Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Chiếc Hộp Giáng Sinh

Giáng sinh đã về trên thành phố. Những cơn gió tháng Mười hai buốt giá, tuyết rơi dày và ngọn lửa trong lò sưởi đã rực lên ấm nóng. Trong căn áp mái một ngôi biệt thự trên khu Đại Lộ thành phố Salk Lake, những bức thư ngả vàng nằm đó mấy chục năm, chờ được đọc lên lần nữa.  Những lá thư bí ẩn khiến người ta rơi lệ, bởi nỗi đau song hành cùng tình yêu tha thiết của một người mẹ mất con. Và nhờ đó, ý nghĩa của Chiếc hộp Giáng sinh đựng những bức thư, của ngày Giáng sinh thiêng liêng đã hé lộ. Một cuốn sách như lời ngợi ca tình yêu bất tử mà Thượng đế dành cho loài người, khi Người gửi con trai mình ra đi, dẫu biết con đường nào chờ đợi phía trước… Kể từ lần xuất bản đầu tiên, hơn bảy triệu người đã bị lay động bởi Chiếc hộp Giáng sinh, cuốn sách kinh điển về ngày Giáng sinh của thời đại chúng ta, thường được xếp cạnh Bài ca mừng Giáng sinh của Charles Dicken. Richard Paul Evans đã viết Chiếc hộp Giáng sinh như  một sự bày tỏ tình yêu ông dành cho hai con gái nhỏ của mình, Jenna và Allyson, nhưng câu chuyện rồi đã trở thành một thông điệp đầy sức mạnh, vượt qua nhiều biên giới, không chỉ dành riêng ngày Giáng sinh, gieo những nốt nhạc cảm động trong tâm hồn người nhận. Nhận định “Cuốn sách là về những sức mạnh bao bọc chúng ta, như gió, vô hình nhưng mãnh liệt khiến ta bàng hoàng chấn động. Và câu chuyện Giáng sinh nhỏ mà tôi viết ra là kết quả của những sức mạnh đó. Một vài người có thể coi đó là sự linh thiêng, một số khác gọi là sự trùng hợp. Còn có những người mà với họ, đó chính là phép màu.” *** “Chiếc hộp Giáng sinh" của Richard Paul Evans từng giành vị trí thứ nhất trong top best-seller cho cả ấn bản bìa cứng và bìa mềm của tạp chí New York Times “Món quà Giáng sinh đầu tiên là gì?” - bạn đã bao giờ đặt ra và trả lời câu hỏi này. Có lẽ phần lớn chúng ta khi được hỏi câu này đều nghĩ đến một món quà vật chất, một thứ đồ quý giá nào đó. Và nếu bạn chưa có câu trả lời, hãy đọc “Chiếc hộp Giáng sinh” (The Christmas Box) của nhà văn người Mỹ Richard Paul Evans.  Câu chuyện mở đầu bằng hình ảnh gia đình Richard - Keri và cô con gái nhỏ Jenna, một gia đình nhỏ gặp những khó khăn về chỗ ở khi trở về quê hương lập nghiệp. Căn hộ một phòng ngủ chật chội đến mức cô con gái của họ đã 4 tuổi vẫn được đặt trong chiếc nôi kê vừa khít vào phòng ngủ. Qua một trang báo, hai vợ chồng tìm được ngôi biệt thự cổ của một người phụ nữ độc thân sống trong vùng cần một gia đình có trẻ nhỏ đến ở cùng. Từ đây, ý nghĩa câu chuyện dần được mở ra. Mary Anne - chủ nhân ngôi biệt thự lộng lẫy ấy đã mất cô con gái duy nhất khi cô bé được 3 tuổi và chưa đêm nào bà nguôi ngoai nỗi nhớ con. Nỗi nhớ ấy được bà gửi gắm vào những bức thư nhuốm màu thời gian đựng trong chiếc hộp Giáng sinh bí mật trên căn gác áp mái của ngôi biệt thự. Sự ra đi của cô con gái khiến bao nhiêu năm Mary đắm chìm trong buồn bã, đau khổ và cô độc, khi không biết thổ lộ lòng mình cùng ai. Có thể nói, cuộc gặp gỡ giữa gia đình Rachard và bà Mary giống như một định mệnh mà Chúa trời đã sắp xếp. Một bên người phụ nữ dư giả nhưng gần như cả đời sống trong cô đơn, đến tuổi “gần đất xa trời” chợt nhận thấy cần có ai đó để được sẻ chia, được trò chuyện, để yêu thương: “Thật là tuyệt khi có ai đó trong nhà khi những ngày lễ đến”. Còn bên kia là một gia đình trẻ hạnh phúc, ăm ắp tiếng cười trẻ thơ nhưng đang gánh trên vai nỗi lo toan cơm áo gạo tiền. Sự gặp gỡ giữa họ giống như những mảnh ghép trong cuộc sống, bổ khuyết cho nhau những phần thiếu để làm nên một bức tranh tươi đẹp về cuộc sống hạnh phúc.  Sống chung với Mary, càng ngày vợ chồng Richard càng cảm thấy gần gũi với người phụ nữ cô đơn ấy, cảm thấy bà như một người thân trong gia đình: “Em có cảm giác như em đã biết bà ấy cả đời rồi” - Keri nói. “Như là bà mình vậy”, tôi nhận xét. Vợ chồng Richard nhận ra rằng người phụ nữ ấy muốn có người ở cùng là vì bà mong muốn có được cái không khí gia đình chứ không phải vì nhu cầu vật chất. Và điều làm Richard tò mò, muốn khám phá chính là những bức thư ngả vàng trong chiếc hộp Giáng sinh có thể chơi nhạc trên căn gác áp mái của căn biệt thự. Những lá thư chứa đầy tình yêu thương tha thiết, nỗi nhớ nhung của người mẹ đối với con gái mỗi dịp Giáng sinh về. Chủ nhân của những bức thư bí ẩn ấy là ai? Tại sao nó lại được đựng trong chiếc hộp Giáng sinh ấy. Nhưng bí mật dần hé mở cũng là lúc Mary phát hiện có một khối u trong não. Chính trong những ngày tháng ấy, khi Richard tìm hiểu được nguồn gốc những bức thư kia là của bà Mary viết cho cô con gái đã qua đời Andea. Đọc những bức thư nhuốm màu thời gian nhưng chứa chan xúc cảm của người mẹ ấy, Richard đã có câu trả lời cho câu hỏi của bà Mary dành cho anh “có bao giờ anh tự hỏi món quà Giáng sinh đầu tiên là gì không?”. Đấy chính là lời nhắn gửi đầy yêu thương mà bà góa phụ đã gửi đến cho anh, để anh nhận thấy đâu mới là thứ quý giá nhất của cuộc đời. Trải qua mất mát, đớn đau của cuộc đời nên Mary hiểu rõ, dù có kiếm được bao nhiêu tiền, dù cuộc sống vật chất có đầy đủ đến đâu nhưng thiếu sự quan tâm, dành thời gian cho gia đình là ta đã đánh mất món quà quý giá nhất của cuộc đời. Những lo toan thường nhật, những giấc mơ kiếm tiền dần thành công đã phần nào chiếm mất thời gian Richard dành cho gia đình, dành cho cô con gái nhỏ Jenna. Trẻ con luôn ngây thơ, trong sáng những cực kỳ nhạy cảm. Nghe cách cô bé Jenna trò chuyện với bà Mary không ít người trong chúng ta cũng tự soi lại chính mình bởi rất nhiều lúc, giống như Richard, ta mải mê với những lo toan mà xao nhãng sự quan tâm dành cho con cái. Có đôi lúc ta nghĩ cố gắng dành cho con những gì tốt nhất, cố gắng kiếm tiền để lo cho cuộc sống của con mà quên đi rằng, tuổi thơ của con cần nhất là sự gần gũi, chuyện trò của cha mẹ. Và cũng giống như Richard, chắc hẳn cũng không ít người, một ngày nào đó bỗng nhận ra rằng thời gian sẽ đưa tuổi thơ của con đi xa. Và càng lớn thì dường như con càng rời xa vòng tay của mình, cho nên hãy ở bên con, gần gũi với con khi vòng tay mình còn đủ rộng để ôm được nó. “Con gái nhỏ quý giá của tôi. Tôi đã ngu ngốc làm sao, khi để tuổi thơ của nóm tuổi thơ quý giá thoáng qua của nó vô tình trôi đi. Mãi mãi. Trong cái đầu óc khờ khạo của tôi sẽ mà là con gái nhỏ của tôi. Nhưng thời gian đã cho thấy tôi mới lầm lạc biết nhường nào. Một ngày nào đó con bé sẽ lớn. Một ngày nào đó con bé sẽ ra đi, còn tôi bị bỏ lại với ký ức về tiếng cười khúc khích và những điều bí mật mà lẽ ra tôi đã được biết”. Hiếm có tác phẩm đầu tay của tác giả nào lại giành được vị trí thứ nhất trong top best-seller cho cả ấn bản bìa cứng và bìa mềm của tạp chí New York Times như “Chiếc hộp Giáng sinh” cho dù ban đầu tác giả chỉ định viết câu chuyện như một món quà dành cho hai cô con gái của mình. Ngay từ lần xuất bản đầu tiên (năm 1994) “Chiếc hộp Giáng sinh" đã được bán ra tới hơn 7 triệu bản. Tác phẩm này được dịch ra hơn 20 thứ tiếng với bốn mươi triệu bản được bán ra và còn giành được giải Emmy cho bộ phim truyền hình được dựng cùng tên. Tại Việt Nam, sách được Nhà xuất bản Văn học cùng Công ty Nhã Nam liên kết xuất bản năm 2014 và lập tức trở thành cơn sốt với bạn đọc trong nước. Chính những thông điệp đầy nhân văn mà tác giả gửi gắm trong tác phẩm đã làm lay động trái tim bạn đọc trên toàn thế giới. Không còn đơn thuần là một tác phẩm viết cho ngày Giáng sinh mà tác phẩm này giống như những nốt nhạc đầy yêu thương và cảm động gieo vào tâm hồn mỗi người, để chúng ta nhận ra rằng món quà quý giá nhất của cuộc sống tình yêu thương. Ai đã đọc “Chiếc hộp Giáng sinh” có lẽ sẽ có cùng chung nhận xét, tác phẩm này thật sự xúc động dù cả nội dung và văn phong đều vô cùng giản dị. Kết thúc truyện đượm buồn khi bà Mary ra đi vì căn bệnh u não nhưng đằng sau đó vẫn lấp lánh tình yêu thương. Sự ra đi của Mary không gây cho bạn đọc cảm giác nặng nề, u uất mà vô cùng nhẹ nhàng bởi đó là giây phút bà được gặp lại con gái bé bỏng mà suốt đời bà yêu thương, nhung nhớ. Và chiếc hộp Giáng sinh được trao lại cho Richard như một món quà bà để lại, như một lời nhắc nhở hãy luôn trân trọng món quà quý giá nhất cuộc sống - đó là tình yêu thương trong mỗi gia đình. PHẠM NGỌC Mời các bạn đón đọc Chiếc Hộp Giáng Sinh của tác giả Richard Paul Evans.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Cầu Ô Thước - Antoine Audouard
Năm 1945, Pierre Garnier tòng quân, gia nhập quân viễn chinh Pháp sang tham chiến ở Đông Dương. Giữa lúc đang hoang mang tột độ trước thực tế trần trụi của chiến tranh, cậu lạc bước vào tình yêu. Những mối tình mãnh liệt mà bất khả. Những niềm hạnh phúc không thể nào nắm giữ. Cho đến ngày thất trận. Nhiều năm sau, có một người con trai quyết định lần về quá khứ, tìm lại những con người cũ, những mong vén được bức màn bí ẩn về cha, một người cha vắng mặt. Nhưng khi sự thật ấy được phơi bày, liệu lòng anh đã yên? Cầu Ô Thước là một trang lịch sử bị tách rời, nơi thời gian ngưng đọng, nơi dựng lại cái không khí sôi sục của chiến tranh Đông Dương, nơi hiển hiện những nhân vật đã làm nên một phần thế kỷ XX. Nhưng hãy khoan nghĩ bạn đang đọc một cuốn sách lịch sử, bởi như tờ Le Figaro đã nói: "đây không phải một cuốn sách lịch sử, mà là một câu chuyện tình yêu." *** Tôi nhận được cuộc điện thoại vào lúc tối muộn. Một giọng nói lạ hoắc, xoe xóe hỏi xem có phải tôi tên là André Garnier, có đúng tôi là con trai của Pierre Garnier không và khi tôi đang lúng búng trả lời rằng đúng là tôi nhưng ai thế? ai vậy? thì giọng nói ấy tiếp tục: “Cha anh, ông Garnier sẽ tới nhà anh ngày mai. Lúc 10 giờ 30 được chứ?” Chắc chắn, chúng ta không sống trong một thế giới mà người cha là đoàn tàu và con cái là sân ga; chắc chắn người phụ nữ này không có thật, bà ta không xưng danh và tôi cũng chẳng hỏi. Thế nhưng, ngày hôm sau, có hai nhân viên cứu thương - một to con, một gầy nhẳng - gõ cửa nhà tôi rồi đưa một tờ giấy màu xanh cho tôi ký, cứ như là họ đi giao thư bảo đảm vậy. “Đúng 10 giờ 30 phải không nhỉ?” người gầy nhẳng ra vẻ thành thạo hỏi, rồi hai người đàn ông rời đi không để tôi kịp ngậm miệng lại. Bố và tôi cứ đứng trên lối nhỏ dẫn vào nhà, lạ lẫm với nhau. Ông hơi lắc lư người, hai bàn tay nắm chặt chiếc túi da du lịch. “Mẹ con có khỏe không?” cuối cùng ông cũng lên tiếng và tôi thấy lòng mình ngổn ngang những cảm xúc đầy mâu thuẫn mà nổi trội là một cơn giận dữ rất thường tình - tức giận vì đột nhiên tôi phải làm người cha chăm sóc ông trong khi ông chưa từng một ngày làm cha tôi. “Thế còn vợ con?” ông tiếp tục, với giọng niềm nở. “Tốt cả,” tôi nói nhỏ, không cố để ông nghe thấy. Ông đến chậm mất ba mươi năm so với ngày mẹ tôi mất, nhưng chỉ muộn có ba hôm so với ngày vợ tôi bỏ đi. Một chút cố gắng thôi là ông đã có thể đến kịp. ... Mời các bạn đón đọc Cầu Ô Thước của tác giả Antoine Audouard.
Người Vô Hình
Herbert George Well thôi học năm 14 tuổi để làm người trông coi cửa hàng, rồi thi đỗ đại học, và sau đó trở thành giáo viên. Sau một thời gian sống trong cảnh nghèo khổ, ông trở thành một nhà văn viễn tưởng nổi tiếng. Trong các tác phẩm của mình, H.G. Wells đã mô tả máy bay và tàu ngầm đi lại, trước khi người ta mơ hồ tin rằng những hành trình như vậy có thể thực hiện được. Là một con người đầy nghị lực H.G. Wells viết cuốn tiểu thuyết đồ sộ Phác thảo lịch sử (An Outline of History - 1920) và nhiều nghiên cứu về khoa học và chính trị. H.G. Wells đã phỏng vấn nhiều nhà lãnh tụ chính trị nổi tiếng và luôn có chính kiến về các sự kiện trên thế giới. Nhưng người ta lại nhớ đến một H. G. Wel1s tiểu thuyết gia hơn. Kẻ Vượt Thời Gian (The Time machine - 1895) và Người vô hình (The Inrrsible Man - 1897) đã trở nên rất gần gũi với công chúng và cũng được các nhà làm phim đặc biệt ưa thích. *** Trong đau đớn, khốn cùng, trong khoái cảm, và cái chết - Đó là đời sống mà nhà khoa học Griffin đã nếm trải khi trở thành một người vô hình. Ở Người vô hình, thiện và ác là những bện xoắn rất chặt vào nhau, ràng buộc, tựa nương vào nhau mà phát triển. Bạo lực sẽ dẫn đến bạo lực. Giết người sẽ dẫn đến giết người. Có lẽ đó là cái lý lẽ phù hợp với quy luật tự nhiên nhất, và nó chạy theo nhau, đẩy mãi, đẩy mãi đến tận cùng của xung đột. Cái chết của người vô hình là sự hóa giải cuối cùng. Tại sao cuộc đời người vô hình lại đi đến mức ấy? Người vô hình là một vật thể lạ giữa loài người. Và loài người từ xưa tới này vốn là sinh vật không chấp nhận sự khác biệt, hoặc hoảng sợ, hoặc ruồng rẫy, và trước sau gì sự hủy diệt cũng sẽ xảy ra. Là tham vọng hay thực chất chỉ là thanh trừng những gì không nằm trong hệ thống. *** Vào một ngày mùa đông đầu tháng hai, gió lạnh thổi từng cơn như cắt da, những đợt tuyết cuối cùng trong năm rơi xuống phủ lên mặt đất một màu trắng xóa. Từ ga xe lửa Bramblehurst, có một người khách lạ đi tới, mình mặc áo khoác đen, cầm một túi đen nhỏ trên tay mang găng dày, chân mang ủng. Ông ta quấn kín từ đầu đến chân, và một chiếc nón rộng vành che hết khuôn mặt chỉ chừa lại chóp mũi sáng bóng. Tuyết rơi phủ trên vai và lưng trông giống như ông ta đang mang một túi hành lý thật nặng. Ông ta bước vào quán trọ “Xe và Ngựa” như là một người sắp chết và ném cái túi xuống. - Lò sưởi! Làm ơn cho tôi thuê một phòng có lò sưởi! - Ông khách kêu lên. Ông ta dậm chân và lắc mình làm tuyết rơi đầy trong quán rượu và theo chân bà Hall, vợ chủ quán đi vào phòng khách mà không cần hỏi giá. Không nói lời nào, khách lạ ném hai đồng vàng sovereign lên bàn và đi vào phòng của ông. Giữa những ngày đông tháng giá, không có một bóng khách qua lại thì đây là một dịp may hiếm có cho bà Hall. Bà vội vàng đốt lò sưởi cháy đỏ lên và tự đi lo bữa ăn thậi xứng đáng cho ông khách. Khi thức ăn, nước uống đã được làm xong bà đem khăn, dĩa, ly vào dọn lên bàn. Mặc dù lửa trong lò sưởi đã cháy đượm, nhưng ông khách lạ vẫn còn để nguyên quần áo và nón, đứng nhìn đăm đăm ra cửa sổ xem tuyết rơi ngoài sân, lưng quay về phía bà và dường như ông ta đã hóa đá. Đôi tay đeo găng của ông chắp ra sau và có vẻ như ông ta đang mải mê suy nghĩ. Bà thấy tuyết trên vai ông khách đã tan thành nước và chảy ròng ròng xuống, làm ướt cả tấm thảm trải sàn nhà. Bà ngạc nhiên hỏi: - Thưa ông, ông cho phép tôi mang nón và áo khoác vào nhà bếp để hong khô chứ? Không hề ngoái lại người khách nói: - Không cần, bà cứ để mặc tôi. Bà chắc mình đã không nghe rõ câu trả lời, nên lặp lại câu hỏi. Ông ta quay đầu lại nhìn qua vai bà và nói: - Tôi thích để như vậy! - Ông ta nhấn mạnh từng lời với vẻ thật cương quyết. Bà để ý thấy ông khách mang một cặp kính to màu xanh đen, mớ tóc rậm và một hàm râu rậm rạp phủ đến tận cổ áo khoác che khuất cả gò má và khuôn mặt. - Được thôi, thưa ông. Nếu ông thích như vậy. Chỉ một chút nữa căn phòng sẽ ấm lên theo ý ông muốn. - Bà nói. Ông khách không trả lời, lại quay mặt đi nơi khác. Bà Hall cảm thấy không phải là lúc tiếp tục cuộc nói chuyện nên để mọi thứ lên bàn rồi lặng lẽ rời khỏi phòng. ... Mời các bạn đón đọc Người Vô Hình của tác giả Herbert George Wells & Nghiệp Khánh (dịch).
Bà Dalloway - Virginia Woolf
Bà Dalloway có thể coi là một trong những cuốn sách văn học tiêu biểu đầu thế kỉ 20 (được tờ Telegrap đánh giá là 100 cuốn tiểu thuyết nên đọc trong đời), khi mà người ta đã "chán" kiểu lãng mạn, mơ mộng của Jane Austen hay chị em nhà Bronte, thay vào đó là trào lưu tư tưởng về thuyết sinh tồn. Đầu thế kỉ 20 là thời gian biến động của thế giới nên văn học cũng chuyển biến theo như vậy, theo chiều hướng nặng nề và khắc khổ hơn. Người ta nghĩ rằng tư tưởng sinh tồn (coi cuộc sống vô nghĩa) sẽ chỉ là một trào lưu nhất thời trong thời kì đen tối nhưng thực chất đã ảnh hưởng đến một thế hệ lớn sau này và người ta nhận ra rằng, con người trong thời kì nào cũng tiềm tàng tư tưởng đó. *** Virginia Woolf (tên thời con gái Stephen) (sinh 25 tháng 1, 1882 - mất 28 tháng 3, 1941) là một tiểu thuyết gia và là một nhà văn tiểu luận người Anh, bà được coi là một trong những nhân vật văn học hiện đại lừng danh nhất thế kỉ 20. Trong suốt thời gian giữa chiến tranh, Woolf là một nhân vật có tầm ảnh hưởng của xã hội văn học London và là một thành viên của Bloomsbury Group.   Những tác phẩm nổi tiếng nhất của bà bao gồm: Đêm và ngày (Night and Day, 1919), Căn phòng của Jacob (Jacob’s Room, 1922), Bà Dalloway (Mrs.Dalloway, 1925), Đến ngọn hải đăng (To the Lighthouse, 1927), Orlando (1928), Một căn phòng riêng (A Room of One’s Own, 1929), Những đợt sóng (The Waves, 1931), Ba đồng tiền vàng (Three Guineas, 1938). Trong các sáng tác của bà, tác phẩm luận văn Một căn phòng riêng (A Room of One’s Own, 1929) có một câu châm ngôn rất nổi tiếng:"a woman must have money and a room of her own if she is to write fiction" ("một người phụ nữ phải có tiền và một căn phòng riêng nếu cô ta phải viết tiểu thuyết". *** Bà Dalloway bảo bà sẽ tự đi mua hoa. Vì Lucy có công việc phù hợp với cô ta. Mấy cánh cửa sẽ được tháo khỏi bản lề, những người thợ của Rumpelmayer sẽ tới. Và sau đó, Clarissa Dalloway nghĩ, thật là một buổi sáng tuyệt vời – tươi tắn như thể được ban phát cho lũ trẻ con trên bờ biển. Thật hân hoan! Thật chìm đắm! Vì dường như đối với bà, khi những cái bản lề kêu rít lên, như lúc này bà có thể nghe, bà phải mở tung những khung cửa sổ kiểu Pháp và lao người vào bầu không khí thoáng đãng của Bourton. Trong lành biết bao, êm ả biết bao, dĩ nhiên là yên tĩnh hơn lúc này, bầu không khí sớm mai hồi ấy giống như tiếng vỗ của một làn sóng; nụ hôn của một làn sóng; lạnh và gắt, thế nhưng nghiêm trang (với một cô gái mười tám tuổi như bà thuở ấy),khi bà cảm thấy như đã từng cảm thấy lúc đứng đó ở khung cửa sổ mở, rằng một điều gì đó kinh khủng sắp xảy ra; khi nhìn những bụi hoa, những cây cối với làn khói ngoằn ngoèo lan tỏa và những con quạ đang vọt lên, sà xuống; đứng và nhìn cho tới khi Peter Walsh bảo: “Đang suy tư giữa đám rau củ hả? – Phải thế không? – “Tôi thích những người đàn ông hơn là những cây cải bắp” – Phải thế không? Hẳn ông ấy đã nói thế vào bữa điểm tâm của một sớm mai nào đó khi bà đã bước ra trước sân hiên – Peter Walsh. Một hôm nào đó, trong tháng Sáu hoặc tháng Bảy này, bà quên mất là tháng nào, ông ấy sẽ trở về từ Ấn Độ, vì những lá thư của ông ấy cực kỳ buồn nản; những câu nói của ông ấy chính là thứ làm cho người ta nhớ; đôi mắt, con dao nhíp, nụ cười, tính tình gắt gỏng của ông ấy, và khi hàng triệu thứ đã hoàn toàn biến mất, một vài câu nói như câu này về những cây cải bắp thật kỳ lạ biết bao! Bà hơi cứng người lại chút đỉnh trên vệ đuờng, chờ chiếc xe tải của Durtnall chạy qua. Một người phụ nữ quyến rũ, Scrope Purvis nghĩ về bà (ông ta biết bà như người ta biết về những người sống bên cạnh nhà mình ở Westminster); ở bà có cái dáng vẻ của một con chim, một nàng chim giẻ cùi, xanh lam, nhẹ nhàng, sôi nổi, dù bà đã quá năm mươi, và đã bạc trắng mái đầu từ khi ngã bệnh. Bà đứng đó, không hề nhìn thấy ông, chờ để băng qua đường, người thật thẳng. ... Mời các bạn đón đọc Bà Dalloway của tác giả Virginia Woolf.
Người Chậm - John Maxwell Coetzee
Chọn thành phố Adelaide của Úc làm bối cảnh, tác giả Người chậm dường như tạo điều kiện cho các nhân vật có một nơi thật yên tĩnh để được quyền chậm rãi. Sống chậm rãi, suy tư chậm rãi, nghiền ngẫm về đời sống và những con người vây quanh ta, tự hỏi và tự giải đáp... Người đàn ông bị tai nạn giao thông, phải cưa cụt một chân nhưng khăng khăng từ chối lắp chân giả. Ông trăn trở về việc mình chỉ như người khách trên đất nước này, nhưng ông cũng không phải là người Pháp dù gốc gác Pháp, cũng không phải là người Anh, hay là người Hà Lan như ông bố dượng của mình. Người phụ nữ gốc Croatia mới nhập cư cũng không thuộc về xứ sở này. Suy cho cùng, tất cả đều là dân ngụ cư, là tạm trú trên xứ sở và trên cả hành tinh. Ông có cảm tình với người đàn bà gốc Croatia được thuê đến để chăm sóc mình, cảm tình hay là tình yêu? Sự giúp đỡ mà ông đề nghị với chị là trong sáng hay vụ lợi trong cốt lõi? Đứa con trai của chị, thích phóng xe máy và muốn vào trường nội trú đắt tiền, là kẻ ngang tàng, bừa bãi hay là người chu đáo, tận tâm như mẹ cậu? Tất cả đã được bóc tách ra từng lớp, dần dần, lớp sau gây giật mình, thậm chí lật nhào kết luận vừa mới đến từ lớp trước. Sự mổ xẻ tâm lý nhiều lúc rợn người, đau xót. Sự phân tích tâm trạng nhiều lúc tỉ mỉ, tinh tế ở mức độ cao. Sự phân tích sắc sảo, dồn thúc đối tượng vào thế cùng để tự thú, một phần là do một nhân vật bí ẩn gây ra. Một bà già tự xưng là nhà văn, tìm đến, ám ảnh và quấy rầy ông. Ngôn từ nghiệt ngã, khô gọn và chính xác, bà bóc trần những trạng thái tâm sinh lý của người đàn ông hiền lành và từ tâm. Không phải để hạ bệ lòng tốt của con người, mà chỉ ra cho con người thấy cái đáy sâu của tấm lòng ấy. Không chỉ là ông già trong truyện, mà ngay cả người đọc có lẽ cũng có lúc bất bình, cảm thấy bị tổn thương trước sự sắc sảo quai quái của bà già này. Bà xuất hiện một cách bất ngờ, hiện diện thường xuyên một cách bí ẩn, và cũng ra đi một cách không thể lý giải ở cuối truyện. Cũng có thể bà không tồn tại bằng xương bằng thịt, chỉ đơn giản bà chính là con người thứ hai, bước ra từ trong chính nhân vật và trong độc giả. Trong cuốn sách này, Coetzee đưa ra suy ngẫm thâm thuý về những gì làm chúng ta thành người, về những cách làm ta chín chắn hơn và ý niệm phải sống ra sao trong đời. Bằng giọng văn chắc chắn và kiên quyết, Coetzee vật lộn với các vấn đề này, và cho ra đời một câu chuyện cảm động sâu sắc về tình yêu và cái chết làm người đọc sững sờ ở từng trang. *** Tai họa vồ lấy ông từ phía bên phải, đột ngột, bất ngờ và đau đớn như một tia lửa điện, nhấc bổng ông khỏi chiếc xe đạp. Bình tĩnh nào! Ông tự nhủ lúc bay trong không khí (bay vèo trong không trung sao dễ thế!), thực vậy, ông cảm thấy chân tay ông ngoan ngoãn buông chùng. Giống hệt một con mèo, ông tự nhủ, cuộn tròn rồi nhún chân bật lên, sẵn sàng tiếp nhận điều sắp tới. Tiếp đến là cái từ mềm dẻo lạ thường. Song le, sự việc lại không hoàn toàn như thế. Không hiểu vì đôi chân ông không nghe lời hay vì lúc ấy ông quá choáng váng (ông nghe thấy hơn là cảm thấy sọ ông đập mạnh lên lớp nhựa đường chắc, cứng đơ đơ như đập vào cái vồ), ông không bật lên bằng chân tí nào, ngược lại bị trượt đi nhiều mét, trượt mãi, cho đến lúc ông ngất lịm. Ông nằm sóng sượt, im lìm. Buổi sáng hôm đó thật huy hoàng. Ánh mặt trời ve vuốt dịu dàng. Nằm soài ra như thế, đợi phục hồi sức khoẻ còn tệ hơn. Thực ra có thể còn thứ tệ hơn là chợp mắt một lát. Ông nhắm mắt, thế giới chòng chành, xoay tròn bên dưới; rồi ông thiếp đi. Đột nhiên ông chợt tỉnh. Thân thể ông vừa bay trong không khí nhẹ nhõm là thế mà mỗi lúc một nặng nề, nặng đến mức ông không sao nhấc nổi một ngón tay. Có ai đó hiện ra lờ mờ phía trên ông, một người trẻ hơn, tóc thô và xoắn bện thừng. - Xe đạp của tôi - ông nói với cậu ta, phát âm khó khăn từng từ, từng từ một. Ông muốn hỏi chiếc xe của ông ra sao rồi, vì một cái xe đạp có thể biến mất trong chớp mắt. Nhưng chưa kịp nói ra những lời ấy, ông lại ngất đi lần nữa. ... Mời các bạn đón đọc Người Chậm của tác giả John Maxwell Coetzee.