Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Trên Mảnh Đất Người Đời

Trên Mảnh Đất Người Đời là tác phẩm văn học kinh điền nổi tiếng của Nga. Câu chuyện như được gói trong một không khí phũ phàng của cái ác và bất hạnh lồng trong một điều gì đó giống như là tình yêu tam giác. Hai người đàn ông rất khác nhau về tính cách cùng quan hệ với một phụ nữ. Và một người đàn ông bị kẻ kia hãm hại tán độc phải vào tù, mất đi người yêu và mọi thứ trên đời, gần như mất cả niềm tin đối với con người. Anh ta phải làm gì trong quãng đời hiu quạnh và ngang trái còn lại khi mà đã tắt hết mọi niềm hy vọng? Tác giả Anatoli Stepanovich Ivanov nổi tiếng với những tác phẩm Những bài hàt của Anka, Những bóng đen biến mất giữa ban ngày, Tiếng gọi vĩnh cửu, Thù địch, Trên mảnh đất người đời, Truyện một mối tình tan vỡ. *** Anatoli Stepanovich Ivanov (Anatôli Xtêpanôvits Ivanôp) sinh năm 1928 tại làng Sêmônaikha, miền đông Kazaxtan. Sau khi học hết phổ thông ở làng quê, ông vào học khoa Báo chí trường Đại học Tổng hợp mang tên Kirôp ở Alma - Ata. Tốt nghiệp đại học, ông vào làm cho tờ báo Sự thật Irtưs và nhập ngũ tại đây. Sau khi giải ngũ, Anatôli Ivanôp làm biên tập cho báo Nôvôxibir, sau đó cho nhà xuất bản ở Nôvôxibir. Từ 1958 đến 1964 là phó tổng biên tập tạp chí Những ngọn lửa Xibir. Năm 1956 Anatôli Ivanôp cho ra mắt tập truyện ngắn đầu tiên lấy tên là Những bài hát của Anka, năm 1963 bắt đầu nổi tiếng với tiểu thuyết Những bóng đen biến mất giữa ban ngày. Bộ tiểu thuyết hai tập Tiếng gọi vĩnh cửu (1970 - 1976) được tặng giải thưởng quốc gia Liên Xô năm 1979, đã đem lại tiếng tăm và vinh dự to lớn cho nhà văn. A. Ivanôp còn cho ra mắt một loạt truyện nổi tiếng như Thù địch, Trên mảnh đất người đời, Truyện một mối tình tan vỡ và các tác phẩm khác. Chủ đề quán xuyến hầu như toàn bộ sáng tác của A. Ivanôp là sự ngợi ca giá trị tinh thần, khẳng định cái thiện, lên án và đấu tranh không khoan nhượng với mọi biểu hiện của cái ác trong xã hội loài người. Truyện của ông phần lớn đề cập đến những tình huống hết sức gay cấn, đôi khi đến mức bi kịch tàn nhẫn, song bao giờ cũng thấm đượm tinh thần lạc quan, tin tưởng vào bản chất tốt đẹp của con người. Truyện Trên mảnh đất người đời, là một trong những truyện hay nhất, đồng thời cũng có ý nghĩa xã hội nhất trong văn học Xô Viết. Câu chuyện xoay quanh số phận của một con người, tuy phải trải qua những cảnh ngộ hết sức éo le nhưng vẫn giữ được bản chất nhân hậu và độ lượng, giữ được lòng tin vào tình yêu, vào cuộc sống, tin vào một xã hội công bằng. Giới thiệu truyện này của Anatôli Ivanôp, chúng tôi muốn bạn đọc làm quen với một tác giả tài năng của văn học Nga và hy vọng bạn đọc sẽ còn có dịp biết thêm về ông qua một số tác phẩm khác đang và sẽ được dịch sang tiếng Việt. *** Buổi ngày, khi mặt trời lạnh vừa sà xuống thấp thì sương mù bắt đầu lan trên bãi cỏ bên kia sông trên những cánh đồng đã gặt ở phía xa, dâng lên trên những khu đất trũng ngập nước. Đến chiều, những cụm sương thấm lạnh, trở nên dầy đặc và mỗi lúc một nở to hơn. Cuối cùng, chúng lặng lẽ kết lại với nhau. Màn hơi nước mờ đục ngày càng nặng hơn, trườn dần về phía đông, thoạt tiên nó phủ kín bờ bên kia, sau đó che khuất nửa dòng sông Ôbi rộng lớn nhưng đã yếu hẳn đi sau một mùa hè oi ả, rồi cứ thế lan dần sang ngôi làng bên này, đe dọa phủ kín và đè lên ngôi làng bằng cái sức nặng không trọng lượng của nó. - Cậu nói phét, Samian ạ, - Paven Đêmiđôp thốt lên. Cũng như mọi hôm, ông đang ngồi bên vách túp lều đất của mình, nhìn sang phía những cánh đồng sẫm tối bên kia sông. - Bố vừa nói gì đấy? - cậu bé Grinka, lên tám, con nuôi của Đêmiđôp, bước vào sân hỏi. Hai bàn tay dính đầy mực của cậu ôm chiếc cặp học trò đã sờn da. - Bố bảo ai nói phét cơ? - À, bố nói gã sương mù! - Đêmiđôp hất hàm về phía sông Ôbi. - Hắn đúng là thằng bịp. Grinka khịt một cái, đưa ngón tay lên quệt mũi ngẫm nghĩ. - Nó bịp thế nào ạ? - Thì nó đang dọa chúng ta đấy, con không thấy sao? Cả hai lại im lặng một lúc. Grinka - nhỏ bé, đội mũ lưỡi trai rộng thùng thình của bố, mặc chiếc áo vét dạ vừa mua ở cửa hàng bách hóa xã trước hôm khai trường. Đêmiđôp - người khô gầy, thô kệch, hai đầu gối khẳng khiu nhô hẳn ra phía trước, dưới tấm áo bông dầy cũng thấy rõ đôi vai nhọn. Tuy đã ngoài sáu mươi tuổi, đã về hưu nhưng vẫn không thể gọi ông là ông già được. Mặt ông vẫn cạo, tuy rất họa hoằn, hôm nay ông cũng vừa cạo xong, và đôi má vẫn còn đầy đặn, chưa hề bị nhăn nheo của ông bóng lên dưới ánh nắng nhạt lúc trời chiều. - Có, con có thấy, - Grinka nói, - Buổi chiều sương càng dầy bao nhiêu, thì sáng hôm sau trời càng trong bấy nhiêu. Bố vẫn bảo thế. - Đúng. Nhưng con còn thấy gì nữa không? - Không, không thấy gì nữa. - Lắng tai nghe thật kỹ xem. Thế nào, có thấy gì không? Grinka nhíu hẳn trán lại, đứng im không nhúc nhích. - Không thấy gì cả. Chỉ thấy tiếng chó đực sủa thôi. - Đồ ngốc, đấy là tiếng chó cái. Của anh đội trưởng MitrôFan. Còn gì nữa không? - Hình như có tiếng xe tải ở sân sau. Cả tiếng gì như tiếng con gái la hét. - Đấy là tiếng cô con gái bác Artamôn chăn ngựa cho nông trang, tiếng cô Klapka. - Cả tiếng những cô khác, vì có nhiều tiếng cười khúc khích. - Grinka cãi lại. - Nhưng có cả tiếng cô Klapka. Trong số đó có cả tiếng cô Klapka. Giờ là tiếng đàn phong cầm của anh lái máy kéo Lenka. Cái anh chàng Lenka khốn khổ. Có cái đàn đắt tiền, bóng như gương, thế mà không biết chơi. Nghe cứ như tiếng cưa gỗ ấy… Nhưng anh chàng cũng là tay khá, có mớ tóc trông cũng bảnh. Quả nhiên, chỉ một lát sau bắt đầu vẳng đến những âm thanh rời rạc, sai điệu, nghe rất nhỏ vì khoảng cách quá xa của chiếc phong cầm. - Đấy, thấy chưa? Thế mà hắn ta lại đe dọa, - Đêmiđôp lại hất đầu về phía bên kia sông, nơi sương mù đang lan đến. - Hắn dọa cái gì ạ? - Grinka vẫn chưa hiểu. - Hắn dọa ai? Mà làm sao hắn dọa được hả bố? - Đồ ngốc! - Mắt Đêmiđôp ánh lên giận dữ. - Thôi đi vào nhà. Có khoai tây luộc để phần con đấy. Cả hũ sữa trên bậu cửa sổ nữa… Bố còn ngồi đây lúc nữa đã… - Bố ơi, nhưng bố đừng đến cửa hàng cô Marka nhé, - Grinka van nài bố giống như Nađegiơđa, người chị nuôi đã hai năm nay vào làm ở trại quy hoạch rừng của cậu, vẫn thường van nài. Rồi cũng bắt chước chị, cậu nói thêm: - Bố đừng uống cái thứ vốtka chết tiệt ấy nữa, bố nhé! - Thôi, bước đi cho khuất mắt! - Đêmiđôp quát lên. - Đã bảo là bố sẽ ngồi đây, không đi đâu cả. Grinka bỏ vào trong nhà, và trong lúc ngồi ăn một mình, cậu thầm nghĩ, như đã thành lệ, hễ khi nào cái “mắt sói” sáng lên (“mắt sói” là tên lúc đầu bố cậu đặt ra, sau cả làng bắt chước dùng theo để gọi cái cửa sổ thấp của nhà Maria Maksêeva, cứ tối tối lại sáng ánh đèn và mụ chủ nhà dùng ô cửa ấy làm chỗ bán rượu vốtka “chẵn tiền” cho khách, nghĩa là bốn rúp một chai!), là thế nào bố cậu cũng mò đến đó; những lúc say, bố cậu thường tỏ ra hiền lành, có khi hiền hơn cả lúc tỉnh, ông thường mang về cho cậu có lúc thì những cái kẹo hay bánh đa rẻ tiền, lúc thì một chai nước chanh cũng mua ở ô cửa đó. Và trong lúc chất men chưa giã hẳn, bố cậu cứ đi vòng quanh căn buồng hẹp bảo rằng ông uống thế là đủ rồi, và hứa với cậu, với Grinka, rằng ông sẽ thôi không uống nữa, ông hay xoa đầu cậu, và có lần hình như còn khóc. Nhưng sợ Grinka nhìn thấy nước mắt, nên ông cứ phải lắc đầu thật mạnh, rồi vừa lảo đảo đi hết góc này sang góc kia, vừa lầu bầu trong cổ họng một câu hát kỳ lạ, khó hiểu: Ta là ai? Ta chẳng là ai, ta chỉ là kẻ ấy… Kẻ lạ lùng, kỳ quặc chính là ta. Ông lầu bầu một lúc mấy câu như thế rồi thôi, lăn ra ngủ. Nhưng dù sao Grinka cũng không muốn tối nào bố cậu cũng say. Cậu vẫn thích bố cậu tỉnh táo hơn là say. Vừa dọn bàn, Grinka vừa nghĩ: cậu có ông bố quả là kỳ lạ. Và mấy câu hát kia đúng là ông tự hát về ông. Cách đây ba năm ông nhận cậu từ nhà trẻ mồ côi ở Marsanikha về nuôi với một điều kiện kỳ quặc: - Tên con là Vôpka à? Từ nay ta sẽ gọi con là Grinka! - Cháu không muốn thế! - Grinka, mà lúc đó hãy còn là Vôpka nói. - Phải thế thôi. Nếu không thì không xong đâu, ta sẽ nhận đứa khác, mặc dù con có vẻ là đứa bé kháu khỉnh và cũng ngang ngạnh ra trò đấy. Rồi ông im lặng rít hết một điếu thuốc lá cuốn rõ dài, sau đó dụi mẩu thuốc lá xuống đất, họ nói chuyện với nhau trong vườn của nhà trẻ, rồi bắt đầu nói một tràng dài mà có đến một nửa những điều ông nói cậu chẳng hiểu gì cả. - Ta là người coi rừng, con ạ, nghĩa là ta canh giữ cây cối ấy mà, ta trông không cho bất cứ loại thú nào được phá rừng. Cái chòi canh của ta ở ngay trong rừng. Cây cối lúc nào cũng rì rào, rì rào… Con tưởng chúng rì rào vì gió phải không? Ồ, không đâu, con ạ. Đó là chúng chuyện trò với ta đấy. Chúng kể cho ta nghe chúng có chuyện gì vui, hay chuyện gì buồn… Hoặc giả chúng báo cho ta biết có kẻ nào vừa đi qua, kẻ đó là người tốt hay xấu. Dĩ nhiên, nếu đó là người tốt thì xin mời, cứ việc đi tự nhiên. Nhưng nếu là người xấu thì, anh bạn ạ, đừng có đùa, phải coi chừng! Rừng báo cáo lại với ta tất cả. Cây cối ấy mà. Con biết không, chúng không chỉ là cây cối đâu, mà là người sống thật sự đấy. Chỉ khi nào bị đẵn đi rồi, chúng mới là cây, là khúc gỗ chết, tóm lại là… Ta sống trong túp lều ấy cùng với con gái ta tên là Nađegiơđa. Nó cũng là con nuôi ta. Vì suốt đời ta sống một mình, chưa bao giờ có vợ cả. Tại sao ấy à? Câu hỏi ấy có khi gần hết đời mới giải đáp được con ạ. Có thể là vì ngu ngốc… Ừ, thế cũng được. Ta cứ suy nghĩ mãi, rồi cuối cùng cũng nghĩ ra chuyện đến trại trẻ mồ côi nhận đứa con gái về nuôi. Sau chiến tranh có nhiều trẻ mồ côi lắm… Nhiều hơn bây giờ. Thế là ta đến xem. Ta thích một cô bé, một cô bé thò lò mũi. Mặt cũng đầy tàn nhang như con ấy. Không hiểu sao ta thích những đứa bé mặt tàn nhang. Mỗi tội tên cô bé đó là Anna. Anka - Anka, ăn nhanh cho lớn mà đi lấy chồng. Khi nói chuyện với cô bé lúc ấy như ta đang nói với con bây giờ đây này, không hiểu sao ta bỗng nhớ đến những câu hát ngu ngốc ấy. Ta nghĩ, mình nuôi cho nó lớn rồi nó đi lấy chồng, thế là mình lại ở một mình… Ta bảo cô bé: bây giờ con sẽ là Nađegiơđa. Đối với con đó chỉ là cái tên, nhưng đối với ta nó là cả ý nghĩa cuộc đời. Ta bảo với cô bé như thế. Cứ làm như khi mang cái tên mới thì cô bé sẽ không lo đi kiếm chồng nữa không bằng mà sẽ ở lại mãi mãi với ta. Hồi đó ta ngốc quá, phải không? Con nghĩ thế nào? - Sao lại ngốc ạ? Không, bác nghĩ thế đúng lắm. Vì một khi bác đã lấy cô ấy về làm con, thì cô ấy phải là con của bác! - Đấy, ta biết ngay con là cậu bé ghê gớm lắm mà! Nhưng có điều, người anh em ạ, trách nhiệm thì đã đành là trách nhiệm, nhưng là con người thì vẫn phải sống theo tình người, cho ra con người. Mùa xuân thì nở hoa sung sướng, cả mùa hè thì sinh sôi, rồi sau đó lại đến mùa đông gặt hái. Nghĩa là sau đó phải để lại hạt giống của mình. Chỉ có ta là một mình cô độc - một con người kỳ lạ. Phải, cô bé của ta là đứa con gái tốt, Nađegiơđa lớn lên là một đứa con nết na hiền thảo. Có điều bây giờ nó hay bỏ đi Marsanikha quá - lúc thì đến đó xem phim, lúc thì đi nhảy. Ở đó có một anh chàng, con trai của một người kỹ sư trồng rừng, tên là Valentin. Chàng trai ấy, con biết không, cũng là một tay tài ba, nhưng thế mới phải coi chừng… Tóm lại là con biết chuyện đó sẽ đi đến kết thúc thế nào rồi chứ? - Con gái họ bao giờ chả thế! - Grinka, lúc ấy hãy còn là Vôpka, lại thốt ra một câu. - Nhưng cháu thì không bao giờ cháu bỏ bác đâu. - A ha, vậy là con bằng lòng rồi phải không? - Thì ở nhà trẻ mồ côi này có gì thích đâu. Nhưng cháu là Vôpka, thì bác cứ để cháu mang tên ấy. - Ồ không, không được. Dứt khoát là không thể như thế được, con ạ. - Sao lại không được ạ? Người bố tương lai của cậu lúc đó lại im lặng và rít thêm một điếu thuốc lá cuốn nữa. - Con Nađegiơđa của ta sẽ đi lấy chồng, đó là dĩ nhiên rồi. Nó sẽ lấy Valentin, hay một chàng nào đó… Ta đã nói với con là con bé lớn lên trông khá lắm - xinh xẻo, khoẻ mạnh, đùi phốp pháp. Còn mắt của nó, con biết không, Grinka - ôi cái tên Grinka mới hay làm sao - mắt của nó cứ sáng rực lên, trông thấy phải nheo mắt lại, không thì chói. Nhưng biết làm sao - ông thở dài - ta đã làm tròn bổn phận, ta đã nuôi cho nó khôn lớn. bây giờ hãy để cho nó làm bổn phận của nó. Phải làm sao trên trái đất này có nhiều người có đôi mắt trong sáng như của nó. Nó ra đi, và ta sẽ lại có một mình. Một mình ư? Không được. Nửa đêm tỉnh giấc ta bỗng nghe thấy tiếng gì kêu grin-grin-grin… Tiếng gì vậy? Tiếng cửa kính bị gió đập chăng? Không, đó là tên của con trai ta. Ta đi trong rừng và xung quay chỗ nào cũng nghe thấy grin-grin-grin. Ai thế nhỉ? Hay là tiếng chim hót? Có lẽ đúng là chim hót thật. Nhưng chúng hót về ai? Chúng hót về con trai ta…Vì thế, không thể nào giữ cái tên Vôpka được, con ạ. …Grinka dọn bàn xong, lấy cái đĩa con úp lên miệng vò sữa mà cậu vừa rót ra uống. Ngoài cửa sổ màn tối đã dầy đặc từ lâu, tựa như có người nào lấy giấy đen bịt cửa kính lại. Bố cậu vẫn chưa thấy về. Thở dài một tiếng, Grinka thu dọn chỗ ngủ, ra tắt đèn rồi chui vào trong chăn, tiếp tục nhớ lại cái quá khứ chưa xa của cậu. khi ấy, mặc dù rất tiếc rẻ phải bỏ cái tên của mình, nhưng không hiểu sao cậu thấy mến người đàn ông đứng tuổi này, và mấy lần nghe ông ta nói hai tiếng “con ơi” dịu dàng, cậu thấy ngỡ ngàng và cảm động ứa nước mắt. - Thế những con thỏ con… bác có che chở chúng không? - Lúc ấy, cậu cúi mái đầu cắt ngắn xuống để giấu ánh mắt và hỏi. - Thỏ con ấy à? Tất nhiên ta phải che chở chứ. Vì chúng là những con vật hiền lành và yếu đuối nhất mà. Chúng chơi đùa nhảy nhót xung quanh lều của ta, như bầy chim sẻ nhảy nhót xung quanh đồng cỏ xuân ấy. - Vậy thì được, cháu đồng ý. Mặc dù cậu bé đã đồng ý. Nhưng sau đó còn đẻ ra nhiều chuyện phiền phức, người ta chùng chình mãi không giao cậu cho người này nuôi. - Nhưng tuổi đồng chí hơi quá nhiều, đồng chí Đêmiđôp ạ. - ông giám đốc trại nói. - Tuổi tôi thì sao? Tôi còn khỏe lắm, tôi còn chạy trong rừng nhanh như thỏ hai chục năm nữa ấy chứ? - Người bố nuôi của cậu lúc ấy chứng minh với ông ta như thế - Mà giả dụ có chuyện gì, thì đứa con gái Nađegiơđa của tôi sẽ nuôi dạy thằng bé. Tôi sẽ dẫn nó đến đây để ông xem nó là đứa con gái như thế nào? Rồi ông dẫn con gái đến. Đó là cô gái cao lớn, khỏe mạnh, cương quyết và quả thực có đôi mắt hiền hậu và trong sáng một cách kỳ lạ, cô ta cũng chứng minh điều gì đó với ông giám đốc, sau đó cô còn phải nhiều lần chạy đến mấy cơ quan trong tỉnh để xin quyết định. Và cuối cùng xin được. Grinka sống trong túp lều coi rừng với bố và chị Nađegiơđa được vẻn vẹn có hai năm. Sống ở đó thì tuyệt nhất rồi, chả phải bàn. Có điều những con thỏ không còn đùa nghịch xung quanh lều, và nói chung chúng không dám đến gần ngôi nhà của cậu - có lẽ chúng sợ bầy chó, nhưng được cái ngay cạnh nhà có dòng suối nhỏ nước rất trong, nơi cậu cùng người chị thường câu được những con cá bống rất to, còn hai bên bờ sông thì tha hồ hái quả mâm xôi và phúc bồn tử. Nađegiơđa là cô gái hoạt bát nhanh nhẹn, lúc nào cũng cười, cả túp nhà nhỏ và cánh rừng lúc nào cũng tràn ngập tiếng cười ròn tan trong trẻo của cô. Lúc nào cô cười mắt cô lại càng rực rỡ hơn. Nhưng thường cứ tối đến thì ánh mắt cô lại thôi cười. Lúc đầu Grinka không hiểu vì sao, nhưng sau cậu đoán ra - Nađegiơđa lo lắng cho bố. Và cũng phải vì, cứ tối đến là bố cậu lại đi rất lâu không thấy về, mà lúc về thường là say. Nhưng không bao giờ ông quát tháo hay chửi rủa om sòm, còn hôm nào say quá thì ông đi nằm ngay. Cũng có hôm ông cứ đi đi lại lại trong gian nhà bếp rộng rãi và i ỉ hát trong họng cái bài quen thuộc cho đến tận sáng. Một hôm Grinka nghe thấy Nađegiơđa vừa mếu máo vừa nói với bố: - Bố đừng uống cái rượu vốtka chết tiệt ấy nữa. Bố thôi uống đi. Con trai của bố bây giờ hãy còn nhỏ, bố còn phải gây dựng cho nó khôn lớn thành người. - Chúng ta sẽ nuôi nó khôn lớn, Nađegiơđa, nhất định rồi… Bố uống, nhưng bố không để mất trí khôn đâu. - Bố nói thế. Mùa đông năm ngoái bố chả suýt chết cóng là gì. Giá con không tìm thấy bố ở đống tuyết thì bố đã chết cóng rồi. - Ừ, quả có thế, con gái của bố ạ. Bố dại dột quá. Hôm ấy thằng Maksêep làm bố điên tiết, thằng chồng của Maria ấy, cầu trời cho nó chết quách đi cho rồi. Nhưng chỉ có mỗi lần ấy thôi. Còn bố bao giờ cũng uống có chừng mực. - Nhưng sao bố cứ phải uống cái thứ nước chết tiệt ấy. - Tại bố quen mất rồi… Đời bố khổ quá, đáng ra không nên sống nữa, nhưng bố vẫn phải sống. - Bố nói đến tay Maksêep ấy không biết đến lần thứ mấy rồi. Giữa bố với tay ấy có chuyện gì vậy? Sao bố không giải quyết cho xong đi? Và lập tức Grinka cảm thấy bố cậu bỗng nhiên hầm hầm nổi giận, điều chưa bao giờ thấy ở ông cả. - Thôi câm ngay! Sao mi dám tra khảo ta? Trí óc non choẹt biết gì mà nói vào… Nađegiơđa oà lên khóc nức nở làm bố cậu phải dịu ngay và bắt đầu xin lỗi: - Con gái của bố… Bố biết là bố dại dột… Bố sẽ ghìm mình, sẽ bỏ rượu. Hơn nữa bố cũng sắp về hưu, thằng Grinka cũng sắp đến tuổi đi học rồi. Phải, chúng ta sẽ chuyển về ở Đubrôvinô, sẽ mua một túp nhà ở đó. Và bố sẽ thôi không uống nữa. Đúng là uống rượu có gì vui thú đâu! Và thế là họ đã chuyển về làng sống được hơn một năm. Nađegiơđa đã đi lấy chồng, lấy anh chàng Valentin của mình, bố bây giờ thôi không làm việc nữa mà sống bằng tiền hưu. Nhưng rượu rút cuộc ông vẫn không bỏ. Mắt Grinka díp lại, giấc ngủ bắt đầu làm nhoà ý nghĩ của cậu. Trong lúc mơ màng cậu lại nghĩ rằng bố cậu là con người kỳ quặc khó hiểu. Sương mù thì ông gọi là Samian, mưa thì gọi là Mumianchê, bão tuyết là Akulia, còn ngày ảm đạm thì gọi là MitroFan. “Sương mù - Saminan thì dễ hiểu thôi, vì nghe cũng hơi giống nhau. Mưa - Mumianchê, cũng bắt đầu cùng một chữ cái. Nhưng tại sao bão tuyết lại là Akulina? Hay trời giá buốt là Filaret? A ha, hình như ông đang về…” Grinka không sao tỉnh dậy được. Dường như từ nơi nào trong thế giới xa xôi và huyền bí, vẳng đến tai Grinka câu hát quen thuộc mà riêng cậu mới phân biệt được: Ta là ai? Ta chẳng là ai. Ta chỉ là… kẻ ấy. Mời các bạn đón đọc Trên Mảnh Đất Người Đời của tác giả Anatoli Stepanovich Ivanov.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Người Tình Của Brecht
Một tác phẩm không thuộc hàng best-seller tại Việt Nam, báo chí hầu như không nhắc đến, độc giả đã quên tên, thậm chí chưa từng nghe. Nhưng những điều ấy chẳng khiến “Người tình của Brecht” mất đi giá trị vốn có. Đơn giản, bởi đó là một câu chuyện thành thực, xúc động và u buồn được Jacques-Pierre Amette kể lại bằng văn phong tinh tế. Người tình của Brecht là cô đào Maria Eich, người được nhân viên mật vụ Đức Hans Trow giao nhiệm vụ theo sát nhà soạn kịch Brecht. Sau những khóc cười của nghề diễn, sau niềm ngưỡng vọng và cả sự vô cảm dành cho Brecht, sau tình yêu không thành với Hans Trow, Mria Eich trở về sống và dạy học ở một vùng quê yên tĩnh, đôi khi nhớ lại quá khứ như một hư ảnh xa xôi, ngày ngày cảm nhận sự thanh thản của cuộc sống mới. Cái tên và cốt truyện dễ khiến ta lầm tưởng. Một kịch tác gia lớn, một cô đào xinh đẹp, những nghi kỵ chính trị, nhân viên tình báo núp dưới danh nghĩa người tình. Như vậy đã đủ để người đọc chờ đợi một câu chuyện sexy và gay cấn. Nhưng Jacques-Pierre Amette không khai thác câu chuyện theo hướng ấy. Xuyên suốt tác phẩm là quang cảnh điêu tàn, không khí ngột ngạt của Đông Đức thời hậu chiến, là thân phận của con người giữa vòng kiêm tỏa của quyền lực mù quáng, sự lầm lạc giữa tình yêu với cảm giác choáng ngợp, và cuối cùng là niềm thanh thản sau những biến động đã qua. Một trong những đặc điểm của lối viết hiện đại đó là chối từ sự lên gân của cảm xúc, sự bùng nổ (đôi khi không thật cần thiết) của ngôn từ, sự cường điệu khi xây dựng hình ảnh. Điều đó khiến người đọc bấy lâu quen được ru vỗ trong những tác phẩm du dương cảm thấy hụt hẫng. Nhưng đó cũng chính là lối viết mà cuộc sống hiện đại kiếm tìm, lối viết chân thực, trong sáng, tinh tế, ít biểu cảm, đôi lúc gần đạt tới độ “vô sắc”(1). “Người tình của Brecht” là tác phẩm tiêu biểu cho lối viết ấy. Đọc những trang văn của J.- Amette, ta nhận ra, đây chính là những gì đã được tác giả chưng cất từ cuộc sống, một cuộc sống đầy rẫy những biến động, dễ khiến người ta liên tưởng đến nhiều điều ly kỳ, nhưng thực chất trong thẳm sâu của nó vẫn là dòng chảy giản đơn, vẫn là những câu chuyện muôn đời: con người giữa vòng xoáy của lịch sử, khát vọng hạnh phúc và cuộc truy tầm tuyệt vọng, cảm giác thanh thản sau những biến động đã qua. J.-Amette, khôn ngoan và thành công, khi chọn lối viết này, để câu chuyện hiện lên như những gì nó vốn thế, nên thế, và bức tranh thiên nhiên, tâm trạng giữ nguyên được chất thơ và sắc màu tự nhiên nhất. *** Sinh ngày 18 tháng 5 năm 1943 ở Sain-Pierre-sur-Dives, vùng Calvados, Jacques-Pierre Amette tự hào với gốc rễ Normandice của mình trong rất nhiều tiểu thuyết, như cuốn Tuổi trẻ trong một thành phố Normandie. Là một độc giả mê thích Bermanos, Dostoievski, Stendhal và cả Proust, ông đã làm nghề dạy văn trước khi trở thành cây viết phê bình văn học cho tờ Ouest-France năm 1965, rồi chuyển sang làm cho tờ Point. Tiểu thuyết đầu tay Kỳ nghỉ của Amette ra đời khi ông mới 22 tuổi. Từ đó đến nay Amette đã viết khoảng 30 tác phẩm bao gồm tiểu thuyết, kịch, tập thơ; đồng thời thường xuyên viết cho radio và tivi. Ông yêu nước Đức và say mê Bertolt Brecht, tác giả của vở Opéra bốn xu, Mẹ Dũng cảm… Jacques-Pierre Amette hiện đã lại bù đầu với những tình tiết lắt léo đầy chất Brecht trong cuốn Tỉnh lị, một tiểu thuyết nữa của ông. *** Tại Ðông-Berlin thời hậu chiến, đã diễn ra cuộc gặp gỡ giữa Bertolt Brecht, nhà viết kịch lưu vong trở về, với một nữ diễn viên trẻ, nhân viên mật vụ Ðức. Brecht đã trở về, hoành tráng, với đoàn kịch của ông. Nhưng lại bị nghi ngờ, cả ý tưởng, lẫn con người, đến hành động. Để nắm chắc, giám sát ông ta không rời nửa bước, viên mật vụ Hans Trow đã dùng đến thân thể của Maria Eich, một cô đào trẻ, bí ẩn và giỏi diễn. Vậy là nàng đã trở thành người tình của Brecht. Bức chân dung lôi cuốn về hai con người bị kìm hãm trong bối cảnh nghẹt thở của chiến tranh lạnh.     “Khi tiểu thuyết đùa với lịch sử, khi hư cấu trộn lẫn với hiện thực, để có thể làm những gì mình muốn. Ðó là trường hợp của Người tình của Brecht, cuốn sách mô tả cuộc sống trong cái nước Ðức quỳ gối, bị tàn phá, hư hại… Chẳng quan trọng gì việc câu chuyện có thực hay bịa, bởi nó đã được viết ra. Và viết một cách tuyệt diệu, không ép-phê, không thêm thắt không day dứt, cũng chẳng thống thiết. Chỉ với đúng các từ và các từ đúng, theo kiểu của Brecht. Vậy là cái thế giới lịch sử, nghệ thuật đã sống dạy dưới ngòi bút chạm khắc của Jacques-Pierre Amette. Một kỹ nghệ tiểu thuyết, được đền bù bằng giải Goncourt.”   Céline Damon, Amazon.fr     “Ban giám khảo giải Goncourt đã vội vã công bố giải trước hai tuần vì họ không muốn mạo hiểm trong dịp kỷ niệm 100 năm một trong những giải thưởng Văn học lâu đời và danh giá nhất thế giới này, bởi cuốn Người tình của Brecht rất dễ bị các giải đối thủ khác lựa chọn.”   The Guardian     “Tác phẩm chín muồi của một tác giả danh tiếng đã viết cả thảy khoảng một trăm tiểu thuyết, truyện và kịch; Người tình của Brecht của Jacques-Pierre Amette thật sự tuyệt vời như mong muốn của Edmond de Goncourt, “một tập tưởng tượng bằng văn xuôi”.”   Radio France   Mời các bạn đón đọc Người Tình Của Brecht của tác giả Jacques Pierre Amette.
Như Một Cuốn Tiểu Thuyết
Như một cuốn tiểu thuyết hẳn nhiên không phải là tiểu thuyết, mà lại được viết như tiểu thuyết, được đọc như tiểu thuyết... Đó là những quan sát, ghi chép về những thắc mắc, nghi ngờ, truy vấn, bàn bạc, tranh cãi, thậm chí giận hờn, trách móc giữa ba nhóm nhân vật (đôi khi có tên, thường thì không có tên): người lớn (cha mẹ, thầy giáo, người thân), trẻ em (con cái, học trò) và sách (danh từ chung, số nhiều, đại diện cho văn chương)! Nhiều tình tiết ly kỳ, đầy kịch tính, phô bày những nghịch lý hiển nhiên mà đôi khi giáo dục học phải thốt nên lời bất lực: phải đọc - trẻ mở trang sách ra và... ngủ! Cấm đọc - trẻ trốn vào chăn và... nuốt gọn quyển sách! Khi chưa biết đọc, đứa trẻ là độc giả trung thành mỗi đêm với những chuyện kể từ trang sách. Đến khi đọc thông viết thạo, chàng trai cô gái ấy đếm từng trang sách như một cực hình! Ai đã biến sách thành bức tường đá và dìm niềm vui đọc sách vào vực xoáy thẳm sâu? Cha mẹ, thầy cô, khoa sư phạm, hay truyền hình và đủ thứ món giải trí khác thời nay? Đầy những phát hiện thú vị, hấp dẫn, nhiều ẩn dụ, so sánh bất ngờ, độc đáo, cuốn “tiểu thuyết bốn chương, 67 hồi” này là một giáo trình tâm lý học dẫn dắt chúng ta cùng đi khám phá và tìm ra bí quyết nuôi dưỡng niềm say mê, sự hứng thú với văn chương trong suốt cuộc đời.   DUYÊN TRƯỜNG *** Daniel Pennac tên thật là Daniel Pennacchioni, sinh năm 1944 tại Casablanca (Ma Rốc). Thuở nhỏ, ông đã theo chân bố mẹ đi khắp nơi trên thế giới: châu Âu, châu Á, châu Phi... Sau khi tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Nice (Pháp), ông chỉ dạy học và thời gian còn lại ông dành cho công việc viết văn. Nhờ những trải nghiệm sống phong phú có được qua những chuyến phiêu lưu thuở nhỏ đã góp phần không nhỏ tạo nên sự đa dạng về thể loại trong sáng tác của nhà nhà văn: tiểu luận, tiểu thuyết trinh thám, sách cho thiếu nhi, truyện tranh, tự truyện... Daniel Pennac đặc biệt ghi dấu ấn trong nền văn học Pháp với những câu chuyện viết cho thiếu nhi. Giọng văn hài hước mà không kém phần sâu lắng, tình bạn giữa con người và loài vật, những khám phá vô cùng thú vị về thế giới “bốn chân” đã đem lại cho từng trang viết của ông sức hấp dẫn khó cưỡng đối với độc giả mọi lứa tuổi.   Ông là tác giả của nhiều cuốn sách được các em thiếu nhi yêu thích như: “Comme un roman” (Như một cuốn tiểu thuyết), “Au bonheur des orges”, “La Petite Marcande de prose”… “L'œil du loup” (Mắt sói) là tác phẩm nổi tiếng nhất của Daniel Pennac, được Bộ Giáo dục Pháp chỉ định là tác phẩm tham khảo chính thức trong nhà trường, được đưa vào giảng dạy trong hệ thống trường phổ thông của Pháp và được coi là một tác phẩm kinh điển của văn học thiếu nhi Pháp.    Ngoài ra, “Cabot-Caboche” (Cún bụi đời) là một trong những tác phẩm viết cho thiếu nhi thành công nhất của Daniel Pennac. Cuốn sách là minh chứng hùng hồn cho những gì được gọi là tinh tế trong cảm nhận và giản dị trong văn phong của tác giả.   Năm 2007, Giải Renaudot, một trong những giải thưởng văn học cao quý nhất của Pháp đã được trao cho Daniel Pennac với tác phẩm Chagrin d'Ecole.   Một vài tác phẩm:   - Cabot-Caboche (1982)   - L'œil du loup (1984)   - Au bonheur des ogres (1985)   - La Fée Carabine (1987)   - La Petite Marchande de prose (1989)   - Comme un roman (1992)   - Merci (2004)   - Chagrin d'école (2007) *** Động từ đọc không thể chấp nhận thể sai khiến. Một số động từ khác như “yêu” “mơ ước”… cũng vậy.   Tất nhiên, thử dùng thì cũng được. “Yêu em đi!” “Mơ ước đi!” “Ðọc đi!” “Ðọc đi! đọc đi mà, chúa ơi, đọc đi nào!”.   - Vào phòng và đọc đi!   Kết quả thế nào?   Chẳng thế nào cả.   Cậu bé ngủ gục trên trang sách. Đột nhiên, khung cửa sổ trước mặt như mở ra một vùng trời mơ ước, nơi cậu bé thỏa sức bay bổng. Để trốn khỏi những trang sách. Nó ngủ nhưng mà rất tỉnh: quyển sách vẫn mở rộng trước mặt. Chỉ cần nhẹ mở cánh cửa phòng là đã thấy cậu bé ngoan ngoãn ngồi đọc sách. Ngay cả nếu như ta rón chân thật nhẹ nhàng thì nó cũng nhanh chóng tỉnh giấc.   - Thế nào, có hay không?   Cậu bé sẽ chẳng nói không, chẳng dại gì mà phạm một tội lớn. Sách là cái gì đó thiêng liêng, làm sao mà có thể không thích đọc sách cho được? Không, thằng nhóc sẽ nói rằng những đoạn miêu tả dài quá.   Quá yên tâm, chúng ta trở lại trước màn hình tivi. Có thể ý kiến của cậu bé còn tạo ra một cuộc tranh luận thú vị giữa người lớn chúng ta…   - Nó thấy các đoạn miêu tả quá dài. Tất nhiên rồi, chúng ta đang ở thế kỷ của truyền thông, của hình ảnh trong khi các nhà tiểu thuyết của thế kỷ 19 lại phải dùng ngòi bút để miêu tả mọi thứ…   - Nhưng không phải vì thế mà cho phép nó bỏ qua một nửa số trang!   …   Thôi, đừng tranh luận làm gì cho mệt óc, thằng bé lại lăn ra ngủ rồi.   ... Mời các bạn đón đọc Như Một Cuốn Tiểu Thuyếtcủa tác giả Daniel Pennac.
Những Kẻ Văn Minh
Những kẻ văn minh đạt giải thưởng Goncourt vào năm 1905, nhưng công chúng cũng như độc giả có học thức không biết gì về tác giả Claude Farrere và cuốn tiểu thuyết. "Những kẻ văn minh", đó là thực dân, những người phải mang cái gánh nặng của người da trắng mà Kipling ca tụng: Văn minh, ít nhất là của họ. Vì khí hậu của Sài Gòn và Hà Nội, vì thuốc phiện, những nhân vật chính của cuốn sách phải đối mặt với một sự từ bỏ bi quan, thậm chí còn hoài nghi, những giá trị truyền thống: đạo đức, pháp luật. Cuốn tiểu thuyết này khi mới ra đời đã rất gây tranh cãi. Đây cũng là một giải Goncourt kì lạ vì tiểu thuyết này có hình ảnh của loại sách làm người ta hư hỏng, của loại tiểu thuyết hủy hoại sự trong trắng. *** Claude Farrère, bút danh của Frédéric - Charles Bargone (1876 - 1957), là một tiểu thuyết gia người Pháp với những tác phẩm có bối cảnh ngoài nước Pháp như Istanbul, Sài Gòn và Nagasaki.   Một trong những tác phẩm của ông là Những kẻ văn minh (Les civilisés) đã đoạt giải Goncourt năm 1905. Ngày 26 tháng 3 năm 1935, ông được bầu vào Viện Hàn Lâm Pháp.   Ban đầu giống như cha mình, một đại tá bộ binh từng hoạt động tại các thuộc địa của Pháp, ông gia nhập học viện hải quân năm 1894, thăng chức trung úy vào năm 1906 và đại úy năm 1918. Vào năm 1919, ông từ chức để tập trung vào nghiệp viết văn.   Các tác phẩm của ông phần lớn không được chú ý, kể cả với độc giả Pháp. Tuy nhiên ông vẫn là một trong những tác giả lớn của nền văn học Đông Dương tại Pháp cùng với các tên tuổi như Malraux, Duras, Dorgelès, Viollis..  *** Trong khoảnh sân trồng những cây phượng lớn rùm ròa tỏa bóng, quãng giữa ngôi nhà và cổng của chấn song, hai anh phu Bắc Kỳ đưa xe ra, một chiếc xe kéo rất lịch sự, sơn then và ánh bạc. Họ xếp hàng dọc giữa hai càng xe đứng đợi ông chủ, lặng phắc như hai bức tượng quấn lụa. Xe và người làm thành một cỗ nom đỏm dáng, đẹp như tranh vẽ là đằng khác giữa Sài Gòn, nơi chỉ dân thường mới còn đi xe kéo. Nhưng bác sĩ Raymond Mévil vốn tính khá độc đáo, vả chăng anh ta có một chiếc xe ngựa mui trần và nhiều ngựa chạy hay. Thế nên mọi người bỏ qua cho anh ta cái thói ngông đi xe kéo và vi phạm mốt thời thượng – một cách xa hoa.   Lúc ấy bốn giờ chiều, giờ tỉnh giấc ngủ trưa. Bác sĩ không tiếp khách muộn hơn giờ này – cách thức kín đáo, ở cái xứ mà đường phố vắng vẻ cho đến lúc mặt trời lặn. Hôm ấy Raymond Mévil đi ra sớm, không phải cho cuộc đi dạo thường lệ trước bữa ăn tối, mà cho một vài thăm viếng không hẳn trong nghề nghiệp mà vả chăng anh ta cũng làm khá thưa thớt, vì chiến thuật của anh ta là ít khi xuất hiện.   Một cô “người ở”[1] búi tóc trơn mở cửa, ném vài câu bông đùa với hai anh phu xe, bất thình lình đứng lặng phắc, vẻ gái nhà lành: ông chủ vừa xuất hiện. Anh ta bước xuống bậc thềm, bước chân trẻ nhưng đã chậm, đưa ngón tay vuốt bầu vú cô gái qua lần áo lụa đen, và bước lên xe. Chiếc xe nhỏ bắt đầu lao nhanh, đám phu xe chạy vun vút để gió mạnh thổi mát mặt người phương Tây. Ở các cửa sổ, qua những khe cánh cửa chớp, những ánh mắt phụ nữ ngắm nhìn các bộ chế phục phu xe trắng toát viền vải điều, ngắm nhìn vẻ duyên dáng của vị khách, nom còn quyến rũ hơn cả cái vẻ xa hoa bao bọc anh ta. Bác sĩ Mévil được phụ nữ yêu, trước hết vì anh ta yêu thích phụ nữ, và chỉ yêu thích họ, thứ đến vì anh ta đẹp, một vẻ đẹp khiến tất cả họ đều bối rối, một vẻ đẹp khêu gợi ẻo lả tới mức sỗ sàng. Anh ta trắng trẻo, tóc màu hung, với cặp mắt xanh biếc quá dài, và cái miệng bé đỏ mọng. Mặc dù đã ngoài ba mươi, anh có vẻ thanh niên, và dáng người béo tốt như người ta hình dung anh. Bộ râu mép dài màu sáng, nom anh như một người Gaulois suy tàn, mà các thế kỷ đã làm cho tinh tế và thuần thục.   Cái giống nhau chỉ là tình cờ, Mévil khoe mình là dân khá văn minh mà mọi thứ máu của mọi thứ nguồn gốc đều trộn lẫn vào nhau trong huyết quản.   Chiếc xe tay chạy lon ton giữa các bóng cây ven đường, né tránh mặt trời xiên khoai vẫn hừng hực. Người chủ dùng đầu ba toong chỉ đường cho phu xe. Để dừng lại, anh ta thúc gậy vào vai họ, bảo: “Thôi!”. Xe đi vào một khu vườn có biệt thự. Dọc hàng rào, nhiều chiếc xe đang đợi, với những người phu giữ ngựa An Nam thấp tè nắm chặt hàm thiếc ngựa.   - À, ừ, Mévil nghĩ, hôm nay là ngày con bé tiếp khách, thế mà mình không nhớ ra.   Anh ta ngần ngừ giây lát rồi nhún vai, tìm trong túi chiếc ví đựng danh thiếp soát lại trong ấy – có mấy tờ bạc Đông Dương. Tiếp đó, Raymond Mévil quẳng chiếc ba toong cho một anh bồi vừa chạy ra, và đi vào nhà.   Ngôi nhà cũ kỹ rộng thênh, có dáng trăm phần trăm thuộc địa.   Hai phòng đợi dẫn tới chiếc phòng khách được xếp dồn ở cái chái tốt nhất, kéo dài bằng cả một hàng hiên rủ những bức mành mành tranh tối tranh sáng. Mọi cái đều to lớn thênh thang, cao như nhà thờ; các bức vách ngăn không chạm được tới trần, hơi nóng quẩn dưới rầm. Phía bên dưới không khí mát mẻ, các đồ đạc đều bằng gỗ mun chạm xà cừ, phảng phất tỏa một mùi bản xứ.   Trong tiền sảnh, Raymond Mévil vấp phải một người nào đi ra, một nhân vật trịnh trọng mặt mày nhẵn nhụi, da màu vàng chanh, cử chỉ nặng nề - ông chủ nhà này, Ariette, trạng sư ở Tòa Án. Hai người bắt tay nhau rất thân mật; gương mặt buồn tẻ của ông trạng sư thậm chí còn vặn vẹo thành một nụ cười niềm nở chắc hẳn không thường dùng để chào đón tất cả mọi vị khách.   - Nhà tôi có nhà, ông nói, và rất cảm ơn ông có nhã ý đến thăm. Đã khá lâu rồi tôi không có hân hạnh gặp ông tại nhà này.   - Xin ông bạn thân mến tin rằng chỉ là do tính tôi lười biếng, và ngôi nhà của ông đối với tôi là thân thiết nhất ở Sài Gòn.   Viên trạng sư tỏ ý hân hoan, dường như có vẻ cất được mối lo lắng.   - Tạm biệt ông nhé, ông bác sĩ. Ông biết là Tòa án đang gọi tôi, như mọi khi.   - Vụ kiện thú vị chứ?   - Ly dị thôi, dĩ nhiên. Chúng ta sống một thời điểm hết sức tồi tệ.   Ông ta bỏ đi, cặp ôm trong tay, bước chân khô khốc như người máy, dáng vẻ khắc khổ và nghiêm nghị. Raymond Mévil quay nhìn sau lưng ông ta, nhăn mặt cười mỉm.   Trong phòng khách, tám hoặc mười người phụ nữ đang ba hoa trò chuyện, vẻ vừa diêm dúa vừa chểnh mảng trong những chiếc áo dài kiểu Sài Gòn nom như những áo choàng sang trọng. Từ ngưỡng cửa, Mévil nhìn nhanh tất cả khắp lượt, rồi ung dung bước vào giữa đám để chào trước hết bà chủ nhà, một bà tóc nâu duyên dáng mắt trinh khiết, bà ta chìa tay cho anh ta hôn.   - Xin chào vị Đại học Y. Ngọn gió lành nào đưa ông đến đây vậy?   - Hôm nay, - người thầy thuốc đáp, - đơn giản là Đại học Y tới tỏ lòng kính trọng dưới chân đoàn Luật sư.   Anh ta cúi mình trước từng bà khách, nói những lời tình tứ bạo phổi, rồi ngồi xuống. Anh là trung tâm mọi ánh mắt nhìn. Đám phụ nữ tỏ ra ưa thích anh, và cái danh tiếng Don Juan[2] của anh thế là được xác lập.   Anh không hề bối rối và gẫu chuyện. Anh không thiếu dí dỏm và biết cách chứng tỏ là người được phụ nữ ưa thích. Vốn bản tính phù phiếm, anh chú tâm để tỏ ra càng phù phiếm hơn nữa, và sử dụng cái thói phù phiếm ấy như một vũ khí trong các trò quyến rũ tình ái; người ta thông cảm với anh về thói lông bông hám gái và dễ dàng thổ lộ tâm tình với anh mà không hề đắn đo tự ái.   - À này, bà Ariette chợt nói, tôi đang định cho người sang mời ông đấy, ông thầy lang ạ.   - Bà ốm hả? ... Mời các bạn đón đọc Những Kẻ Văn Minh của tác giả Claude Farrère.
Nỗi Niềm
Chuyện xảy ra trong một tầng lớp mà ta quen gọi là tri thức. Bốn nữ nhân vật chính gồm một nhà văn, hai giáo sư giảng dạy ở một trường đại học nổi tiếng của nước Mỹ và một minh tinh màn bạc vang bóng một thời. Hẳn chúng ta đã quen nhìn tầng lớp của những con người này bằng con mắt ngưỡng mộ – họ là những con người khả kính, có trình độ uyên thâm, có học vấn sâu rộng và làm việc nghiêm túc với những quy tắc bất di bất dịch của giới…trí thức. Nhưng trong tác phẩm Nỗi Niềm, Paule Constant đã lội ngược dòng, bà đi sâu tìm hiểu vạch vòi đến tận chân tơ kẽ tóc, qua đó, thực chất đã được phơi bày. Thì ra trong tầng lớp cấp tiến này của xã hội cũng tồn tại muôn vàn những thứ cỏn con mà ta không dám gọi là tệ nạn, hay ganh ghét, hay đố kỵ, hay hiềm khích… vì sợ làm vấy bẩn những con người khả kính ấy. Chỉ giữa họ với nhau thôi, giữa bốn nhân vật chính trong truyện, ngoài việc cùng một tầng lớp « trí thức », họ còn là bạn vong liên, còn là những kẻ ngưỡng mộ nhau… Vậy mà chỉ trong có vài ngày chung sống dưới cùng một mái nhà, thì giữa họ đã nảy sinh bao mấu thuẫn, tư tưởng trái nghịch nhau. Lòng ghen ghét đố kỵ, chứng học đòi làm sang, chuyện đạo văn trong giới văn chương, rồi dè bửu lẫn nhau…đã phơi trần ra hết. Paule Constant đã rất thành công vạch trần bộ mặt thật ấy, và tác phẩm đã xứng đáng nhận giải thưởng Goncourt năm 1998. Và do Hiệu Constant đã giới thiệu và chuyển thể sang tiếng Việt, do Nhà XB Hội nhà văn cùng với sự giúp đỡ của Trung tâm văn hoá Việt – Pháp thuộc ĐSQ Pháp tại HN ấn hành đầu năm 2005. *** Với những bạn đọc quan tâm nhiều tới sách dịch, đặc biệt là văn học Pháp đương đại, hẳn đã rất quen thuộc với các tác phẩm như: Nỗi niềm của Paule Constant - tác phẩm được giải Goncourt năm 1998 (NXB Hội Nhà văn), Rừng thẳm của Julien Gracq, tác giả đã từ chối giải Goncourt năm 1951 (NXB Đà Nẵng), Tổng thống François Mitterrand là như thế của Jacques Attali (NXB Công an Nhân dân), Bi kịch của Tổng thống Jacques Chirac của Frank-Olivier Giesbert (NXB Công an Nhân dân), Những điều chưa biết về cố đệ nhất phu nhân Hoa kỳ Jackie Kennedy (NXB Công an Nhân dân), Bóng đen của vầng ánh dương của Christelle Maurin (NXB Công an nhân dân) - tác phẩm được giải thưởng Tiểu thuyết trinh thám hay nhất trong năm của Quai des Orfèvres 2006, Người đàn bà thứ bảy của F. Molay (NXB Đà Nẵng) tác phẩm được giải thưởng Tiểu thuyết trinh thám hay nhất trong năm của Quai des Orfèvres 2007, Người trả thù cho các hầm mộ (NXB Đà Nẵng) - Tác phẩm được giải thưởng Tiểu thuyết trinh thám hay nhất trong năm của Quai des Orfèvres 2008, Bạn tôi tình tôi của Marc Levy (NXB Đà Nẵng),… Vâng, những đầu sách được tôi nhắc tới đều do chị Hiệu dịch và giới thiệu với bạn đọc Việt Nam. Trong khuôn khổ bài viết này, tôi muốn đề cập tới Lê Thị Hiệu với tư cách một tác giả sáng tác, sống và làm việc ở hải ngoại mà chất văn vẫn mang đậm nguồn văn hóa Việt chảy trong cơ thể, qua mỗi câu văn, lời kể. Trong các tác phẩm dịch, dịch giả không chỉ dùng ngôn ngữ của mình, còn phải dùng cách kể, kết cấu nghệ thuật của tác phẩm dịch. Nhưng ở tác phẩm viết, tác giả có thể “tung hoành trong vùng đất của mình”, thỏa sức sáng tạo, thể hiện, và bộc lộ mình. Ở trong tác phẩm đầu tay này cũng vậy, bằng bút lực cuốn hút, hấp dẫn, Lê Thị Hiệu cố gắng thể hiện mình qua lời kể và lời tâm tình tự sự. Tác phẩm “Côn trùng” chính là những trăn trở, suy tư, khát vọng yêu và được yêu. “Côn trùng” dùng lối viết độc đáo về nhân tình cuộc sống và những mảng đời thực ngoài xã hội. Truyện được giãi bày một cách xa xót và nuối tiếc, một cách dũng cảm và day dứt về một mối tình không bao giờ tàn lụi. Vẻ đẹp của mối tình không bao giờ được xã hội công nhận này vừa như ánh sáng lung linh soi rọi, vừa như loài côn trùng rỉ rả gặm nhấm; vừa làm hồi sinh cõi sống tinh thần, vừa làm héo úa vẻ đẹp của hạnh phúc. Tiểu thuyết này là câu chuyện tình yêu giữa “tôi” và N.V. “Tôi”, một người con gái sinh ra trong chiến tranh và lớn lên trong thời bình, nuôi dưỡng tình yêu thầm lặng, nhiều khi nồng cháy với một người con trai đã kinh qua trong lửa đạn, dạn dày nơi trận mạc  là một chỗ dựa, một nơi tìm về của “tôi”. Và bên cạnh đó, còn một tình yêu khác, không rõ ràng hiện hữu, nhưng thực sự tồn tại là tình yêu, nỗi khắc khoải của một người con xa xứ luôn hướng về đất mẹ, dù nhiều khi chỉ trong tâm thức. Tình yêu của hai con người thuộc hai thế hệ như một định mệnh. Lần gặp gỡ đầu chỉ thoảng qua khi N.V giúp đỡ H (đó là tên của nhân vật tôi) lắp lại xích cho chiếc xe đạp của cô. Cuộc gặp này bình thường như bao cuộc gặp gỡ khác của những con người hàng ngày đối diện nhau. Sau lần đó, phải ba năm sau hai người mới gặp lại. Họ dễ dàng nhận ra nhau giữa biển người, những cô sinh viên hâm mộ vây quanh N.V. Lần gặp này cũng đi qua như một kỷ niệm trong đời, để đến lần thứ ba, hai người gặp nhau thì H không còn là sinh viên năm thứ ba nữa mà đã là một cử nhân. Quan hệ của họ lúc này chỉ như những người bạn xa lâu ngày nay gặp lại. Nào ai có thể rõ trong lòng họ đang nghĩ tới những gì!? Tới lần gặp kế tiếp, cách lần gặp trước tới mấy năm liền, khi mà H cũng đã có gia đình. Hai người đến với nhau, qua nụ hôn thoảng chốc mà H thấy lâu như cả thế kỷ, để rồi khi ra đi, bay về phương trời Tây, “tôi” còn “để lại một trời tình cảm vương vấn”. Tình yêu trong lòng H, cái mối tình cảm đơn phương đeo đẳng bao nhiêu năm giờ bùng cháy thiêu đốt tâm can cô. Sau nhiều lần gặp gỡ đứt đoạn như vậy, hai con người đã tìm đến nhau, để rồi bao ý nghĩ, bao luân thường đạo lý cứ trôi trượt đi. Từ lúc đó trở đi, tình yêu của họ không thể bị ngăn cản bởi không gian nửa vòng trái đất, thời gian dặc dài của năm tháng, thậm chí cả cái chết cũng không chia lìa được tình yêu của họ. Bởi N.V vẫn luôn tồn tại, trong mỗi hơi thở, trong mỗi bước đi, trong mỗi kỷ niệm đọng trong không gian thiên nhiên cây cỏ. Chắc hẳn, N.V trước khi nhắm mắt đã phóng ánh mắt ra xa, về phía phương trời Tây xa xôi – nơi có người phụ nữ anh yêu, và tự nhủ rằng nàng là một phần của cuộc đời ta, là thiên thần, là cả vũ trụ lúc rạng rỡ, lúc đam mê, ngay cả khi biết mình sắp lìa đời vì bệnh tật (Không biết rằng lúc đó, những hình ảnh ngay trước mắt là vợ anh, là con anh có in dấu được vào đáy mắt anh không?). Khi mất đi rồi, anh vẫn muốn H đừng khóc, hãy coi như anh đi có chút việc sang phía bên kia cuộc đời, và có thể gọi anh khi muốn, tâm sự với anh khi cần. N.V mất rồi, tình yêu của cô với anh vẫn không suy suyển. Những dấu hiệu của chứng trầm cảm, những bài nhật ký, những việc H làm để thoát ra, vươn tới cuộc đời thực chỉ càng chứng tỏ tình yêu của cô với N.V. Tình yêu của họ nồng cháy, thăng hoa trong mỗi cảm xúc, trong mỗi lúc được gần nhau, dù N.V đã có gia đình và vẫn luôn yêu quý trân trọng gia đình nhỏ bé đó. Và cả H nữa, H yêu N.V bằng cả tấm lòng, dù bao khó khăn cách trở trong cuộc đời, bao gồm cả trách nhiệm với gia đình, hay bất cứ vì một lý do gì khác, cô vẫn yêu N.V cháy lòng. Nhiều người sẽ nghĩ rằng, cuốn sách này không trọn vẹn vì kết cuộc 2 người yêu nhau không đến được với nhau, theo tôi, nếu đến được với nhau, liệu họ có hạnh phúc không hay tình yêu tôn thờ cao đẹp của H lại bị tan vỡ như “giấc mộng yêu đương” của cô sinh viên mắc nghiện mà N.V có lần kể cho H nghe. Cuối cùng, N.V và H không thể đến bên nhau nhưng lại càng không thể rời bỏ nhau. Đến tận khi, N.V vĩnh viễn ra đi, H mới nhận biết rằng mình yêu anh biết bao. Nước mắt cô rơi bao lần trên trang nhật ký, tâm tình cô trút vào bác sĩ tâm lý. Tất cả những điều đó có thể ích gì nữa khi N.V đã về với cuộc đời khác. Những việc làm lúc đó, chắc chỉ có thể cứu vãn mình H với cuộc sống thực đời thường mà thôi. Bằng lối văn phong mới mẻ của mình, tác giả đã cuốn hút người đọc ngay từ những dòng chữ đầu tiên, để rồi cứ bị lời văn cuốn đi mãi. Tất cả lời kể chuyện, tâm tình giãi bày trong đoạn văn dài, với những sự kiện, chi tiết, không chỉ liên quan đến N.V mà còn nhiều những sự lý thú trong cuộc sống trên khắp hành tinh này. Cách kể chuyện của Lê Thị Hiệu có thể đưa ta tới nhiều vùng đất, không chỉ là những miền đất quê hương như Hòa Bình, nơi có bà mẹ già sống neo đơn mà nhất định không chịu về quê hương bản quán, muốn ở lại vùng đất nơi in dấu những hình ảnh, kỷ niệm của con mình; Đó là vùng đất Huế với sự tự hào của Việt Nam trước thế giới - di sản phi vật thể: Nhã nhạc cung đình; Đó là bản làng Ve, nơi cứu chữa, chở che, nuôi dưỡng những con người vào sinh ra tử hiến mình cho lý tưởng cao đẹp. Còn nhiều vùng đất lạ trên khắp thế giới. Vùng đất với cuộc sống như trong một nghìn lẻ một đêm, những giá trị văn hóa Hồi giáo tồn tại, những sự kiện kỳ bí tại vùng đất này. Hay có thể đó là những vẻ đẹp của nước Pháp cổ kính… Lê Thị Hiệu có lối văn thật lạ lùng, nhưng cũng thật hấp dẫn. Cả câu chuyện chỉ là tâm sự dài, không bị ngắt quãng bởi bất cứ điều gì. Câu chuyện cứ đều đều diễn ra, các sự kiện đan xen, gối lên nhau nối tiếp, lúc rõ ràng, lúc mờ mờ ảo ảo vô thực. Thực ra, nếu không chịu làm quen với một lối viết văn mới lạ như vậy, bạn đọc thật khó tiếp cận và hiểu câu chuyện. Lối văn của chị sống động như một con cá đang bơi, bên trong là một khung xương vững chãi, nơi xương dăm, xương lồng ngực nối kết với xương cột sống - là tình yêu của H với N.V. Với kiểu văn như vậy, nếu ta không tập trung chọn lọc sẽ thấy thật lúng túng khi tiếp cận, thấy chúng thật lủng củng xa lạ. Nhưng khi gắn kết toàn bộ những chi tiết đó thì câu chuyện mới hoàn thiện, cuốn hút người đọc. Bạn đọc trẻ giờ đây, rất nhiều người dễ dàng chấp nhận và cho là hay những câu chuyện tình yêu nhàn nhạt, hoặc những tình yêu với xung đột mãnh liệt, hay thích tìm kiếm, chấp nhận những câu chuyện như cổ tích. Tuy nhiên, chúng ta cần nhìn nhận những tác phẩm như nó vốn có, là cuộc sống đời thường. Tình yêu trong tác phẩm là một tình yêu có thể hiện diện trong cuộc sống. Những nhân vật như H, N.V, B và H.H (con gái của H), C (chồng H), nhà văn TDA, nếu ai quen Lê Thị Hiệu sẽ dễ dàng luận ra những cái tên đó trong cuộc đời. Tuy nhiên, cách làm như vậy cũng không cần thiết, bởi văn chương chỉ phản ảnh một phần hiện thực qua lăng kính chủ quan của nhà văn mà thôi. H vẫn là H, và N.V vẫn là N.V với tình yêu nồng cháy, luôn bên nhau ngay khi một người chỉ còn là ký ức. T.V (nguồn: TCSH số 239 - 01 - 2009)   ***   Paule Constant sinh năm 1944 tại xứ Gan, Pyrénées-Anlantiques.   Bà tốt nghiệp trường Đại học Paris-Sorbonne với văn bằng Tiến sĩ.     Giải thưởng:   Năm 1988, bà đoạt giải Goncourt cho tác phẩm Confidence pour confidence (Nỗi niềm).   Năm 1989, bà đoạt giải thưởng lớn cho tiểu thuyết Académie française (Học viện Pháp).     Những tác phẩm chính:   Ouregano, 1980, NXB Gallimard   Propriété privée, 1981, NXB Gallimard   Balta, 1983, NXB Gallimard   Un monde à l'usage des demoiselles, 1987, NXB Gallimard   White Spirit, 1989, NXB Gallimard   Le Grand Ghâpal, 1991, NXB Gallimard - Prix Jackie Bouquin   La Fille du Gobernator, 1994, NXB Gallimard   Confidence pour confidence, 1998, NXB Gallimard   Sucre et secret, 2003, NXB Gallimard   La bête à chagrin: roman, 2007, NXB Gallimard   Mời các bạn đón đọc Nỗi Niềm của tác giả Paule Constant.