Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Airhead Trọn Bộ

Airhead là cậu chuyện về một cô bạn Tomboy rất đỗi bình thường, bỗng một ngày tỉnh dậy và thấy mình ở trong cơ thể của... một cô siêu mẫu!!! Emerson Watts, nhân vật chính, không phải là một cô gái theo kiểu nổi trội vẫn thường được nhiều người biết đến ở trường trung học Tribeca. Ngược lại Em Watts vẫn cười vào mũi những cô bạn "nổi tiếng" Cô ấy ghét sự phù phiếm của những hoạt náo viên, của thế giới người mẫu với những vóc dáng size 0. Cô ấy chẳng bao giờ chạy theo những một thời trang mới nhất. Cô ấy chỉ thích mặc quần jeans và áo thun bình dị. Bìa sách Airhead tập 2: Trở thành siêu mẫu Em Watts cũng không có hứng thú với trào lưu nhạc pop đang thịnh hành hay cô siêu mẫu tuổi teen đang nổi tiếng như cồn khắp cả nước - là Nikki Howard. Em Watts thích chơi điện tử với Christipher, cậu bạn thân thiết nhất của mình mà thôi. Thế nhưng, như định mệnh, Em buộc phải đưa cô em gái tới dự buổi khai trương Megastore - nơi mà thật ra Em cũng chẳng muốn tới, nhưng phải có ai trông chừng cô em gái chứ! Và ở đây, cô siêu mẫu Nikki Howard cũng có mặt. Thế rồi một chuyện không hay xảy ra: Chiếc TV to tướng phía trên đầu em gái của Em bị rơi. Em đẩy cô em gái của mình ra. Và rồi tất cả mọi thứ trở nên đen tối và trống rỗng. Em đã không thể ngờ rằng tai họa này sẽ thay đổi cô, và thay đổi cuộc sống của cô, mãi mãi! Bìa sách Airhead tập 3: Trốn Chạy Với Air head cực kì hấp dẫn, tác giả của series "Nhật kí công chúa" (tải eBook trọn bộ 10 tập), Meg Cabot lại chứng tỏ khả năng tuyệt vời trong việc viết chick-lit cho độc giả tuổi teen. Air head hài hước, nhẹ hành, tốc độ nhanh và tác giả đã nắm bắt các cảm xúc của tuổi teen quá tốt đến mức bạn có cảm giác như mình thực sự đang đọc câu chuyện kể của một cô bạn 16 tuổi vậy. Một trong những vấn đề đặt ra trong câu chuyện này là khi một cô gái tuổi teen được đặt vào thế giới của người lớn với nhiều tiền bạc nhưng ít bị kiểm soát sẽ gặp những vấn đề như thế nào? Bộ Airhead gồm có: - Airhead tập 1: Tìm lại chính mình - Airhead tập 2: Trở thành siêu mẫu - Airhead tập 3: Trốn chạy   Tác Giả Meg Cabot Meg Cabot tên khai sinh là Meggin Patricia Cabot, sinh ngày 1 tháng 2 năm 1967 tại Indiana, Hoa Kỳ. Cô là tác giả của hơn 25 cuốn sách và nhiều sê-ri truyện nổi tiếng dành cho cả người lớn và thiếu nhi, thanh thiếu niên, với hàng chục triệu bản in trên toàn thế giới. Trong đó có thể kể đến: Size 12 không phải là mập; Every boy's got one; 1-800-WHERE-R-YOU; All American girls;..., đặc biệt là Nhật ký công chúa - tác phẩm được xem là thành công nhất của Meg Cabot, được Disney chuyển thể thành phim, được bán ra hơn 20 triệu bản và dịch ra hơn 38 ngôn ngữ trên khắp thế giới. Tại Việt Nam, tờ báo dành cho học sinh, sinh viên hàng đầu hiện nay - Hoa Học Trò - đã cho đăng tải, in ấn nhiều truyện của tác giả Cabot như: Airhead; Thần tượng teen; Con gái Mỹ; Sẵn sàng chưa nào?; Tiền chuộc trái tim...  Một số tác phẩm khác rất được yêu thích của Meg Cabot: - Nhật ký công chúa - Airhead - Cấu nối của những hồn ma - Chàng và nàng; - Chàng trai nhà bên; - Mỗi chàng một nàng.. *** “Emerson Watts” – đang mơ màng thì bị thầy Greer môn “Kỹ năng nói trước công chúng” làm cho giật bắn, mình choàng tỉnh khỏi cơn gà gật cố hữu hằng sáng. Khổ ghê. Không lẽ các thầy cô thực sự cho rằng học sinh bọn mình có thể đủ tỉnh táo mà nuốt trôi mấy bài giảng từ lúc 8h15 sáng chắc?   “Có ạ” – mình vội ngóc cổ lên khỏi mặt bàn, lén lút đưa tay quệt vội hai bên mép, đề phòng có dãi rớt gì trong lúc lơ mơ ngủ khi nãy. Nhưng xem ra hành động của mình đã không đủ nhanh để qua được đôi mắt cú vọ của Whitney Robertson, đang ngồi vắt chân khoe đôi chân dài miên man cách đó vài bàn. Cô nàng dẩu môi nhạo báng mình: “Đúng là đồ dở người!”.   Ngoài việc vênh mặt nhìn lại cô ta đầy thách thức mình cũng chẳng biết phải làm gì hơn. Đáp lại, Whitney chỉ nheo nheo đôi mắt xanh được kẻ vẽ cầu kỳ và nhếch mép cười khẩy, ra vẻ ta đây không thèm chấp “Emm” – thầy Greer vừa nói vừa ngáp một cái dài ngoằng. Xem ra tối qua thầy ý cũng thức khuya thì phải. Nhưng tất nhiên không phải để giải quyết núi bài tập về nhà như mình – “Có phải giờ điểm danh đâu mà có với chẳng không. Đến lượt em lên thuyết trình rồi đấy. Nhớ là 2 phút thôi. Hôm nay sẽ không theo thứ tự bảng chữ cái như mọi khi nữa mà ngược lại”. Thôi, thế là xong đời!   Mình nhăn nhó bước ra khỏi chỗ, uể oải bước lên trước lớp, trong khi đám bạn ở dưới đang bụm miệng cười khùng khục. Tất cả, trừ Whitney. Bởi cô nàng còn đang bận soi gương, sửa lại mấy lọn tóc trước con mắt đầy ngưỡng mộ của Lindsey Jacobs, ngồi ở dãy bàn kế bên: “Ôi cái màu son này hợp với cậu thật đấy”. “Mình biết” – Whitney tự hào ngắm bản thân qua gương, gật gù nói.   Thề là khi ấy mình phải kiềm chế lắm mới không ọe ra trước lớp – bởi cái ý nghĩ sắp phải lên thuyết trình trước hai mươi tư gương mặt vẫn đang đờ đẫn vì buồn ngủ kia… cộng thêm vừa nghe phải một màn hội thoại không-thể-ớn-lạnh-hơn. Tệ hơn nữa, mình chợt nhận ra là không còn nhớ một chữ nào trong bài phát biểu mà mình phải thức cả đêm hôm qua để viết.   “Emerson” – thầy Greer hắng giọng, nhìn xuống đồng hồ đeo tay – “Em có 2 phút”. Đầu mình đột nhiên trống rỗng. Tất cả những gì mình có thể nghĩ lúc đó là… làm sao cậu ấy biết? Mình đang nói về Lindsey í. Rằng cái màu son bóng đó hợp Whitney? Trong khi mình sống trên đời được gần 17 năm rồi mà vẫn còn chưa biết màu son nào thì hợp với mình… hay bất kì ai.   Tất cả là lỗi tại bố. Chính bố là người khăng khăng đặt cho mình cái tên đầy nam tính này. Chỉ vì lúc ở trong bụng mẹ mình đạp dữ quá nên bố quả quyết rằng mình sẽ là con trai – dù cho kết quả siêu âm đã nói rõ là nữ. Có một ông bố làm giáo viên dạy Văn học Anh nên việc mình được đặt theo tên một nhà thơ Anh âu cũng là điều dễ hiểu. Nhưng còn mẹ… ẵm con trên tay thấy rõ kết quả siêu âm là đúng rồi mà còn vẫn để bố làm theo ý mình… Có lẽ khi ấy mẹ vẫn chưa tan hết thuốc tê. Kết quả là suốt đời này mình sẽ phải gắn với cái tên Emerson Watts. Thử hỏi tên đời này có được mấy đứa con gái mang tên con trai như mình “Bắt đầu đi” – thầy Greer bắt đầu bấm giờ. Ngay lúc đó, tự dưng nội dung bài thuyết trình mà mình đã dầy công chuẩn bị suốt đêm qua chợt ùa về như thác đổ.   May ghê. “Phái nữ” – mình dõng dạc mở đầu – “Chiếm 39% trong cộng đồng chơi game tương tác trên máy tính. Tuy nhiên, trong ngành công nghiệp game toàn cầu được ước tính trị giá gần 35 tỷ đôla, chỉ có một phần rất rất nhỏ được đầu tư vào các game dành cho phái nữ”.   Mình ngừng lại… bên dưới, mọi người như muốn đổ gục xuống bàn bất cứ lúc nào. Mà cũng khó trách. Đi học sớm thế này thì ai mà chịu cho nổi cơ chứ. Ngay cả đến Christopher, cậu bạn hàng xóm và đồng thời là bạn thân của mình, cũng đang không hề chú ý lắng nghe tẹo nào. Mặc dù vẫn thẳng lưng ngồi ngay ngắn ở dãy bàn cuối lớp… …nhưng hai mắt thì nhắm nghiền. “Một nghiên cứu” – kệ chứ, mình tiếp tục mở máy – “bởi Viện nghiên cứu giáo dục ở UCLA cho thấy số phụ nữ thi lấy bằng khoa học máy tính hiện đang giảm xuống mức chưa từng thấy, chỉ còn dưới 30%. Khoa học máy tính là lĩnh vực duy nhất có sự chênh lệch lớn giữa nam giới và nữ giới…” Ôi giời. Giờ thì trong lớp không còn ai thức ngoài mình. Kể cả thầy Greer cũng đang gáy o o rồi.   Càng tốt. Mình thích nói gì thì nói, chẳng sợ ai phản đối hay lên tiếng gì sất. “Rất nhiều nhà nghiên cứu tin rằng nguyên nhân chính là do hệ thống giáo dục của chúng ta hiện nay đang khiến giới nữ thờ ơ với các môn khoa học, đặc biệt là khoa học máy tính, ngay từ những năm học trung học” – mình hùng hồn nói, mắt nhìn chằm chằm vào mặt thầy Greer. Nhưng thầy í chẳng có phản ứng gì hết. Bởi thầy còn đang bận ngáy.   Khi nhận được chủ đề thuyết trình lần này mình đã cực kỳ háo hức bởi vì mình cực kỳ thích chơi game máy tính. Nhưng chỉ duy nhất một trò thôi. “Vậy thì điều gìgiúp duy trì sự hứng thú của phái nữ đối với game máy tính?” – mình vẫn thao thao bất tuyệt đầy nhiệt huyết – “Bởi các nghiên cứu cho thấy bằng việc chơi game máy tính sẽ giúp chúng ta tăng cường khả năng hoạch định chiến lược, giải quyết các khó khăn, đồng thời phát triển kỹ năng tương tác xã hội và phối hợp ăn ý với mọi người”.   Không thể tin nổi mấy người này, chẳng lẽ ngủ hết thật rồi hay sao? “Nói thật, bên dưới bộ quần áo mình đang mặc đây là chiếc áo hai dây và quần soóc ngắn, giống như nhân vật Lara Croft vẫn hay mặc trong trò Tomb Raider… Chỉ có điều của mình là bằng chất chống cháy và in hình khủng long phát-sáng-trong-bóng-tối”. Mời bạn đón đọc Airhead của tác giả Meg Cabot.  

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Đám Cưới Không Có Giấy Giá Thú - Ma Văn Kháng
Đám cưới không có giấy giá thú là đứa con tinh thần mới của nhà văn Ma Văn Kháng. Cũng như những tác phẩm trước, Đám cưới không có giấy giá thú nhận được nhiều sự quan tâm không chỉ từ độc giả mà còn từ những nhà văn lớn khác của Việt Nam. *** Nhà văn Ma Văn Kháng (sinh ngày 1 tháng 12 năm 1936 tại làng Kim Liên, Đống Đa, Hà Nội) tên thật là Đinh Trọng Đoàn. Ông là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, học trường Sư phạm Hà Nội. Ông từng là giáo viên cấp hai, dạy môn Văn và là hiệu trưởng trường cấp 3 thị xã Lao Cai nay là tỉnh Lào Cai. Ông cũng là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 1974. Từ năm 1976 đến nay ông công tác tại Hà Nội, đã từng là Tổng biên tập, Phó Giám đốc Nhà xuất bản Lao động. Từ tháng 3 năm 1995 ông là Tổng biên tập tạp chí Văn học nước ngoài của Hội Nhà văn Việt Nam. Ông đã 8 lần đệ đơn xin thôi vị trí này. Tác phẩm Đồng bạc trắng hoa xòe (tiểu thuyết, 1979 Vùng biên ải (tiểu thuyết, 1983) Trăng non (tiểu thuyết 1984) Phép lạ thường ngày Thầy Thế đi chợ bán trứng Mưa mùa hạ (tiểu thuyết 1982) Mùa lá rụng trong vườn (tiểu thuyết, 1985) Võ sỹ lên đài Thanh minh trời trong sáng Hoa gạo đỏ Côi cút giữa cảnh đời (tiểu thuyết 1989) Đám cưới không giấy giá thú Đám cưới không có giấy giá thú (tiểu thuyết, 1989) Chó Bi, đời lưu lạc (tiểu thuyết 1992) Ngày đẹp trời (truyện ngắn 1986) Vệ sĩ của Quan Châu (truyện ngắn 1988) Giấy trắng (tiểu thuyết) Trái chín mùa thu (truyện ngắn 1988) Heo may gió lộng (truyện ngắn 1992) Trăng soi sân nhỏ (truyện ngắn 1994) Ngoại thành (truyện ngắn 1996) Truyện ngắn Ma Văn Kháng (tuyển tập 1996) Vòng quay cổ điển (truyện ngắn 1997) Năm tháng nhọc nhằn, năm tháng nhớ thương (hồi ký 2009) Một mình một ngựa (Tiểu thuyết 2007) Một Chiều Dông Gió Một Nhan Sắc Đàn Bà Trốn Nợ *** Đám cưới không có giấy giá thú VĂN NGHỆ Số 6. 10/2/1990 Để triển khai kết quả của Đại hội nhà văn lần thứ IV, sáng ngày 11.1.1990, Tuần báo Van nghệ tổ chức một cuộc thảo luận về cuốn tiểu thuyết “Đám cưới không có giấy giá thú” của nhà văn Ma Văn Kháng. Đây là buổi họp, mở đầu cho những cuộc sinh hoạt phê bình dưới nhiều hình thức khác nhau sẽ thường xuyên được tổ chức trong thời gian tới nhằm nâng cao chất lượng trang phê bình trên mặt báo, góp phần đẩy mạnh việc đổi mới công tác lý luận phê bình chung của chúng ta. Tới dự cuộc thảo luận có các nhà văn, nhà phê bình quen biết: Xuân Cang, Nguyên Ngọc, Nguyễn Kiên, Xuân Thiều, Huy Phương, Hà Minh Đức, Phan Cự Đệ, Từ Sơn, Phan Hồng Giang - Đồng chí Lê Thanh Tùng, và đồng chí Xuân Du đại diện Nhà xuất bản Lao động cùng tới dự. Ban biên tập có gửi giấy mời nhà văn Bùi Hiển, nhưng đến phút cuối vì có việc bận đột xuất, nhà văn không đến dự được. Có mặt trong buổi họp còn có nhà văn Ma Văn Kháng, tác giả cuốn tiểu thuyết. Về phía chủ nhà, ngoài anh Hữu Thỉnh, nhà thơ, Tổng biên tập báo Văn nghệ, còn có các anh chị: Ngô Ngọc Bội, Nguyễn Vinh, Phạm Tiến Duật, Hoàng Minh Tường, Phạm Đình Ân, Thiếu Mai. Sau lời đề dẫn của anh Hữu Thỉnh, cuộc hội thảo bắt đầu. Sau đây là ý kiến của từng đồng chí. Xuân Cang: Tôi cùng với anh Lê Thanh Tùng và anh Xuân Du là những người chịu trách nhiệm chính trị về cuốn sách của anh Kháng. Thú thật là khi mới được đọc qua một lần, tôi hơi hoảng. Tất cả các đảng viên cộng sản trong cuốn sách là những con người tồi tệ - tồi tệ thực sự chứ không chỉ là suy thoái. Vậy có phải là cuốn sách phủ nhận những người cộng sản, phủ nhận Đảng không? Sau khi đọc kỹ hơn, bình tâm suy nghĩ, tôi khẳng định là không phải như vậy. Thái độ đối với các tác phẩm văn học, nhất là những tác phẩm đa dạng, đa nghĩa là một sự thử thách mới đối với người đọc. Trước đây khoảng chục năm, một cuốn sách như kiểu cuốn sách này ra đời quả là một sự gay go. Nhiều độc giả ở ngành giáo dục cũng chấp nhận tác phẩm này. Họ nói rằng cuốn sách đã nói đúng sự thật. Sự thật trong ngành giáo dục còn có những con người, những đơn vị suy thoái hơn nữa kia. Tuy vậy, họ tỏ ra băn khoăn, vì trong ngành còn có những nhân tố tích cực nữa. Miêu tả như thế này có phải là bôi bác không, có sợ người đọc hiểu nhầm ngành giáo dục Tôi nói với anh em là cuốn sách này viết về ngành giáo dục, nhưng không phải chỉ đề cập đến những vấn đề của giáo dục mà là những vấn đề nhức nhối chung của xã hội. Ở đây có cuộc hôn phối không đúng quy luật giữa chúng ta và chủ nghĩa xã hội. Các bạn ấy còn băn khoăn: Vậy vai trò giáo dục của văn học là ở đâu? Tôi nói văn học còn có chức năng cao cả là phát hiện, khám phá, dự báo, báo động nữa. Có thể khai thác vai trò giáo dục của nó ở đấy. Đọc cuốn sách của anh Kháng không thể đọc một mạch. Từng trang, từng trang, nó cho người đọc nhận thức dần những điều tác giả muốn gửi gắm. Tôi đồng ý với Phan Hồng Giang, Ngô Ngọc Bội trước đây người sáng tác còn phải che chắn, rào đón quá nhiều. Ví dụ khi muốn xây dựng một nhân vật cộng sản, nhà văn thường tự hạn chế mình nhân vật này “đại diện” cho xã hội mới, nếu có khuyết phải có ưu, ưu là cơ bản, xây dựng một nhân vật tiêu cực là chỉ dám xếp anh ta vào chức phó. Ở đây anh Kháng đã mạnh dạn đưa ra những nhân vật chịu trách nhiệm chính để người đọc phán xét một cách bình đẳng. Nếu đọc theo lối truyền thống thì khó chấp nhận. Riêng tôi, tôi tán thành sự chuyển hướng về phương pháp này, sắp tới, hội đồng văn học công nhân khi xem xét vệc tặng thưởng các tác phẩm văn học đề tài công nhân không thể không tính tới cuốn sách này. Vừa ra đời, có ý kiến này ý kiến nọ, nhưng rồi cuốn sách đã đứng được, điều đó nói lên rằng cuốn sách đáp ứng với tình hình của xã hội chúng ta trong thập kỷ này. Nhà văn đã góp những suy nghĩ nghiêm túc về những vấn đề bức thiết đang đặt ra trong xã hội hiện nay. Phan Cự Đệ: Trong tiểu thuyết Đám cưới không có giấy giá thú, nhà văn Ma Văn Kháng đã phản ánh được cái bi kịch của một nhà giáo, một tri thức: anh ta lúc thì đóng vai một nhà hiền triết, một nhân cách cao cả và thánh thiện nhưng lại bị ném vào một môi trường mà các giá trị tinh thần đang bị đảo lộn: một môi trường bị ô nhiễm, bị băng hoại về đạo đức và nhân phẩm: lúc thì hiện ra như một con người mơ mộng và lãng mạn, hay đỏ mặt vì mặc cảm và sĩ diện nhưng lại bị nhúng chìm trong cái biển đời thường dung tục, ở đó hàng ngày diễn ra cái cảnh chen lấn, cướp đoạt một cách trâng tráo, vô sỉ: lúc là một người say mê nghề nghiệp, nhiều hoài bão và khát vọng, muốn chiếm lĩnh các đỉnh cao khoa học nhưng lại bị vây bủa bởi một xã hội thực dụng và cơ hội, một xã hội tiêu thụ đang lên cơn sốt với những đam mê và khoái lạc, với khát vọng làm giàu, khát vọng chiếm đoạt quyền lực bằng bất cứ giá nào! Nhân vật anh giáo Tự phảng phất một mô-típ đã quen thuộc trong văn xuôi Việt Nam và thế giới: lúc là Đôn Ki-hô-tê một mình một dáo dũng cảm xông lên đánh nhau với lũ yêu quái, lúc lại là ông giáo Thứ đang sống mòn và chết mòn trong sạch một cách thụ động ở cái trường tư ngoại ô, lúc là một Hoàng thân Mưt-skin, một Pi-e Bô-du-khốp nhưng nhuốm màu sắc triết học phương Đông. Ma Văn Kháng đã viết về cái “bi kịch vỡ mộng” của một “bữa tiệc dang dở, một đám cưới không thành, một cuốn sách hay để lầm chỗ” đó một cách rất tâm huyết, với tất cả suy nghĩ và trăn trở, niềm khát vọng và nỗi đau của một nhà văn trước thời cuộc, trước tình trạng xuống cấp về trình độ tư duy và phẩm chất đạo đức ngay trong một số người tự cho mình là cán bộ lãnh đạo, là trí thức hoặc kỹ sư của tâm hồn. Ma Văn Kháng đã nói lên được cái tâm sự có thật của những trí thức có tâm huyết, có hoài bão. Cách lý giải có thể còn phải bàn cãi, nhưng điều đáng trân trọng là tấm lòng trung thực và trong sáng của người cầm bút, là những trang viết chân thành và xúc động. Cuốn tiểu thuyết cũng bộc lộ khá rõ một số nhược điểm. Trước đây ta hay lý tưởng hóa một chiều các nhân vật đảng viên hoặc cán bộ lãnh đạo, gần đây lại có khuynh hướng biến họ thành những con rối, thành con người máy hoặc con người của dục vọng tầm thường (Những thiên đường mù, Ly thân, Những mảnh đời đen trắng). Tác phẩm của Ma Văn Kháng không rơi vào hai thái độ cực đoan đó. Tuy nhiên, cách nhìn những “nhân vật tiêu cực” trong hàng ngũ lãnh đạo ở đây có lúc còn đơn giản và phiến diện, đôi khi biến họ thành nhân vật của hài kịch, thành những tính cách bị phóng đại trong nghệ thuật biếm họa. Tính khái quát của loại nhân vật này chưa cao. Trong số này ngoài đời tôi thấy có những người xấu nhưng biết ngụy trang một cách thâm hiểm hơn hoặc có người tốt, chân thành, ngay cả trong sự ấu trĩ, máy móc của họ. Tác phẩm có nhiều trang sinh động, hấp dẫn trong đối thoại, tranh luận hoặc dựng người, dựng cảnh nhưng cũng có nhiều trang chìm sâu một cách nặng nề vào những suy tư, vào những lời biện giải mang màu sắc duy lý của tiểu thuyết luận đề. Xuân Thiều: Nghe đồn cuốn sách “có vấn đề” tôi liền đọc ngay, hai đêm thì đọc xong. Và bây giờ, tôi sẵn sàng tranh luận với những ý kiến cho rằng cuốn sách “có vấn đề chính trị”, thậm chí tôi còn nghe có ý kiến nói cuốn sách “đi ngược lại nghị quyết 7” nữa kia. Theo tôi thì cuốn sách đã thể hiện được tâm huyết của tác giả, ấy là lòng tha thiết mong mỏi được sống trong một xã hội tốt đẹp lý tưởng. Thấy rõ nỗi đau đớn của tác giả: mình yêu chủ nghĩa xã hội như vậy mà sao trong thực tế xã hội lại có chiều ngược với suy nghĩ, mong ước của mình. Tôi khẳng định là tính tư tưởng của tác phẩm rất cao. Tính hiện thực cũng rất cao, vì tác giả đã mạnh dạn phơi bày không né tránh những vấn đề gay cấn nóng bỏng của xã hội. Trước đây dăm bảy năm, người viết chúng ta phải né tránh nhiều vấn đề, nhiều sự việc. Có muốn xây dựng nhân vật tiêu cực để phê phán thì cũng chỉ dám đưa ra anh “phó”: phó chủ tịch, phó chính ủy, phó bí thư huyện ủy... Tóm lại, anh phó lãnh đủ những đòn phê phán trong lúc anh chính bao giờ cũng nghiêm túc, sáng suốt, đúng đắn. Bởi vì nếu phê phán anh chính thị sợ bị hiểu lầm là nói xấu Đảng, thì chính mình sẽ bị đánh! Ở đây anh Ma Vãn Kháng đã gọi thẳng những người chịu trách nhiệm chính ở môi trường mà anh miêu tả: hiệu trưởng, bí thư chi bộ nhà trường, bí thư thị ủy. Tác giả đã nói thẳng sự thật mà không sợ bị hiểu là nói xấu Đảng. Dựng lên những nhân vật lãnh đạo dốt nát, thô thiển như vậy, anh tha thiết mong muốn những người lãnh đạo ở các ngành, các cấp có văn hóa hơn, trí tuệ hơn, sáng suốt, thông minh hơn. Đọc xong, ngẫm nghĩ về các nhân vật Dương, Cẩm, Lại, tôi lấy làm tiếc là các nhân vật này của anh còn giản đơn, chưa có chiều sâu. Chưa thấy bóng dáng của những nhân vật sai một cách chân thành, có ý đồ tốt, tưởng là đúng, là trung thành với lý tưởng cộng sản hóa ra lại sai lầm và mang lại những tác hại lớn cho xã hội. Nhân vật Tự là một người tri thức đầy bi kịch, suốt đời thất bại. Đáng buồn là nhân vật nàyquá yếu đuối, quá bất lực, suốt đời chịu đựng. Người như anh mà không tự sát là lạ! Đoạn viết về bộ đội có lẽ là chỗ yếu nhất, và hơi suy diễn đôi chút, chứng tỏ vốn hiểu biết về đời sống bộ đội của tác giả chưa nhiều và chưa sâu. Nói chung tôi thích cuốn sách này, một cuốn sách nhiều trăn trở ... Mời các bạn đón đọc Đám Cưới Không Có Giấy Giá Thú của tác giả Ma Văn Kháng.
Theo Đuổi - Phạm Thanh Thuý
Phạm Thanh Thúy là cây bút nữ có lối viết già dặn, không xa lạ với độc giả yêu văn chương. Tác phẩm của cô thường đăng trên các báo, tạp chí văn uy tín trong nước. Nhân vật chính của Theo đuổi là Hàm Yên - một nhà văn trẻ. Suốt thời thanh xuân, Hàm Yên ôm ấp mối tình từ thuở thơ bé với người bạn thiếu thời tên Phố. Tình cảm đó trở thành một nỗi nhức nhối, ám ảnh cô trên mỗi bước đường đời. Duyên phận đưa Hàm Yên và Phố đến những cuộc gặp gỡ tình cờ. Hết lần này đến lần khác, họ để lỡ nhau. Hàm Yên luôn muốn gợi cho Phố nhớ về những ký ức thời thơ bé, trong đó có cả ký ức đau buồn về cái chết của bố mẹ anh. Ngược lại, Phố tìm cách quên đi. Họ cứ thế đi tìm bóng hình nhau. Khi đã ở bên nhau, họ lại làm tổn thương nhau bằng ký ức. *** Tôi đến Cẩm Xuyên vào giữa mùa mưa. Mưa suốt ngày suốt đêm, mưa gối ngày này sang ngày khác. Bầu trời gần như lúc nào cũng sũng nước. Vào những khi mưa ngớt, từ trên cung đường quanh co uốn lượn theo dáng núi, thấy phía xa xa những thác nước huyền ảo như những áng tóc buông dài của nữ chúa thượng ngàn. Rồi thình lình, hàng trăm con thác ấy đột ngột băng qua đường, tuyệt đẹp và hung hãn, dường như muốn ngốn ngấu lấy tất cả những vật thể bé nhỏ đang trườn trên lằn chỉ vắt ngang núi kia. Con đường nhỏ chìm lút trong làn mưa trắng xóa. Vượt qua hàng trăm con thác trữ tình ấy thì đến Cẩm Xuyên. Cẩm Xuyên nằm trên độ cao 1500 mét so với mực nước biển. Cảm nhận đầu tiên chính là lạnh. Cái lạnh của gió, của hơi nước khi những đám mây trườn trên những ngọn núi, luồn sâu vào từng kẽ lá, băng qua những cây cầu treo chênh chao bắc ngang lòng những con suối mùa mưa sục sôi gầm gào bất tận. Ở xứ này, lúc nào người ta cũng có thể nghe thấy tiếng thác nước tuôn ở đâu đó. Khu nhà cũ, tường vôi trắng loang lổ tróc từng mảng thảm hại, rêu xanh phủ dày trên mái ngói. Và căn phòng, vì lâu không có người ở, toát lên một mùi đặc trưng ẩm mốc, sự cô đơn, lạnh lẽo và nỗi buồn. Nỗi buồn dường như trú ngụ ở đó từ rất lâu, thấm vào từng mi-li-mét không khí. Có hai cửa sổ, tất cả đều sơn xanh, có sẵn một số đồ đạc thiết yếu, hẳn nhiều người đã từng sống ở đó. Phía sau là một đồi thông. Tôi nhận lời viết tự truyện cho một cựu quan chức. Một người đàn bà quyền lực, nay đã nghỉ hưu và hưởng thụ cuộc sống nhàn nhã sau cả một đời lăn lộn với chính trường. Tài liệu đã thu thập đầy đủ từ một năm trước, giờ tôi chỉ cần tìm một nơi gợi cảm xúc để viết thành một cuốn sách. Một thời gian dài chìm trong nỗi buồn sâu thẳm, tôi muốn đến Cẩm Xuyên. Và tôi đã đến, giữa mùa mưa, sẽ ở lại một thời gian nào đó, tùy thuộc vào tôi quyết định. ... Mời các bạn đón đọc Theo Đuổi của tác giả Phạm Thanh Thuý.
Phúc Lành Của Đất
Phúc lành của đất đã đoạt giải Nobel Văn học năm 1920. Tác phẩm đồ sộ này viết về những người nông dân Na Uy gắn bó hàng đời với đất đai, trung thành với những truyền thống cổ xưa. Tác giả kêu gọi con người trở về với đất. Con người cá nhân chủ nghĩa kiêu hãnh trước kia tưởng có thể "làm rung chuyển thế giới bằng sự va chạm của vài tư tưởng phi lý" đã kết thúc đời mình trong chủ nghĩa bi quan và bị cái chết ám ảnh. Với văn phong trong sáng, cách diễn đạt gây bất ngờ, Knut Hamsun được coi là một trong những người cách tân văn xuôi Na Uy. Trong bài phát biểu tại lễ trao giải, đại diện Viện Hàn Lâm Thụy Điển nói: "Những ai muốn tìm trong văn học sự mô tả chân thật hiện thực đều tìm thấy trong Phúc lành của đất câu chuyện về cuộc đời của mỗi một con người, dù anh ta ở nơi đâu, lao động ở nơi đâu". *** Nhà văn Knut Hamsun (4/81859 – 19/2/1952) tên thật là Knud Pederson. Ông chào đời tại xã Lom, huyện Gudbrandsdalen, (nay thuộc tỉnh Oppland) miền Nam Na Uy; là con thứ tư trong một gia đình nghèo đông con (bảy người con). Năm ông lên bốn, cả gia đình chuyển tới sinh sống tại quận Hamarøy, tỉnh Nordland, miền Bắc Na Uy. Từ năm lên chín, ông phải tới giúp việc cho ông chú đang làm việc tại một bưu cục, thường xuyên bị đánh và bỏ đói. Những chấn thương tinh thần và thể xác này đã khắc sâu dấu ấn trong ông và là nguyên nhân của những di chứng thần kinh mãn tính về sau. Năm 1874, ông bỏ trốn trở về Lom, và từ đó bắt đầu một cuộc sống lang thang phiêu bạt khắp đó đây, hai lần sang Mỹ (1882-1884 và 1886-1888); nếm trải đủ mùi khổ ải, làm đủ mọi thứ nghề ngỗng trên đời: thư ký tiệm tạp hóa, bán hàng rong, phụ chữa giày, phụ tá cho quan chức hành chánh xã, giáo viên tiểu học, và hàng chục thứ nghề không tên khác. Từ năm mười bảy tuổi, ông cũng bắt đầu tập tành viết lách. Năm 1890, tác phẩm Sult (Đói) của ông được xuất bản, gây chấn động lớn trong văn giới bấy giờ với một bút pháp lạ lùng sâu thẳm, mô tả rất xác thực, tinh vi, nhưng đôi khi cũng khá hài hước những cảm xúc và ý tưởng của một nhà văn trẻ đang hồi khốn khó. Có lẽ đây là tác phẩm gây ấn tượng sâu sắc nhất cho giới phê bình học giả cũng như bạn đọc toàn cầu kể từ ngày nó ra đời cho tới nay. Tác phẩm này cũng đã được dựng thành phim hai lần. Lần thứ nhất năm 1966, do Henning Carlsen (sinh 1929) nhà sản xuất phim lừng danh người Đan Mạch đạo diễn; lần thứ hai năm 2001 do đạo diễn, biên kịch người Mỹ Maria Giese đạo diễn. Từ đó trở đi, bút lực của ông ngày càng dồi dào sung mãn. Về mặt bút pháp, ông là một trong những nhà văn cùng thời khác như James Joyce (1882-1941), Marcel Proust (1871-1922) và Virginia Woolf (1882-1941)… đã khai thác một cách tài tình thủ pháp Dòng ý thức ; hình thành nên trào lưu văn học hiện đại. Tổng cộng ông đã viết trên ba mươi cuốn tiểu thuyết và nhiều tác phẩm kịch, thơ… Trong đó nổi bật nhất là: Đói (Sult-1890); Những điều bí ẩn (Mysterier-1892); Pan (Pan-1894); Victoria (Victoria -1898); Dưới ánh sao thu (Under Høststjærnen -1906); Gã lang thang chơi đàn không dây (En Vandrer spiller med Sordin-1909) ; Niềm vui cuối cùng (Den sidste Glæde-1912); Phúc lành của đất (Markens Grøde-1917); Trên lối mòn hoang (Paa gjengrodde Stier-1949)… Năm 1917, ông mua một điền trang ở Nørholm, miền Nam Na Uy, lui về đó sống một cuộc đời ẩn dật, viết văn và làm việc nông điền. Năm 1920, ông đoạt giải Nobel văn chương nhờ bộ tiểu thuyết Phúc lành của đất . Xuất phát từ chủ nghĩa cá nhân, sự oán ghét chủ nghĩa tư bản hiện đại của bản thân và do hâm mộ truyền thống tư tưởng Nietzche trong chủ nghĩa Phát xít cũng như đã có sẵn cảm tình với Đức do chính nghĩa của nước này trong Thế chiến I, trong lúc đó công luận tại Na Uy lại nghiêng về Anh và Pháp, dần dần trong ông đã hình thành một cảm tình sai lệch với chủ nghĩa xấu xa này. Năm 1932, ông gặp Hitler và Joseph Goebbels – Bộ Trưởng Tuyên truyền của Đức Quốc Xã. Dù không bao giờ gia nhập Đảng Phát xít, ông đã có những hành động và phát ngôn bày tỏ rõ rệt thái độ ủng hộ Đức của mình, chẳng hạn như tuyên bố với những người đồng bào rằng: “Tất cả chúng ta đều là người Đức” trong thời gian Đức chiếm đóng Na Uy, hoặc công khai viết lời ca tụng Hitler khi nghe tin ông này chết rằng: “Ông ấy là một chiến binh, một chiến binh của nhân loại, và một nhà tiên tri của nền công lý đối với mọi quốc gia.” Sau Thế chiến II, ông bị công chúng ghét bỏ; do được coi là bị bệnh tâm thần nên ông không phải ngồi tù mà chỉ bị phạt tiền 80.000 đô la Mỹ (1947). Kể từ đó cho tới khi lìa đời, ông sống trong cảnh lẻ loi nghèo khổ, bị mọi người xung quanh xa lánh. Ngày 19-2-1952, Knut Hamsun qua đời ở thị trấn Grimstad, miền Nam Na Uy, hưởng thọ 92 tuổi. Hồi đầu năm 2009, khi Na Uy phát hành đồng tiền mệnh giá 200 Kroner (khoảng 500.000 đồng VN) in hình ông và tiếp sau đó là những hoạt động trọng thể tưởng niệm 150 năm ngày sinh của Hamsun, đã có nhiều quan điểm gay gắt phản đối từ nhiều nước trên thế giới. Dĩ nhiên, bên cạnh đó cũng có nhiều ý kiến đồng tình, biện minh cho những hoạt động nói trên. Nếu không xét tới quan điểm chính trị của Knut Hamsun – vốn đã trăm phần trăm sai trái, không có gì cần bàn cãi nữa (có lẽ bản thân Knut Hamsun cũng đã nhận ra những sai lầm của ông trong quãng thời gian cuối đời), có thể khẳng định đa phần những di sản văn học mà ông để lại cho nhân loại là vô cùng quý báu. Và người đọc chúng ta có thể tri ân ông ở khía cạnh này. Sài Gòn, 3-2010 Nguyễn Thành Nhân Mời các bạn đón đọc Phúc Lành Của Đất của tác giả Knut Hamsun.