ông được coi là người đã chép lại hoàn hảo biên niên ký về đời sống sâu sắc và vô cùng phức tạp của nước Mỹ giữa thế kỷ 20 trong những tác phẩm kinh điển của mình - những khúc bi ca về sự cô độc của con người đã vạch trúng tâm thức của thời đại, phản ánh một cách khốc liệt đời sống hiện thực Mỹ. Cuốn tiểu thuyết đầu tay của ông, Revolutionary Road (Con đường cách mạng) đã đoạt giải thưởng Sách Quốc gia vào năm 1962. Rất nhiều tiểu thuyết của ông được dựng thành phim, Revolutionary Road (Con đường Cách mạng), The Easter Parada (Lễ diễu hành Phục sinh). Mời các bạn đón đọc Lễ Diễu Hành Phục Sinh của tác giả Richard Yates.
Lâu Đài Sói - Hilary Mantel
Lâu đài sói của Hilary Mantel viết về Nước Anh thế kỷ 16 đang đứng trên bờ vực một thảm họa. Nếu nhà vua chết mà không có người thừa kế nam, đất nước có thể sẽ bị hủy diệt bởi nội chiến. Chưa hết, Henry VIII còn muốn chấm dứt cuộc hôn nhân hai mươi năm với hoàng hậu để lấy Anne Boleyn, một mối tình chống lại cả Giáo hoàng lẫn châu Âu kính Chúa. Giữa bối cảnh ấy xuất hiện Thomas Cromwell, một nhân vật cơ trí và tham vọng, vừa tràn đầy lý tưởng vừa cơ hội chủ nghĩa, kẻ đã giúp nhà vua thực hiện được một việc vô tiền khoáng hậu: ly hôn với hoàng hậu, dần ly khai khỏi giáo hội La Mã, và sẵn sàng cho cái giá phải trả để làm được điều ấy. Tác phẩm mang đến cho nhà văn Hilary Mantel giải thưởng Man Booker danh giá năm 2009. *** Hilary Mantel Mary sinh ngày 06 tháng 7 năm 1952), nhũ danh Thompson, là một tiểu thuyết gia, nhà văn truyện ngắn, nhà tiểu luận và nhà phê bình người Anh. Các tác phẩm của bà gồm các chủ đề từ hồi ký cá nhân đến tiểu thuyết lịch sử, đã được đưa vào danh sách ngắn đề cử các giải thưởng văn học lớn. Năm 2009, bà đoạt giải Man Booker cho cuốn tiểu thuyết Wolf Hall. Cuốn tiểu thuyết gần nhất của bà, Bring Up the Bodies, là cuốn thứ hai của bộ ba tiểu thuyết Thomas Cromwell đã đoạt giải Man Booker 2012. Bộ tiểu thuyết lịch sử nói về vị cố vấn Thomas Cromwell của Vua nước Anh Henry VIII. Bà là nhà văn người Anh đầu tiên và người phụ nữ đầu tiên nhận giải thưởng hai lần, theo bước chân của J. M. Coetzee, Peter Carey và J. G. Farrell—thắng giải Lost Man Booker   Mời các bạn đón đọc Lâu Đài Sói của tác giả Hilary Mantel.