Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Đời Du Nữ

Saikaku Và Thế Gian Đa Tình "Con người là những hiện thân ma quái”, đó là nhận xét của Ihara Saikaku, văn hào Nhật Bản thế kỷ XVII. Đó không phải là một lời phê phán về đức lý mà chỉ miêu tả tài tình bản tính của con người bằng một mệnh đề ngắn gọn. Những hiện thân ma quái, ôi con người, đó là hữu thể khó nắm bắt nhất, khó định tính nhất. Đó là một sinh vật đa chiều. Nhận xét của Saikaku tình cờ phù hợp và như thể là cộng hưởng với lời thơ Hy Lạp trong khúc hợp xướng thứ nhất từ vở bi kịch Antigone của Sophocles: “Nhưng không gì vượt qua nổi con người Trong sự kỳ lạ của nó!” Chính bản thân Saikaku cũng là một hiện tượng lạ trong văn học Nhật, người có thể được so sánh với Rabelais của văn học Pháp về một tiếng cười chói lọi mà cả hai đã ném vào đời sống. CHÂN DUNG CỦA “VẦNG TRĂNG PHÙ THẾ” Ihara Saikaku (1641 – 1693) là người cùng thế hệ với thi hào Basho dù hai người ít có điểm chung nào về tâm hồn lẫn cuộc sống. Tuy nhiên, trong 26 năm sáng tác đầu tiên (Saikaku bắt đầu viết văn vào tuổi 14) ông chuyên tâm làm thơ, nhất là thơ haiku. Ông có tài làm thơ nhanh đến mức nổi danh là “Nimano” (Nhị Vạn Ông). Vì trong một cuộc thi thơ, Saikaku đã đọc hầu như liên tục hơn hai vạn bài haiku, chính xác là 23.500 bài, trong khoảng thời gian một ngày (đúng 24 giờ đồng hồ) vào năm 1684 trước ngôi đền Sumiyoshi ở Osaka. Đó là một kỷ lục thơ ca không thấy ai tìm cách vượt qua. Khả năng sáng tác thần tốc ấy không mấy thích hợp cho thơ trữ tình – hàng vạn bài haiku (hay haikai theo cách gọi thời đó) mà ông làm rồi ra sẽ không còn vương lại trong trí nhớ ai. Tuy vậy vào năm 1672 Saikaku cũng đã là nhân vật trung tâm của một nhóm nhà thơ tiên phong đi theo phái Danrin. Và tác phẩm đầu tiên của Saikaku được ấn hành nằm trong tập thơ haiku của nhóm này xuất hiện vào năm 1673. Cho dù sau này nổi tiếng là một tiểu thuyết gia lỗi lạc, Saikaku cũng dành cho thơ không ít thời gian. Tính đến cuối đời, ông xuất bản chừng khoảng 12 tập thơ và tác phẩm phê bình thơ. Nuôi ba đứa con, trong đó có một đứa con gái mù. Ông không tục huyền bao giờ và năm 1677, làm lễ thí phát, một cử chỉ khá thông thường của các nghệ sĩ thời đó khi muốn dành cuộc đời mình cho sáng tạo nghệ thuật hoặc đi tu. Năm năm sau, vào tuổi 40, ông đạt được thành công lớn khi quay ngòi bút sang văn xuôi với cuốn tiểu thuyết Người đàn ông đa tình (Koshoku ichidai otoko). Cuốn sách ấy mở đầu cho hàng loạt tác phẩm “Phù thế thảo tử” (Ukiyo zoshi) của ông, ảnh hưởng đến cả thời đại. Và Saikaku trở thành tiểu thuyết gia hàng đầu, linh hồn của thời Phục hưng Nhật Bản. Saikaku tuy không phải là người sáng tạo ra văn chương phù thế, tức “Phù thế thảo tử” nhưng ông đã đem lại cho nó một màu sắc huy hoàng, tựa như tranh khắc gỗ, vẽ lại cuộc sống đa tình của thế gian, kể cả những hiện thân ma quái của nó. Phù thế, ấy là Ukiyo, là cõi người ta. Uki là “ưu” (ưu sầu) nhưng cũng là “phù” (trôi nổi). Cuộc đời hẳn nhiên là phù ảo nhưng cuộc đời cũng là phiêu lãng. Phiêu lãng là sống. Là đi. Là yêu. Là ôm ấp trần gian. Là mộng. Là bay đi theo hương. Là phong ba. Là cát bụi. Là không chết trong khi sống. Là cười cho cả tiếng. Là khóc cho khô lệ. Là một hiện thân tràn đầy của từng khoảnh khắc. Văn chương phù thế, mà Saikaku là người dẫn đầu, là văn chương của những ngọn sóng náo nức, mãnh liệt, lúy túy, nén mình về phía trước mà quay lưng lại với những thần linh xưa cũ. Sống là sóng, là nổi sóng, là thay đổi, là trôi, là dâng tràn. Và con người đô thị, những thị dân Edo chợt khám phá ra tiếng nói của chính mình nơi Saikaku. Khác với võ sĩ đạo, các thị dân ấy đã có con đường của riêng mình gọi là Chonindo (Đinh nhân đạo). Các nhân vật của Saikaku, cả nam lẫn nữ, đều phiêu lãng trên con đường ấy, cuồng nhiệt và liều lĩnh, ngây thơ và sành sõi, đa tình và tuyệt vọng, thường vấp phải sai lầm nhưng tất cả đều không sợ sống. Sau đó ít năm, Saikaku thử bút trong lãnh vực sân khấu, viết kịch bản cho múa rối (Joruri). Cũng như trong thơ, ông không đọ nổi với Basho thì trong sân khấu, ông chẳng bì được với Chikamatsu. Vở kịch ông soạn vào năm 1685 chỉ là một thất bại. Ngoài ra ông cũng viết một số bài phê bình về kịch nghệ Kabuki. Và với năng lực tài hoa của mình, Saikaku còn đi vào hội họa, vẽ minh họa cho một số tập thơ và tiểu thuyết của chính ông. Các minh họa phù thế thảo tử của ông được yêu thích và nhiều nhà phê bình đánh giá khá cao. Chưa hết, Saikaku còn là một nhà thư pháp có tiếng. Do thành công của cuốn truyện đầu tay, Saikaku tiếp tục viết tiểu thuyết. Từ đó, đến cuối đời, cứ trung bình mỗi năm ông cho ra hai tác phẩm. Đặc biệt, vào năm 1688 sức sáng tạo của ông lên đến tuyệt đỉnh, hoàn thành tất cả 5 tác phẩm dài. Như vậy, viết tiểu thuyết trong khoảng 10 năm cuối đời, ông đã có không dưới 25 bộ sách. Saikaku mất vào tuổi 51. Trước đó ông soạn bài haiku từ biệt thế gian: “Vầng trăng phù thế Hai năm dài tôi đã Dõi đôi mắt nhìn theo.” Di cốt tro tàn của Ihara Saikaku được chôn cất trong chùa Seigan ở Osaka. Saikaku theo sự mô tả của thời ấy có một mái đầu thanh tú và lãng mạn, một dáng dấp trẻ trung. Chân dung ông do nhà thơ Haga Issho đương thời vẽ cho thấy một con người có vóc dáng nhỏ bé đầu cạo trọc, ngồi trầm tư trên sàn với tấm áo choàng truyền thống, đôi tai mở lớn như đang chăm chú nghe, đôi mắt đang nhìn chăm chú một điều gì đó, đôi bàn tay đặt lên nhau trên đầu gối thì rất nhỏ nhưng gân guốc. Toàn thể chân dung ấy toát lên một tính cách mãnh liệt, tràn trề sinh lực, một cái nhìn sắc sảo tinh anh, một hài hước sành đời và một lòng bao dung đầy hiểu biết. Đó là chân dung của một vầng trăng trầm lặng nhưng nồng nàn. Sự trộn lẫn giữa bóng tối và ánh sáng. CHỦ ĐỀ ĐA TÌNH Tiểu thuyết của Saikaku có thể chia làm hai đề tài lớn: Sắc dục và tiền tài. Trước hết là các tác phẩm về sắc tình, gọi là Koshokubon (Hiếu sắc bản). Thứ hai là các tác phẩm về đời sống thực tiễn hàng ngày của thị dân gọi là Choninmono (Đinh nhân vật) hầu như lúc nào cũng liên quan đến tiền tài. Tiểu thuyết những năm đầu thường tập trung vào đề tài sắc dục. Càng về sau Saikaku càng chú ý đến đời sống kinh tế của thị dân. Đa tình, hay “hiếu sắc”, là chủ đề đặc biệt đã làm nên danh tiếng của Saikaku và cũng là yếu tố từng làm cho người ta loại trừ ông trong một thời gian dài. Những tác phẩm hiếu sắc – gọi như thế vì chữ Koshoku (hiếu sắc) được Saikaku đưa vào nhan đề nhiều tiểu thuyết ban đầu của ông: ▪ Người đàn ông đa tình (Koshoku ichidai otoko: Hiếu sắc nhất đại nam, 1682) ▪ Người đàn bà đa tình/ Đời du nữ (Koshoku ichidai onna: Hiếu sắc nhất đại nữ, 1686) ▪ Năm người đàn bà đa tình (Koshoku gonin onna: Hiếu sắc ngũ nhân nữ, 1686) Và ngay cả những tác phẩm mà nhan đề không có chữ “Koshoku” thì trong thời kì đầu ấy vẫn xoay quanh đề tài sắc tình. “Koshoku” ám chỉ tình yêu lẫn sắc dục trong mọi phương diện của nó, có khi bao gồm cả những mối quan hệ yêu đương đồng tính – Các nhân vật ấy thường đa tình đến cực điểm, cả nam lẫn nữ. Hiếu sắc có thể là lần lượt có nhiều người tình khác nhau trong cuộc đời. Nhưng hiếu sắc cũng có thể là chung tình đến cực điểm, có thể cùng nhau chết (tự sát đôi) để bảo vệ tình yêu. Hiếu sắc có thể là nỗi đam mê với trần gian muôn màu, niềm vui sống (Joie de vivre) lúy túy trào dâng. Thế gian xuất hiện trước mắt Saikaku là một thế gian đa tình. Hay trong ông là cả thế gian ấy, là cả người đàn ông, là cả người đàn bà. Con người trở thành nhan sắc của chính cuộc đời chứ không phải chỉ có vẻ đẹp của hoa đào, hoa mơ, hay trăng, nước. Ngắm hoa ư? Được. Ngắm trăng ư? Được. Nhưng con người, đó chính là hoa, là trăng của thời đại mới. Ngắm đi. Nâng niu đi. Ôm ấp đi. Phố xá bỗng nhiên trở thành những bài thơ mới và con người trở thành những bức tranh mới. Một truyện ngắn của Saikaku bắt đầu như thế này: “Tôi chán những đám mây hoa đào đến độ xa lánh kinh đô suốt cả mùa xuân”. Xưa nay, với người Nhật chẳng có gì đẹp bằng hoa anh đào. Thế mà ở đây, chẳng những nó mất hết vẻ quyến rũ mà còn gây buồn phiền khó chịu. Không phải Saikaku tấn công vào hoa đào và thiên nhiên. Nhưng ông thấy rõ thời đại của “hoa” đang nhường lại ngôi vị ưu tiên cho thời đại của “người” với tất cả cái đẹp và cái xấu của nó. Sau chiến tranh, con người đang tận hưởng tự do và những lạc thú mới. Họ trở nên phóng đãng, lao vào sắc dục như những con thiêu thân. Và cái gì quá độ mà chẳng có nguy cơ lố bịch. Saikaku thấy rõ thời đại mới đã đánh mất các cảm thức tinh tế của ngày xưa, thấy rõ sự dung tục đang lan tràn trong lối sống thị dân. “Người ta đến rừng mơ ở Kitano hay viếng hoa tử đằng ở Otani nhưng không phải để ngắm hoa mà để vò xé nó. Người ta nhìn làn khói hùng vĩ tuôn trào từ đỉnh Toribe để chỉ thấy nó không khác nào khói ống điếu!” Trích đoạn trên nằm trong Người đàn ông đa tình. Đó là câu chuyện về cuộc đời phóng đãng của một chàng trai tên là Yonosuke, có nghĩa là “con người của thế gian”. Đứa con trần thế ấy có mặt trong tất cả các chương sách với những phiêu lưu tình ái. Nó theo đúng số chương sách của Truyện Genji do nữ sĩ Murasaki viết từ đầu thế kỷ XI dù nó là một cuốn tiểu thuyết ngắn chứ không phải một tác phẩm trường thiên như kiệt tác cổ điển kia. Và khác với Truyện Genji, nó thuộc vào một thời đại mà người ta bộc lộ nhục cảm một cách táo bạo. Nhục cảm koshoku đã thay thế cho niềm bi cảm aware thời cổ điển. Đúng ra, cái gọi là tình ái ở đây chỉ là những cuộc ăn chơi phóng đãng qua các thành phố Edo, Osaka, Kyoto… và cái đó gọi là “tự do”: “Hơn bất kỳ điều gì khác trên đời, Yonoseko yêu tự do”. Như thế, Yonoseko là một mẫu người dục tính, khác với Hoàng tử Genji là con người lãng mạn. Con người lãng mạn đi tìm cái đẹp, cứu vớt cái đẹp và sáng tạo cái đẹp. Cỏ hoa, bóng trăng, nhan sắc và tâm hồn được tái tạo và huyễn hóa. Con người dục tính thuộc về thế gian này, khoảnh khắc này, nhục thể này. Nó tìm kiếm hoan lạc khắp nơi. Nó lấy thực làm mộng, nó không vỡ mộng nhưng lại làm vỡ thực tại với dục vọng của mình. Và khi con người dục tính làm “tiên tri” thì nó chỉ có thể là tiên tri giả. Yonoseko từng đóng vai một nhà tiên tri thần đạo mà hát to trên đường rằng “ngọn gió thiêng sẽ thổi và tàn sát tất cả các cô gái nào ở tuổi mười bảy đôi mươi mà vẫn còn trinh trắng”! Vậy mà Người đàn ông đa tình vẫn còn chút ít màu sắc lãng mạn nếu đem so sánh với tiểu thuyết viết sau đó bốn năm là Người đàn bà đa tình, tức Đời du nữ. Nhân vật trung tâm lần này là một du nữ và đây là câu chuyện của thân xác nàng. Đó là một thân xác liên kết mọi biến cố trong đời nàng và vì vậy trở nên một thân xác “có tính cách”. Nàng là nhân vật tiểu thuyết được tạo dựng sinh động nhất của Saikaku, một chân dung mang nhiều màu sắc hiện thực tâm lý nhất của văn học Nhật Bản đương thời. Các chương của tác phẩm kể theo ngôi thứ nhất trong truyền thống “Sám hối vật ngữ” (Zange monogatari) tức loại truyện tự thú, tự bạch. Tên thật của nhân vật không hề được nêu lên. Xuất thân từ một gia đình tử tế, nàng làm thị nữ cho một phu nhân ở triều đình. Nhưng sau đó bị đuổi đi vì tội vụng trộm tình ái lúc mới 12 tuổi. Không bao lâu, gia đình nàng sa sút, nàng bị bán vào “thành phố không đêm” Shimabara ở Kyoto. Những thành phố không đêm (Fujajo: bất dạ thành) là các khu vực vui chơi thời ấy. Vừa là chốn ăn chơi, vừa là trung tâm của đời sống xã hội nghệ thuật. Đó là các khu phố Yoshiwara ở Edo, Shimabara ở Kyoto và Shinmachi ở Osaka. Những khu phố ấy bao gồm các thanh lâu, nhà tắm, lữ quán, sân khấu… chứa đựng đông đảo các du nữ, vũ nữ, vai hề, diễn viên cùng với những người hầu, phục vụ và buôn bán. Chính các thị tứ của lạc thú ấy đóng một vai trò quan trọng làm nên văn hóa thời Tokugawa (1600 – 1868). Bởi vì là nguồn đề tài bất tận cho nhà soạn kịch, tiểu thuyết gia, họa sĩ và cả thơ. Nhân vật chính của các thành phố không đêm là du nữ (Yujo: gái làng chơi, các ả đào). Họ đàn hay, múa giỏi và nghệ thuật ứng xử, trò chuyện khéo léo… Những thị tứ như vậy được gọi là Yukaku (du quách). Shimabara chính là một Yukaku, ở đó bắt đầu cuộc đời lưu lạc khắp xứ của người đàn bà đa tình. Nàng lần lượt là du nữ, là tình nhân của một nhà sư, là thầy dạy viết thư, hầu phòng, hầu gái, ca nữ, gái nhà tắm, trà thất và khi xuống tận đáy, làm cả gái điếm đường. Có một số yếu tố khách quan từ hoàn cảnh gia đình và xã hội nhưng vẫn không mạnh bằng bản chất “Koshoku” (hiếu sắc) ở nàng. Nàng không hề là một nhân vật lãng mạn. Nàng đến với đàn ông bằng thân xác chứ không bằng tình yêu và giấc mơ. Nàng tống khứ cả tôn giáo ra khỏi ngày lễ của nó, ra khỏi tâm hồn một sư già đang mặc tăng bào, cầm kinh khí tượng A di đà. Có lúc nàng hóa thành lang thang trên đường và hát theo vũ khúc xưa: “Ta cần một người đàn ông! Ta cần một người đàn ông!”. Về già, khi không còn có thể tìm thấy lạc thú nào nữa, đứng trước dãy tượng Ngũ Bách La Hán ở chùa Đại Vân nàng vẫn đầy ắp trong tâm cuộc sống hoan lạc cũ. “Khi đứng yên lặng ngắm nhìn năm trăm vị Phật này, Tôi cảm thấy rằng từng vị một gợi cho tôi nhớ đến mỗi người đàn ông mà tôi đã từng giao hoan trong quá khứ.” Ngay cả Phật cũng không thoát khỏi sự cảm nhận của nàng bằng thân xác là đàn ông, là nam và nàng là người nữ, dường như đó là điều nàng quan tâm trong suốt cuộc đời. Về cuộc đời, nàng ngỡ rằng mình đã thoát khỏi “những đám mây ảo vọng của chính mình”. Nàng lầm. Người đàn bà đa tình là nàng, là du nữ trong bản chất, là cư dân vĩnh viễn của những thành phố không đêm. CON ĐƯỜNG CỦA THỊ DÂN Đề tài thứ hai mà tiểu thuyết của Saikaku thường khai thác là tiền tài. Biết sử dụng tiền tài là một trong những yếu tố của Chonindo (Đinh nhân đạo). Những câu chuyện về thị dân và tiền tài thuộc về chủ đề Choninmono (Đinh nhân vật) mà Saikaku bắt đầu với bộ Kho tàng vĩnh cửu (Nippon Eitaigura: Nhật Bản vĩnh đại tàng, 1688). Đó là một tập sách gồm 30 truyện diễn tả các phương cách kiếm tiền và tiêu phí nó của thị dân. Cuốn sách được xem là bộ cẩm nang làm giàu và vì thế đã trở thành kinh thánh của thế kỷ XVIII. Giá trị của Kho tàng vĩnh cửu chính là bức tranh hiện thực về thế giới thị dân dưới ảnh hưởng của tiền tài. Saikaku có lẽ là tác giả đầu tiên ở Nhật đề cập đến đời sống kinh tế một cách cụ thể, linh hoạt và đầy đủ đến như vậy. Saikaku cũng là nhà văn đầu tiên vạch ra đường lối sống của thị dân, có thể gọi là Chonindo (Đinh nhân đạo), khác với tính cách cứng nhắc của võ sĩ đạo. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là ông đồng tình với việc làm giàu bằng mọi giá. “Những cách làm tiền bỉ ổi” bị ông vạch ra trong Kho tàng vĩnh cửu với lời kết luận như sau: “Chỉ người nào mưu sinh bằng những phương tiện đàng hoàng mới đáng gọi là người. Đời sống của con người có lẽ chỉ là giấc mơ, nhưng dù chỉ kéo dài độ năm mươi năm thì chọn một công việc tử tế trong thế gian này hẳn là cũng tìm được thôi”. Ảnh hưởng của tiền tài trong đời sống thị dân còn có thể tìm thấy trong nhiều tác phẩm khác của Saikaku, đáng kể hơn cả là cuốn sách ấn hành vào khoảng cuối đời, mang tên Nợ nần thế gian (Seken Munesanyo, 1692). Đây cũng là tập truyện ngắn. Những câu chuyện xoay quanh ngày cuối năm, thời điểm phải lo thanh toán mọi nợ nần. Đời sống tối tăm đầy lo buồn của những thị dân hiện lên trên các trang sách này khác hẳn với đời sống xa hoa của những nhân vật mà Saikaku phác họa trong thời kỳ đầu. Không phải là những cá nhân đào hoa mà là những tập thể lầm than. Cũng không còn vấn đề làm giàu như trong Kho tàng vĩnh cửu nữa mà chỉ còn là vấn đề trả nợ trong địa ngục năm tàn. “Mùa cuối năm đầy những chuyện mà người đứng ngoài cũng thấy nát lòng!”. Ở đây hầu hết các nhân vật không có tên mà chỉ có những danh từ chung để chỉ các quan hệ xã hội: ông chủ, bà chủ, người thâu tiền, thư ký, người nghèo, người vợ, người con… Ngoài hai chủ đề trên, Saikaku còn viết các tạp thoại bao gồm những truyện truyền kỳ, truyện võ đạo và cả truyện trinh thám. Nổi bật trong loại này là Truyện các xứ (Shokoku banashi, 1685). Qua Truyện các xứ, Saikaku muốn thám hiểm “cuộc đời trong tất cả chiều rộng của nó”. Nó gọi ta nhớ đến Truyện mười ngày của Boccaccio vào thời Phục hưng ở Ý. Vẻ đẹp và thói xấu của con người trong các tác phẩm ấy đều có vẻ lý thú. Đó chính là hình ảnh con người như “hiện thân ma quái”. Đó là con người trong một thế gian có muôn màu kỳ diệu, có hoan lạc, có đau khổ, có bất trắc, có bình an… nghĩa là một thế gian đa sự, đa tình. Cái hiện thực căng đầy ở Saikaku thường đi đôi với sự trào lộng. Như chính cuộc đời, ngay cả trong những cảnh bi đát, Saikaku vẫn để lóe lên tia sáng nghịch thường. Theo Hibbett đó là “nghệ thuật đan xen ánh sáng và bóng tối” của Saikaku và cho rằng: “Bằng cách trộn lẫn trào tiếu với trang nghiêm, Saikaku đã sáng tạo ra một phong cách hiện thực châm biếm đầy chất thơ để có thể miêu tả cả phương diện vui thú lẫn buồn phiền của cõi phù thế”. Tính chất hiện đại của Saikaku đã làm dậy lên một phong trào khôi phục ông vào cuối thế kỷ XIX sau khi ông bị lãng quên gần hai thế kỷ. Người ta chợt nhận ra rằng, hóa ra ngay từ thế kỷ XVII, văn học Nhật đã biết đến một chủ nghĩa hiện thực tràn trề sự sống. Với Saikaku, “những con người phù thế khám phá ra rằng các câu chuyện kể về những rồ dại và mê cuồng của họ cũng hứng thú như bất kỳ truyện kể nào nhập từ Trung Quốc sang hay của ngày xưa truyền lại. Gái hồ ly, võ sĩ và các tiểu thư vẫn còn là thời thượng văn chương đấy nhưng đã có vẻ sáo mòn, khác với các nhân vật phù thế như chàng tuổi trẻ phóng đãng, như các du nữ tài sắc quyến rũ hoặc người vợ bướng bỉnh ngang tàng” (Hibbett, The Floating in Japanese Fiction, Tokyo 1992). Những gì Saikaku sáng tạo vào cuối thế kỷ XVII giữa một xứ Phù Tang đóng kín đến nay vẫn còn tràn đầy một niềm vui sống say nồng. Con người thời đại, cho dù ở xa Nhật Bản, vẫn tìm thấy hình bóng mình trong các tác phẩm của Saikaku, cả vẻ đẹp lẫn thói xấu, cả sắc lẫn tình, cả chơi đùa và bán buôn, cả trang trọng và khôi hài. Và nhất là đọc ông, ta chợt nhận ra thế gian quanh ta đa tình biết mấy! NHẬT CHIÊU *** Thời đại Edo (1603 – 1867) dưới sự lãnh đạo của Mạc phủ Tokugawa kéo dài 264 năm có thể xem là một trong những thời kỳ êm đềm nhất trong lịch sử Nhật Bản. Với chính sách bế quan tỏa cảng, người Nhật dựa vào nội lực của chính mình để phát huy đặc tính văn hóa trên tất cả lĩnh vực từ cá tính dân tộc, tay nghề, mỹ thuật… Giai cấp samurai được khuyến khích coi trọng văn hơn võ; giai cấp thương gia ngày càng trở nên giàu có. Thêm vào đó nhờ vào sự phổ cập các trường tư thục, trường dạy trong chùa (terakoya 寺子屋) và kỹ thuật in ấn phát triển, sách in bằng bản khắc gỗ ra đời nên dân thường có điều kiện tiếp xúc với văn chương. Văn học được đại chúng hóa và văn hóa trở thành văn hóa của thị dân (Chonin bunka 町人文化). Sinh vào đầu thời Edo, Ihara Saikaku (Tỉnh Nguyên Tây Hạc 井原西鶴) (1642 – 1693) là nhà thơ haiku và tác gia tiêu biểu cho dòng tiểu thuyết “phù thế thảo tử”. Phần lớn cuộc đời ông viết về cuộc sống thị dân Edo với những mối quan tâm về tiền bạc và sắc tình. Với khả năng quan sát nhạy bén và tài năng đa dạng, Saikaku đã khắc họa tinh tế bản chất con người trong một xã hội của kim tiền và sắc dục. Những tác phẩm của ông vẫn còn có giá trị cho đến ngày hôm nay vì cho dù có văn minh đến đâu nhưng tâm lý con người ngàn năm nay vẫn không hề thay đổi. Tác phẩm tiêu biểu nhất của ông là “Năm người đàn bà si tình” (Hiếu sắc ngũ nhân nữ 好色五人女). Ueda Akinari (Thượng Điền Thu Thành 上田秋成) (1734 – 1809) vốn là con hoang của một kỹ nữ, sau được một thương nhân nhận nuôi để nối nghiệp nhưng cuối cùng lại chuyển sang nghề y. Ueda có niềm tin sâu sắc về những truyện huyền bí. “Vũ nguyệt vật ngữ” (雨月物語 Truyện kể trong mưa và trăng) đúng như tên gọi được viết xong vào đêm mưa tạnh trăng mờ năm 1768. Tuy viết về chuyện yêu ma quỷ quái nhưng lại ẩn chứa rất nhiều bài học về thế thái nhân tình. Hai tác phẩm tiêu biểu “Năm người đàn bà si tình” và “Vũ nguyệt vật ngữ” đặt song song và tương chiếu với nhau giúp chúng ta thấy được cuộc sống và quan niệm nhân sinh của người dân Nhật Bản thời Edo một cáchsống động và chân thực và từ đó có thể rút ra bài học cho chính mình trong cuộc đời hôm nay. Đặc biệt là lời cảnh tỉnh về sắc dục và ái tình. Từ xưa đến nay đã có biết bao nhiêu tấn tuồng đời diễn ra với mùi vị của kim tiền. Chính tiền bạc và sắc dục đã biến con người trở thành yêu ma, yêu ma vì tình mà trả thù người, người và yêu ma lẫn vào nhau, chung sống với nhau. Như xà tinh trong truyện “Con rắn tà dâm” vì tình mà uổng phí công tu luyện ngàn năm, nhà sư trong truyện “Chiếc khăn trùm đầu màu xanh” của “Vũ nguyệt vật ngữ” vì tình yêu với chú tiểu mà biến thành một con yêu quái. Chính Ueda Akinari cũng thừa nhận: “Trên núi ái tình mà bản thân Khổng Tử cũng trượt ngã, người đời dễ quên đi nghĩa vụ của mình và cả bản thân mình nữa”[1]. Còn truyện “Năm người đàn bà si tình” thì kết thúc hầu hết là bi thương, nhân vật chính không chết thì cũng đi tu. Ái tình đã biến thành nghiệp chướng. Cả hai tác phẩm này đều đã có bản dịch tiếng Việt dù không đầy đủ. “Năm người đàn bà si tình” của Ihara Saikaku được Phạm Thị Nguyệt dịch, Nhà xuất bản Tiền Giang ấn hành năm 1988. Còn “Vũ nguyệt vật ngữ” được Nguyễn Trọng Định dịch với tên “Hẹn mùa hoa cúc” do Nhà xuất bản Kim Đồng in năm 2000. Những trích dẫn trong bài của chúng tôi là lấy từ hai bản dịch này. ... Mời các bạn đón đọc Đời Du Nữ của tác giả Ihara Saikaku.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Ghost In Love (Tiếng Việt)
Tóm tắt & Review (Đánh Giá) sách Ghost In Love (Tiếng Việt) của tác giả Marc Levy & Phúc Chi Nhi (dịch). Sau thành công của cuốn tiểu thuyết đầu tay Nếu em không phải là giấc mơ , Marc Levy đã được đông đảo bạn đọc trên thế giới yêu mến. Ghost in love là cuốn tiểu thuyết thứ hai mươi của ông. Ghost in love - bản dịch của Phúc Chi Nhi do Nhã Nam và NXB Hội Nhà văn phát hành năm 2020 khiến độc giả hài lòng với những mẫu thoại hài hước, ngôn ngữ xúc động, câu chuyện kịch tính. Câu chuyện xoay quanh chàng trai Thomas, một nghệ sĩ dương cầm tài năng luôn mang trong mình một nỗi đau, một nỗi cô đơn khó diễn tả. Anh phiêu đắm trong từng bản nhạc nhưng luôn thấy buồn bã vì dư âm của câu chuyện nào đó trong quá khứ, vì những ngổn ngang, hoang mang của hiện tại. Có thể chính sự trống trải đến từ đời sống gia đình, mối quan hệ với cha mẹ hay những ký ức tuổi thơ đã tạo một vết thương lòng sâu sắc. Cha của Thomas là ông Raymond, một bác sĩ phẫu thuật tài giỏi, đào hoa, tính cách cởi mở khác hẳn với cậu con trai. Ông đã mất đột ngột cách đây năm năm, để lại nỗi đau đớn cho cậu con trai duy nhất. Trước đó, cha mẹ Thomas đã không sống cùng nhau. Mỗi người đều có cuộc sống riêng với những đam mê và các mối quan hệ khác biệt, điều duy nhất gắn kết họ chính là cậu con trai. Một ngày, sau khi hút điếu thuốc từ phòng của mẹ, Thomas đã trông thấy hồn ma của cha anh. Vốn dĩ Thomas cứ nghĩ đó là tác dụng của thuốc. Anh thậm chí còn đi gặp bác sĩ tâm thần là bạn thân mình, bạn anh trấn an, tất cả chỉ vì anh căng thẳng nên tưởng tượng ra. Đến khi cha anh thuyết phục để anh tin rằng, thực sự linh hồn của ông đã được quay về để gặp anh, Thomas hết sức xúc động nhưng cũng bối rối, bực mình xen lẫn. Đời sống hôn nhân của cha mẹ anh không hạnh phúc. Họ tôn trọng nhau nhưng không gắn bó, không có tình cảm với nhau. Dù rằng, ông Raymond từng say đắm mẹ anh khi còn trẻ. Với bản tính đào hoa, thông minh, hoạt ngôn, vị bác sĩ này khi còn sống đã có khá nhiều người tình, trong đó có một người đã khiến ông yêu say đắm cả khi chết đi rồi. Ông trở về để thỉnh cầu con trai giúp một việc khá táo bạo, nếu làm vậy, ông và người tình có thể bên nhau mãi mãi. Thật khó để đưa ra quyết định, giúp hồn ma của cha mình gắn kết với người tình của ông ư, điều này quá sức tưởng tượng của Thomas. Anh trở thành người kỳ lạ trong mắt người khác khi bị bắt gặp nói chuyện một mình, cư xử kỳ quặc. Sau cùng, Thomas đã quyết định giúp cha, thực hiện hành trình ba ngày ngắn ngủi từ Paris đến San Fransico để giúp cha hội ngộ với tình nhân. Trong hành trình đó, Thomas đã gặp lại Manon, cô chính là con gái của bà Camille, người tình của bố anh. Anh nhớ lại hồi ức tuổi thơ, ông bố của anh và bà mẹ của cô đã lén lút gặp nhau, họ đem theo hai đứa con của mình để che mắt thiên hạ. Tình yêu của bố anh và bà Camille là vĩnh cửu, dù sai trái. Họ vẫn duy trì gia đình vì con cái, họ bên vợ bên chồng để tránh con mình tổn thương nhưng thực tâm lúc nào cũng nhớ thương nhau. Mỗi nhân vật trong cuốn tiểu thuyết này đều có câu chuyện và nỗi lòng riêng, dù được nhắc đến nhiều hay ít. Mẹ của Thomas, người đàn bà biết rõ trái tim chồng mình đã thuộc về người khác nhưng chọn cách bình thản đối diện dù rằng bà có một đời sống náo động. Cha của Manon, người chồng bị phản bội lại chọn cách níu giữ và áp đặt, kéo vợ về phía mình, dù biết rằng điều đó là bất khả. Manon cũng như Thomas, họ thương người cha người mẹ đã khuất của mình và tình yêu sai trái của họ. Khi thực hiện di nguyện của cha mẹ, chính họ đã nhận ra những bài học lớn về tình yêu và hôn nhân. Tôi cực kỳ thích những mẫu đối thoại hài hước của hai cha con Thomas. Thi thoảng, người cha lại khuyên bảo, chỉ dạy con trai bằng vài lời hóm hỉnh. Ông bảo vấn đề của con trai mình là ít cười quá. Thomas trả lời “Con thừa biết bố sắp nói với con những gì: người ta chỉ sống có một lần”. “À, không, chuyện ấy cũng là một cú lừa ngoạn mục. Sự thật là người ta chỉ chết một lần thôi, bù lại, ngày nào người ta cũng sống”. Người cha tiếc nuối vì đã quá tập trung vào công việc, dành ít thời gian cho gia đình, cho con trai. Trước sự ra đi của mình, ông mong con trai chỉ “buồn ở mức tối thiểu, buồn ở mức cần thiết thôi”. Suy cho cùng thì khi giã từ cuộc sống, mỗi người đều có những trăn trở và nuối tiếc riêng. Được trở lại nhân gian để thực hiện ước nguyện, gặp người thân và nói lời từ biệt, ấy là mong muốn của hầu hết những linh hồn đang tồn tại ở một thế giới nào khác. Ghost in love là câu chuyện hư ảo, mang màu sắc kỳ diệu để người đọc có cái nhìn hòa ái hơn về tình yêu, về tình phụ tử, về những ước mơ trong cuộc đời. *** Đánh giá Ghost in love là một cuốn tiểu thuyết lãng mạn, nhẹ nhàng, mang màu sắc kỳ ảo. Câu chuyện xoay quanh tình yêu của hai cha con Thomas và Raymond, tình yêu của Thomas và Manon, và tình yêu của cha mẹ Manon. Ưu điểm Truyện được kể một cách hấp dẫn, lôi cuốn, với những tình tiết bất ngờ và hài hước. Các nhân vật được xây dựng chân thực và sinh động, với những tính cách, suy nghĩ và cảm xúc đa dạng. Truyện đề cập đến những vấn đề nhân sinh sâu sắc, như tình yêu, tình phụ tử, và những ước mơ trong cuộc đời. Nhược điểm Một số tình tiết trong truyện có phần hơi phi lý, khó tin. Cốt truyện có phần hơi đơn giản, chưa có nhiều đột phá. Kết luận Ghost in love là một cuốn tiểu thuyết đáng đọc, mang lại cho người đọc những phút giây thư giãn và suy ngẫm. Một số điểm nổi bật của tác phẩm Tình yêu của hai cha con Thomas và Raymond: dù đã qua đời, tình yêu của cha dành cho con vẫn vẹn nguyên. Ông luôn mong muốn được gặp con trai và giúp con tìm được hạnh phúc. Tình yêu của Thomas dành cho cha cũng rất sâu đậm. Anh sẵn sàng làm mọi thứ để giúp cha thực hiện ước nguyện. Tình yêu của Thomas và Manon: tình yêu của họ nảy nở một cách tự nhiên, từ sự thấu hiểu và đồng cảm. Họ đã cùng nhau vượt qua nhiều khó khăn để đến với nhau. Tình yêu của cha mẹ Manon: tình yêu của họ là một tình yêu sai trái, nhưng lại vô cùng mãnh liệt và thủy chung. Họ đã dành cả cuộc đời để yêu thương và trân trọng nhau. Kiến nghị Nếu bạn là người yêu thích thể loại tiểu thuyết lãng mạn, nhẹ nhàng, thì Ghost in love là một cuốn tiểu thuyết mà bạn không nên bỏ qua. Mời các bạn mượn đọc sách Ghost In Love (Tiếng Việt) của tác giả Marc Levy & Phúc Chi Nhi (dịch).
Nước Mỹ (Kẻ Mất Tích)
Tóm tắt & Review (Đánh Giá) sách Nước Mỹ (Kẻ Mất Tích) của tác giả Franz Kafka & Lê Chu Cầu (dịch). “Tác phẩm là nhát búa phá vỡ biển cả đã đóng băng trong chúng ta.” - Franz Kafka Cập cảng New York trên một con tàu lớn khủng khiếp, Karl Roßmann, kẻ tội đồ từng gây tội lỗi tình ái ở quê hương được chào đón bởi Nữ thần Tự do giương cao thanh kiếm giữa bầu trời lồng lộng. Cảnh tượng bỗng đột nhiên trở nên chói lọi. Từ đây, Karl rơi thẳng vào vòng xoáy rủi may may rủi đến chóng mặt. Karl đã trải nghiệm cuộc sống lên voi xuống chó khôn lường dở cười dở khóc nơi miền đất của những cơ hội thần kỳ. Và tương lai của cậu là gì? Điều đó không ai biết, bởi vì tiểu thuyết đã dừng bước ngay khi chuyến tàu đưa nhân vật chính đến vùng đất có cái tên hư hư thực thực – Oklahama – chỉ vừa mới khởi hành...  Nước Mỹ (Kẻ mất tích) - tiểu thuyết đầu tiên, và hài hước nhất của Franz Kafka như tia sáng lẻ loi bên ngoài chùm tác phẩm đã trở thành huyền thoại vẫn thường được nhắc đến là Hóa thân, Vụ án và Lâu đài. E. L. Doctorow – nhà văn đương đại lớn hàng đầu nước Mỹ đánh giá đây là câu chuyện hiện đại, mang tầm tư tưởng lớn về nước Mỹ như một nơi chốn chưa ai từng thấy, trong một thời kỳ lịch sử không thể nhận dạng, vì nó được Kafka, dù chưa từng đặt chân đến Mỹ, viết nên từ những yếu tố thần thoại trong chính tâm trí thiên tài của ông  “Để nêu danh một nhà văn đã đặt dấu ấn sâu đậm lên thời đại của chúng ta không kém gì Dante, Shakespeare hay Goethe, thì với các thế hệ đương thời, đó nhất định là Kafka.”  - W.H.Auden *** Những sáng tác của Franz Kafka, đến nay được ra mắt công chúng toàn cầu, đều được phát lộ trong tình trạng bản thảo bởi những người yêu quý văn tài của ông. Song, diệu kỳ thay, những trang văn tưởng chừng dở dang trong hành trình đến với độc giả ấy, qua sự kiểm duyệt khắc nghiệt của thời gian, đến tận hôm nay vẫn là những tác phẩm được cả giới nghiên cứu lẫn độc giả phổ thông đánh giá là đạt đến sự hoàn hảo cao độ. Tiểu thuyết Nước Mỹ (Kẻ mất tích) là một sự dở dang hoàn hảo ám ảnh người đọc như thế. Chàng trai người Đức Karl Roßmann - nhân vật chính của tác phẩm - bị gia đình tống khứ khỏi nhà và bắt đầu một cuộc sống mới trên đất Mỹ. Để rồi từ đây, với những pha độc thoại triền miên, với những giả thiết hoàn toàn xa lạ so với cách nghĩ thông thường, Kafka xây dựng hình ảnh một chàng thanh niên Karl Roßmann thông minh, sâu sắc, luôn quan sát cuộc sống tỉ mỉ và có những so sánh, liên tưởng thú vị. Dễ nhận thấy lối văn chú thích của Kafka trong những trang viết đầy rẫy những câu văn dài, thậm chí rất dài, như thể là “hóa thân” của những suy tư phức tạp, đa diện về cuộc sống. Dẫu chưa từng đặt chân đến nước Mỹ, nhưng với Nước Mỹ (Kẻ mất tích), Franz Kafka đã cho thấy sự tưởng tượng phong phú của ông. Và điều đáng nói là những vấn đề mà Kafka đề xuất trong quyển tiểu thuyết đầu tay này của ông vẫn vẹn nguyên tính thời sự trong thời đại ngày nay. Sự tiên cảm lạ lùng ấy càng khiến cho văn chương của ông “quyến rũ” độc giả hôm nay và mai sau. Sách do Lê Chu Cầu dịch, NXB Hội Nhà Văn ấn hành. *** Tóm tắt Tiểu thuyết Nước Mỹ (Kẻ Mất Tích) của Franz Kafka kể về hành trình của Karl Roßmann, một chàng trai trẻ người Đức, đến nước Mỹ để bắt đầu một cuộc sống mới sau khi bị gia đình tống khứ khỏi nhà vì lý do tình ái. Tại Mỹ, Karl gặp phải vô vàn khó khăn và thử thách. Anh bị đuổi việc khỏi cửa hàng bách hóa, bị bắt vào tù, và phải đối mặt với những kẻ lừa đảo. Tuy nhiên, Karl vẫn không ngừng tìm kiếm cơ hội để lập nghiệp và tìm kiếm hạnh phúc. Đánh giá Nước Mỹ (Kẻ Mất Tích) là một tác phẩm phức tạp và khó hiểu, nhưng cũng vô cùng hấp dẫn và lôi cuốn. Tác phẩm đã khắc họa một cách chân thực những khó khăn và thử thách mà người nhập cư phải đối mặt khi đến một đất nước mới. Tiểu thuyết cũng thể hiện những suy tư của Kafka về cuộc sống, về con người và về thế giới. Kafka cho thấy rằng cuộc sống là một hành trình đầy rẫy những bất trắc và khó khăn, nhưng con người vẫn luôn có thể tìm thấy niềm hy vọng và hạnh phúc. Một số điểm nổi bật Cốt truyện hấp dẫn và lôi cuốn Nhân vật được xây dựng chân thực và đáng nhớ Ngôn ngữ giàu chất thơ và triết lý Kết luận Nước Mỹ (Kẻ Mất Tích) là một tác phẩm kinh điển của văn học thế giới. Tác phẩm xứng đáng được đọc và suy ngẫm bởi bất cứ ai quan tâm đến cuộc sống, con người và thế giới. Một số nhận xét của độc giả "Nước Mỹ (Kẻ Mất Tích) là một cuốn sách tuyệt vời. Tác phẩm đã khiến tôi phải suy ngẫm rất nhiều về cuộc sống." "Câu chuyện của Karl Roßmann rất cảm động và đáng suy ngẫm. Tôi rất thích cách tác giả đã khắc họa nhân vật và bối cảnh." "Tác phẩm có lối viết độc đáo và hấp dẫn. Tôi rất ấn tượng với những suy tư của tác giả về cuộc sống." Mời các bạn mượn đọc sách Nước Mỹ (Kẻ Mất Tích) của tác giả Franz Kafka & Lê Chu Cầu (dịch).
Nhắm Mắt Thấy Paris
Tóm tắt & Review (Đánh Giá) sách Nhắm Mắt Thấy Paris của tác giả Dương Thụy. Tôi bắt đầu viết tiểu thuyết này vào tháng 5-2008 với tựa đề “Rạng đông trời Paris”. Bối cành truyện diễn ra phần lớn ở Paris, và những nhân vật chính đều làm việc trong tập đoàn mỹ phẩm L’Aurore (trong tiếng Pháp nghĩa là Rạng đông). Quỳnh Mai, cô nhân viên trẻ nhiều nhiệt huyết và đầy năng động, những tưởng mình có thể thành công dù có phải đối mặt với bất cứ khó khăn nào. Trong quá trình sống, làm việc, hoà nhập và yêu, Mai đã nhiều lấn rơi vào khủng hoảng. Cô đối diện với chính bản thân mình và tự động viên khi một ngày mới lại đến. Lôgô của công ty là hình mặt trời nhô lên vào buổi rạng đông. Nhưng thực tế cảnh rạng đông ở Paris lúc nào cũng đẹp hơn, sinh động và làm người ta thêm phấn chấn. Cuộc sống ở công ty không phải là tất cả, còn đó một ngày mới tươi đẹp hơn và đang chờ ta tận hưởng. Mãi một năm rưỡi, vào tháng 10-2009, tôi mới hoàn tất tiểu thuyết này sau rất nhiều khoảng dừng. do tôi luôn phải viết trong hoàn cảnh tranh thủ tối đa thời gian rảnh. Khi đọc lại tác phẩm, tôi thấy tực cũ có vẻ “hô khẩu hiệu” và quyết định chọn tựa “Nhắm mắt thấy Paris”. Khi nhắm mắt, là khi người ta không còn thấy gì nữa hết. Nhưng đó cũng là lúc hiện lên những khoảnh khắc hoài ghi dấu trong cuộc đời mình. Trong tiểu thuyết này, Paris không phải chỉ riêng của Quỳnh Mai, Paris còn thuộc về Louis De Lechamps, một chàng trai Pháp gốc gác quý tộc, vì tuổi trẻ bốc đồng đã phải trả giá khá đắt khi sang Việt Nam làm việc. Paris còn là nơi Daniel Ng, một thanh niên giỏi giang người Singapore, khi đến đây hội họp đã lang thang một mình trong cô độc dù có địa vị rất cao. Paris cũng ghi dấu khoảng thời gian khủng hoảng của Tuyết Hường, một cô gái đầy tham vọng nhưng hành xử tàn nhẫn do không có bệ phóng vững chắc từ giáo dục của gia đình. Và cuối cùng, Paris còn là nơi một người con của chính nơi này không còn chốn dung thân: Jean-Paul Lafatoine. Ông thân bại danh liệt sau một sai lầm tệ hại và cuối cùng phải khởi nghiệp lại ở châu Á. “Nhắm mắt thấy Paris”, Paris của quá khứ đã qua hay paris của tương lai đấy hứa hẹn. Tất cả những nhân vật trong tiểu thuyết này đều có một lý do riêng để nhớ về Paris và hẹn gặp lại tại đây. Bản thân tôi cũng thường nhắm mắt thấy Paris và Paris từ lâu với tôi đã là một chốn đi về đầy yêu thương. Riêng đối với độc giả, tôi tự thuyết phục mình rằng sau khi đọc xong cuốn sách này, mọi người cũng tìm được cho mình một lý do để “thấy Paris”. Tôi hoàn toàn tin tưởng vào điều đó! Dương Thụy *** Tóm tắt Nhắm Mắt Thấy Paris là câu chuyện về Quỳnh Mai, một cô gái trẻ Việt Nam, người đã giành được học bổng du học tại Paris. Mai là một người đầy nhiệt huyết và năng động, cô tin rằng mình có thể thành công dù có phải đối mặt với bất cứ khó khăn nào. Tuy nhiên, cuộc sống ở Paris không hề dễ dàng như cô tưởng tượng. Mai phải đối mặt với những thách thức về ngôn ngữ, văn hóa và công việc. Cô cũng phải học cách hòa nhập với một môi trường mới và đối diện với những rắc rối trong tình cảm. Trong quá trình trưởng thành, Mai đã dần nhận ra rằng cuộc sống không phải lúc nào cũng dễ dàng. Cô cũng đã học cách chấp nhận những thất bại và sai lầm của bản thân. Cuối cùng, Mai đã tìm được hạnh phúc và thành công ở Paris. Đánh giá Nhắm Mắt Thấy Paris là một cuốn tiểu thuyết lãng mạn và cảm động. Tác phẩm đã khắc họa chân thực cuộc sống của những người trẻ Việt Nam khi du học ở nước ngoài. Cuốn sách cũng mang đến những bài học ý nghĩa về cuộc sống và tình yêu. Một số điểm nổi bật Cốt truyện hấp dẫn và lôi cuốn Nhân vật được xây dựng chân thực và đáng yêu Ngôn ngữ trong sáng và giàu cảm xúc Kết luận Nhắm Mắt Thấy Paris là một cuốn tiểu thuyết đáng đọc cho những ai yêu thích dòng văn học lãng mạn. Cuốn sách sẽ mang đến cho bạn những giây phút thư giãn và suy ngẫm về cuộc sống. Một số nhận xét của độc giả "Nhắm Mắt Thấy Paris là một cuốn tiểu thuyết tuyệt vời. Cuốn sách đã khiến tôi phải suy ngẫm rất nhiều về cuộc sống và tình yêu." "Câu chuyện của Quỳnh Mai rất cảm động và đáng yêu. Tôi rất thích cách tác giả đã khắc họa nhân vật và bối cảnh." "Nhắm Mắt Thấy Paris là một cuốn sách đáng đọc cho những ai muốn tìm hiểu về cuộc sống của những người trẻ Việt Nam khi du học ở nước ngoài." Mời các bạn mượn đọc sách Nhắm Mắt Thấy Paris của tác giả Dương Thụy.
David & Goliath - Cuộc Đối Đầu Kinh Điển Và Nghệ Thuật Đốn Ngã Những Gã Khổng Lồ
Tóm tắt & Review (Đánh Giá) sách David & Goliath - Cuộc Đối Đầu Kinh Điển Và Nghệ Thuật Đốn Ngã Những Gã Khổng Lồ của tác giả Malcolm Gladwell & Tuệ Minh (dịch). David hạ gục Goliath Kẻ yếm thế, người kém cỏi và nghệ thuật đánh bại những gã khổng lồ Độc giả Việt Nam chắc hẳn đã quen thuộc và yêu thích các cuốn sách của Michael Gladwell trước đây: Điểm bùng phát (2000) viết về những thời khắc quan trọng và bùng nổ của một ý tưởng hoặc một sản phẩm; Trong chớp mắt (2005) với những khoảnh khắc xuất thần và trực giác của con người; Những kẻ xuất chúng nói về thành công và khả năng thiên tài của con người thông qua rèn luyện; Chú chó nhìn thấy gì tập hợp các bài viết dưới góc nhìn khác lạ, dí dỏm, độc đáo của ông và tác phẩm mới nhất của ông, David chống lại Goliath, mà các bạn đang cầm trên tay tái hiện lại cuộc chiến đấu chống lại các gã khổng lồ của những con người nhỏ bé trong thực tế cuộc sống, trên thương trường và cả lĩnh vực chính trị xã hội, v.v… Cuốn sách kể về những thuận lợi và bất lợi của mỗi kiểu người trong xã hội và đưa ra kết luận rằng những điểm bất lợi dưới con mắt của người này chưa chắc đã là điểm bất lợi trong lăng kính của người kia. Thông qua cuốn sách, tác giả cho thấy chúng ta đã hiểu sai cuộc chiến giữa kẻ yếu và kẻ mạnh thế nào, cách đánh giá thấp thuận lợi của những điều được cho là bất lợi ra sao.  Malcolm Glawell đã bắt đầu cuốn sách bằng cách kể lại câu chuyện về cuộc chiến giữa chàng chăn cừu bé nhỏ David và gã khổng lồ Goliath. Câu chuyện được đẩy lên cao trào khi tác giả mô tả Goliath là một chiến binh thiện chiến được trang bị những vũ khí sắc bén trong khi chàng chăn cừu chỉ mang bên mình chiếc ná thun và một cây gậy. Thế nhưng, kết quả thật khiến tất cả các độc giả phải bất ngờ, David đã giành chiến thắng vẻ vang trước đối thủ đáng gờm.  Trong nhiều lần nói chuyện và giảng bài, tôi có nói quan điểm của mình rằng: Điểm mạnh nhất của một người cũng sẽ là điểm yếu nhất của họ. Và thật vui khi Malcolm Gladwell cũng khẳng định rằng điểm mạnh của kẻ thắng thế thực chất lại là điểm yếu nhất của họ nếu chúng ta biết cách quan sát từ góc độ đúng đắn nhất. Ông đã dẫn chứng ra khá nhiều câu chuyện về những người gặp hoàn cảnh khó khăn trong cuộc sống (tuổi thơ bất hạnh, khuyết tật…) nhưng họ đã biết cách biến những bất lợi đó trở thành thuận lợi cho mình. Chúng minh họa cho lời châm ngôn sáo mòn và sai lầm rằng “Những gì không giết chết bạn thì sẽ khiến bạn mạnh mẽ hơn.”  Với cách tiếp cận vấn đề mới lạ và hấp dẫn, gợi suy nghĩ cho chúng ta, khích lệ chúng ta, cuốn sách sẽ dẫn lối bạn đọc đến với những quan điểm mới mẻ về những bất lợi trong cuộc sống, thúc đẩy những người tự ti, những người phải chịu thiệt thòi trong cuộc sống, và cũng khuyến cáo những ai quá tự tin. Ông phân tích từng câu chuyện mang tính cá nhân để rồi từ đó đưa ra bài học cho chúng ta.  Điều này cũng phần nào lý giải cho sự thành công của đất nước Việt Nam nhỏ bé trước quân đội hùng mạnh của Mỹ, hay nguyên nhân đất nước Afghanistan và Iraq bị thuần phục. Tôi cũng nhận thấy nhiều ví dụ thực tiễn sống động, từ câu chuyện Viettel cạnh tranh với “những người khổng lồ” Mobifone và Vinaphone hơn chục năm trước đây khi tấn công vào thị trường nông thôn bằng cước giá rẻ cho mọi người… Hay nhiều câu chuyện về những doanh nhân vất vả trong tuổi niên thiếu, chịu thiệt thòi vất vả hơn những người khác những đã vươn lên thành công. Chính bất lợi của họ khiến họ kiên cường hơn, khiến họ phải tìm ra con đường sống sót và sinh tồn cho mình, để rồi giành chiến thắng theo cách ít ngờ đến nhất. Bằng ngòi bút thiên tài của mình, Malcolm Gladwell đã mang “một thế giới đáng kinh ngạc của tâm lý học và xã hội học” đến với một lượng lớn độc giả. Tôi tin rằng, đây là một cuốn sách đáng đọc, đáng được chờ đợi và dù đôi chỗ có phần ngụy biện nhưng hẳn nó sẽ mang lại cho các bạn những gợi ý thú vị và khích lệ các bạn tìm ra cách thức để vươn lên thành công. Trân trọng giới thiệu tới bạn đọc cuốn sách này. Hà Nội, tháng 4 năm 2014 NGUYỄN CẢNH BÌNH Giám đốc Alpha Books *** Tóm tắt Cuốn sách David & Goliath của tác giả Malcolm Gladwell kể về những câu chuyện về những người nhỏ bé, yếu thế nhưng đã vượt qua những gã khổng lồ, mạnh mẽ để giành chiến thắng. Tác giả cho rằng, những bất lợi trong cuộc sống có thể trở thành thuận lợi nếu chúng ta biết cách tận dụng. Review Cuốn sách được chia thành 7 phần, mỗi phần là một câu chuyện khác nhau. Trong phần đầu tiên, tác giả kể về câu chuyện của David và Goliath, một câu chuyện kinh điển về kẻ yếu đánh bại kẻ mạnh. Tác giả phân tích rằng, David không phải là một kẻ yếu thực sự. Chàng là một chiến binh thiện chiến, có kinh nghiệm chiến đấu và biết cách tận dụng lợi thế của mình. Trong các phần tiếp theo, tác giả kể về những câu chuyện của những người nhỏ bé, yếu thế đã thành công trong cuộc sống. Đó là câu chuyện của những người khuyết tật, những người bị phân biệt đối xử, những người nghèo khó,... Họ đã vượt qua những khó khăn, thử thách để đạt được thành công nhờ vào sự kiên cường, nỗ lực và khả năng thích ứng. Đánh giá Cuốn sách David & Goliath là một cuốn sách thú vị và đầy cảm hứng. Tác giả đã đưa ra những góc nhìn mới mẻ về những bất lợi trong cuộc sống. Cuốn sách sẽ giúp chúng ta hiểu rằng, những bất lợi đó có thể trở thành thuận lợi nếu chúng ta biết cách tận dụng. Một số ý kiến đánh giá của độc giả: "Cuốn sách đã giúp tôi thay đổi cách nhìn nhận về cuộc sống. Tôi nhận ra rằng, những bất lợi trong cuộc sống không phải lúc nào cũng là một điều xấu." "Cuốn sách rất ý nghĩa và mang lại nhiều động lực cho tôi. Tôi sẽ cố gắng vượt qua những khó khăn, thử thách để đạt được thành công." "Cuốn sách rất thú vị và hấp dẫn. Tôi đã đọc đi đọc lại nhiều lần." Mời các bạn mượn đọc sách David & Goliath - Cuộc Đối Đầu Kinh Điển Và Nghệ Thuật Đốn Ngã Những Gã Khổng Lồ của tác giả Malcolm Gladwell & Tuệ Minh (dịch).