Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Nàng Aura

“HÃY ĐỌC THÔNG BÁO ẤY: một loại mời chào mà không phải ngày nào cũng đăng đâu. Hãy đọc đi đọc lại thông báo đó. Nó dường như nhằm vào bạn, chứ không phải bất kỳ ai khác,” cho đến khi bạn, hay chính là nhà sử học trẻ tuổi đang hồi thất nghiệp Felipe Montero, trả lời thông báo và bước chân vào ngôi nhà tăm tối, ẩm ướt và lạnh lẽo đến kỳ bí, nơi góa phụ 105 tuổi Consuelo Llorente sống cùng cô cháu gái mắt xanh Aura. Theo đề nghị của Consuelo, Felipe sẽ ở lại ngôi nhà để viết một cuốn hồi ký về người chồng quá cố nguyên là một tướng quân của bà, đổi lại là một khoản thù lao hậu hĩnh. Chàng trai trẻ bắt tay ngay vào công việc. Nhưng rồi, chàng rơi vào mối tình với Aura xinh đẹp, để rồi từ đó chàng dần dần chứng kiến những sự thật kinh hoàng về thân phận thật chính mình và hai người phụ nữ trong căn nhà ma quái… “Ông là một nhà văn đại tài, và (ngạc nhiên hơn) có phong cách viết rất đặc biệt ở thể loại truyện kinh dị.” – Pseudointellectualreviews *** Đàn ông đi săn và chiến đấu. Đàn bà mưu mô và mơ ước; là mẹ của trí tưởng tượng, của các vị thần. Đàn bà có được tầm nhìn thứ hai, những đôi cánh cho phép bay tới cõi hư vô của ham muốn và trí tưởng tượng… Các vị thần cũng giống như những người đàn ông, được sinh ra và chết đi trên ngực của một người đàn bà… Jules Michelet *** Review sách “Nàng Aura” – Carlos Fuentes Do năm nào cũng thấy Nàng Aura vào trong danh sách đại giảm giá của đợt Xả kho, nên mình muốn viết 1 bài giành lại justice cho tác phẩm này, rằng nó rất hay và độc đáo. Hy vọng trong những đợt dọn kho kế kiếp các bạn sẽ không “dòng người vội vàng lướt qua” em nó… NÀNG AURA VÀ OLALLA – MỐI TƯƠNG QUAN KÌ LẠ Năm 1885, khi đang rà soát lại bản thảo của cuốn sách rồi đây sẽ trở thành kinh điển – Chuyện về bác sỹ Jekyll và ông Hyde – Robert Louis Stevenson đã mơ một giấc mộng, để rồi sau này trở thành hiện thân cho tiểu thuyết ngắn Olalla. 77 năm sau, Carlos Fuentes viết ra một kiệt tác khác – Nàng Aura vào năm 1962 mà không dư hay thiếu chữ nào, để rồi sau đó sẽ bị cấm vì các dụng ý “gợi dục”. Cách nhau gần 80 năm, thế nhưng có thể nói ý tưởng về hai kiệt tác như cuộc “đồng mộng dị sàng” thú vị của hai nhà văn thuộc hai thời đoạn, hai nền văn hóa và hai phong cách hoàn toàn riêng biệt. * Có thể thấy rằng, Mỹ Latin dường như là cái nôi mắn đẻ cho những bối cảnh cần đến phép màu. Nơi đây không cần những người con sinh ra từ đất, mà ngay cả những bên tham chiến trong cuộc chiến tranh Bán đảo giữa khối Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha với Liên hiệp Anh cũng có thể mang trong mình một tàn lửa nhất định, và rất có thể Stevenson là một trong số đó. Không cần Freud giải mã giấc mơ, dường như chính miền đất huyền diệu ấy đã phôi thai và ám hương lên hình dung của Stevenson; để những câu chuyện kì dị, gothic, liêu trai thành hình, dù cho khái niệm gothic không đến từ vùng đất này. Riêng với Carlos Fuentes – gã khổng lồ của văn chương Mexico nói riêng và châu Mỹ Latin nói chung; vùng đất của ông vừa hoang dại nhưng cũng đậm dấu ấn một cách không ngờ. Trong văn chương của Juan Rulfo, người ta nhận ra cái nóng hầm hập ngày càng đi xuống như của một cổ quan tài, nơi không có gió và chỉ có riêng tiếng sỏi lạo xạo. Triển khai từ chính cái lặng im đấy, Fuentes mang gothic vào đô thị, nhưng giờ đây cũng triệt tiêu hoàn toàn dải âm nghe thấy, để đọng lại những tạp âm trắng duy nhất về sự xôn xao của một cõi lòng xáo động. BỐI CẢNH SONG SONG Câu chuyện của Fuentes và Stevenson nhìn chung là có sự tương đồng khá thú vị. Hai nhân vật chính đều là nam giới, và định mệnh run rủi cho họ vào một tình cảnh không thể đoan trước. Trong Nàng Aura, đó là nhà sử học Montero làm việc viết sử cho một góa phụ có chồng đã chết; trong khi Olalla là một chàng lính Anh nghỉ dưỡng sau khi bị quân đội bỏ lại. Cả hai đã hơn một lần khước từ ngẫu nhiên, để nằm sau các cách cấu thành cốt chuyện, đó là trò chơi định mệnh, khi Montero không chỉ thấy một lần mẫu tin rao vặt cần một sử gia thạo tiếng Pháp, còn chàng lính Anh cũng không nguôi được nghỉ dưỡng ở gia tộc nay suy tàn dẫu cho đã được cảnh báo. Bối cảnh cách nhau một thời gian dài, nhưng nhìn chung cả hai nhà văn đều mang được sắc màu của thời đại vào tác phẩm mình. Nếu Stevenson viết trong thời đoạn Chiến tranh Bán đảo, nơi dinh thự có các cầu thang đá lớn, cửa kiểu Moor; thì Fuentes hiện đại hơn, với tòa nhà phong cách Baroque Mexico cùng các tượng thánh, giàn nho phất phơ cũng như mùi rêu ẩm mốc cùng phong cách thuộc địa cũ. Gothic trong phong cách kiến trúc được hai nhà văn khắc họa một cách rõ ràng, dẫu ở đâu thì vùng đất ấy đã mang sẵn trong mình một sự huyền ảo. “Nhân sư” dẫn dắt nhân vật chính đi vào đóng hỗ lốn của mình cũng đặc biệt giống nhau. Nếu chàng Montero luôn được một thiếu phụ áo xanh, thân thể trắng muốt, dong dỏng cao dẫn dắt trong những mê lộ hành lang của căn nhà thiếu ánh sáng vì đô thị xung quanh xây chen; thì trong Olalla, người đảm nhận vai trò này, mà khốn thay, cũng trùng cái tên Filipe như chàng Montero – em trai của Olalla. Filipe được mô tả lúc thì ngây ngô hát những bài đồng dao, nhưng cũng có khi tàn ác như khi vặn cổ chú sóc. Hai dáng hình ấy đưa nhân vật vào một không gian chung của câu chuyện có phần tương đồng, nhưng chính ở đây mọi thứ rẽ khác. HIỆN THỰC – KÌ ẢO Nếu Stevenson mang được chất huyền ảo của Latin vào trong bối cảnh nhưng hầu như câu chuyện là thực; thì Fuentes tiếp nhận và nâng cao chất kì ảo đặc trưng của dải đất quê hương, nơi ông xây dựng Nàng Aura như một hỗn hợp vừa thực mà cũng không thực- vẩn vơ, bảng lảng và mù sương khói. Stevenson vẫn dùng văn chương thuần tuyến tính của phương Tây vào thời điểm đó, ông không cách tân lối viết, tuy có dùng những yếu tố như khởi nguồn đặc trưng sau này của châu Mỹ Latin, như hình tượng cơn gió độc, bà mẹ ủ ê, thú tính vật vờ trong ánh sáng ban ngày. Hoàn toàn ngược lại, Fuentes đóng kín nhân vật của mình trong ngôi nhà số 815 phố Donules, để người đọc thấy được vòng tròn quẩn quanh mà ông tạo ra, như một kiểu mê cung của Borges. Chàng sử gia Montero hết đi đến phòng trên cao rồi lại đến chỗ bàn ăn, từ bàn ăn đi vào phòng ngủ nơi chứa những tập bản thảo cũ mốc… Câu chuyện được tiếp diễn qua vài ba vòng lặp như thế, để cứ mỗi một lần như lát cắt phạm, Fuentes tung ra sự thật từng chút một; từ cô gái trẻ xanh xao không bao giờ dùng bữa, cho đến sự xuất hiện hầu như bất động khi có mặt đồng thời bà góa và cô nàng thanh xuân, cho đến con thỏ và cuối cùng là ba đêm tội lỗi. Tuy Stevenson rất có thể nói là người đặt nền móng cho yếu tố kỳ ảo đậm chất Latin trong tác phẩm của mình; thế nhưng Fuentes mới là người nhân nó lên và biến nó trở thành đặc biệt. Olalla của Stevenson đến sau cùng vẫn tồn tại và có thật, cô không giống Aura của Fuenets, mang nhiều dáng hình cũng như cảm xúc. Fuentes với cách viết nhiều vòng tròn đồng tâm lan ra từ từ, kết hợp với yếu tố gothic – kinh dị, khóa chặt người đọc vào văn bản của mình. Ông là nhà văn thiên về tâm lý, trong khi Stevenson chỉ đơn giản thuật lại, tuy là mới mẻ nhưng không đào bới tận cùng. Với hai cách diễn đạt khác nhau, nhưng bất ngờ thay, sau cuối cả hai đều là những câu chuyện tình đau thương. GIỌT MÁU CHUNG TÌNH Tuy tiếp cận câu chuyện từ hai hướng và hai phong cách viết, thế nhưng ẩn sau tầng tầng lớp lớp yếu tố kì dị, thì tình yêu ngăn cấm là thứ mà hai nhà văn hướng đến. Stevenson không những dùng sớm yếu tố kì ảo, mà còn cho thấy vấn đề muôn thủa của lục địa này, để rồi sau đó chính Marquez sẽ nhân nó lên làm thành tác phẩm huy hoàng nhất của mình – hôn phối cận huyết. Chính yếu tố sáng rõ này là thứ phân đôi tình yêu của Olalla và chàng lính trận, để kết thúc dòng máu suy vong, để ấn định cái kết của một gia tộc. Có lẽ nào chính ngọn gió độc, tiếng thét điên cuồng của bà mẹ điên trong đêm đen thẫm hay cơn khát máu bập vào thịt sống; là những dấu chỉ rõ nhất cho thứ bệnh điên cần được loại bỏ? Hơn một lần Olalla cầu xin chàng ta rời khỏi nơi đó, để cuối cùng trên ngọn đồi cắm phập thánh giá, một lần nữa họ gặp lại nhau để Stevenson “thánh hóa” sự hy sinh của tình yêu không được đền đáp. Lần gặp thứ hai như xác tín cho đức tin, sự minh triết cũng như những gì họ đã bỏ qua. Cũng thư thế, Fuentes mất đến ba đêm để chắc chắn thứ trước mắt chàng Montero không là ảo ảnh. Từ hành động lột da dê song song ở hai người đàn bà, một ở bếp và một ở phòng ngủ, Montero bắt đầu có những nghi ngại đầu tiên. Thế nhưng bởi dục vọng chìm đắm trong sắc đẹp của Aura, chàng đã ở lại với đôi mắt thỏ và những linh hồn lẩn khuất trong đêm. Đêm đầu tiên, chàng cảm thấy da thịt của một cô gái trẻ, đúng là Aura với chiếc váy xanh mà chàng thèm muốn. Thế nhưng đến đêm thứ hai, đó đã là da thịt trưởng thành, cứng lại, rắn đanh, mang dấu ấn thời gian của người đàn bà trung niên với tình yêu dường như đã đi qua một nữa đời mình. Đêm thứ ba, đêm cuối cùng; da thịt mơn man đã về lại với nhăn nheo ở quãng đời cuối, của sự co lại, gập gềnh núi đá lởm chởm, đó cũng là khi Montero biết mình dấn thân vào câu chuyện gì. Cả Fuentes và Stevenson không kết thúc một cách rõ ràng câu chuyện của mình. Montero bừng tỉnh trong đêm thứ ba và câu thoại (hay là tuân mệnh?) đi tìm Aura thanh xuân; trong khi anh lính trẻ không ngừng quay lại để thấy Olalla đứng mãi bên cây Thánh giá. Nàng đã hóa thánh, được gột rửa sạch và nhận hết mọi tội lỗi của dòng tộc suy vong; trong khi giờ đây Montero như bị thôi miên trong những vòng màu đan cài, giữa thời khắc của cổng thời gian kéo dài ba ngày, có thể mãi mãi hay không bao giờ đóng, liệu còn gắn bó hay sẽ chia phôi với Nàng Aura, ai biết. Nhưng dẫu sao đó là chuyện tình đau thương và đầy muộn phiền của sự đứt gánh. * Là mối tương giao kì lạ của hai nhà văn ở hai thời kì, Nàng Aura và Olalla mang trong mình sự tương đồng ở nhiều yếu tố trong cốt truyện, thế nhưng bằng phong cách viết cũng như triển khai cốt truyện khác nhau, phản ảnh 1:1 giữa hai tác phẩm cho ta góc nhìn thú vị về câu chuyện tình yêu vừa đẹp đẽ nhưng cũng đau đớn. Stevenson dưới cách thể hiện khác lạ nhiều yếu tố Latin mang đến Olalla lạ lẫm và đầy say mê; trong khi Fuenetes quán triệt đặc trưng của lãnh địa mình, hình thành một vòng thời gian khác lạ và đầy thôi miên. Một sự tương đồng độc đáo. Review của độc giả Ngô Minh – Nhã Nam reading club *** “NÀNG AURA” (Carlos Fuentes) – Nhân duyên tiền định hay dục vọng vô biên? Ra mắt năm 1962,*** Nàng Aura*** ***(Aura) ***là một trong những tiểu thuyết nổi tiếng nhất của tác giả Carlos Fuentes, cũng là một trong những đại diện tiêu biểu nhất của nền văn học Mỹ Latin đương đại. Vinh dự được trao giải thưởng cao quý Miguel de Cervantes Saavedra, tác phẩm đã đưa Fuentes trở thành một trong những tượng đài lớn của văn học Mỹ Latin bên cạnh Gabriel Garcia Marquez, Mario Vargas Llosa, … Câu chuyện của Nàng Aura bắt đầu từ đoạn tình cảm lỡ dở, gập ghềnh và trắc trở kéo dài 27 năm đằng đẵng giữa Giorente và Consuelo. Khi còn trẻ, họ đã đến với nhau bởi tiếng sét ái tình và trở thành đôi vợ chồng đầu ấp tay gối đến tận lúc đầu bạc răng long. Tưởng rằng cái c.h.ế.t sẽ là dấu chấm hết cho mối tình đẹp đẽ, nhưng Consuelo lại không nghĩ như vậy. Consuelo sở hữu một pháp lực trời ban, cùng niềm khao khát thanh xuân vĩnh cửu, bà đã nhập thân vào hình hài cô gái đôi mươi Aura để sống một cuộc đời trẻ mãi không già. Nhưng cũng bởi vậy, bà cũng phải chứng kiến sự già đi rồi chết dần của Giorente, người mình yêu thương nhất. Cứ vậy, suốt 27 năm về sau, Consuelo, trong thân phận “nàng Aura”, vẫn sống một kiếp đời bất tử trong nỗi nhớ nhung da diết giày vò từng ngày từng đêm. Để rồi khi một chàng trai trẻ tên Felipe xuất hiện, ngọn lửa tình yêu cuồng nhiệt lại nhen nhóm trong Consuelo một lần nữa. Bởi Consuelo biết, anh chính là chuyển thế của Giorente, được định mệnh sắp đặt để tái ngộ với bà. Cách Felipe đến với “nàng Aura” hệt như Giorente thuở nào, từ ánh mắt si tình chỉ trong lần đầu gặp gỡ “nàng Aura”, đến cái cách anh nâng niu từng trang sách lịch sử, những trang hồi ký của người chồng quá cố. Tiếc rằng, chỉ có khuôn mặt kia, đã không còn là Giorente bà từng biết nữa. Nhưng với ma pháp cao cường của Consuelo, bà rắp tâm biến mọi thứ không thể phải thành CÓ THỂ. Một âm mưu kinh hoàng dần được bày ra, với hàng loạt những ám thị nối đuôi nhau. Những bí mật khuất lấp dần được hé lộ, về người đàn bà Consuelo, và về ngôi nhà cổ quái của bà ta. Một bí mật về tuổi xuân vĩnh cửu, về dục vọng ẩn sâu. Và đó cũng là câu chuyện tình vượt thời gian, vượt qua cả cái c.h.ế.t, bất chấp mọi giới hạn mà con người có thể tưởng tượng ra. Bằng một câu chuyện giản đơn chỉ vỏn vẹn chưa đầy trăm trang giấy, Carlos Fuentes đã dẫn độc giả bước vào không gian Mỹ Latin cổ xưa đậm chất Gothic ma mị nhưng không kém phần quyến rũ. Lồng ghép trong một câu chuyện tình vượt thời gian, cốt truyện cũng sử dụng những nút thắt mở tài tình, khiến cho độc giả phải xoay mòng mòng trong những giác cảm mơ hồ giữa thực và mơ, giữa quá khứ và hiện tại. **Nàng Aura **bắt đầu bằng một không gian Mỹ Latin đầy hoài niệm: đó là khung cảnh những dinh thự cổ có kiến trúc kiểu Baroque Mexico từ thời thuộc địa, với những bức tượng thánh cổ quái cùng những hành lang tróc sơn cũ kĩ. Ở nơi đó cũng thấp thoáng những dấu hiệu chuyển giao thời đại, với những khu dân cư hỗn tạp đủ mọi mọi ngành nghề dần chiếm chỗ khu dinh thự, với nhịp sống hối hả và bộn bề tấp nập đang từng bước thay thế đời sống cũ. Những đoạn văn gợi tả đó, dù chỉ ngắn gọn trong vài trang đầu, nhưng đủ để làm nền cho cảnh trơ trọi lẻ loi của ngôi nhà cổ quái của Consuelo giữa trung tâm khu phố xưa, làm bật lên vẻ ma mị đáng sợ cổ quái với những ai ghé thăm nơi đây lần đầu tiên. Motif kinh dị lãng mạn của** Nàng Aura** có thể nói là không quá mới mẻ, nhưng chất liệu Mỹ Latin lại là nhân tố đáng chú ý khiến mình phải lưu tâm tới. Không gian trong Nàng Aura được bao trùm bởi màu sắc hiện thực huyền ảo hiển hiện trong nhiều chi tiết, từ sự già đi bất thường của “nàng Aura” đến màn hóa thân gây choáng váng của nàng. Nó còn ẩn hiện trong những hành tung kì quái và sự xuất hiện đồng thời của cả hai người phụ nữ là Consuelo và “nàng Aura”, đến những ảo giác ma quỷ thoắt ẩn thoắt hiện trong tiềm thức Felipe mỗi đêm. Không chỉ vậy, Carlos Fuentes cũng thể hiện xuất sắc trong việc khắc họa bầu không khí Gothic vừa quỷ dị vừa huyền ảo trong căn nhà của Consuelo. Ngôi nhà bị bao trùm bởi bóng tối dày đặc, chìm nghỉm lúc nhúc giữa các tòa nhà hiện đại đan xen nhau, tựa như hình ảnh người chủ nhân phải chịu cảnh cô đơn hiu quạnh suốt năm tháng. Trong cái không gian chật hẹp đó, những tiếng mèo kêu nhức óc, lũ chuột và con thỏ mắt đỏ được thêm thắt vào như là những yếu tố gợi mở đầy ẩn ý. Trong căn phòng được bày ngổn ngang các dụng cụ thờ cúng, nhưng thực ra lại để dành cho một nghi thức tà đạo ma quái. Chỉ có ánh nến lờ mờ dường như là nguồn sáng duy nhất hiện diện giữa bóng tối u minh. Nhưng đâu ai biết, những lúc chập chờn, lúc chạng vạng có hay mới là lúc ma quỷ hiện diện rõ ràng nhất. Sự khắc họa những góc tối sâu thẳm trong nhân tâm của truyện cũng khiến mình băn khoăn rất nhiều, trước khi nút thắt cuối cùng được bật mở. Đó là một Consuelo bị ám ảnh bởi cái c.h.ế.t và tuổi xuân vĩnh hằng. Đó là Giorente – kẻ mà dù ở kiếp nào, dù mang hình hài Llorente hay Fellipe, đều tỏ rõ là hạng người dễ bị cám dỗ bởi dục vọng và dường như không có khả năng kháng cự lại nó. Nực cười là, Giorente đã từng chê trách rằng Consuelo “đã từ thiên thần hóa quỷ dữ”, rằng bà đã quá tham lam khi cố níu kéo thanh xuân, nhưng chẳng phải chính bản thân ông ta, ở cả hai kiếp sống, cũng không thể cưỡng lại sự ham muốn với vẻ đẹp của “ác quỷ” đó sao? Chẳng phải chính ông cũng giấu trong lòng cơn thèm khát không thể tả bằng lời với nét thanh xuân rạng rỡ của “nàng Aura” sao? Tuy vậy, khi gấp lại cuốn sách, mình hoàn toàn không cảm thấy đáng sợ hay căm ghét họ, bởi xét cho cùng, dục vọng của họ chỉ là đại diện cho ước mơ muôn thuở của con người. Khi còn trẻ, chúng ta giống Felipe, khao khát yêu đương, khao khát sống hết mình vì tuổi trẻ. Còn khi về già, chúng ta trở thành Giorente và Consuelo, lại hoài niệm về thanh xuân, hoài niệm đến ăn mày dĩ vãng, dẫu cho đó là điều bất khả không bao giờ trở thành hiện thực được, chỉ trừ trong** Nàng Aura.** Review của độc giả Kiên Trần – Nhã Nam reading club Mời các bạn mượn đọc sách Nàng Aura của tác giả Carlos Fuentes & Phạm Triệu Lập (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Lãng Quên Em Sau Mùa Vũ Hội
Với giọng điệu duyên dáng và hóm hỉnh, “Lãng quên em sau mùa lễ hội” của nhà văn lãng mạn người Mỹ - Julia Quinn khiến độc giả cảm thấy mình yêu đời hơn và muốn được, dù chỉ một lần, nhấm nháp chút men nồng của tình yêu. 12 năm - đó là khoảng thời gian dành cho mối tình đơn phương của Penelope dành cho người đàn ông hấp dẫn nhất London - Colin Bridgerton. Tiểu thư nhà Featherington đã bị "sét đánh" trước tuổi mười sáu cho tới khi trở thành "gái già". Từng ấy thời gian cho một câu chuyện tình xuất phát từ một phía là quá dài, thậm chí tới mức nhàm chán nhưng với Penelope thì không hẳn như vậy. Và cô gái già này đã tỏa sáng theo cách riêng của mình. Kể về một mối tình lãng mạn đặt trong bối cảnh cuối thế kỷ XIX, Lãng quên em sau mùa vũ hội mang tới một góc nhìn châm biếm về xã hội thượng lưu Anh. Đó là nơi mọi người giết thời gian bằng ti tỉ những câu chuyện phiếm mà gia vị tăng giảm phụ thuộc vào kỹ năng hóng hớt của các bà các cô. Và người đã mạnh dạn đứng ra châm ngòi cho cái nhìn hài hước là một nhân vật bí ẩn, ký bút danh là phu nhân Whistledown cùng sự xuất hiện của Thời báo Xã hội mỗi tuần ba số. Với những thông tin chính xác cùng cách điểm mặt đích danh các nhân vật có thật, các bài báo của phu nhân Whistledown nhanh chóng trở thành liều thuốc buôn chuyện cho giới thượng lưu ở London. Và cho dù Penelope xuất hiện lần nào cũng chua chát lần đó, nhưng hãy chờ xem một cái kết có hậu được dự đoán ở phần cuối của cuốn sách này. Chẳng có thần may mắn nào mang tình yêu tới cho Penelope ngoài chính cô. Không như vẻ ngoài khá mờ nhạt cùng tốc độ ngôn ngữ luôn phản ứng chậm hơn so với điều lẽ ra phải xảy ra, đó là một cô gái vô cùng đặc biệt mà chỉ có những người nào thật hiểu cô mới cảm nhận rõ điều đó. Và nếu như tình yêu duy nhất của cô – Colin là một người đàn ông nhạt nhẽo, chỉ thích rong chơi qua những chuyến du lịch thì có lẽ chẳng có chuyện gì xảy ra. Penelope không chỉ là một cô gái luôn đứng bên rìa các vũ hội, cô có khả năng làm nhiều chuyện to tát hơn là nhăm nhe tìm cho ra đức lang quân tại đó. Chính những hành động mà cô đã can đảm thực hiện vượt qua ngoài quy tắc thông thường đã đánh thức Colin biết cảm nhận và chiêm ngưỡng cô đến mê muội. Với tác phẩm Lãng quên em sau mùa vũ hội, nhà văn lãng mạn người Mỹ - Julia Quinn mang tới một giọng điệu duyên dáng và hóm hỉnh. Làm thế nào để một cô gái già chinh phục được người đàn ông quyến rũ nhất London? Đó là một giấc mơ thật ngọt ngào và thú vị. Đọc sách Lãng quên em sau mùa vũ hội, độc giả sẽ cảm thấy mình yêu đời hơn và muốn được, dù chỉ một lần, nhấm nháp chút men nồng của tình yêu. Và khi yêu, mọi điều kỳ diệu nhất đều có thể xảy ra. Tại sao lại không? *** Julia Quinn (tên thật Julie Pottinger) là nhà văn Mỹ nổi tiếng trên khắp thế giới với các tác phẩm lãng mạn lịch sử. Các tác phẩm của bà đã được dịch ra 24 thứ tiếng, 16 lần được đứng trong danh sách New York Times Bestseller, ba lần đoạt giải RITA và Chuyện xảy ra ở London đã mang lại cho Quinn giải RITA năm 2010. Julia Quinn đã tốt nghiệp trường Harvard chuyên ngành Lịch sử Nghệ thuật và từng học y tại Yale trước khi quyết định dành toàn thời gian cho viết lách. Bà bắt đầu sáng tác khi vừa rời trường trung học, và thành công ngay từ các tác phẩm đầu tay. Năm 2010, bà đã được ghi danh tại Bảo tàng Danh vọng các Nhà văn Lãng mạn Mỹ.   Những tác phẩm của Julia Quinn đã được xuất bản: Như Chốn Thiên Đường - Julia Quinn Tử Tước và Em - Julia Quinn Nhật Ký Bí Mật của Tiểu Thư Miranda - Julia Quinn Công Tước Và Em - Julia Quinn Săn Lùng Quý Cô Thừa Kế - Julia Quinn Rồi Cũng Khép Những Tháng Ngày Đơn Độc - Julia Quinn Chuyện xảy ra ở London - Julia Quinn Rạng rõ hơn Ánh Mặt Trời - Julia Quinn Hẹn Ước dưới Vầng trăng - Julia Quinn Tiểu Thư Tinh Ranh Bí Mật Của Những Nụ Hôn Một Mình Yêu Anh Vì Cô Bridgerton Cô Gái Với Niềm Tin Vợ Chồng Lãng Quên Em Sau Mùa Vũ Hội ... *** Penelope Featherington, Colin Bridgerton: Năm ngoái mình đọc một cuốn gì đó của Julia Quinn hoặc đại loại của một tác giả lãng mạn phương Tây nào đó và tự nhiên không có một chút ấn tượng nào về thể loại này cho đến khi mình tìm đọc nhiều hơn từ các tác phẩm của Mary Balogh – viết về những người phụ nữ luôn mỉm cười lạc quan, Barbara Cartland – với những cô gái luôn phải vượt qua rất nhiều nghịch cảnh và đến Julia Quinn – mình đã yêu điên cuồng những người phụ nữ giản dị nhưng đầy cá tính. Còn đang ước ao sao không đọc về những tác phẩn của Julia sớm hơn. Bàn về cách hành văn, ngôn ngữ rất tinh tế, những câu thoại hóm hỉnh, thông minh, các tình tiết không thừa không thiếu, nhân vật được đặt vào trung tâm của câu chuyện. Một điều đặc biệt, từ khi đọc sách cho đến tận lúc này, chưa bao giờ mình khen tác giả viết về chuyện làm tình của nhân vật mà đẹp đến như vậy. Hoàn toàn không có chỗ cho sự dung tục trong giây phút riêng tư ấy, mình gần như cảm nhận được sự tôn trọng, dịu dàng lẫn trong sự cuồng nhiệt cháy bỏng của Colin bị nàng Penelope hút lấy cả tâm hồn lẫn thể xác. Thật vậy, những nụ hôn không chỉ khiến con tim của bạn đọc ngất ngây, Julia đã thổi những tình cảm đầy mê hoặc vào từng cái vuốt ve, từng điệu cuốn lưỡi, từng sự đụng chạm rụt rè đầy quyến rũ. Quả thật không hổ danh cho người đã từng học Havard! Penelope là một cô gái nhà Featherington, có một khởi đầu không mấy tốt đẹp trong mùa lễ hội ra mắt. Cô tự ti vì thân hình thừa cân, lại bị gói trong những bộ váy sặc sỡ hoàn toàn không phù hợp với nước da và vóc dáng của mình. Hai năm liên tiếp sau đó, cô luôn thiếu sự tin tưởng vào hình thể và không được quyền lựa chọn càng làm cho cô gái chán nản, dần dần đẩy cô sang bên lề của sàn khiêu vũ. Cô càng ngày càng có thể điêu luyện trong việc trở nên vô hình trong mắt mọi người xung quanh. Colin – ngược lại, là một chàng trai phong tình đầy quyến rũ, chưa có cô gái nào có thể làm khó chàng hay giữ được con tim của chàng trong chốc lát. Lần đầu tiên Penelope gặp Colin, cô đã hạ “đo ván” chàng bằng một cú ngã ngựa giữa công viên đông đúc. Vậy mà Colin dường như không xấu hổ, anh còn trêu ghẹo cô bé Penelope mười sáu tuổi khiến cô ngẩn ngơ, trái tim đập dồn dập và cô dường như đã yêu anh từ cái nhìn đầu tiên trong ngày nắng rực rỡ ấy. Và rồi mỗi năm vào mùa vũ hội, cô gái Penelope lại trông chờ lời mời khiêu vũ từ Colin – mà cô luôn tin chắc rằng anh mời cô vì mẹ anh bắt buộc, vì anh thấy thương hại cho sự “ra rìa” của cô trong giới quý tộc. Bảy năm sau, tình hình vẫn vậy, cô vẫn lặng lẽ trở thành một “gái già” bên cạnh cô bạn thân Eloise nhà Bridgerton. Mặc dù không quyết tâm làm bà cô, nhưng hai cô gái dường như đồng cảm và mặc nhiên chấp nhận cái sự ế ẩm của mình và không còn bị các bà mẹ lo sốt vó trong việc cưới gả nữa. Đang yên tâm với cuộc sống làm người tháp tùng và bám váy mẹ đến già, Penelope bị Colin “bắt bài”, anh dần dần phát hiện ra một Penelope mà chưa ai từng khám phá ra. Cô gái tưởng như vô hình đó lại chính là bản sao của phu nhân Danbury – một góa phụ rất cá tính, luôn đối đầu với tất cả mọi quý tộc, nhận xét thẳng thắn, bộc trực, hay châm biếm các thói quen rởm đời cũng như sự giả dối trong tình cảm nhưng cũng là người có lý có tình. Và phu nhân Whitledown chính là một phiên bản bí ẩn của phu nhân Danbury trên thời báo Xã hội. Người phụ nữ bí ẩn đó bắt đầu viết các bài báo châm biến giới quý tộc London từ năm Penelope bắt đầu bước chân vào các bữa tiệc. Với các bài báo châm biếm sắc sảo và công khai danh tính của từng người cụ thể, phu nhân Whitledown – hay còn gọi là phu nhân Tuýt còi gọi thẳng tên những bí mật xấu xa hoặc những thói khoe khoang của đám người rỗi hơi ấy. Và chính phu nhân Danbury cũng dần dần phát hiện ra Penelope rất có tài trong việc tự giấu mình cũng như thỉnh thoảng đưa ra những nhận xét rất đúng bản chất sự việc. Hai con người – một già một trẻ, một tự tin một nhút nhát ấy đặc biệt có cảm tình với nhau. Bà đã gây không ít ảnh hưởng thúc đẩy Penelope dần dần quay về với con người cô luôn che dấu. Và đúng lúc đó, Colin đã để mắt đến cô. Họ đã quen biết nhau nhiều năm, cô từng yêu, hâm mộ, hy vọng anh để mắt và ôm mối thất vọng mỗi năm một lớn dù tình yêu trong cô chưa bao giờ nguội lạnh. Rồi tình cờ, Penelope đọc được một trang nhật ký của Colin viết về những nơi anh đã đi qua, những trang viết làm cô ngạc nhiên vì khơi gợi biết bao cảm xúc trong lòng người đọc và những đồng cảm với người viết. Colin ngược lại khi phát hiện ra cô đọc lén nhật ký của anh đã rất tức giận, vì một phần anh xem đó là sự riêng tư của anh, nhưng phần lớn anh tự ti với những viết lách ấy mà anh nghĩ nó không làm cho anh mạnh mẽ hay giúp anh có một sự nghiệp để đời. Anh cảm thấy mình lông bông, không thành tựu trong tay, trong khi đó anh trai Anthony là một tử tước rất có trách nhiệm, và Benedict là một họa sĩ vẽ tranh phong cảnh được công nhận. Và cũng nhờ việc xem lén nhật ký mà hai người dần dần sít lại gần nhau hơn, cô thuyết phục anh xuất bản những ghi chép thú vị của mình, anh cũng nhờ cô cho ý kiến về chúng khi anh phát hiện ra cô có thể đưa ra những nhận xét tinh tế và đầy thấu hiểu. Rồi một ngày anh tình cờ phát hiện ra hành tung cực kỳ lạ lùng của cô khi cô lên một chiếc xe ngựa và đi đến khu đông London – một nơi đầy nguy hiểm cho một cô gái quý tộc nhỏ bé không có người đi kèm. Một bí mật tày trời mà anh đột ngột phát hiện ra cô chính là phu nhân Whistedown đầy bí ẩn mà cả giới quý tộc săn lùng bấy lâu nay. Anh đánh giá rất cao sự xuất sắc của cô trong sự nghiệp viết báo và khả năng che dấu suốt mười năm trời nhưng đồng thời cũng cảm thấy ghen tỵ vì cô gái nhỏ đã có một sự nghiệp lớn trong khi anh cứ trôi dạt suốt chừng ấy năm. Và anh cũng đột ngột ý thức được những hoàn cảnh khó khăn mà cô phải đối mặt khi thân phận đặc biệt này bị phát hiện. Vì không muốn cô bất lợi, bị gạt ra khỏi giới thượng lưu vĩnh viễn, anh đã cấm cô không được viết báo nữa. Hành động này làm cô hiểu lầm rằng anh cảm thấy xấu hổ vì những gì cô làm. Cho đến khi, nhân vật luôn tranh cãi và hạ thấp cô – cô bạn Cressida vạch trần thân phận thật sự của phu nhân Whitledown phía sau Penelope. Cô những tưởng không còn cách nào để đối mặt với khó khăn này thì Colin đã không chần chừ quyết định thay cô công bố với toàn xã hội rằng cô chính là người phụ nữ đầy quyền lực trong bóng tối, người đã duy trì vị thế thổi còi mọi điều bí ẩn của London trong suốt mười năm trời, người đã đưa ra những nhận xét vô cùng xác đáng và chưa bao giờ châm chích những con người tự trọng khác. Anh vui sướng thông báo cho toàn thể thế giới rằng cô gái Penelope không nổi bật ấy chính là một báu vật trong lòng anh và cô không hề tầm thường chút nào. Cô cuối cùng cũng buông bỏ được trách nhiệm làm người thổi còi, chấp nhận tình yêu của anh và còn động viên anh xuất bản cuốn sách du lịch mà anh đã chắp bút trong suốt những năm di chuyển không ngừng. Chàng trai quyến rũ và mải mê phiêu dạt đã tìm được vùng đất hạnh phúc của mình có tên Penelope. Chàng và nàng sẽ hạnh phúc mãi mãi về sau. Cô gái Penelope có chút đặc biệt trong lòng mình khi cô đã dũng cảm thực hiện một việc rất mạo hiểm nhưng cũng đầy thú vị trong các xã hội đầy sự nhàm chán và không ít giải dối. Tuy là một cô gái không nổi bật về ngoại hình, nhưng vẻ đẹp bên trong tâm hồn và sức mạnh từ những nhận xét sắc sảo đã làm nên một Penelope cá tính khác thường trong lòng Colin. Cô sẽ là phu nhân anbury trong tương lai, người luôn đối mặt với tất cả những điều phải quấy, đặt mọi vấn đề về đúng vị trí của chúng và trân trọng những con người tự trọng quanh mình. Mình luôn phải lòng những cô gái mạnh mẽ, có chút lạ lùng và rất bình thường ấy, họ chính là chúng ta trong một khóa cạnh nào đấy, trong một lúc nào đó và trong mắt một ai kia Review Zoe Tran   Mời các bạn đón đọc Lãng Quên Em Sau Mùa Vũ Hội của tác giả Julia Quinn.
Chuyện Tình Của Hầu Tước Montespan
Vào thời Vua Louis XIV, các quý tộc có vợ được vì vua chuyên chế để mắt tới là cả một niềm vinh hạnh cho dòng tộc. Cái ngày mà Vị Vua-Mặt Trời này đưa cặp mắt tình đặt lên tấm thân ngọc ngà của nữ Hầu tước De Montespan, giới quý tộc ở Versailles đều chúc mừng sự may mắn của đấng phu quân. Nhưng đấy là họ chưa biết hết tính cách của Louis-Henri Pardailan, Hầu tước De Montespan! Là một người chồng hạnh phúc, yêu vợ đến mê muội, chàng không chịu nổi cảnh vợ mình rơi vào tay con người có quyền lực mạnh nhất toàn cầu hồi ấy. Nơi mà vợ chàng, người đàn bà đẹp nhất nước Pháp bấy giờ đã từng phải thốt lên với chồng : “Versailles là một thế giới khủng khiếp và sẽ chẳng có cái đầu nào không quay cuồng ở đó. Triều đình làm thay đổi cả những con người kiên định nhất”. Ngay từ lúc khám phá ra điều bất hạnh của mình, chàng đã dùng mọi phương tiện, từ cao ngạo, hỗn xược đến ti tiện để chứng tỏ cho nhà vua thấy rằng ông ta chỉ là kẻ đớn hèn, lấy cắp vợ của kẻ khác. Hầu tước đã trở thành trò cười cho thiên hạ khi chàng cho trang trí trên chiếc xe tuyệt mỹ của mình một cặp sừng nguy nga. Chàng từ chối tước hiệu, bổng lộc, những cơ hội đầy hứa hẹn mà nhà vua hứa ban tặng nếu chàng để mắt làm ngơ trước cuộc tình của Vua và vợ mình. Chàng từ chối hết thảy, đơn giản là chàng không rao bán vợ mình. Bất chấp những thủ đoạn đê tiện liên tiếp được Vua tung ra, đến những vu cáo phải đưa ra tòa xét xử, đến những ngày ngồi tù, gia tài đình đốn, suy kiệt, và cả những âm mưu ám sát, chàng vẫn cứ tiếp tục đeo đuổi lòng hận thù đối với con người đầy quyền lực hòng lấy lại vợ mình. Jean Teulé đã đằm mình vào trong quá khứ vinh quang của hoàng gia Pháp, bới tìm tất cả những thói thường diễn ra trong tầng lớp quý tộc. Những trò giả dối, đạo đức giả, lừa gạt tiền, tình… đằng sau những hào nhoáng là chất đầy những trò sa đọa, đàng điếm, con người luôn rình rập những thất thế của người khác để dè bửu, nhạo báng lẫn nhau. Tình cảm, tình thương yêu của con người đều được đem ra tính bằng chức tước bổng lộc. Tình vợ chồng mong manh… Gấp lại cuốn sách, chúng ta phần nào thấy được quá khứ của xã hội Pháp, nhưng phải chăng điều ấy giờ đây vẫn giữ nguyên giá trị của nó. Tác phẩm như một áng thơ ca, ca ngợi tình yêu, tình người bất diệt mà như tạp chí Nouvel Observateur đã viết: thật tài, đó như là một điều kỳ diệu của nền văn học Pháp. Bạn đọc có thể bị xáo trộn tâm hồn, bị đè nén, nhưng lại cười, cười với niềm hy vọng mạnh mẽ nhất. Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc. Công ty CP sách An Tiêm.   Nhà Vua đã cho thúc trống dậy Nhà Vua đã cho thúc trống dậy Để nhìn tất thẩy các lệnh bà Và người đầu tiên Người nhìn thấy Đã khiến tâm hồn Người ngất ngây. Hầu tước, nói đi, ngươi biết người ấy chứ? Hầu tước, nói đi, ngươi biết người ấy chứ? Lệnh bà xinh đẹp đó là ai? Và Hầu tước đã tiếp lời: «Tâu Bệ hạ, đó chính là vợ tôi…» (Bài hát của Saintonge, thế kỷ XVII) *** Thứ bảy ngày 20 tháng giêng năm 1663, vào quãng mười một giờ khuya, lúc ra khỏi Palais - Royal, nơi Đại công tử - em trai Vua - tổ chức một đêm khiêu vũ rầm rộ, thì hai thanh niên, được sáu người khác theo sau, lao vội vã vào trong phố. Họ mắng chửi nhau trong ánh sáng lóa của lông mũ và đăng ten. - Fils de prêtre! - Cul-vert!* • Tác giả chơi chữ, đồng âm khác nghĩa. Fils de prêtre: đồ con cha xứ (hay cũng có thể hiểu là đồ quạ con, khi thóa mạ nhau).Cul-vert: đồ nô lệ vừa được giải phóng. Một người cao gầy nhỏng, môi loe hếch ngược phô hết cả hàm lợi, trong trang phục sặc sỡ, tô điểm kim cương lấp lánh, xô một tên nhỏ thó bụng phệ đội tóc giả đen làm ra vẻ ta đây to lớn vì đôi giầy của hắn cao hết sức. Đeo đầy nhẫn và vòng tay, tên này vừa đi loạng choạng trên gót giầy, vừa như ngạt thở: - Cul-vert à?! La Frette ư! Ta, hoàng thân xứ Chalais mà mi dám coi ta là nô lệ được giải phóng ư? - Ông hoàng của những kẻ ham tình dục đồng giới thì có, đúng thế, đồ đít xệ! Hệt như Đại công tử, mi thích công tử bột hơn là đàn bà ba hoa. Còn ta, ta ghét cay ghét đắng thói đồi bại Ytalia. Mi hả, mi qua Naples mà không cần dùng cầu*! • Ý chỉ bọn đồng tính luyến ái. (Tất cả chú thích trong truyện là của người dịch). - Ối! Trong suốt cuộc cãi cọ này, cánh cửa phòng khiêu vũ, đã khép lại, vẫn được đèn rọi rất sáng, ồn ã tiếng nhạc, bốc hơi nghi ngút, đầy những động tác cuồng loạn của các vũ công, còn đây, tám người bọn họ, hiện có mặt trong bóng đen băng giá của đường phố. Một tên gù, ngồi chồm hỗm sát một cái cột, cầm một ngọn đèn sáng được đặt trong một cái bong bóng lợn, treo nơi đầu gậy, liền đứng lên ngay, đi về phía họ và gọi gióng từ xa: - Một cây đèn soi đường đưa các ngài về nhà chứ ạ, thưa các Đại công tử?… Bị thọt, hắn đi khập khiễng, người lắc lư. Tóc ép sát tận da đầu, thắt lại sau gáy thành dây giếng, hắn đi vòng quanh họ với chiếc đèn lồng chiếu sáng từng khuôn mặt. Tên Chalais nhỏ bé giang tay tát La Frette, đầu người này lắc mạnh, phả ra một làn bụi phấn đậu tằm. Bị xỉ nhục, tên cao lớn ngậm miệng, mím môi trùm kín hai hàm răng mà hắn đã trang điểm theo lối Hà Lan - quệt bơ vào các lỗ răng sâu, răng cửa và răng nanh, và do vậy mà hắn phải bành miệng, nhe lợi để làm lạnh khối bột sữa nhão ấy, tránh cho nó khỏi chảy ra. Nhưng hiện giờ, đang cơn bực tức cao độ, hắn nghiến chặt môi thành hình đít gà và phồng má trong một mối oán giận nóng bỏng. Khi hắn mở miệng trở lại, ôi thôi lũ răng của hắn trôi đi: «Cậu đã thấy chưa hả, Sain-Aignan? Nó đã tát…» - Mi đã tát anh trai ta hả, cul-vert? Một hiệp sĩ cộc cằn ác độc mười chín tuổi, đội mũ đính nhiều lông dài chĩa tua tủa và một mắt bị chột do đậu mùa, đứng sững trước Chalais. Tên xách đèn lồng, chào hàng dịch vụ chiếu sáng di động cho cả hai bên, biện bạch hành động của mình: - Đêm tối, lũ bất lương, kẻ cướp đường và bọn con trai tồi tệ, thường rình rập khách qua đường đang hối hả trở về nhà… Tám thanh niên đeo tóc giả*, chia thành hai bang, diện mạo báng bổ, tạo những bộ mặt gớm ghiếc, giằng xé các mảnh vải lụa và ru-băng trên trang phục của nhau. Tên xách đèn lồng nâng cái bong bóng sáng của mình lên: Một trong số họ, người vừa bị rủa: «Flamarens, đồ tồi đàng điếm», có vẻ mặt nhợt nhạt. Hắn đã lấy bút vẽ tự họa những đường ven giả xanh lơ, màu của giới quý tộc và của máu tinh chất. Kẻ xách đèn lồng hạ chùm sáng xuống, những cặp giầy trên nền đường lát đá bắt sáng lấp lóa. Dầu bắt đầu bốc hơi: • Đeo tóc giả là biểu trưng rất thịnh hành của giới quý tộc trong thời Vua Louis XIV tại Pháp. - Năm sol một cuốc đê! Năm sol có là gì khi mà, như các ngài đây, đeo đế giày đỏ của những quý tộc gia chứ? Một lưỡi kiếm hiểm độc bốc mùi bội phản được rút ra lóe sáng, khoắng một nhát lên một khuôn mặt còn đang ngỡ ngàng: «Noirmoutier!» Kẻ bị rách mặt, tay kéo thanh kiếm, muốn xọc thủng Noirmoutier như một con lợn. Kẻ mà hắn gọi là d’Antin - «D’Antin, chớ có dính dáng vào đây nhé!» - dẫu vậy vẫn can thiệp vào trận ẩu đả đang có chiều hướng trở nên trầm trọng: «Ê, này, hãy cư xử cho đúng mực đi!» Tên xách đèn lồng nhẩy ngay theo ý anh ta: - Đúng thế, hãy cư xử cho đúng mực… khu rừng tối tăm nhất và ít người qua lại của Triều đình ở gần Paris là một nơi chắc chắn. La Frette nhổ thẳng đám bơ hơi quện trong những gốc răng sâu của mình vào mặt Chalais: - Đồ ruột rỗng, hẹn ngày mai trên bãi hoang tu viện nhé! D’Antin chết đứng người: - Bãi cỏ ư? Các người điên hết cả rồi! Các chỉ dụ đã… Nhưng tên La Frette cao lớn bị xúc phạm, đứng gần Saint Aignan, ra lệnh: - Arnelieu, Amolly, ta đi thôi. Bốn người đi về phía những ô cửa sổ sáng đèn của khu Tuilerie, bốn kẻ kia đi về hướng đối diện. Còn tên xách đèn lồng thì lỉnh mất, vừa ngúc ngoắc bước đi vừa đung đưa thân thể dọc theo phố Sain-Honoré. Ánh sáng trong cái bong bóng của hắn rọi lên một cái bóng gù và nhẩy nhót trên các bức tường trong khi hắn cố ghi nhớ: - La Frette, Saint-Aignan, Amilly, Arnelieu… và Chalais, Flamarens, d’Antin, Noirmou… ⁎⁎⁎ Vào lúc những tia sáng lờ mờ đầu tiên của buổi bình minh thầm lặng vừa tỏa lên trong lớp sương mù dầy đặc bao trùm hết cả bãi cỏ, và khi d’Antin nghe thấy tiếng giầy gắn khuyên bạc của hiệp sĩ Saint-Aignan bước lạo xạo trên những vũng nước đóng băng, thì anh ta quay sang bảo người đứng cạnh, là Noirmoutier, đưa cho mình lọ độc dược Schaffhouse, nó là chất tuyệt vời cho chứng bất tỉnh nhân sự. Paris yên ắng. Gà trống vẫn còn chưa cất tiếng gáy thì cánh xúc phạm Chalais, xếp thành hàng dài trước một dãy cây dẻ phủ đầy băng giá, phát hiện bóng dáng nhợt nhạt lờ mờ của bọn vô lại thuộc băng bị xúc phạm La Frette ló ra từ một cái kho chứa rơm khô mênh mông. Bọn chúng cũng vậy, gióng thẳng hàng tiến thẳng về phía kẻ thù của mình. Họ chẳng bao lâu nữa sẽ chạm mặt nhau, do cánh đồng cỏ rất nhỏ. Bên phải, những khu nhà sang trọng đang ngủ vùi. Bên trái, tu viện của dòng thánh Bru-nô với dãy hành lang và các am thầy tu mà có lẽ chẳng nên đánh động khi hét toáng những lời thóa mạ vô ích làm gì. Kiểu gì đi nữa thì cũng chẳng còn gì để nói với nhau. Họ không còn ở đoạn đó nữa rồi. Chuyện giờ liên quan đến một trận đấu tay đôi cho đến khi có kẻ hồn lìa khỏi xác đầu tiên và D’Antin cảm thấy không được khỏe dưới mái tóc giả xoăn tít nặng trịch trên đầu. Áo khoác hồng điều buông trên vai và mũ đen đội hếch lên kiểu catalogne, dẫu vậy anh ta vẫn chọn đứng trong tư thế đỏm dáng, tiến một chân lên và đặt tay cạnh sườn. Nhưng những ngón tay anh ta run lẩy bẩy. Kể từ lúc tuyên bố trận đấu tay đôi ban nãy, thì cặp mí mắt anh ta đã sưng mọng lên, một màu đỏ tấy thành quầng đã mọc trên trán, tai anh ta toát mồ hôi, một mụn ghẻ xuất hiện sau đầu, những chốc vẩy đụn lên ở cằm và dưới nách trái, khiến anh ta ngứa ngáy. Sự ngẫu nhiên đã xếp đặt cho tuổi trẻ chuyên sống trong sơn son thiếp vàng. La Frette sẽ đối đầu Chalais. Amilly sẽ được dành cho Flamarens. Noirmoutier sẽ đấu với Arnelieu, còn D’Antin nhìn thấy hiệp sĩ Saint-Aignan tiến thẳng về phía mình. Tóc xoăn kiểu Hy lạp, con người hình chim này, với những chiếc lông vũ dài và cặp mắt chột do lây bệnh từ lũ điếm trong các nhà thổ, ngắm nhìn đối thủ của mình từ trên xuống dưới, trong lớp sương mù mà không hề giảm bước, với một khuôn mặt tự tin không biểu lộ chút sợ hãi. Anh ta có vẻ thoải mái với cây kiếm trong tay sẵn sàng rửa danh dự cho anh mình. Anh ta tiến nhanh và chưng ra ánh thép của lưỡi kiếm. D’Antin tự hỏi khi nào thì hắn ta sẽ dừng lại, tập trung chú ý, nhưng kẻ kia tiếp tục tiến như thể hắn sẽ băng qua cả hàng cây dẻ. Tóc! D’Antin cảm thấy xương trên trán mình nát vụn do lưỡi kiếm xuyên thấu toàn bộ đầu mình, kéo theo đằng sau hộp sọ mớ tóc giả mà anh cố tóm lại, ngố thật… thật ngu khi chết như thế trong một buổi sáng giá lạnh và rớt thẳng lưng xuống trong chiếc quần bó màu xám ngọc trai, và bên dưới bằng lụa đỏ đã được người ta gắn chặt bằng nịt, khi mà tất cả xung quanh bạn, đã chuyển thành một cuộc tàn sát. Bên phải, ba người cùng cạ của anh rên rỉ trên cỏ ướt. Đám đối thủ bỏ đi. Tên Chalais nhỏ bé gượng đứng lên và bị sai mắt cá chân do cặp đế giầy quá cao. Hắn áp một tay lên bụng, nơi máu đang đổ xối xả. Flamarens vừa lê sau mình một chân dính máu, vừa nhẩy loi choi về phía cái bóng nhợt nhạt của một cỗ xe. Noirmoutier, vai rách nát, chạy về phía một con tuấn mã ở hướng ngược lại. Mời các bạn đón đọc Chuyện Tình Của Hầu Tước Montespan của tác giả Jean Teulé.
Thánh Địa Tội Ác
Thánh địa tội ác (Sanctuary) là cuốn tiểu thuyết của nhà văn Mỹ William Faulkner xuất bản lần đâu vào năm 1931, tác phẩm được coi là một trong những câu chuyện tâm lý bi kịch cổ điển của miền Nam nước Mỹ thời bấy giờ. William Faulkner đã miêu tả về tác phẩm này: “Đây là câu chuyện khủng khiếp nhất mà tôi có thể tưởng tượng ra được và viết nó trong chừng 3 tuần lễ.” Thánh địa tội ác kể về việc một người trinh nữ bị một tên bệnh hoạn mắc chứng bệnh bất lực - Popeye – cưỡng bức bằng một bắp ngô. Popeye là tên tội phạm nguy hiểm, hắn là tay sai của gã Goodwin buôn rượu lậu và sào huyệt của bọn chúng nằm trong một khu vực tối tăm của đầm lầy được gọi với cái tên Old Frenchman. Trong khi thực hiện âm mưu cưỡng hiếp Temple, Popeye đã ra tay sát hại đồng bọn của gã là Tommy khi tên này muốn bảo vệ cô gái. Sau khi thực hiện hành vi bẩn thỉu của mình, Popeye bỏ trốn khỏi căn nhà của Goodwin. Sáng hôm sau, Goodwin phát hiện ra cái chết của Tommy nhưng ông ta lại vô cùng sợ hãi Popeye nên không dám khai báo với cảnh sát vụ việc. Sau khi biết được vụ án mạng, cảnh sát bắt giữ Goodwin. Câu chuyện tiếp tục với cuộc chiến dai dẳng giữa Horace Benbow, một vị luật sư chính trực tìm mọi cách lôi Popeye ra chịu tội trước vành móng ngựa cho tội ác của hắn và để trả lại tự do cho Goodwin. Cuối cùng, Poyeye phải trả giá bằng một bản án treo cổ cho tội ác hắn không bao giờ muốn thừa nhận. *** Là một nhà văn nổi tiếng người Mỹ, ông được trao giải Nobel Văn học vào năm 1949. Sánh vai với Mark Twain, Robert Penn Warren, Flannery O’Connor, Truman Capote, Eudora Welty, Thomas Wolfe, Harper Lee và Tennessee Williams, ông trở thành một trong những nhà văn quan trọng nhất của nền văn văn học miền Nam nước Mỹ. William Faulkner, một trong những nhà văn vĩ đại nhất của thế kỷ XX, sinh ngày 25/09/1897 tại New Albany, Mississippi. Ông xuất bản cuốn sách đầu tiên, The Marble Faun vào năm 1924, một tuyển tập những bài thơ nhưng lại giống như biên niên sử văn học về cuộc sống ở các tiểu bang của miền Nam nước Mỹ, đặc biệt về địa danh hư cấu Yoknapatawpha, khung cảnh cho một số tiểu thuyết sau này của ông. Chẳng hạn như cuốn Sanctuary (1931), The Hamlet (1940), The Town (1957) và The Mansion (1959), ông miêu tả tỉ mỉ đời sống nội chiến ở miền Nam, chú trọng vào cuộc đời các nhân vật (đặc biệt là những thành viên trong gia đình Snopes) và sự thay đổi đạo đức trong một xã hội đang ngày càng suy đồi. Những tiểu thuyết khác của ông bao gồm The Sound and the Fury (1929), As I Lay Dying (1930), Light in August (1932), Absalom! Absalom! (1936), The Unvanquished (1938), Intruder in the Dust (1948), Requiem for a Nun (1951), A Fable (1954) và The Reivers (1962). Hai tác phẩm sau cùng đã đem lại cho ông giải thưởng Pulitzer cao quý. Đồng thời ông cũng là tác giả của nhiều tập truyện ngắn, thơ và tiểu luận. Bằng việc kết hợp chủ nghĩa tượng trưng với tiểu thuyết dòng ý thức, ông đã sáng tạo nên một phương pháp viết tiểu thuyết mới. Vào năm 1949, ông đã vinh dự nhận giải Nobel Văn học. William Faulkner mất tại Byhalia, Mississippi, ngày 06/07/1962. Thánh địa tội ác là một cuốn tiểu thuyết đi sâu vào nghiên cứu bản chất của tội ác, chứa đựng nhiều yếu tố ly kỳ, bí ẩn, dựa trên những truyền thuyết dân gian của địa phương và vụ bắt cóc có thật xảy ra với Temple Drake, thiếu nữ mười bảy tuổi, vô cùng trong sáng ngây thơ nhưng đã bị dẫn dắt vào thế giới ngầm tại Memphis - nơi cô bị những tên xã hội đen giam giữ. Nhắc tới ông, không thể không kể đến tứ đại kỳ thư nổi tiếng: -    Âm thanh và cuồng nộ (The Sound and the Fury -1924) -    Khi tôi nằm chết (As I lay Dying - 1930) -    Nắng tháng Tám (Light in August -1932) -    Absalom, Absalom! (1936) Một số tác phẩm khác đã được dịch và xuất bản tại Việt nam: Hoa Hồng Cho Emily Cọ Hoang Bọn Đạo Chích Thánh Địa Tội Ác ... *** "Tôi không thể in cuốn sách này. Hai chúng ta sẽ bị bỏ tù". Câu trả lời của Mr. Smith, biên tập viên của Faulkner tại NXB Noel Polk, người từng đỡ đầu trót lọt cuốn The sound and the fury (Âm thanh và cuồng nộ), khi nhận được bản thảo Sanctuary (*) lần đầu tiên vào tháng 1-1929, hàm ý mối e ngại trước sự khốc liệt đến mức động chạm tới ranh giới những điều cấm kỵ trong xã hội thời đó, của những hình ảnh văn chương và thông điệp nhân sinh mà W. Faulkner đưa ra trong cuốn sách. Câu chuyện vuột khỏi tầm người kể Qua hai lần trực tiếp sửa chữa, đánh máy lại trên bản thảo tác phẩm và ngay trên bộ vỗ sắp chữ của nhà in, Sanctuary được Faulkner công bố như hiện trạng, suốt từ năm 1931 cho tới nay. Cuốn sách với số phận kỳ lạ thêm một lần nữa chứng minh ý nghĩa không thể thay thế của thể loại văn chương lấy tiếng nói phản tỉnh xã hội và vượt thoát khỏi những "cấm kỵ" về đạo đức làm chủ đề trung tâm, đồng thời nó cũng tự tìm đến lối tổ chức nghệ thuật gây bất ngờ, độc đáo và sắc bén. Tương tự con đường đưa một số nhà văn sau này đến với giải thưởng Nobel văn chương: Günter Grass (1999), Elfriede Jelinek (2006)... Phần quan trọng trong "câu chuyện" của Faulkner không bao giờ được kể như những gì đang diễn ra, với sự chứng kiến tỉnh táo, đáng tin của bất kỳ ai. Tất cả những gì được tái hiện chỉ là cố gắng của nhiều nhân vật, lắng nghe, đeo bám, dò dẫm, phục hiện... nhưng rốt ráo chỉ là kẻ "tới trễ", lượm được mảnh rớt lại của những gì đã xảy ra, tựa như "thầy mù sờ voi". Luật sư Horace trên đường tới thị trấn, bị tên ma cô Popeye nghi ngờ và cưỡng chế về sào huyệt của chúng, nơi chuyên nấu whisky lậu, một ngôi nhà nát trong vùng rừng hoang sơ thuộc Mississippi. Anh được vợ chồng chủ lò rượu lậu, một cựu binh Thế chiến II tên Goodwin giúp đỡ. Sau này, Horace hết lòng bênh vực Goodwin, trong vụ án khủng khiếp giết người và cưỡng hiếp man rợ cô nữ sinh Temple Drake tại ngôi nhà nát khi Goodwin bị buộc tội, nhưng tất cả cố gắng của anh trở nên vô ích. Qua quan sát của Horace, Temple..., Goodwin là người duy nhất gắng sức để duy trì thứ trật tự sơ khai của tình thương và lòng tốt trong cộng đồng du thủ du thực, bao gồm cả những tay bệnh hoạn ma quỷ như Popeye. Câu chuyện về Goodwin, như một hình ảnh của lòng trắc ẩn và lương thiện lại được cố ý kể lại theo cách gián tiếp, rời rạc, thiếu chi tiết, chìm khuất dưới vô số biểu hiện của cái thực tại hỗn độn được mô tả qua sự mù mờ, ngây ngô, điếc lác, có khi vô trách nhiệm, thậm chí trong trạng thái hoảng loạn, hoặc bằng cái nhìn đầy thành kiến... của các nhân vật khác. Nghệ thuật của sự ngắt quãng và xa lạ Bằng diễn tiến melodrama quen thuộc, câu chuyện cho thấy từng bước cái thiện và ham muốn tốt lành của đời sống đã bị vùi dập, hủy hoại một cách tàn nhẫn và bất công ra sao, tương tự trường hợp To kill the mocking bird của Harper Lee. Nhưng nghệ thuật của riêng Faulkner lại là cách ông đã buộc chúng ta đối mặt với những điều kỳ lạ, u ám và man rợ trong chính mỗi người bình thường. Bạn đọc sẽ không thể quên phiên tòa mà từ nghi can cho tới nạn nhân, nhân chứng đều trở thành kẻ đồng lõa khi giấu giếm sự thật về kẻ thủ ác... Sự vận dụng quyết liệt và cạn kiệt thủ pháp "ngắt quãng" phá bỏ logic của sự kiện và tính cao trào thông thường, câu chuyện được dựng lại hết sức hình thức và máy móc, theo lối hình dung võ đoán, có khi thuần túy thị giác. Các nhân vật trở nên xa lạ, không thể đoán định so với con người khởi đầu của nó... Trong một thế giới bị "tung hỏa mù", không còn cột mốc thông thường để đánh dấu thiện - ác, chúng ta "bị ép" tẩy rửa định kiến, ghi lại những dấu mốc mới tinh trong việc xác định một thái độ đạo đức và sinh tồn. Faulkner đã "dành thời giờ suy nghĩ những gì mà một con người ở Mississippi tin tưởng là khuynh hướng (đời sống) căn bản hiện nay, cố gắng tìm ra câu trả lời xác đáng nhất, và hư cấu những câu chuyện khủng khiếp nhất mà bản thân tôi có thể tưởng tượng", tạo ra thứ động lực tinh thần mới trong một đời sống bị đe dọa hủy hoại tới tận cùng mọi biểu hiện. Cũng chính ông là người đưa ra thông điệp: không phải bản thân cái ác, mà nỗi khiếp nhược trước tội ác sẽ làm sụp đổ toàn bộ giá trị mà con người phải trả giá bằng hàng ngàn năm gây dựng, như luật pháp, công lý, nền văn minh. KHÁNH PHƯƠNG Review ___________ (*): Thánh địa tội ác(nguyên tác: The sanctuary), tác giả: William Faulkner, người dịch: Trần Nghi Hoàng, NXB Văn Học, tháng 7-2012. Mời các bạn đón đọc Thánh Địa Tội Ác của tác giả William Faulkner.
Tuần Làm Việc 4 Giờ
Nếu bạn biết cách quản lí thời gian, các mục tiêu cũng như thứ tự ưu tiên các công việc một cách hợp lí thì bạn hoàn toàn có khả năng tạo ra nguồn thu nhập đầy đủ dù chỉ làm việc 4 giờ mỗi tuần. Và thế là, tạm biệt nhé - những ngày làm việc 8 tiếng đồng hồ nặng nhọc! Cuốn sách THE 4-HOUR WORK WEEK đã làm dấy lên một làn sóng tư tưởng mới mẻ tại thung lũng Silicon. Marc Andreesen - chuyên gia về tối ưu hoá năng suất làm việc cá nhân đồng thời là một trong những doanh nhân nổi tiếng nhất ở trung tâm công nghệ cao của thế giới trong một bài phỏng vấn cho biết: "Về cơ bản, việc Tim đã làm là tập hợp và chắt lọc những học thuyết về quản lý thời gian cùng năng suất lao động trong vòng 2, 3 thập kỷ vừa qua, sau đó tối ưu hoá nó và đưa ra những khái niệm mới, rất hữu dụng". Bí quyết mà tác giả phát hiện ra được gói gọn trong chữ DEAL tương ứng với bốn bước: D: Definition (Xác định) Trong bước này Tim Ferriss giúp bạn thay đổi hoàn toàn những suy nghĩ sai lầm và đưa ra những qui tắc và mục đích của một phương pháp mới. Bạn sẽ có câu trả lời cho câu hỏi những nhà giàu mới (new rich) là ai và họ hành động như thế nào. E: Elimination (Loại bỏ) Giết chết những quan điểm lỗi thời về cách quản lí thời gian. Bằng cách sử dụng những kĩ thuật khác thường của những nhà giàu mới: áp dụng “sự thờ ơ có chọn lựa” – loại bỏ những thứ rườm rà không cần thiết, chỉ chuyên tâm vào những việc thực sự quan trọng, bạn có thể tăng năng suất lao động lên ít nhất mười lần. Phần này cũng giải thích nhân tố đầu tiên tạo nên một phong cách sống sung túc, đó là thời gian. A: Automation (Tự động hóa) Có những phương pháp nào khiến tiền của cứ thế tự động chảy vào túi bạn? Trong bước này bạn sẽ tiếp tục tìm hiểu về thu nhập (income): nhân tố thứ hai tạo nên một phong cách sống sung túc, thoải mái và đâu là điểm khác nhau chính giữa thu nhập tương đối và thu nhập tuyệt đối? L: Liberation (Tự do) đây là bản tuyên ngôn về tính lưu động. Bạn sẽ học được cách điều khiển công việc từ xa trong khi đang ở trong kì nghỉ. “Tự do” ở đây không có nghĩa là các kì nghỉ rẻ tiền, nó ám chỉ cách bạn thoát khỏi các mối quan hệ ràng buộc bạn với một địa điểm cố định. Phần này cũng đề cập đến nhân tố cuối cùng tạo nên một cuộc sống thoải mái: tính lưu động (mobility). Ngoài rất nhiều ý kiến khen ngợi, đồng tình với những bí quyết này, cũng có một số ý kiến phản đối khá gay gắt. Có người cho rằng cuốn sách đang cố rao giảng một thứ phương châm sống không còn mới mẻ: “Tận hưởng cuộc sống ngay khi bạn còn có thể.” (Đã được Thoreau đưa ra cách đấy 2 thế kỷ!) Và đưa ra giải pháp để có thể thực hiện lối sống “nhàn hạ” đó là bằng cách thuê làm bên ngoài (outsource) tất cả những công việc có thể, do vậy bạn giảm thiểu những việc bạn phải làm và nhờ đó có thời gian để hưởng thụ cuộc sống. Những độc giả này lập luận rằng: như vậy, thực ra chẳng có công việc nào mất đi cả, nó chỉ được thực hiện bởi những người khác mà thôi. Và nếu ai cũng làm theo lời khuyên của Tim Ferriss thì cuối cùng ai sẽ là người làm những việc đó? Thêm nữa, bí quyết làm giàu mà Tim Ferriss cung cấp trong quyển sách này tập trung vào việc thành lập một doanh nghiệp điện tử, làm giàu nhờ kinh doanh qua mạng (công thức phổ biến giúp làm nên các nhà giàu mới). Công thức này khó có thể áp dụng cho mọi người, vì không phải ai cũng được thông minh và có điều kiện tốt như Ferriss. Những luồng dư luận có vẻ “đối nhau chan chát” với cuốn sách cũng là điều dễ hiểu, bởi không có gì là hoàn toàn tuyệt đối, cũng như Tim Ferriss không tham vọng khiến cả thế giới được “xả hơi thoải mái” chỉ nhờ cuốn sách của anh. Điều đáng ghi nhận nhất ở đây có lẽ là đa số các độc giả đều đánh giá cao cuốn sách của Tim Ferriss với nhận xét: cuốn sách có lối viết kiểu tự sự dễ đọc, bố cục mạch lạc dễ hiểu và đã cung cấp rất nhiều thủ thuật hay giúp những người làm công việc công sở tiết kiệm thời gian và giảm stress (ví dụ thủ thuật kiểm tra và trả lời email 2 lần một ngày vào những giờ xác định). Họ cũng cho rằng cuốn sách giúp họ thiết lập một cuộc sống “ngăn nắp hơn” và vui vẻ hơn nhiều. Và điều đó thêm một lần nữa khẳng định thêm: mọi bí quyết chỉ là bí quyết, còn áp dụng như thế nào, tùy thuộc hoàn toàn vào bạn, mà khởi đầu cho tất cả, bạn cứ tự nhủ với mình rằng: có thể làm nó tốt đẹp và ổn thỏa hơn hiện tại rất nhiều lần! *** Bạn đang cầm trên tay cuốn sách Tuần làm việc 4 giờ, chắc chắn bạn không khỏi ngạc nhiên về tựa đề của cuốn sách, khái niệm về New Rich1  (NR) cũng như tài năng siêu việt của tác giả trẻ tuổi viết nên cuốn sách này. Cảm giác đó của bạn cũng giống như cảm giác của chúng tôi khi lần đầu tiên biết về cuốn sách, lạ lẫm bởi những nguyên tắc, những khái niệm và một lối sống hoàn toàn khác biệt với lối mòn suy nghĩ từ hàng nghìn năm về trước. Sau một năm phát hành, cuốn sách đã được xuất bản ở 30 quốc gia trên thế giới, ngoài ra cuốn sách luôn nằm trong danh sách bestseller của các tạp chí nổi tiếng như New York Times, Wall Street Journal và Business Week. Tác giả Timothy Ferriss đã mô tả vô cùng chi tiết về cách bạn có thể thiết kế lối sống cho riêng mình và gia nhập nhóm NR. Bạn đã từng có rất nhiều giấc mơ phải không, cuốn sách này sẽ giúp bạn lập kế hoạch và không để những giấc mơ đó bị lãng quên một cách vô nghĩa. Bạn có thể làm việc cả tuần ở nhà mà vẫn hiệu quả hay vừa leo lên núi Rainier hoặc thăm vịnh Panama mà vẫn xử lý tốt công việc ở công ty của mình. Bạn đã bao giờ từng thuê một người trợ lý cách xa nửa vòng trái đất làm việc cho bạn chưa, cô ta có thể viết một lá thư ngọt ngào để xoa dịu người vợ đang giận dỗi của bạn, sắp xếp lịch trình làm việc cũng như chuẩn bị cho bạn báo cáo bán hàng sáng hôm sau. Bạn cũng có thể học thành thạo một ngôn ngữ trong vòng sáu tháng và sống cuộc sống của một triệu phú. Thời gian làm việc của bạn có thể giảm đi 20 lần nhưng thu nhập lại tăng lên gấp hơn 10 lần... Nếu bạn là người không xác định được mình thực sự cần gì, thì đây là cuốn sách dành cho bạn. Nếu bạn là một ông chủ hay một nhân viên đang chìm ngập trong đống công việc, cuốn sách này cũng dành cho bạn. Cuốn sách này không chỉ giúp bạn làm việc thông minh hơn, kiếm được nhiều tiền hơn mà còn giúp bạn thực hiện được những giấc mơ đã bị lãng quên của mình. Cuốn sách không chỉ dừng lại ở chỗ đưa ra những quan niệm, những câu châm ngôn hay ví dụ của tác giả để khơi dậy trong bạn mong muốn thay đổi cuộc sống hiện tại mà cuốn sách còn mô tả rất chi tiết cách bạn cần hành động, những thông tin hay trang web mà bạn cần sử dụng trong quá trình thay đổi cuộc sống của mình. Tuần làm việc 4 giờ là món quà tuyệt vời đối với chúng tôi, những người đầu tiên tiếp cận với cuốn sách và chúng tôi mong muốn chia sẻ món quà này cùng bạn. CÔNG TY CỔ PHẦN SÁCH THÁI HÀ  Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc 1 Những nhà triệu phú sống và làm việc tự do, không bị giới hạn bởi thời gian hay không gian... Họ có thể tự Thiết kế Lối sống - Lifestyle Design (LD) cho riêng mình. Mời các bạn đón đọc Tuần Làm Việc 4 Giờ của tác giả Timothy Ferriss.