Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Tess Một Tâm Hồn Trong Trắng

Tess là tác phẩm được độc giả thuộc mọi tầng lớp yêu thích nhiều nhất trong số 14 tiểu thuyết của Hardy. So với Eustacia xinh đẹp theo kiểu hoang dã, tham vọng vật chất trong Trở lại cố hương và Sue xinh đẹp trong theo kiểu trí thức, tính nết thất thường, với quan điểm mâu thuẫn về đạo đức, tôn giáo, hôn nhân trong Jude-Kẻ vô danh thì Tess Durbeyfield chỉ là một nàng thôn nữ, học hết lớp sáu trường làng, nàng xinh đẹp một cách dân dã như một đóa hoa đồng nội. Nhưng số phận thảm thương, Tess bị tử hình bằng cách treo cổ do đâm chết Alec. Số phận đen tối một cách cùng cực dù nàng chỉ có ước mơ rất tầm thường, nhỏ nhoi, rất con người: có một người chồng mà mình yêu và yêu mình, sống một cuộc sống vừa đủ, sẵn sàng làm bất cứ công việc chân tay vất vả nào. Nhưng Alec một điền chủ trẻ tuổi, phóng đãng quyến rũ và hãm hiếp từ năm nàng mới có mười sáu tuổi, sau đó lại dùng sức mạnh vật chất để chi phối nhằm mục đích sở hữu nàng như sở hữu một món đồ chơi ưa thích. Khi Tess kết hôn với Angel nàng đã thú nhận với chồng của mình về quá khứ vào đêm tân hôn. Do quan niệm quá cứng nhắc về trinh tiết và Angel nghĩ rằng mình bị lừa đã rời nước Anh đến Brazil lập nghiệp để suy nghĩ kĩ hơn về mối quan hệ vợ chồng anh. Thông qua Tess, Thomas Hardy đã thẳng thắn phê phán những quan niệm cổ hủ và cứng nhắc về tín ngưỡng, đạo đức trong tình yêu và hôn nhân của thời kì Victorian. Chính vì lẽ đó mà khi nó được công bố lần đầu năm 1891 đã bị chỉ trích kịch liệt. Khi đọc về những cuộc đời, những con người có tâm hồn mộc mạc, thiện lương, với những mơ ước đơn sơ bình dị lại gặp toàn tai ương, hoạn nạn, một mặt chúng ta xót thương, đồng cảm với họ, mặt khác, chúng ta mơ ước một xã hội trong đó những bi kịch đó không còn tái diễn. Có lẽ đó cũng là mơ ước hoài vọng của tác giả khi viết tác phẩm này. *** Dịch từ nguyên bản tiếng Anh Tess of the d’Urbervilles – A Pure Woman Faithfully Presented Của Thomas Hardy Dịch giả giữ bản quyền bản tiếng Việt Dù không được xếp hạng trong danh mục 100 tiểu thuyết tiếng Anh hay nhất mọi thời như Jude- Kẻ vô danh – vốn đẩy những phê phán xã hội và tôn giáo của Thomas Hardy lên đến đỉnh điểm, và tạo nên nhiều phê phán tiêu cực đến độ ông dứt khoát từ bỏ văn xuôi và chuyển sang sáng tác thơ cho đến cuối đời – Tess, một tâm hồn trong trắng vẫn được khẳng nhận rộng rãi là một trong số các kiệt tác của ông.  Có thể nhấn mạnh một điểm đặc biệt khác ở Tess: trong số 14 tiểu thuyết của Hardy, nó là tác phẩm được độc giả thuộc mọi tầng lớp yêu thích nhiều nhất, ngay từ thời điểm được công bố lần đầu, dù có những chỉ trích gay gắt về chủ đề tư tưởng từ phía các nhà phê bình cực đoan, cho tới tận hôm nay. Và các tác phẩm chuyển thể từ Tess sang sân khấu, điện ảnh lên đến một số lượng đáng ngạc nhiên so với các tiểu thuyết khác của ông. Về sân khấu, có tổng cộng tám vở kịch hoặc ca nhạc kịch (opera) của các tác giả khác nhau được trình diễn nhiều lần trên các sân khấu lớn ở London, New York, Stratfort-upon-Avon (quê hương của Shakespeare). Về điện ảnh, có 7 phim màn ảnh rộng (công chiếu lần đầu vào các năm 1913, 1924, 1967, 1979, 2000, 2011, 2013); 4 phim truyền hình (1952, 1960, 1998, 2008), trong đó tôi đã được xem hai phiên bản: năm 1998, do London Weekend Television sản xuất, đạo diễn Ian Sharp, với các diễn viên chính Justine Waddell (Tess), Jason Flemyng (Alec), và Oliver Milburn (Angel); và năm 2008, do BBC sản xuất, đạo diễn David Blair, các diễn viên chính Gemma Artenton (Tess), Hans Matheson (Alec), Eddie Redmayne (Angel); cả hai phiên bản có những ưu điểm và khuyết điểm khác nhau, nhưng nhìn chung đều thể hiện được khá chính xác tính cách của các nhân vật như miêu tả của Thomas Hardy.[1] Vì sao như vậy, bạn đọc sẽ đặt câu hỏi. Và tôi xin được trả lời vắn tắt: so với Eustacia xinh đẹp theo kiểu hoang dã, có nhiều tham vọng vật chất trong Trở lại cố hương, và Sue xinh đẹp theo kiểu trí thức, tính nết thất thường, với những quan điểm về tôn giáo, đạo đức, hôn nhân cực kỳ mâu thuẫn trong Jude – Kẻ vô danh, Tess Durbeyfield chỉ là một nàng thôn nữ, học hết lớp sáu trường làng. Nàng xinh đẹp một cách dân dã, như một đóa hoa đồng nội. Cả ba nhân vật nữ trong ba tiểu thuyết này đều có số phận không may: Eustacia tự sát; Sue bị mất ba đứa con và sống một cuộc đời tàn tạ héo hon với Philoston; nhưng số phận của Tess còn thảm thương hơn: nàng bị tử hình bằng cách treo cổ do đâm chết Alec. Số phận của nàng đen tối đến mức cùng cực như vậy, dù nàng chỉ có những mơ ước rất tầm thường, nhỏ nhoi, rất con người: có một người chồng mà mình yêu và yêu mình, sống một cuộc sống vừa đủ, sẵn sàng làm bất cứ công việc chân tay vất vả nào. Mặt khác, nàng là một thiếu nữ, và sau là một  phụ nữ có tâm hồn hoàn toàn trong trắng dịu hiền, nhưng  lại bị Alec, một điền chủ trẻ tuổi, phóng đãng quyến rũ và hãm hiếp từ năm nàng mới mười sáu tuổi, rồi sau đó lại dùng sức mạnh vật chất để chi phối, nhằm mục đích sở hữu nàng như sở hữu một món đồ chơi ưa thích lần nữa, khi nàng đã kết hôn với Angel, nhưng hai vợ chồng đang sống xa nhau. (Nàng đã thú nhận với chồng quá khứ của mình vào đêm tân hôn. Do quan niệm quá cứng nhắc về trinh tiết và nghĩ rằng mình bị lừa, Angel đã rời nước Anh sang Brazil để lập nghiệp với tư cách một chủ nông trại, cũng để chờ thời gian lắng lại để suy nghĩ  kỹ hơn về mối quan hệ của vợ chồng anh.) Ở tựa sách nguyên bản, ngoài tựa chính Tess of the D’Urbervilles, Thomas Harsy chủ tâm đưa thêm một tiểu tựa: A Pure Woman Faithfully Presented, chính là muốn nhấn mạnh đặc tính trong trắng thuần khiết này của Tess. Một nữ nhân vật đáng yêu và đáng thương như vậy, đương nhiên sẽ đi vào lòng người đọc, và khơi gợi ở họ những cảm xúc thật sự khó quên. Tess còn đáng yêu ở nhiều điểm khác: nàng yêu thiên nhiên, yêu cỏ cây hoa lá trong môi trường xung quanh, yêu các loài động vật nhỏ bé, yếu ớt và vô phương tự vệ như nàng. Thông qua Tess, Thomas Hardy đã thẳng thắn phê phán những quan niệm cổ hủ và cứng nhắc về tín ngưỡng, đạo đức trong tình yêu và hôn nhân của thời kỳ Victorian. Chính vì lẽ đó mà khi nó được công bố lần đầu vào năm 1891 dưới hình thức đăng nhiều kỳ trên tờ họa báo The Graphic và sau đó xuất bản dưới hình thức sách (ba tập) cũng trong năm 1891, nó đã bị chỉ trích kịch liệt. Một tác phẩm lớn đương nhiên sẽ có nhiều cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau, từ nhiều góc độ. Ở phần giới thiệu này, tôi xin không nêu tóm tắt cốt truyện vì như thế sẽ rất dài dòng, không cần thiết; cũng không đưa ra những phân tích sâu về chủ đề hay về tính cách của các nhân vật, vì mong muốn độc giả sẽ là người tự có những nhận định của chính mình sau khi đọc tác phẩm. Chỉ xin đưa ra một nhận định nhiều cảm xúc của tôi với tư cách một người đọc, và một người dịch: Khi đọc về những cuộc đời, những con người có tâm hồn mộc mạc, thiện lương, với những mơ ước đơn sơ bình dị lại gặp toàn tai ương, hoạn nạn, một mặt chúng ta xót thương, đồng cảm với họ, mặt khác, chúng ta mơ ước một xã hội trong đó những bi kịch đó không còn tái diễn. Có lẽ đó cũng là ước mơ hoài vọng của tác giả khi viết tác phẩm này. Sài Gòn, tháng 01/2020 Nguyễn Thành Nhân *** Thomas Hardy (1840 - 1928) là một tiểu thuyết gia, nhà thơ và kiến ​​trúc sư người Anh. Các văn bản của ông có một phong cách hiện thực, nhưng bị ảnh hưởng ở một mức độ lớn bởi chủ nghĩa lãng mạn văn học có trước thời Victoria.. Nhờ thành công của ngòi bút của mình, ông đã từ bỏ sự nghiệp của kiến ​​trúc sư để cống hiến hết mình cho các bức thư. Mặc dù Hardy đã nhanh chóng nhận được sự hoan nghênh của một nhà tiểu thuyết, nhưng ông luôn cảm thấy hứng thú với thơ và tác phẩm của ông có tác động lớn đến các thế hệ nhà thơ kế vị ông.. Phong cách mà tác giả in cho các tác phẩm của mình tập trung hơn nhiều và ít khoa trương hơn so với những người cùng thời. Nó có tông màu tối và định mệnh, trái ngược với hy vọng thấm đẫm các văn bản Victoria. Hardy đã đặt gần như tất cả các tác phẩm kể chuyện của mình ở Wessex, một quốc gia tưởng tượng lấy tên của vương quốc từng nắm giữ quyền lực lớn trên đảo. Nhưng trong cuộc đời của tác giả, khu vực địa lý thực sự ngày càng nghèo nàn. Hardy Wessex nằm ở phía nam và tây nam nước Anh. Ông thậm chí còn tạo ra các bản đồ chỉ ra vị trí chính xác của từng thành phố hư cấu. Tác giả đã được đề cử 12 lần cho giải thưởng Nobel Văn học. Thomas Hardy cũng làm việc trong việc viết những ký ức của mình, mặc dù chúng được kết thúc bởi người vợ thứ hai của ông, Florence Hardy, và chúng đã được xuất bản thành hai tập tiếp cận chi tiết từng giai đoạn của cuộc đời của tác giả người Anh. *** Vào một xế chiều cuối tháng Năm, một người đàn ông trung niên đang từ Shaston đi bộ trở về nhà. Ông ở thôn Marlott, nằm tiếp giáp với Thung lũng Blakemore, hoặc Blackmoor. Đôi chân của ông yếu ớt, và dáng đi của ông có xu hướng hơi nghiêng sang trái. Thỉnh thoảng ông lại gật đầu, như thể xác nhận một ý nghĩ nào đó, dù ông không hề nghĩ tới một điều gì cụ thể. Ông móc lủng lẳng trên tay một cái giỏ đựng trứng trống rỗng, đội một cái mũ nỉ đã sờn,  vành mũ bị rách toạc một mảng to và ông đưa ngón cái lên để giật nó ra. Đúng lúc đó ông nhìn thấy một vị cha xứ lớn tuổi ngồi vắt vẻo trên lưng một con lừa xám, miệng đang ngâm nga một khúc du ca. “Chúc buổi tối tốt lành.” Ông cất tiếng chào. “Chúc buổi tối tốt lành, Ngài John.” Vị cha xứ đáp lễ. Kẻ bộ hành bước thêm một hai bước nữa, rồi dừng chân và quay lại. “Xin thứ lỗi, thưa ông; chúng ta đã gặp nhau vào phiên chợ lần trước trên con đường này, cũng vào khoảng giờ này, tôi đã nói ‘Chúc buổi tối tốt lành,’ và ông cũng đáp lại ‘Chúc buổi tốt tốt lành, Ngài John,’ như hiện giờ.” “Đúng thế.” Vị cha xứ đáp. “Và một lần trước đó nữa, gần một tháng trước.” “Có lẽ tôi đã chào như thế.” “Vậy ý của ông là gì khi gọi tôi là ‘Ngài John’ trong những lần này, khi tôi chỉ là Jack Durbeyfield, một người bán dạo quê mùa?” Vị cha xứ giục lừa tới gần hơn. “Đó chỉ là sở thích nhất thời của tôi.” Ông đáp; và nói thêm sau giây lát ngần ngừ: “Cách đây ít lâu tôi phát hiện ra một việc, trong lúc đang săn lùng những phả hệ cho một cuốn sách lịch sử mới của hạt. Tôi là cha xứ Tringham, nhà khảo cổ, ở làng Stagfoot Lane. Durbeyfield, chẳng lẽ ông thật sự không biết rằng ông là đại diện của dòng tộc hiệp sĩ cổ xưa d'Urbervilles, vốn là hậu duệ của Ngài Pagan d'Urberville, vị hiệp sĩ lừng danh đến từ Normandy cùng với William Kẻ Chinh phục, như được ghi trong Văn kiện của Tu viện Battle[2] hay sao?” “Chưa bao giờ nghe nói tới nó, thưa ông!” “Vâng, đúng thế đó. Hãy ngẩng cằm ông lên giây lát, để tôi có thể ngắm nét mặt nhìn nghiêng của ông rõ hơn. Phải, đó là cái mũi và cằm của dòng họ d'Urberville, dù hơi kém phẩm chất hơn chút đỉnh. Tổ tiên của ông là một trong mười hai hiệp sĩ của Lãnh chúa xứ Estremavilla ở Normandy trong cuộc chinh phục xứ Glamorganshire. Các nhánh gia tộc của ông có điền trang trên toàn bộ vùng này của nước Anh; tên của họ xuất hiện trong Văn kiện vào thời Vua Stephen. Dưới triều Vua John, một người trong số họ đủ giàu để tặng một điền trang cho các Hiệp sĩ dòng Thánh John, và vào thời của Vua Edward Đệ Nhị, tổ tiên Brian của ông được mời tới Westminster để tham gia Đại hội đồng tại đó. Dòng tộc của ông bị sa sút đôi chút vào thời của Oliver Cromwel[3], nhưng không nghiêm trọng lắm, và dưới triều của Charles Đệ Nhị họ được phong làm Hiệp sĩ Cây Sồi Hoàng gia[4] vì lòng trung thành. Phải, đã có những thế hệ các Ngài John trong số tổ tiên của ông, và nếu tước hiệp sĩ có thể kế thừa như thuở trước, khi cha có thể truyền lại tước hiệu này cho con trai, giờ ông sẽ là Ngài John.” “Ông đừng nói như thế!” “Nói tóm lại,” vị cha xứ kết luận, vụt nhẹ roi vào chân mình với vẻ quả quyết, “khó mà có một gia tộc khác như thế ở nước Anh.” “Một thông tin choáng cả người, phải không?” Durbeyfield đáp. “Và tôi đã lăn lóc từ nơi này sang nơi khác, hết năm này sang năm khác, như thể tôi không hơn gì một gã tiều phu tầm thường nhất trong xứ đạo… Tin tức này về tôi đã được biết từ bao lâu rồi, thưa Cha xứ Tringham?" Vị cha xứ giải thích rằng, trong chừng mực ông biết, thông tin này đã hoàn toàn tuyệt tích từ lâu, và hầu như không ai biết cả. Những điều tra riêng của ông đã được bắt đầu vào mùa xuân năm ngoái, trong lúc truy tìm dấu tích thăng trầm của gia tộc d'Urberville, ông đã nhìn thấy cái tên Durbeyfield trên cỗ xe ngựa của Jack, và từ đó đã tiến hành những điều tra về cha và ông nội của Jack cho tới khi không còn hồ nghi gì về vấn đề này nữa. “Thoạt tiên tôi quyết định không quấy rầy ông với một thông tin vô ích như thế.” Ông nói. “Tuy nhiên, đôi khi những thôi thúc quá mạnh mẽ so với lý trí của chúng ta. Tôi nghĩ có lẽ lâu nay ông cũng biết đôi điều gì đó về việc này.” “Vâng, đúng thế, tôi có nghe nói một hai lần, rằng tổ tiên tôi từng có những ngày tháng tốt đẹp hơn trước khi họ tới Blackmoor. Nhưng tôi không chú ý tới nó, nghĩ rằng nó chỉ có nghĩa rằng chúng tôi từng có thời làm chủ hai con ngựa trong khi bây giờ chỉ có một con. Tôi có một cái muỗng bạc, và một con dấu niêm phong ở nhà; nhưng Lạy Chúa, một cái muỗng và một con dấu là gì chứ?... Và hãy nghĩ rằng tôi và những người cao quý họ d'Urbervilles này luôn có chung huyết thống mà xem. Tôi nghe nói ông cố của tôi có những bí mật, và không muốn nói về xuất xứ của mình… Và, thưa cha xứ, xin đánh bạo hỏi hiện giờ dòng họ d'Urbervilles của chúng tôi sống ở đâu?” “Không ở đâu cả. Dòng họ của ông đã tuyệt tận, với tư cách một gia tộc từng sống trong hạt suốt nhiều thế hệ.” “Thế thì tệ thật.” “Phải, đó là cái mà những biên niên sử gia tộc viết sai sự thật gọi là sự tuyệt tự ở phía bên nội, nghĩa là đã chết, đã xuống mồ hết.” “Vậy chúng tôi nằm ở đâu?” “Ở Kingsbere-sub-Greenhill, có hàng hàng lớp lớp tổ tiên ông nằm trong những hầm mộ, với những chân dung khắc bên dưới những mái vòm cẩm thạch Purbeck.” “Thế các dinh thự và thái ấp của gia tộc chúng tôi ở đâu?” “Không có bất cứ thứ gì cả.” “Ồ, cả đất đai cũng không?” “Không; dù họ từng có thừa thãi, như tôi đã nói, vì gia tộc của ông bao gồm rất nhiều nhánh. Trong hạt này từng có một vùng đất của họ ở Kingsbere, một chỗ khác ở Sherton, một chỗ khác ở Millpond, một chỗ khác ở Lullstead, và một chỗ khác ở Wellbridge.” “Vậy chúng tôi có khấm khá trở lại được không?” “Chà, tôi không thể nói được điều đó!” “Vậy tốt nhất tôi nên làm gì về việc này, thưa ông?” Durbeyfield hỏi, sau một giây im lặng. “Ồ, không gì cả, không gì cả; ngoại trừ tự kềm chế bản thân với ý nghĩ kẻ quyền quý đã suy sụp thế nào. Đây là một thực tế đáng chú ý với sử gia và nhà phả hệ học địa phương, chỉ thế thôi. Có nhiều gia tộc của những nông dân trong hạt này cũng có gốc tích vẻ vang gần như tương tự. Buổi tối tốt lành.” “Nhưng ông sẽ quay lại và nhấm nháp một vại bia với tôi chứ, cha xứ Tringham? Có một loại bia rất khá ở quán Giọt Trong Lành, dù chắc chắn nó không ngon bằng ở quán của Rolliver.” “Không, cám ơn, chiều nay thì không, Durbeyfield. Ông đã uống đủ rồi.” Sau khi kết luận như thế, vị cha xứ giục lừa đi tiếp, hơi băn khoăn với quyết định của mình trong việc tiết lộ thông tin về gia tộc huyền thoại này. Khi ông ta đã đi khỏi, Durbeyfield đi vài bước nữa trong trạng thái mơ mộng say sưa, rồi ngồi xuống bờ cỏ ven lộ, đặt cái giỏ trước mặt. Vài phút sau, một thiếu niên xuất hiện ở phía xa và đang đi về hướng của ông. Khi nhìn thấy nó, ông giơ tay lên, và nó dấn bước tới gần hơn. “Cậu bé, hãy cầm cái giỏ này lên! Ta muốn cậu làm giúp ta một việc vặt.” Thằng bé gầy như que củi cau mày. “John Durbeyfield, ông là ai mà ra lệnh cho tôi và gọi tôi là ‘cậu bé’? Ông biết tên tôi rõ như tôi biết tên ông mà!” “Vậy sao, vậy sao? Đó là điều bí mật… Đó là điều bí mật! Giờ hãy làm theo lời ta, và đón nhận thông điệp ta sẽ nói với cậu… Ờ, Fred, ta không ngại nói với cậu rằng bí mật đó là ta là hậu duệ của một dòng dõi cao quý, ta mới phát hiện ra nó ngay chiều nay.” Trong lúc tuyên bố như thế, Durbeyfield, ngả người ra và thoải mái nằm duỗi người trên bờ cỏ, giữa những lùm cúc dại. Thằng bé đứng trước mặt ông, và ngắm nghía ông từ đầu tới chân. “Ngài John d'Urberville, đó chính là ta,” người đàn ông đang nằm nói tiếp, “nếu tước hiệu hiệp sĩ có thể kế thừa, mà đó là lẽ đương nhiên. Toàn bộ những điều về dòng dõi của ta đã được ghi chép trong sử sách. Cậu bé, cậu có biết một nơi gọi là Kingsbere-sub-Greenhill không?” “Có. Tôi đã tới Hội chợ ở Greenhill.” “Ờ, bên dưới nhà thờ của thành phố đó là…” “Nơi tôi muốn nói không phải là một thành phố; ít ra là khi tôi tới đó. Nó là một địa điểm nhỏ xíu.” “Đừng bận tâm tới điều đó, cậu bé, đó không phải là vấn đề quan trọng. Nằm bên dưới ngôi nhà thờ của giáo xứ đó là những tổ tiên của ta, hàng trăm người, trong những bộ áo giáp đính đầy châu báu, trong những cỗ quan tài bằng chì nặng hàng tấn. Không kẻ nào trong hạt South Wessex có những bộ xương tiên tổ vĩ đại và cao quý hơn ta.” “Ồ?” “Giờ hãy cầm lấy cái giỏ đó, và tới thôn Marlott, và khi cậu tới quán Giọt Trong Lành, hãy bảo họ hãy lập tức cho một cỗ xe ngựa tới để chở ta về nhà, trong thùng xe phải có thêm một chai rượu rum nhỏ. Và khi làm xong việc đó, cậu hãy mang cái giỏ tới nhà ta, và bảo vợ ta hãy ngưng việc giặt giũ, vì bả không cần hoàn thành nó, và chờ cho tới khi ta về nhà, vì ta có tin tức cần nói với bả.” Trong lúc cậu bé đứng phân vân, Durbeyfield thò tay vào túi và móc ra một siling, một trong số vài đồng ít ỏi mà ông có. “Đây là tiền công của cậu, cậu bé.” Việc này tạo nên một khác biệt trong suy đoán của cậu bé về địa vị của ông. “Vâng, Ngài John. Cám ơn. Tôi có thể làm gì khác nữa, thưa Ngài John?” “Bảo với vợ ta rằng ta muốn ăn bữa tối với thịt cừu rán nếu bả có thể kiếm được, còn nếu không có thì dồi tiết heo, và nếu không có món này thì phèo heo cũng được.” “Vâng, thưa Ngài John.” Thằng bé cầm lấy cái giỏ, và khi nó cất bước, một điệu kèn đồng vang lên từ hướng ngôi làng. “Gì thế?” Durbeyfield nói. “Không phải vì ta đó chứ?” “Đó là đám rước của hội phụ nữ, Ngài John. Con gái của Ngài là một trong số các hội viên của nó.” “Chắc vậy rồi. Ta quên bẳng việc này vì đang nghĩ tới những điều lớn lao hơn. Được rồi, hãy tới Marlott và gọi cỗ xe ngựa, có lẽ ta sẽ đánh xe đi một vòng và kiểm tra cái hội đó.” Thằng bé lên đường, và Durbeyfield nằm chờ giữa những bụi cỏ và cúc dại dưới ánh nắng chiều. Suốt một hồi lâu không có ai đi ngang qua đó, và những điệu kèn đồng văng vẳng là những âm thanh con người duy nhất giữa những dãy đồi xanh Mời các bạn đón đọc Tess Một Tâm Hồn Trong Trắng của tác giả Thomas Hardy & Nguyễn Thành Nhân (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Đọc Sách

Lòng Dạ Ðàn Bà
Tóm tắt & Review (Đánh Giá) tiểu thuyết Lòng Dạ Ðàn Bà của tác giả Hồ Biểu Chánh. Lòng dạ đàn bà là tác phẩm nổi tiếng của nhà văn Hồ Biểu Chánh, được xuất bản vào năm 1935. Thông qua những trang văn của mình, tác giả đã khắc họa chân dung ba người phụ nữ mà mỗi người đều mang một nét tính cách khác biệt.   Lòng dạ đàn bà khắc họa bi kịch của người phụ nữ trong những năm đầu của thế kỷ XX Lòng dạ đàn bà kể về cuộc đời của ba người phụ nữ mà mỗi người đều gánh vác những gian truân riêng, có người lựa chọn cách chịu đựng, người lại cố gắng để vượt qua và cũng có kẻ bị xã hội dồn ép tới mức tha hoá bản chất. Kim Diệp sinh ra trong một gia đình khá giả nên từ nhỏ đã được đi học, tính cách của bà bởi vậy cũng bị ảnh hưởng ít nhiều. Thế nhưng, Kim Diệp đã quyết định cưới Lê Tấn Thành khi mới mười tuổi, bi kịch cũng bắt đầu từ đây. Sau vài năm chung sống, hai người đã có với nhau ba đứa con, hai gái và một trai. Tưởng chừng gia cảnh khấm khá, con cái đuề huề sẽ khiến Kim Diệp hạnh phúc nhưng sự thật phũ phàng, chồng bà qua lại với một cô ả đào bên ngoài. Thậm chí, ông ta còn mua nhà và sống vợ lẽ trên thành phố, hiếm lắm mới chịu về quê với bốn mẹ con bà. Dẫu uất ức nhưng trong xã hội nặng tư tưởng trọng nam khinh nữ, đàn ông được phép năm thê bảy thiếp, Kim Diệp cũng chẳng dám lớn tiếng đòi quyền lợi. “Nhờ cái dịp ấy, cô Thanh Thủy mới hiểu cô Kim Diệp buồn rầu đến nỗi ốm là tại ông Lê Tấn Thành từ ngày đắc cử làm nghị-viên Hội Ðồng Quản Hạt, ông giao thiệp rộng, lên xuống Sài Gòn thường, rồi ông say đắm một cô mỹ nữ, tên là Ba Huyền, 22 tuổi, nhan sắc thiệt là xinh đẹp, mà tánh nết thiệt là lả lơi, mua một cái nhà tại Phú Nhuận mà ở với cô, sắm xe hơi cho cô đi chơi, mua hột xoàn cho cô trang điểm, ngày như đêm say sưa mê mẩn cùng duyên mới, không kể gì đến vợ hiền đức, con thơ ngây ở nhà.” – Lòng dạ đàn bà Người phụ nữ thứ hai trong Lòng dạ đàn bà là Thanh Thuỷ, tuy cô mang nét đẹp truyền thống nhưng suy nghĩ lại có phần hơi hướng hiện đại. Thanh Thuỷ không để cái danh goá chồng và chưa có con cản bước, cô tập tành kinh doanh hột xoàn để tăng thêm niềm vui cho cuộc sống. Thanh Thuỷ và Kim Diệp vốn là bạn bè thân thiết từ lâu, lúc biết tin ông Hội Đồng theo ả đào trên thành phố mà bỏ bê vợ con, không thèm đoái hoài thì cô rất tức giận, thậm chí còn rơi nước mắt thay cho bà Hội Đồng. Thế nhưng, sự thương cảm và cảm khái của độc giả với mối tình chị em này nhanh chóng bị thay thế  bởi những câu hỏi. Thanh Thuỷ tuy tìm mọi cách để ông Lê Tấn Thành hiểu về giá trị gia đình nhưng lại thầm cười khi Kim Diệp ngỏ lời, mong cô làm vợ lẽ của chồng mình. *** Hồ Biểu Chánh - tên thật Hồ Văn Trung, là một trong những nhà văn tiêu biểu nhất của Văn học Việt Nam giai đoạn Giao thời 1900 - 1930. Tiểu thuyết của ông bao quát những mảng hiện thực, những nét văn hóa đặc trưng của Nam bộ vào những thập niên đầu thế kỷ 20. Đó là sự tha hóa của con người trước sự lớn lên vùn vụt của đầu óc trọng thương, là số phận đáng thương của những thường dân rơi vào cảnh cùng quẫn, là những câu chuyện thế sự giàu chất nhân văn của những con người trên vùng đất mới,... Lối viết bình dị, ngôn ngữ gần với lời nói thường ngày là một ưu thế khiến tác phẩm của Hồ Biểu Chánh chiếm được cảm tình đặc biệt của người dân Nam Bộ. *** Tóm tắt Cuốn tiểu thuyết Lòng dạ đàn bà của tác giả Hồ Biểu Chánh kể về cuộc đời của ba người phụ nữ, mỗi người mang một số phận và tính cách khác nhau. Kim Diệp là một người phụ nữ hiền lành, cam chịu, sống trong gia đình gia giáo. Nhưng cuộc đời của bà lại gặp nhiều sóng gió khi chồng bà, ông Lê Tấn Thành, theo đuổi người phụ nữ khác. Kim Diệp đau khổ nhưng không thể làm gì được vì xã hội phong kiến vẫn còn nặng tư tưởng trọng nam khinh nữ. Thanh Thủy là một người phụ nữ hiện đại, mạnh mẽ, quyết đoán. Sau khi chồng mất, cô tự tay kinh doanh hột xoàn để nuôi sống bản thân. Thanh Thủy là người bạn thân của Kim Diệp, cô luôn cố gắng giúp đỡ Kim Diệp vượt qua những khó khăn trong cuộc sống. Cuối cùng, Kim Diệp và Thanh Thủy đều lựa chọn những cách khác nhau để đối mặt với những sóng gió trong cuộc đời. Kim Diệp chọn cách cam chịu, chấp nhận số phận, còn Thanh Thủy chọn cách mạnh mẽ, tự lập. Review Cuốn tiểu thuyết Lòng dạ đàn bà là một tác phẩm có giá trị nhân văn sâu sắc. Cuốn sách đã lên án xã hội phong kiến với những định kiến trọng nam khinh nữ, đã tố cáo những người đàn ông bội bạc, vô tình. Đồng thời, cuốn sách cũng ca ngợi những người phụ nữ hiền lành, cam chịu, kiên cường vượt qua những khó khăn trong cuộc sống. Cuốn sách được viết với lối văn bình dị, gần gũi, dễ hiểu. Các nhân vật trong truyện được xây dựng chân thực, sinh động. Một số điểm nổi bật của cuốn tiểu thuyết Cuốn sách đã đề cập đến những vấn đề của xã hội Việt Nam thời bấy giờ, như vấn đề hôn nhân, gia đình, và phụ nữ. Các nhân vật trong truyện được xây dựng chân thực, sinh động, khiến người đọc dễ dàng đồng cảm và thấu hiểu. Cuốn sách có giá trị nhân văn sâu sắc, lên án những hủ tục, định kiến trong xã hội phong kiến. Kết luận Cuốn tiểu thuyết Lòng dạ đàn bà của tác giả Hồ Biểu Chánh là một tác phẩm đáng đọc. Cuốn sách sẽ mang đến cho bạn những suy nghĩ sâu sắc về cuộc sống và con người. Mời các bạn mượn đọc sách Lòng Dạ Ðàn Bà của tác giả Hồ Biểu Chánh.
Lời Thề Trước Miễu
Tóm tắt & Review (Đánh Giá) tiểu thuyết Lời Thề Trước Miễu của tác giả Hồ Biểu Chánh. Trời gần sáng. Trong mấy xóm ở dọc theo khúc lộ từ cầu Mồng Gà lên chợ Cần Giuộc, gà gáy vang rân, tiếp nhau kêu nông phu thức dậy mà đi ra ruộng. Bên hướng Đông trời giăng mấy cụm mây đen để áng mặt nhựt chưa cho lố lên; tuy vậy mà bên hướng tây vừng trăng khuyết treo lửng đửng trên không đã nhượng bước, nên phai lợt lu mờ, không còn tỏ rạng như hồi canh khuya nữa. Cỏ pha sương ướt ngọn, lúa dợm trổ xóng lưng, cô Đào, là con ghẻ của hương trưởng Tồn, gánh một gánh bánh ú với bánh bò, xung xăng đi lên chợ mà bán. Cô vừa mới được hai mươi tuổi, tuy con nhà nghèo lại mồ côi cha, nên mặc quần áo vải đen, nữ trang thì chỉ đeo một đôi bông tai chuỗi mà thôi, nhưng mà mặt mày cô đề đạm, tướng mạo cô nghiêm trang, vì từ lúc ngây thơ đã thấy những thảm trạng trong nhà, nên cô ảo não trong lòng, ít nói ít cười, mà hễ có dịp vui làm cho cô phải cười, thì mặt như trăng rằm, miệng như hoa nở. Cô đi ngang qua cái gò mả, là chỗ có cái mồ đất của cha cô, là Hương hào Quý, chết chôn tại đó hồi cô mới lên mười hai tuổi, thì cũng như mọi bữa trước, cô day mặt ngó vô gò mà tưởng tượng hình dạng của cha. Cô bưng khuâng, nhớ lúc cô còn nhỏ hễ cha đi xóm về thì ôm cô hun hít, hễ cô đau thì bồng cô lên võng mà đưa. Nhớ người xưa, cô đương cảm động trong lòng, bỗng thấy trong gò mả có một người xăm xăm đi ra lộ. Cảnh vắng, trời khuya, từ phía không người, cô phát sợ, nên hồi hộp trong ngực. Thình lình người đi ra đó kêu hỏi: "Phải chị đó hay không chị Hai?" Cô Đào đứng lại mà ngó. Người ấy ra tới, cô nhìn lại thì là Lân, em ruột của cô, mười bảy tuổi, đầu đội nón nỉ đen, mình mặc một bộ đồ vải trắng cũ. Cô để gánh dựa lề mà hỏi: - Em làm giống gì ở trong đó? Đi thi về hồi nào? - Em về hồi chiều hôm qua; mà buồn quá em không muốn về nhà. Từ hồi hôm đến giờ, em nằm một bên mả của cha. - Em nằm chi đó? - Em thi rớt rồi, chị Hai à. - Trời đất ơi! Thi rớt hay sao? Lân ngồi chồm hổm một bên gánh bánh của chị, khoanh tay trên đầu gối, nước mắt chảy ròng ròng. Cô Đào đứng lặng thinh mà ngó mông một hồi chậm rãi mà nói: "Em đi thi hổm nay, ở nhà má vái van hết sức, má vái vong hồn của cha giúp cho em thi đậu, đặng em đi học nữa, sau khỏi cực tấm thân. Má hay em thi rớt đây chắc má buồn lung lắm". Lân cứ ngồi im lìm. Cô Đào thở dài rồi để cây đòn gánh trên lề đường, vén vạt áo ngồi một bên em. Bóng trăng lờ lạt, đồng ruộng vắng teo, cô ngó thấy em khóc, cô bắt động lòng, nên cô cũng ứa nước mắt. Cô cúi mặt mà nói tiếp: "Má dung cậu năm năm nay, tuy chi em mình khỏi đói khát, nhưng mà tấm thân mình khổ não biết chừng nào. Hễ say thì cậu chửi mắng tưng bừng. Mà cậu chửi thì cứ chửi cha mình hoài, chị buồn hết sức. Em cũng biết, cậu có muốn cho em đi học đâu, cậu muốn để em ở nhà đặng cậu cho em ở đợ. Má khóc gần hết nước mắt, má năn nỉ hết sức, nên mới chịu để cho em học luôn đến bây giờ đó. Hổm nay em đi thi, cậu ở nhà cứ cằn nhằn hoài. Cậu nói học làm chi, bày học đặng ở không đi chơi, chớ học giống gì. Ở đợ ít năm cho biết nghề làm ruộng, rồi chừng lớn mướn ruộng mà làm, cũng no cơm ấm áo được vậy. Cậu lại hăm hễ em thi rớt thì cậu đợ em liền, không cho học hành gì nữa hết. Em về nhà đây chắc là khổ lắm." Lân lau nước mắt mà nói cứng cỏi rằng: - Em nhất định không về nhà nữa. - Không về nhà, vậy chớ em đi đâu - Đi đâu cũng được... Nhà của mình giống như địa ngục, về đó thì bị chửi bị rủa, vui sướng gì mà về. Thà là em đi bậy đi bạ, dầu chết đói vẫn còn sướng thân hơn ở đợ. - Em nói như vậy nghĩ cũng phải. Nhịn đói cũng còn dễ chịu hơn là nghe chửi. Thân chị là gái, chị không biết đi đâu, nên chị phải gầm đầu mà chịu, chớ nhiều khi chị cũng muốn chết phứt cho rồi. Có đêm chị buồn quá, chị vái linh hồn cha về bắt chị theo, đặng chị khỏi bị đày đọa nữa. - Thiệt như vậy, chết cho mát thân, chớ sống mà bị cha ghẻ đày đọa hoài, thì sống làm gì. Em nhứt định đi luôn, không về nhà nữa đâu. Cô Đào lặng thinh suy nghĩ rồi lắc đầu nói: "Mà em không về nhà nữa, chắc là má buồn rầu lung lắm. Em không thấy hay sao, cũng vì chị em mình mà má buồn thảm đêm ngày, má ăn ngủû không được, nên má ốm quá. Nếu em đi mất thì thêm một nỗi sầu cho má nữa." Lân nghe nhắc tới mẹ thì buồn hiu. Cô Đào nói tiếp: "Hồi má lấy chồng khác, chị đã được mười lăm tuổi rồi, nên chị biết. Năm đó lúa cao gạo kém, nhà mình nghèo khổ lắm, nhiều bữa không tiền mua gạo, má phải đổi lúa chịu mà lấy khoai lang cho chị em mình ăn đỡ đói. Cực chẳng đã má phải lấy chồng, tưởng lấy chồng đặng có chỗ nương dựa mà nuôi chị em mình. Nào dè đụng cậu, thiệt cũng như mắc cái họa lớn" Lân thở ra mà nói: - Xưa rày em muốn trốn đi đã lâu rồi. Em còn dụ dự là em sợ má với chị buồn. Nay chị cũng nghĩ em đi là phải, vật thì em hết dụ dự nữa. Chừng em đi rồi, như má có lo sợ, thì chị cắt nghĩa cho má nghe. Xin chị nói với má đừng có buồn. Em lớn rồi, em đủ trí khôn, tuy em không có tài nghề gì, song em tưởng cái lòng quả quyết muốn thoát khỏi tay bất nhơn của cậu, với cái chí tấn thủ quyết tranh một chỗ mà đứng dưới ánh mặt trời với thiên hạ, có lẽ nó cũng có thể làm cho em khhỏi chết đói được.   Mời các bạn mượn đọc sách Lời Thề Trước Miễu của tác giả Hồ Biểu Chánh.
Mở Rộng Phạm Vi Đấu Tranh
Tóm tắt & Review (Đánh Giá) tiểu thuyết Mở Rộng Phạm Vi Đấu Tranh của tác giả Michel Houellebecq & Thuận (dịch). "Mở rộng phạm vi đấu tranh mở ra loạt tiểu thuyết đưa tên tuổi của Michel Houellebcq đến tầm vóc thế giới. Cuốn tiểu thuyết trình bày ở dạng cô đặc các ý tưởng sẽ được triển khai sau này, nhưng ngắn gọn không có nghĩa là kém hiệu quả và những suy nghĩ đầu tiên không đồng nghĩa với sự non nớt, Mở rộng phạm vi đấu tranh đã cho chúng ta thấy rất nhiều yếu tố của một nhà văn đặc biệt tài ba trong cảm nhận cuộc sống xung quanh mình với cái nhìn không thể sắc bén hơn. Và tất cả được thể hiện trong một bầu không khí cay đắng buồn bã đặc trưng ở tác giả cuốn tiểu thuyết lừng danh Hạt cơ bản. Michel Houellebecq sinh năm 1958 tại đảo Reunion và lớn lên ở Pháp. Sở hữu một bút pháp đặc biệt, một tính cách khó gần và nhiều lời tuyên bố xóc nảy, ông gây chia rẽ lớn trong ý kiến độc giả, được rất nhiều người ngưỡng mộ nhưng cũng bị không ít người chê bai, thậm chí căm ghét, ông không mấy thành công với các giải thưởng văn học dù tiểu thuyết nào cũng gây xôn xao văn đàn." *** Một tuần buồn. Bây giờ là cuối tháng Mười một, thời kỳ mà chúng ta công nhận với nhau là rất buồn. Khi không có các sự kiện xác thực hơn, khí hậu thay đổi cũng có thể tác động nhất định đến cuộc sống của tôi, với tôi chuyện ấy thật bình thường; hơn nữa người ta bảo các bác già thậm chí không làm sao nói được sang chuyện khác nữa. Tôi đã sống ít đến nỗi có chiều hướng tưởng tượng rằng mình sẽ không chết; thật khó mà tin được rằng cuộc đời của một con người bó lại trong ít thứ đến vậy; người ta dù không muốn vẫn tưởng tượng rằng cái gì đó sớm hay muộn sẽ xảy đến. Sai lầm nghiêm trọng. Một cuộc đời hoàn toàn có thể vừa trống rỗng vừa ngắn ngủi. Ngày nối ngày vô vị, không để lại dấu ấn hay kỷ niệm nào; sau đó, đùng một cái, tất cả dừng lại. Cũng đôi khi, tôi cảm giác có khả năng tự đặt mình lâu đài trong một cuộc đời vắng mặt. Cảm giác sự buồn tẻ, tương đối đau đớn, sẽ cho phép tôi tiếp tục thực hiện các động tác quen thuộc của đời sống. Sai lầm mới. Sự buồn tẻ kéo dài không phải là một tình thế có thể chịu được; sớm hay muộn nó cũng biến thành những nhận thức đau đớn hơn rất nhiều; đó chính là cái đang đến với tôi bây giờ.” – 64 “Tình yêu giống sự ngây thơ, giống khả năng xây mộng ảo, đúc kết toàn bộ phái bên kia thành một kẻ mình yêu…. Và đương nhiên, sau đó ta sẽ sống một cuộc sống của chiếc giẻ lau càng già càng kém hấp dẫn, vì thế ta chua chát… Chỉ còn lại nỗi chua chát và sự chán ngấy, bệnh tật và chờ đợi cái chết” – 154 – Trích Mở rộng phạm vi đấu tranh, Michel Houellebecq, Thuận dịch. Trích đoạn trên có lẽ sẽ khiến bạn liên tưởng đến một cuốn tiểu thuyết tình cảm buồn lãng mạn, nhưng không cuốn sách này rất buồn, buồn đến buồn cười. Đây là cuốn đầu tiên mình đọc của Michel Houellebecq, tác giả nổi tiếng, tai tiếng và đến cả người dịch nó ra tiếng Việt cũng dính đến nhiều “điều tiếng”. Tất nhiên, mình cũng tò mò tìm đọc 2 cuốn nổi tiếng kia, xem tác giả này thế nào, một phần vì mấy vụ scandal, một phần vì tác giả mình hâm mộ nhất Frédéric Beigbeder có quen biết tác giả này. Rất tiếc, mình lại chỉ thích được cuốn sách mỏng này. Thậm chí vẫn nhớ lúc nằm trên giường đọc có vài đoạn cười khúc khích, khiến bạn cùng phòng tò mò hỏi cuốn gì mà cười. Thường thì mình chỉ thể hiện sự thích thú ấy khi đọc những cuốn sách của Frédéric Beigbeder mà thôi. Dù những thứ mình vẫn hay làm trên những chương trình mình yêu thích rất lãng mạn, thì những cuốn sách mình thật sự thấy thích thú lại là những cuốn chẳng lãng mạn chút nào. Như trích đoạn sau đây, cuốn sách này theo tôi nghĩ chỉ hợp với những ai đang sống và làm việc mà tự kiểm điểm bản thân thấy mọi thứ xung quanh như “tấn trò đời”. “Tôi không thích thế giới này. Chắc chắn là tôi không thích thế giới này. Tôi kinh tởm xã hội mà tôi đương sống; quảng cáo làm tôi kinh tởm; tin học khiến tôi buồn nôn. Tất cả công việc kỹ sư tin học của tôi là nhân lên các tham khảo, các đối chiếu, các tiêu chuẩn quyết định hợp lý. Tất cả điều đó đều vô nghĩa. Nói thẳng ra, thậm chí còn tiêu cực; một đống ngổn ngang vô ích cho các tế bào thần kinh. Thế giới này cần tất cả, trừ các thông tin bổ sung.” – 111 Và đây là đoạn tríchviết về cuộc gặp gỡ của nhân vật chính với người bạn cũ “nhận bằng kỹ sư xong một cái là nó đi dự các lớp giảng đạo; nó rẽ sang hướng khác”.  “Tôi tự coi mình là một kẻ bình thường. Tóm lại, có thể không hoàn toàn bình thường lắm, nhưng ai hoàn toàn bình thường bây giờ cơ chứ? Thôi bình thường 80% vậy. Để có chuyện mà nói với nó, tôi bảo nó rằng ngày nay, tất cả mọi người, trong thời điểm nào đấy của cuộc sống, đều có cảm giác mình là kẻ thất bại. Và chúng tôi nhất trí với nhau ở điểm này” – 43 Ở thời điểm này, có lẽ không riêng gì tôi mà cả bạn cũng vậy, ít nhất một lần gặp lại một đứa bạn cũ, và chỉ nghe nó thao thao bất tuyệt về một sản phẩm nào đó. Cuộc gặp sôi động đến mức, bạn bỗng thấy mình lặng im một cách kỳ lạ. Còn đoạn văn rất thú vị sau đây, với tôi nó vô cùng tinh tế. “Chiếc giường, so với tất cả các đồ gỗ khác, lại đặt ra một vấn đề đặc biệt đau thương. Nếu ta muốn giữ vẻ kính trọng của nhân viên bán hàng, ta buộc phải mua một chiếc giường đôi, dù có cần hay không, dù có chỗ để đặt hay không. Mua một chiếc giường đơn là thổ lộ trước toàn thể công chúng rằng ta không có cuộc sống tình dục, và cũng không dự định có trong một tương lai cả gần lẫn xa…. ( Những chiếc giường bền hơn các cuộc hôn nhân, ta biết rõ điều ấy.) Thậm chí nếu bạn mua một chiếc giường rộng mét tư, bạn sẽ bị coi là một kẻ tiểu tư sản bủn xỉn và hẹp hòi; trong con mắt của các nhân viên bán hàng, chiếc giường rộng mét sáu là chiếc duy nhất thật sự đáng mua chính ở chỗ này mà bạn có quyền được họ kính trọng.” – 138 Chỉ là một đoạn văn ngắn viết về chiếc giường, mà tác giả đã phản ánh một cách sắc nét về tình yêu, hôn nhân. Có lẽ rằng, hiếm có những đoạn văn nào mang tính “xã hội học” sâu sắc và tinh tế như thế. Chắc chắn rằng văn của Michel Houellebecg không dễ đọc, và tôi cũng không phải là một độc giả yêu thích các tác phẩm của ông, nhưng quả thật “Mở rộng phạm vi đấu tranh” là một cuốn sách mỏng nhưng vô cùng thú vị. Tôi bổ sung thêm “Người phàm” và “Người không quê hương”, làm bộ 3 cuốn sách triết học mà tôi yêu thích Bạn có thể khẳng định đây không phải là sách “triết học”, tôi không phải đối, nhưng có thể rất mơ hồ về các khái niệm, định nghĩa thì với tôi 3 cuốn sách này là những tác phẩm “triết học” cực kỳ thú vị, tôi thích vì thấy “buồn cười đến là buồn” khi đọc nó.  “Thượng Đế đã muốn sự bất bình đẳng, chứ không phải sự bất công” – 40 “Nền văn minh của chúng ta, đang cạn kiệt sức sống.” – 42 p/s: Mà cũng phải nói thêm: Bìa cuốn này quá đẹp, sách một thời của Nhã Nam rất mỹ thuật, tiếc là giờ hiếm thấy bìa kiểu này,vi bị “đồ họa vi tính” quá nhiều. Mà có lẽ bìa trong cũng nên có phần phiên âm tên tác giả, mình cũng phải hỏi vài bạn, tập phát âm hàng ngày thì mới đọc được tên tác giả mình yêu thích. Còn tác giả này thì vẫn chịu, nên cần nói đến tác giả nào, tốt nhất là nói tên tác phẩm cho đỡ hiểu nhầm. *** Một cuốn sách, một câu chuyện đời sống mang cái tên có vẻ khô khan và đầy tính "cách mạng". Tác giả cuốn sách này là người đã viết "Hạt cơ bản". Với "Mở rộng phạm vi đấu tranh" Michel Houellebecq đi bước đầu tiên chinh phục lĩnh vực tiểu thuyết, còn nhà văn Thuận xuất hiện với vai trò một dịch giả. Đó là câu chuyện của một lập trình viên có thu nhập khá và những đồng nghiệp không tới nỗi nào với một vài áp lực công việc thông thường. Tuy nhiên, toàn bộ sự sống của anh không mang lại cho anh một chút động lực nào, thậm chí việc anh mất chiếc xe Peugeot cũng chỉ như một sự kiện vô nghĩa. Anh muốn đấu tranh, muốn phá vỡ cuộc sống tù đọng, những điều đang lên men, lên mốc. Sự thật lở lói quanh nhân vật như một vòng vây và anh phải chống lại nó.  Anh rơi vào những trận ốm và rối loạn tâm lý, xúi giục gã đồng nghiệp xấu xí của mình giết người, trở thành bệnh nhân trong bệnh viện tâm thần… Mọi âm mưu dường như đều dẫn tới một kết cục thất bại thê thảm và biến anh thành kẻ quái lạ, điên rồ nhưng không thể làm anh nhụt chí. Anh tiếp tục mở rộng phạm vi đấu tranh. Cuốn sách được coi là bước đột phá đầu tiên của Michel Houellebecq vào lĩnh vực tiểu thuyết, gây ra hàng loạt những tranh cãi không ngừng xung quanh phong cách và nhân sinh quan của tác giả. Toàn bộ cuộc sống đáng chán, mòn ruỗng được miêu tả một cách chi tiết bằng thái độ chán nản, tuyệt vọng và u tối, khiến cho người ta phải day dứt về ý nghĩa sự tồn tại, thậm chí nghi ngờ chính giá trị của mình. Tuy nhiên, ngôn ngữ mỉa mai, hài hước, cay đắng của cuốn sách đủ để tạo nên sự hấp dẫn với bất cứ một độc giả nào.  “Mở rộng phạm vi đấu tranh” đã được dựng thành phim và kịch. Bộ phim do Phillipe Harel cùng Michel Houellebecq viết kịch bản, ra mắt năm 1999.  Phú Duy *** Tóm tắt Cuốn tiểu thuyết Mở Rộng Phạm Vi Đấu Tranh của tác giả Michel Houellebecq & Thuận (dịch) kể về câu chuyện của một nhân vật tên là Bruno. Bruno là một người đàn ông trẻ tuổi, không có mục đích sống, không có đam mê, và không có mong muốn gì ở cuộc đời. Anh sống một cuộc sống vô vị và tẻ nhạt, không có ý nghĩa. Một ngày nọ, Bruno gặp một người phụ nữ tên là Valerie. Valerie là một người phụ nữ xinh đẹp, thông minh, và có nhiều tham vọng. Valerie đã khiến Bruno cảm thấy cuộc sống trở nên thú vị hơn. Anh bắt đầu có những mục tiêu và ước mơ mới. Tuy nhiên, mối quan hệ của Bruno và Valerie không kéo dài được lâu. Valerie sớm nhận ra rằng Bruno không phải là người đàn ông mà cô mong muốn. Cô rời bỏ Bruno và bắt đầu một cuộc sống mới. Sau khi bị Valerie bỏ rơi, Bruno rơi vào trạng thái tuyệt vọng. Anh không biết mình nên làm gì với cuộc đời mình. Anh bắt đầu suy nghĩ về những vấn đề của xã hội và của thế giới. Bruno nhận ra rằng thế giới đang ngày càng trở nên xấu xa và tàn nhẫn. Con người trở nên ích kỷ và chỉ quan tâm đến bản thân mình. Bruno bắt đầu có những suy nghĩ tiêu cực về cuộc sống. Anh cảm thấy rằng cuộc sống là vô nghĩa và không đáng sống. Review Cuốn tiểu thuyết Mở Rộng Phạm Vi Đấu Tranh là một tác phẩm mang đậm phong cách của Michel Houellebecq. Cuốn tiểu thuyết mang đến cho người đọc một cái nhìn cay đắng và u ám về cuộc sống. Câu chuyện của Bruno là một câu chuyện về sự tuyệt vọng và thất vọng của con người. Bruno là một người đàn ông đại diện cho những người trẻ tuổi đang cảm thấy lạc lõng và mất phương hướng trong cuộc sống. Anh không biết mình nên làm gì với cuộc đời mình. Anh cảm thấy rằng mình không có giá trị và không có chỗ đứng trong xã hội. Cuốn tiểu thuyết cũng mang đến cho người đọc những suy nghĩ sâu sắc về những vấn đề của xã hội. Cuốn tiểu thuyết cho thấy rằng thế giới đang ngày càng trở nên xấu xa và tàn nhẫn. Con người trở nên ích kỷ và chỉ quan tâm đến bản thân mình. Điều này khiến cho cuộc sống trở nên vô nghĩa và không đáng sống. Cuốn tiểu thuyết Mở Rộng Phạm Vi Đấu Tranh là một cuốn tiểu thuyết đáng đọc cho những ai muốn tìm hiểu về những vấn đề của cuộc sống. Cuốn tiểu thuyết sẽ khiến bạn suy ngẫm về cuộc sống và về bản thân mình. Một số nhận xét cụ thể về cuốn tiểu thuyết Nhân vật Bruno Bruno là một nhân vật được khắc họa rất thành công trong cuốn tiểu thuyết. Bruno là một người đàn ông trẻ tuổi, không có mục đích sống, không có đam mê, và không có mong muốn gì ở cuộc đời. Anh sống một cuộc sống vô vị và tẻ nhạt, không có ý nghĩa. Michel Houellebecq đã khắc họa nhân vật Bruno một cách rất chân thực và sinh động. Anh đã lột tả được những suy nghĩ và cảm xúc của Bruno một cách rõ ràng và sâu sắc. Chủ đề của cuốn tiểu thuyết Cuốn tiểu thuyết Mở Rộng Phạm Vi Đấu Tranh mang đến cho người đọc một cái nhìn cay đắng và u ám về cuộc sống. Cuốn tiểu thuyết nói về sự tuyệt vọng và thất vọng của con người. Michel Houellebecq đã thể hiện chủ đề của cuốn tiểu thuyết một cách rất rõ ràng và trực tiếp. Ông đã không ngần ngại vạch trần những vấn đề của xã hội và của con người. Phong cách viết của Michel Houellebecq Michel Houellebecq là một nhà văn có phong cách viết rất đặc biệt. Ông sử dụng một lối viết súc tích và thẳng thắn, không ngại đụng chạm đến những vấn đề nhạy cảm. Trong cuốn tiểu thuyết Mở Rộng Phạm Vi Đấu Tranh, Michel Houellebecq đã thể hiện phong cách viết của mình một cách rất rõ ràng. Ông đã sử dụng một lối viết súc tích và thẳng thắn để lột tả những suy nghĩ và cảm xúc của nhân vật Bruno. Nhìn chung, cuốn tiểu thuyết Mở Rộng Phạm Vi Đấu Tranh là một cuốn tiểu thuyết đáng đọc cho những ai muốn tìm hiểu về những vấn đề của cuộc sống. Cuốn tiểu thuyết sẽ khiến bạn suy ngẫm về cuộc sống và về bản thân. Mời các bạn mượn đọc sách Mở Rộng Phạm Vi Đấu Tranh của tác giả Michel Houellebecq & Thuận (dịch).
Tố Tâm
Tóm tắt & Review (Đánh Giá) tiểu thuyết Tố Tâm của tác giả Hoàng Ngọc Phách. Quyển tiều thuyết TỐ TÂM ra đời cũng là một việc ngẫu nhiên nghĩa là chưa đinh thời kỳ xuất bản mà xuất bản. Nguyên lúc ông Song An còn ở trường Cao Đẳng Sư phạm, ông thường cùng tôi đàm luận về luân lý giáo dục theo tân học ngày nay. Ông hay đưa tôi xem những điều ông đã sao tập được lúc ông viết quyển tiểu thuyết TỐ TÂM này đưa tôi đọc, tôi cũng phục cái tài trước thuật của ông và biểu đồng tình một vài vấn đề ông phân giải. Tôi khuyên ông đưa đăng vào tập ký yếu của hội Cao đẳng Ái hữu để các bạn cùng bình phẩm, vì trước khi đem in đã nhiều người xem và cũng đồng ý như tôi vậy. Nhưng tác giả vẫn có ý ngần ngại, một là ông không muốn xuất bản tiểu thuyết như ta thường thấy hằng ngày, hai là ông cho rằng quyển TỐ TÂM ra đời khi sớm quá, lại viết theo một lối mới, ta chưa từng xem quen, tất có người hiểu nhầm thì cái hay chưa thấy đâu đã thấy cái dở. Ông xưa nay viết văn thường hay cẩn thận về những điều đó. Về sau bởi những lời quả quyết của các bạn mà ông thuận đem đăng, nhưng tập ký yếu mấy lâu nay vì có một lẽ riêng mà không xuất bản, thành tiểu thuyết đăng dở dang nên phải in thành sách, sợ độc giả đợi chờ, và những tiểu thuyết về tâm lý như quyển TỐ TÂM này không nên để dở chừng câu chuyện. Ấy thế là TỐ TÂM ra đời. TỐ TÂM ra đời chắc có độc giả tự hỏi rằng người ta viết một quyển tiểu thuyết tất phải có một chút mục đích gì về luân lý vậy thì tâm lý tiểu thuyết có liên lạc gì vời đạo xử thế, cách làm người và câu chuyện là chuyện thuộc về ái tình, biết đã bổ ích gì cho giáo dục, đang lúc này bạn thiếu niên ta cần đem hết tâm hồn thờ một chủ nghĩa thiêng liêng về tương lai chủng tộc ?... Ấy đó là điều cần phải giải tỏ cùng độc giả trước khi xem đến quyển TỐ TÂM này : Học thuyết ngày nay không phải là học thuyết tín ngưỡng cho những lý thuyết lập sẵn từ mấy muôn đời để lại cho kẻ hậu sinh, không ai dám xét đến, mà cũng không ai cần xét đến. Học thuyết ấy ông Descartes đã đánh đổ đi từ hơn ba trăm năm nay rồi. Học thuyết bây giờ bất cứ về môn nào cũng phải tìm đến nguyên ủy ; phải dùng câu TẠI LÀM SAO, VĨ NHẼ GÌ để khảo sát lại những điều mà tự xưa ta vẫn công nhận là "bất dịch". Vậy thì luân lý học phải cần đến tâm lý học để xét những điều hành động, những trạng thái trong tâm trí loài người liên tiếp với nhau có mạch lạc, có luật pháp để cho nhà luân lý xét theo đó mà định phương châm, mà đặt những luật chung cho nhân đạo cũng như nhà giải phẫu tách bạch, những cơ quan của thân thể người để cho các y gia biết những bộ máy lưu hành mà chữa bệnh. Cho nên xét luân lý mà không biết tâm lý thì cũng như chữa bệnh mà không biết phủ tạng ở đâu. Vậy thì viết tâm lý tiểu thuyết tức là giải phẫu một câu chuyện đời khuất khúc éo le theo nguồn các luật của tâm lý để độc giả xem đến tự ngẫm nghĩ vào mình. Đại khái như nguyên nhân kia thì phải có kết quả nọ; tính tình ấy thì phải có hành động này v.v... Cho nên xem tâm lý tiểu thuyết phải nhận kỹ những điều phát động đó, phải trông rõ cái dở lẫn với cái hay, tức là những tính tình tương phản xô xát với nhau trong tâm trí con người ta một cách éo le phiền phức. Nếu xem chỉ xem cho biết chuyện thì không bổ ích gì mà có khi thủ hại, vì không phải là lối tiều thuyết chỉ rõ cái hay cái dở ra một cách nhất thiết, nghiễm nhiên là một ông thầy truyền phải làm điều này, phải tránh điều kia, mà nhiều khi không nói rõ tại sao mà làm, tại sao mà tránh. Tâm lý tiểu thuyết không phải là lối chuyện chỉ kết cấu ở cái hy vọng báo ứng, ở điều thưởng phạt huyền vi, để dạy người đời bằng cái họa phúc về việc lành, hay việc ác. Cho nên các độc giả không có lòng tín ngưỡng ấy không lấy làm thỏa óc, mà nhiều khi thủ ích gì. Những tiểu thuyết kết cấu như vậy không phải là không hay, xưa nay biết bao nhiêu quyển đã cảm hóa được lòng người nhờ những tấm gương sáng láng trong chuyện, nhưng ta cứ theo mãi một lối, tưởng cũng thành sáo cũ lắm rồi, mà lối dạy điều dở điều hay bằng cách "truyền lệnh" chỉ mới là một phương diện luân lý giáo dục mà thôi. ° ° ° Độc giả xem quyển TỐ TÂM xin nhớ là một quyển tâm lý tiểu thuyết, không phải là một tấm gương đúc sẵn cho người ta theo. Quyển TỐ TÂM chỉ tách bạch ra những điều éo le phiền phức của một thứ ái tình, ái tình viển vông khuất khúc, làm cho đôi lứa thiếu niên kia phải nhầm lỗi, nhầm lỗi mà không tự biết, để đến lụy mình mà phiền cho gia đình xã hội. Nhầm lỗi những gì cái nguyên nhân, năng lực kết qua ra làm sao ? Tác giả bày tỏ ra rất rõ. Tác giả đã chịu khó thăm dò ở đáy con sông tình kia mà cắm biển, nhắn cùng những bạn thiếu niên đương lảng vảng trên bờ sông, trong khi cần phải để tâm vào những chủ nghĩa cao xa khác, mấy chữ rằng: ĐÂY À GHỀNH CAO, VỰC THẨM ! Ấy đó là công tác giả chép lại chuyện, mà chính đó là nơi độc giả phải lưu tâm. Còn về phần văn chương tư tưởng trong quyển TỐ TÂM này thì cái văn nghiệp của mấy lâu nay tác giả là ông Song An đã đủ giới thiệu cho ông rồi, tôi không phải bình phẩm. Sầm sơn Juillet 1922  LÊ HỮU PHÚC     MẤY LỜI CỦA NGƯỜI CHÉP CHUYỆN Nhiều khi anh em ngồi đàm luận ve tân học ngày nay, ký giả thường nghe nói đến một bậc thanh niên tân tiến có tính tình, văn chương, tư tưởng, thường hay lạm dụng những tài liệu đó đem ra làm việc cho ái tình, ghẹo lòng người nhi nữ, vội thi hành những ý tưởng trong sách hay, những cảnh mình tưởng tượng ra. Có lúc cố ý mà làm, cũng nhiều khi làm mà không tự biết, miễn là tìm được nơi thí nghiệm ý tưởng của mình và lấy được lòng yêu của người mà thôi, nên xảy ra lắm tấn bi kịch, thiệt cho mình mà khổ cho người, quấy rầy đến gia đình, xã hội. Nguyên do những bực có văn chương tư tưởng như vậy, bên cái hy vọng to lớn về việc công ích, thường vẫn hay mơ màng những cảnh tuyệt vời của ái tình, cố tìm cho được một người cùng mình mà đi tới những cảnh mơ màng ấy, không nghĩ cho rằng phàm những cảnh viển vông phảng phất tự ta mơ tưởng mà vẽ ra trên đường đời cũng như giọt sương buổi sáng lóng lánh trên ngọn cây, như ánh sáng buổi chiều thướt tha trên đỉnh núi, xa trông thì đẹp lạ thường, nhưng tìm đến tận nơi thì tan đi hết, không còn thấy gì là đẹp nữa. Cho nên lúc hai người nam nữ rủ nhau mơ màng đi tìm những cảnh ấy chợt gặp một quãng gai góc đầy đường, rẽ nhau lạc lối; hoặc vì lứa đôi trắc trở với người biết trước, hoặc vì duyên nài phận ép với người đến sau, mà diễn nên bi kịch, bởi một nỗi tính tình không hợp với người đến sau đó, hay lòng đã đem gởi đi cho người biết trước kia rồi, không lấy lại được nữa, nên thất vọng, ngã lòng, điều đau đớn đưa ngay đến. Thường cứ bảo tại tạo hóa không cho hưởng hết những cuộc đặt ra để giữ người nhưng lấy lẽ phải mà xét thì phàm việc gì không thường tất không vững. Nếu người cùng mình đi thi hành điều mơ tưởng đó là một bậc thiếu nữ tầm thường, tính tình thấp hẹp, ý tưởng nhỏ nhen, để vào đâu cũng được gặp cảnh nào cũng xong, thì cái hại không là mấy, nhưng gặp một hạng thiếu nữ cũng thích văn chương, cũng có tư tưởng, đã xem được vài chục bộ tiểu thuyết tây đã viết được ít nhiều văn quốc ngữ, tính tình lại rất là đằm thắm, mà thường hay mơ màng những chuyện đâu đâu, ít khi nghĩ đến thực tình thế sự thì thật là bi một "mũi tên tình ái sát nhân" vì bao nhiêu tinh thần đã bị thu hết, bị thứ văn chương hay, tả những tính tình lai láng, bị những ý tưởng lạ bày ra lắm cảnh tuyệt vời, khéo lựa chiều mà dần dần gieo trong lòng người thiếu nữ một thứ tình mài rũa riêng vào một khuôn khổ. Ta nên biết, khi hai người nam nữ yêu nhau, đem đánh vào tinh thần vẫn đau lâu hơn đánh vào thể chất, vì lấy thể chất mà khiến thì cực nồng nàn, nhưng lại chóng tan, mà có thể lấy thể chất nọ thay thể chất kia được, vì thể chất thường giống nhau; tinh thần thì không thể ảnh hưởng tinh thần hành động chậm, nhưng ở lâu, dần dần mà thấm vào gan óc khó gỡ ra được, dù có được cũng để vết về sau, suốt đời cứ vơ vẩn bên mình mãi. Mới đây, ký giả nghe được câu chuyện riêng của bạn vừa kể lại mà bạn là vai chính trong chuyện này, chuyện rất hợp với điều quan sát kể trên kia, nên ký giả chép ra đây, có ý muốn bày ra trước mặt bạn thiếu nên một việc hiển nhiên của tâm tình, liên lạc với nhau, có nguyên nhân, có kết quả. Chuyện tức là một cuộc hành động của các nguồn tâm lý của ái tình, phát hiện ra ngoài rất hợp với nội dung người trong chuyện, vì lúc xét một việc e vế tâm lý phát hiện phải xét đến cả điều liên lạc chung quanh, đại khái như giáo dục ấy, tính chất ấy, tinh thần ấy v.v... Hành động đã hợp với nguyên nhân thỉ tất là phải theo vào một luật, mà việc bày ra không thể là việc lạ thường chỉ là một mối riêng trong một mối khác của tâm lý mà thôi, nên ký giả chép ra đây để các bạn thiếu niên xét đoán, có lẽ cũng bổ ích cho những lúc bạn thiếu niên tự xét đoán đến tính tình mình, tư tưởng mình. Sau nữa, ký giả chép lại chuyện gọi tỏ lòng thương đôi lứa thiếu mến xô nhau vào bể ái, lôi kéo nhau đến nỗi kẻ bị trọng thương, người không cần sống, để đời thiệt mất một người thiếu nữ chung tình. Phàm một người thiếu nữ đã có tính tình đằm thắm biết chịu thiệt mình để khỏi lụy đến người yêu, lại biết thương một bạn gái khác chính là người "kình địch vô tội" của mình là một hạng người ít có, thật đáng quý mà cũng đáng thương. Tính tình ấy dùng vào đâu cũng là bậc trên cả, đem dùng với nhà thì thành con hiếu, đem dùng với nước thì thành tôi ngay, đem dùng vào cảnh vợ chồng đẹp đôi thì thành vợ thuận, vợ thuận tức là mẹ hiền. Nhưng tiếc thay ! Chỉ vì quá mơ màng những ngoài vòng đời, lỡ lầm vào một cuộc tình ái, nên việc đời chếch lệch mà thành như mây tan, như khói tỏa, rút lại không được ích gì, cảnh huống ấy bọn thiếu niên nên lưu ý. Ký giả không có gì thoa vẽ, mà cũng không quen đem đạo đức bình luận ái tình, ký giả xét là xét cái tình trạng của lòng người, chép là chép cái hành động của tâm lý, còn lý luận luân lý phẩm bình xin để phần dư luận. Ký giả chưa đến tuổi biết sáng tạo ra người trong truyện thì chỉ chép lại chuyện là hơn; nếu có bạn nào quá nghiêm mà trách ký giả sao tuổi còn non, người còn trẻ đã vội đem tách bạch những nỗi éo le bí mật của ái tình mà bày cả ra đây thì ký giả xin thưa rằng: nếu những điều quan sát và lý luận kể trên kia là đúng thì lời trách ấy quá nghiêm, nếu mà sai, thì xin biết cho rằng ký giả vì những điều quan sát đó mà chép. Aout 1922  HOÀNG NGỌC PHÁCH *** Tóm tắt Tố Tâm là một tiểu thuyết tâm lý đầu tiên của Việt Nam, được viết bởi Hoàng Ngọc Phách và xuất bản năm 1922. Tác phẩm kể về câu chuyện tình yêu của hai nhân vật chính là Đạm Thủy và Tố Tâm. Đạm Thủy là một thanh niên trí thức, có tư tưởng tiến bộ, còn Tố Tâm là một cô gái nhà quê, xinh đẹp, ngây thơ. Hai người gặp nhau và yêu nhau say đắm, nhưng vì những rào cản về gia đình và xã hội, họ đã không thể đến được với nhau. Review Tố Tâm là một tác phẩm có giá trị về mặt văn học và xã hội. Tác phẩm đã phản ánh một cách chân thực những vấn đề của xã hội Việt Nam đầu thế kỷ 20, đặc biệt là vấn đề tình yêu và hôn nhân của giới trẻ. Tác phẩm được viết theo lối văn xuôi trữ tình, trau chuốt, giàu cảm xúc. Ngôn ngữ của tác phẩm giản dị, gần gũi, dễ hiểu, nhưng cũng không kém phần tinh tế, gợi cảm. Nhân vật chính của tác phẩm là Tố Tâm. Tố Tâm là một cô gái nhà quê, xinh đẹp, ngây thơ, nhưng cũng rất yếu đuối. Cô yêu Đạm Thủy say đắm, nhưng vì những rào cản của xã hội, cô đã không thể đến được với người mình yêu. Tác phẩm đã thể hiện được những nỗi đau, những bi kịch của Tố Tâm. Tố Tâm là một nạn nhân của xã hội phong kiến, của những hủ tục lạc hậu. Cô là một tấm gương tiêu biểu cho số phận bất hạnh của những người phụ nữ trong xã hội cũ. Tố Tâm là một tác phẩm có giá trị nhân đạo sâu sắc. Tác phẩm đã lên án những hủ tục lạc hậu, những định kiến xã hội đã gây ra những đau khổ cho người phụ nữ. Một số điểm nổi bật của tác phẩm Tố Tâm là một tác phẩm tâm lý đầu tiên của Việt Nam, có giá trị về mặt văn học và xã hội. Tác phẩm đã phản ánh một cách chân thực những vấn đề của xã hội Việt Nam đầu thế kỷ 20, đặc biệt là vấn đề tình yêu và hôn nhân của giới trẻ. Tác phẩm được viết theo lối văn xuôi trữ tình, trau chuốt, giàu cảm xúc. Ngôn ngữ của tác phẩm giản dị, gần gũi, dễ hiểu, nhưng cũng không kém phần tinh tế, gợi cảm. Nhân vật Tố Tâm là một nhân vật được xây dựng thành công, mang đậm tính nhân đạo. Một số nhận xét của độc giả về tác phẩm "Tố Tâm là một tác phẩm có giá trị nhân văn sâu sắc. Tác phẩm đã lên án những hủ tục lạc hậu, những định kiến xã hội đã gây ra những đau khổ cho người phụ nữ."  "Tố Tâm là một tác phẩm tâm lý xuất sắc. Tác phẩm đã thể hiện được những nỗi đau, những bi kịch của Tố Tâm, một nạn nhân của xã hội phong kiến."  "Tố Tâm là một tác phẩm văn học đáng đọc. Tác phẩm đã mang đến cho tôi những cảm xúc sâu sắc."  Mời các bạn mượn đọc sách Tố Tâm của tác giả Hoàng Ngọc Phách.