Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Cháu ông Rameau - Denis Diderot

Cháu ông Rameau bắt đầu được sáng tác vào khoảng 1761, nhưng mãi đến 1779 mới hoàn thành, là một thể nghiệm táo bạo của Diderot tiếp tục tìm tòi nội dung và hình thức mới của tiểu thuyết. Đó là “kiệt tác duy nhất” theo chữ dùng của Marx (1818-1883), và là “kiệt tác về mặt biện chứng” theo đánh giá của Engels (1820-1895). Cháu ông Rameau là một người có thật, tên là Jean-François Rameau, cháu gọi nhạc sĩ nổi tiếng Jean-Philippe Rameau (1683-1764) là bác ruột. J-F. Rameau kém Diderot vài tuổi. Hắn vốn là một gã đê tiện, sống cuộc đời ăn bám bằng cách nịnh hót hoặc làm trò hề mua vui cho những kẻ có tiền bạc và đến năm 1771 thì chết trong một nhà tế bần dành cho những kẻ vô gia cư. Tiểu thuyết viết theo hình thức đối thoại giữa “Tôi” và “Hắn” trong tiệm giải khát La Régence ở gần Hoàng-Cung, vào một buổi chiều, bên cạnh những người đang chơi cờ. Nếu như đối thoại choán gần hết từ đầu đến cuối trong Ý kiến ngược đời về diễn viên, chỉ mãi đến khi gần kết thúc mớỉ xuất hiện vai trò của người kể chuyện, thì ở Cháu ông Rameau, người kể chuyện xuất hiện nhiều hơn. Tác phẩm mở đầu bằng lời của người kể chuyện: “Dù đẹp trời hay thời tiết xấu, tôi có thói quen cứ đến năm giờ chiều đi dạo ở Hoàng-Cung. Thiên hạ luôn thấy tôi chỉ ngồi một mình, mơ mộng trên chiếc ghế dài ở Àrgenson[9]. Tôi trò chuyện với bản thân tôi về chính trị, về tình yêu, về thị hiếu và về triết học. Tôi mặc cho đầu óc tôi tha hồ bông lông...” Tiếp đó câu chuyện giữa “Tôi” và “Hắn” hơn hai chục lần bị ngắt quãng bởỉ lời của người kể chuyện, đó thường là những đoạn ngắn với lối văn tự sự, kể chuyện ở ngôi thứ ba. Khác với mối quan hệ giữa người kể chuyện và “Người trò chuyện thứ nhất” trong Ý kiến ngược đời về diễn viên, ở tiểu thuyết này, người kể chuyện và “Tôi” có thể xem là đồng nhất. Có nhiều dấu hiệu gắn bó hai nhân vật ấy[10] với chính tác giả, chẳng hạn trong khi trò chuyện, “Hắn” thường xưng hô với “Tôi” là thưa ông triết gia... và nhiều chi tiết khác ám chỉ đến quá khứ nghèo khổ của Diderot. Nhưng dẫu sao, trong khuôn khổ của tiểu thuyết, không thể và không nên quá nhấn mạnh vào sự trùng khớp này. Trong cuộc trò chuyện ở Ý kiến ngược đời về diễn viên, “Người trò chuyện thứ hai” thường nói ngắn, dường như chỉ đóng vai trò đưa đẩy cho “Người trò chuyện thứ nhất” mà thôi. Đến Cháu ông Rameau, lời nói chủ yếu thuộc về “Hắn”. Triết gia chủ yếu là gợi mở để cho “Hắn” nói, hoặc khi thấy những quan niệm của hắn vô liêm sỉ quá, bắt buộc phải nói dài để phản đối. Vì vậy, hầu như từ đầu đến cuối, ta chỉ nghe vang lên tiếng nói của Rameau trình bày với triết gia về cuộc sống đê tiện của hắn, cùng với những ý nghĩ, những quan niệm của hắn về xã hội và thế thái nhân tình. Có tài liệu cho rằng cuộc trò chuyện giữa tác giả và cháu ông Rameau (gọi tắt là Rameau) là có thật, nên có thể đồng nhất “Tôi” với Diderot và “Hắn” với Jean-François. Ý kiến ấy không thỏa đáng. Một tác phẩm viết trong gần hai mươi năm mới xong chắc chắn không phải chỉ là một cuốn kí sự đơn thuần, một tập biên bản ghi lại trung thực sự việc xảy ra. “Hắn” có nhiều khả năng không hoàn toàn là Jean-François, cũng như “Tôi” là triết gia, nhưng không nhất thiết là triết gia Diderot. Tác giả chắc đã nhìn thấy trong số phận Rameau những nét đặc biệt của thời đại ông và từ nguyên mẫu đó xây dựng nên một nhân vật có tính khái quát xã hội. Lại có ý kiến cho rằng anh chàng ăn bám Rameau sống một thời gian quanh quẩn gần Hoàng-Cung, nên Diderot thỉnh thoảng gặp hắn ta, nhưng không hề diễn ra cuộc trò chuyện giữa hai người trong tiệm giải khát La Régence. Đây chỉ là tác phẩm hoàn toàn hư cấu. Đoạn mở đầu tác phẩm đã dẫn ra trên kia đặc biệt có ý nghĩa. Người kể chuyện có thói quen dạo chơi một mình, mơ mộng một mình và trò chuyện cũng với chính bản thân mình chiều chiều ở Hoàng-Cung. Vậy “Tôi” và “Hắn” ở đây cũng chỉ là hiện tượng lưỡng hóa nghệ thuật như biện pháp lưỡng hóa được sử dụng trong Ý kiến ngược đời về diễn viên mà thôi. Thực chất của những “đối thoại” này là “độc thoại”, hay đúng hơn là “độc thoại nội tâm” phơi bày lên trang giấy những suy tư trăn trở miên man của bản thân, mong đi tới chân lí. Jean-Marie Goulemot so sánh chức năng của đối thoại ở đây với phép đỡ đẻ (maieutique), hiểu theo nghĩa phương pháp gợi hỏi của Socrate (470-399 TCN) nhằm hướng dẫn tìm ra chân lí còn đang thai nghén tiềm tàng ngay trong bản thân Diderot. Rameau, nhân vật chính của tiểu thuyết này, có thể nói hoàn toàn có thật mà cũng hoàn toàn hư cấu. Hắn có thể nhận ra chân dung của mình qua những dòng sau đây: “Chẳng có gì khác với hắn hơn là chính bản thân hắn. Đôi khi, hắn gầy gò và xanh xao như một người ốm sức tàn lực kiệt; ta như đếm được qua hai bên má những chiếc răng của hắn. Ta tưởng đâu hắn đã nhiều ngày chẳng ăn uống gì, hoặc là hắn vừa ra khỏi tu viện dòng Trappe. Đến tháng sau hắn lại béo mập và đẫy đà như thể hắn chưa từng rời bàn ăn của một nhà tài chính, hoặc là hắn bị lưu giữ trong một tu viện dòng thánh Bernard. Hôm nay ăn mặc bẩn thỉu, quần áo rách bươm, vá chằng vá đụp, hầu như giày dép chẳng có, hắn cúi gầm mặt xuống mà đi, lén la lén lút, khiến người ta như chỉ muốn gọi hắn để bố thí cho hắn. Hôm sau, đầu tóc chải chuốt, áo quần giày dép tinh tươm, hắn ngẩng cao đầu bước đi, vênh vang, và bạn có lẽ tưởng đâu hắn là một bậc hào hoa phong nhã...” Nhưng Jean-Marie Goulemot cũng hoàn toàn có lí khi nhận định rằng những dòng miêu tả Rameau trên đây, để cho hắn thay đổi dáng vẻ tuỳ ngày, tuỳ mùa... chính lại là một cách phủ nhận hoàn toàn sự có thực của nhân vật này[11]. Rameau là một nhân vật tiểu thuyết. Xét về mặt hình thức, cuộc trò chuyện giữa “Tôi” và “Hắn” có vẻ giống như bất cứ cuộc trò chuyện nào thuộc loại ấy, nhảy từ vấn đề này sang vấn đề khác, chẳng đi theo một trình tự ấn định trước. J-M. Goulemot lưu ý chi tiết phụ đề của tác phẩm này là “truyện châm biếm” - satire - bắt nguồn từ chữ latin “satura” có nghĩa là món hổ lốn, mớ hổ lốn, tập tạp văn. Nhưng đằng sau cái vẻ ngoài linh tinh, Goethe nhận định “câu chuyện đối thoại này thật ra có mạch lạc tài tình; người nào tưởng rằng cuộc đối thoại ấy rời rạc lỏng lẻo như một cuộc trò chuyện thường thì thật là lầm; nó chỉ giống cuộc trò chuyện thường ở chỗ linh hoạt mà thôi”[12]. Theo Michel Launay, câu chuyện lần lượt xoay quanh bốn chủ điểm. Thoạt tiên là “Nhận xét về con người và tính cách”. Tiếp đến là “Đạo đức”, chứa đựng những suy nghĩ về các khái niệm lương thiện và bất lương, thiện và ác và về việc giáo dục con cái. Thứ ba là “Triết học” với những suy nghĩ về lí lẽ của các hiện tượng, về bản chất của các sự vật. Cuối cùng là “Thị hiếu” bàn luận về mĩ học, về thiên tài, về âm nhạc, về sáng tác văn học[13]. Rameau vốn là người có sức khoẻ, thông minh và chẳng phải không yêu đời, tuy cuộc sống của hắn có nhiều điều bất hạnh. Hắn có những khả năng đặc biệt, rất yêu âm nhạc và rõ ràng có thể trở thành một nhạc sĩ khá. Nhưng Rameau chọn cái nghề dễ dàng nhất, cũng khó khăn nhất vì nó đòi hỏi phải có trí thông minh, phải lanh lẹn tháo vát, đó là nghề ăn bám. Hắn phủ nhận tất cả những cái gì tốt đẹp ở trên đời và chỉ công nhận một nguyên tắc sống là thoả mãn những bản năng đê hèn, tuy hắn biết như thế là bỉ ổi. Rameau là sản phẩm của xã hội phong kiến Pháp đang đi đến chỗ tan rã. Chính xã hội đã phơi bày ra trước mắt hắn cuộc sống mà bao nhiêu kẻ tai to mặt lớn lại là những kẻ không có đạo đức; trong xã hội ấy, “thiên hạ ca ngợi đức hạnh, nhưng thiên hạ ghét nó, nhưng thiên hạ trốn tránh nó, nhưng nó lạnh cóng, mà trong thế gian này lại cần phải có đôi bàn chân ấm nóng”; trong xã hội ấy, chính những kẻ quyền quý đã dạy cho hắn lòng căm ghét những người lương thiện như lập luận của vị thượng thư kia khi chứng minh rằng “đối với nhân dân không có gì ích lợi bằng sự dối trá và không có gì hại bằng sự thật thà”. Trong sự phủ định triệt để của Rameau, tuy hết sức bỉ ổi, nhưng lại chứa đựng không ít sự thật của thời đại, vì thế vẫn toát lên ý nghĩa phê phán tích cực. Rameau không ngần ngại nói toạc ra rằng ở đời “khi người ta đã giàu có thì người ta muốn làm gì mặc lòng, không bao giờ bị nhục nhã cả”, và còn vô liêm sỉ hơn, nhưng chẳng phải là không sâu sắc: hắn tuyên bố con tôi sẽ phải giàu có... “Cháu sẽ có vàng, tôi xin nói với ông như vậy. Nếu cháu có nhiều vàng, thì cháu sẽ chẳng thiếu gì hết, kể cả lòng tôn trọng và sự kính nể của ông”. Tác giả viết: “Rameau là một người đáng ghét không hơn không kém những kẻ khác, chỉ có điều hắn thẳng thắn hơn, nhất quán hơn và đôi khi sâu sắc hơn trong sự hư hỏng của mình”. Rameau không đơn thuần là sản phẩm thụ động của xã hội. Hắn còn vượt lên trên xã hội, quan sát nó bằng con mắt có ý thức và trí thông minh sẵn có. Hắn mò mẫm tìm ra nguyên nhân của những bất công trong xã hội: “Sự sắp đặt quỷ quái gì mà có những kẻ ngốn đầy ứ đủ thứ, trong khi những người khác có cái dạ dày quấy nhiễu như họ, có cái đói tái phát như họ, mà lại chẳng có gì để đút vào miệng”. Hắn hiểu rằng “trong thiên nhiên có các loài vật xâu xé nhau, trong xã hội có các giai cấp xâu xé nhau”. Nhưng Rameau lại rút ra kết luận muốn trở thành “một tên kẻ cướp sung sướng giữa những tên kẻ cướp giàu có”, vì hắn lí luận rằng “người ta phỉ nhổ một kẻ lưu manh tầm thường, nhưng không thể không cảm phục một tên đại gian đại ác”. Rameau chính là hình ảnh lớp người đang vật lộn trong xã hội lúc bấy giờ để tự khẳng định, nhưng cuộc đấu tranh của họ không vượt ra ngoài khuôn khổ của chủ nghĩa cá nhân do đó rơi vào bế tắc. Có ý kiến cho rằng trong cuộc trò chuyện này, Rameau hoàn toàn nắm quyền chủ động. Những lập luận của hắn tuy hết sức bỉ ổi, nhưng lại có sức lôi cuốn ghê gớm ngay cả đối với người đang ngồi trò chuyện với hắn và thỉnh thoảng lên tiếng phản đối. Dường như “Tôi” chỉ phản ứng lấy lệ, chứ trong thâm tâm thầm cảm phục “Hắn”. Có ý kiến lại cho rằng Rameau chỉ có vẻ thắng thế trong phần thứ hai trên bình diện lí thuyết, nhưng sang đến phần sau, triết gia dễ dàng chứng minh cho hắn thấy rằng mọi lí thuyết của hắn chẳng có giá trị gì trong thực tiễn, mà chỉ đưa đến những thất bại và những thái độ mâu thuẫn. Dù sao cũng phải thừa nhận có sự bắt gặp, thông cảm đến một mức độ nào đấy giữa triết gia và Rameau. Điều này cũng dễ hiểu khi ta biết rằng có thể xem “Tôi” và “Hắn” là hai mặt của chính tác giả. Triết gia tự tách một phần của mình ra để trò chuyện. Ông gán cho Rameau những ý nghĩ lời lẽ mà bản thân ông thấy bỉ ổi quá, không thể trực tiếp nói ra. Không có sự đối lập giữa “Tôi” và “Hắn”, giữa tác giả và nhân vật, giữa độc thoại và đối thoại. Đối thoại ở đây trở thành biện pháp để tác giả tự phân đôi và trình bày những mặt mâu thuẫn thống nhất của chính bản thân ông. *** Denis Diderot (1713-1784) là kiến trúc sư của công trình Bách khoa thư (Encyclopédie) đồ sộ, nhà văn có nhiều đóng góp độc đáo, nhà triết học duy vật, sôi nổi “lòng yêu chân lí và chính nghĩa”[1], nhà phê bình nghệ thuật sắc sảo. Ông là “nhà thơ lớn, nhà họa sĩ lớn, nhà điêu khắc lớn, nhà nhạc sĩ lớn... tuy chưa từng bao giờ làm thơ, vẽ tranh, soạn nhạc, nặn tượng”[2]. Denis Diderot sinh ở Langres, một thành phố cổ kính miền Đông-Bắc nước Pháp, trong một gia đình thợ thủ công nhiều đời chuyên sản xuất các loại dao. Thuở nhỏ, Diderot học ở quê nhà; năm mười hai tuổi, nhà triết học tương lai chịu lễ cắt tóc chuẩn bị phụng sự tôn giáo. Nhưng ba năm sau, năm 1728, ông quyết định từ giã quê hương lên Paris học tập, bất chấp mọi người can ngăn. Đây là bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời ông. Những năm đầu tiên sống ở Paris, nhà văn sẽ có dịp gợi lại sau này qua cuộc đối thoại kì lạ giữa “Tôi” và “Hắn” trong Cháu ông Rameau (Le Neveu de Rameau), một cuộc sống gần như lang thang, bữa đói bữa no, nay đây mai đó. Cảnh túng thiếu sẽ còn đeo đẳng ông cho mãi về già. Nhưng để bù đắp lại, Diderot được hưởng một cuộc sống tinh thần hết sức phong phú. Ông thoả sức tắm mình trong không khí của thời đại; ông mở tâm hồn ra đón những luồng gió mớỉ của bốn phương; ông đọc sách của Voltaire (1694-1778), ông tham dự những buổi tọa đàm ở nhà triết gia D'Holbach (1723-1789); ông kết bạn với F.M. Grimm (1723- 1807) ở Đức vừa sang; ông được Rousseau (1712- 1778) đến thăm ở Vincennes khi bị giam cầm; ông dự đám tang Montesquieu (1689-1755)... Diderot - nhà triết học ra mắt độc giả bằng tác phẩm Những tư tưởng triết học (Les Pensées philosophiques, 1746). Liền năm sau, ông cho in Cuộc dạo chơi của người theo chủ nghĩa hoài nghi. Tác phẩm nổi tiếng Bức thư về những người mù (Lettre sur les Aveugles, 1749) khiến ông bị tống giam ở Vincennes mấy tháng. Năm 1753, ông cho in Về việc giải thích tự nhiên (Sur l’Interprétation de la nature). Đến 1772, hai tác phẩm quan trọng nữa ra đời: Trò chuyện giữa Diderot và D'Alembert và Giấc mơ của D'Alembert (Le Rêve de d'Alembert). Diderot bước vào lĩnh vực văn học gần như đồng thời với triết học, nhưng Diderot - nhà văn được khẳng định sau Diderot - triết gia khá lâu, và những kiệt tác văn học của ông cũng trải qua số phận long đong hơn nhiều. Tiểu thuyết Những đồ trang sức không kín đáo (Les Bijoux indiscrets, viết năm 1745, in năm 1748) chưa bộc lộ tài năng của tác giả. Với các vở kịch Đứa con hoang (Le Fils naturel, 1757) và Người cha trong gia đình (Le Père de famille, 1758), ông thử nghiệm một thể loại mới: kịch “drame” hoặc “hài kịch nghiêm chỉnh”; đáng tiếc ở đây tài nghệ của nhà soạn kịch không tương xứng với ý đồ lớn lao. Năm 1760, ông viết cuốn tiểu thuyết Nữ tu sĩ (La Religieuse) thực sự có giá trị, nhưng mãi đến 1796, sau khi tác giả qua đời mười hai năm, mới được xuất bản. Đó cũng là số phận của kiệt tác Cháu ông Rameau, sáng tác khoảng năm 1761, lưu hành một vài bản ở dạng chép tay trong số bạn bè quen biết. Một bản theo Grimm về Đức, lọt vào tay Goethe (1749-1832), được ông dịch ra tiếng Đức. Mãi đến 1823, Cháu ông Rameau mới được dịch lại từ bản tiếng Đức để xuất bản ở Paris, và tới gần cuối thế kỉ XIX, năm 1891, ngưòỉ ta mới tìm thấy nguyên bản của nó! Tiểu thuyết không kém phần độc đáo Jacques người theo thuyết định mệnh (Jacques le Fataliste), sáng tác năm 1773, cũng phải đợi đến 1796 mới được ra mắt công chúng.   Mời các bạn đón đọc Cháu ông Rameau của tác giả Denis Diderot.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Sao Mình Chia Tay - Daniel Handler
Trong tình yêu chia tay là điều không ai muốn nhưng dưới giọng văn hóm hỉnh, nhẹ nhàng của Daniel Handler việc chia ly chỉ như cái khẽ gật đầu đầy ắp những kỷ niệm đáng nhớ. Ai đó đã từng nói nếu ai can đảm yêu thì cũng can đảm để chia tay, rời xa cuộc tình của mình. Nhưng lời nói khi thốt ra lúc nào cũng đơn giản, nghe sao nhẹ nhàng, bình tĩnh. Đối diện với sự thật rằng hai người không còn bước đi chung một con đường dù là kẻ can trường nhất cũng phải yếu lòng. Tác giả Daniel Handler chia sẻ những chi tiết trong cuốn sách đều thể hiện từ chính cảm xúc ngoài đời thực của ông qua những lần đau đớn và buồn bã với bao chuyện tình thời đi học. Và từ đó, câu chuyện ngây ngốc, ngọt ngào giữa Min và Ed ra đời. Min Green và Ed Slaterton chia tay nhau, cô viết cho Ed một bức thư kèm theo một cái hộp. Trong hộp là lý do vì sao chuyện tình của họ đi đến hồi kết. Hai nắp chai, một tấm vé xem phim, một tờ ghi chú, một hộp diêm, một thước do độ, sách, xe tải đồ chơi, đôi hoa tai xấu xí, một chiếc lược trong nhà nghỉ và mọi thứ gắn với mối tình dễ thương và sâu sắc này. Từng món kỷ vật được liệt kê và minh họa chi tiết, và rồi cái hộp, cũng giống như anh chàng siêu sao bóng rổ này, bị cô gái cho ra rìa.   Cuốn sách không được thể hiện theo từng chương như các tác phẩm thông thường. Tác giả chia nhỏ khoảng trời kỷ niệm của hai người thành nhiều mẩu chuyện được sắp xếp liên tiếp nhau trong suốt khoảng thời gian yêu nhau. Những kỷ vật được giữ lại nơi đáy thùng rất lạ thường, thậm chí có cả những phế phẩm vứt đi như chiếc nắp chai, sợ dây chun hay cái ghim kẹp tóc. Những đồ vật tưởng như vô tri bỏ xó ấy mỗi lần nhìn lại là một cú thót mình ngọt ngào cho từng phần ký ức. Cuối cùng Min cũng là người bước tiếp, gửi trả lại người cô yêu tất cả mọi điều. Chuyện tình tan vỡ của Min và Ed làm người đọc như nhớ lại chuyện của mình. Đó có thể là điều đã từng xảy ra với bất kì ai, lúc yêu thương, lúc giận hờn hay cãi vã. Trong bức thư dài gửi lại Ed, Min chưa một lần hối tiếc hay ca thán về cuộc tình này. Cô gói ghém những điều tốt đẹp và gửi lại cho anh. Thái độ bình tĩnh giải thích lý do Min đưa ra không khỏi làm độc giả phải nghĩ ngợi. Liệu cô nàng là kẻ may mắn khi kịp thoát ra khỏi u mê, sẵn sàng cho khởi đầu mới hay Min vẫn sẽ là một cô nàng ngây ngốc, yêu đến cuồng nhiệt vì tuổi trẻ. Với giọng văn hóm hỉnh, nhẹ nhàng của Daniel Handler việc chia ly giờ đây chỉ như cái khẽ gật đầu đầy ắp kỷ niệm. Cuộc vui nào cũng phải tàn, chuyện tình hợp tan cũng như một quy luật cuộc sống. Tác giả viết và gom tất cả chúng lại, chuyển hóa thành những cơn đau dễ chịu, không bi lụy. Có lẽ cũng bởi vì đau nhiều, yêu nhiều nên mối tình của Min và Ed mới thú vị ngay cả khi nó đã thực sự kết thúc. Một tình yêu không còn hạnh phúc sẽ buồn hơn cả việc chia tay. Khi gấp cuốn sách lại ắt hẳn trong chúng ta sẽ có một ước mong rất lớn. Một khao khát có cậu bạn tâm lý đầy vị tha như Al, có một con người hoàn hảo, hấp dẫn như Ed để yêu và trở thành một cô gái yêu đuối, cuồng si, đầy nhiệt thành như Min để được yêu. Thay vì quá chi tiết cho những mẩu chuyện, tác giả tập trung xây dựng nội tâm rất rõ ràng cho từng nhân vật dù đó chỉ là kẻ ngoài lề. Al ban đầu xuất hiện như người bạn thân của Min, nhưng ai ngờ rằng chính chàng trai này cũng đem theo những nỗi niềm giấu kín không thể cất lên được. Anh đã tạo cho câu chuyện một sự biến chuyển đáng thú vị rồi vỡ òa, hẫng hụt trong nỗi buồn bâng khuâng. Yếu tố bất ngờ luôn là những chi tiết sáng giá, làm câu truyện trở nên khó đoán và hấp dẫn hơn. Đôi khi một cuộc tình diễn tiến khó lường còn thú vị, đa sắc hơn khi nó trở nên quá êm đềm và bằng phẳng. Hạnh phúc như là ánh sáng, ánh sáng có thể vụt tắt bất cứ lúc nào. Sao mình chia tay là câu chuyện dành cho tất cả những kẻ cô đơn, những ai đau đớn vật vã khi tình yêu đã kết thúc. Hãy mỉm cười, lời tạm biệt không phải là dấu chấm hết, một hành trình mới mở ra. *** Gửi Ed, Chỉ trong tích tắc nữa thôi, anh sẽ nghe thấy một tiếng “rầm.” Ngay trước cửa chính nhà anh ấy, cánh cửa chẳng có ma nào dùng đến. Thứ ấy sẽ khiến cho mấy cái bản lề cửa rung lên chút đỉnh khi nó hạ cánh, bởi nó rất nặng và cực quan trọng, có tiếng loang xoảng, lanh canh ngân lên kèm với tiếng “rầm” đó, và Joan sẽ ngẩng đầu lên khỏi cái món chị ấy đang nấu dở. Chị ấy rồi sẽ lại ngó xuống nồi, lo lắng rằng nếu chạy ra xem có việc gì thì khéo thức ăn trong nồi lại bị trào ra ngoài mất. Em có thể thấy được cái cau mặt của Joan hiện lên trên món nước sốt hay món gì đó đại loại thế đang sôi bùng bục. Nhưng rồi chị ấy sẽ đi ra, chị ấy sẽ đi ra và xem. Còn anh thì không, Ed à. Anh sẽ chẳng bao giờ xuống. Có lẽ anh đang ở trên gác, nhễ nhại mồ hôi và chỉ có một mình. Có lẽ anh sẽ đi tắm táp, nhưng anh còn đang phải vật vã trên giường vì đau khổ, em hi vọng thế, và như vậy, chính chị gái anh, chị Joan, sẽ là người mở cửa mặc dù tiếng “rầm” ấy là dành cho anh. Anh sẽ còn chẳng mảy may hay biết hoặc nghe thấy thứ gì bị quẳng trước cửa nhà. Anh có khi còn không biết vì sao mà nó lại bị vứt ở đó. Hôm nay là một ngày đẹp trời, đầy nắng và kiểu kiểu thế. Kiểu ngày khiến anh nghĩ mọi chuyện sẽ thật tuyệt vời, vân vân và vân vân. Chứ đâu phải kiểu ngày cho những việc như thế này, cho chúng ta, hai đứa đã hẹn hò khi trời đổ mưa giông, từ ngày 5 tháng Mười đến ngày 12 tháng Mười Một. Nhưng giờ đã là tháng Mười Hai rồi, bầu trời bừng sáng, và với em thì mọi thứ thật rõ ràng. Em sẽ nói cho anh nghe vì sao hai đứa mình lại chia tay, Ed à. Em sẽ viết về chuyện đó trong lá thư này, toàn bộ sự thật vì sao chuyện đó lại xảy ra. Và sự thật rằng em đã yêu anh điên cuồng đến mức nào. • • • Ed ạ, cái tiếng “rầm” ấy thực ra là cái hộp này. Đây là thứ em sẽ quẳng lại cho anh. Em tìm thấy nó ở dưới tầng hầm và chỉ tiện tay cầm lên thôi vì tất cả chỗ đồ của hai đứa mình ấy mà, quá nhiều so với cái tủ cạnh giường em. Thêm nữa, em nghĩ thế nào mẹ em cũng sẽ lại tìm bới được cái gì đó trong chỗ đồ này vì mẹ là chúa lục lọi, săn đón những bí mật của em. Thế cho nên em đã nhét tất tần tật vào cái hộp này rồi tống nó và tủ, bên trên để mấy đôi giày em chẳng bao giờ xỏ chân vào từng món đồ kỉ niệm mối tình của hai đứa mình, những giải thưởng và những mảnh vỡ của mối quan hệ này, giống như rãnh nước vụt óng ánh khi đoàn diễu hành bước qua, giống như những thử bèo bọt bị hắt hủi bên lề đường. Em sẽ vứt toàn bộ cái hộp này vào cuộc đời anh đấy, Ed, từng thứ một, của anh và em. Em sẽ vứt cái hộp này lên thêm nhà anh, Ed, nhưng chính anh, Ed, chính anh mới là kẻ bị vứt bỏ. Cái hộp này, em thừa nhận, sẽ làm em mỉm cười. Một điều thật hiếm hoi trong những ngày gần đây. Dạo này em thấy mình như cô ả Aimeé Rondelé trong Đến Trời Cũng Khóc, một bộ phim điện ảnh Pháp anh chưa xem bao giờ. Cô ta vào vai một sát thủ kiêm nhà thiết kế váy, và cô ta chỉ cười đúng có hai lần trong suốt cả bộ phim. Một lần là khi tên trùm sò, vốn là kẻ đã giết bố cô ta, bị ném bay khỏi tòa nhà. Nhưng đó không phải là nụ cười em đang nghĩ tới. Phải là nụ cười lúc gần hết phim kia, khi cô ta cuối cùng cũng có được chiếc phản với các tấm ảnh và rồi đã đốt nó trong một chiếc tàn đẹp mê hồn mà không thèm mở ra xem bên trong có gì và cô ta biết chắc rằng mọi chuyện đã kết thúc, châm một điếu thuốc lá và đứng đó, trong bộ váy dài màu xanh lá hoàn hảo, ngắm nhìn đám chim két túm tụm và nhộn nhạo bay quanh ngọn tháp nhà thờ. Em có thể nhìn thấy nó. Nụ cười như nói rằng thế giới này hóa ra vẫn còn có công lí. Nụ cười như nói rằng ừ đúng, em đã yêu anh, còn giờ, đây là đống đồ của anh, cũng chẳng khác gì anh, sẽ bắn ra khỏi cuộc đời em. Em biết là anh chẳng thể nhìn ra nó đâu, anh sai có thể nhìn ra được, nhưng có khi nếu em kể cho anh nghe toàn bộ kịch bản thì biết đâu đấy, anh sẽ hiểu ra ngay tắp lự, bởi ngay bây giờ, chính em cũng muốn anh nhìn thấy nụ cười ấy. Em chẳng còn yêu anh nữa, đương nhiên, nhưng vẫn còn đó, vài điều em muốn chỉ cho anh thấy. Anh cũng biết là em luôn muốn làm đạo diễn, nhưng anh đã chẳng bao giờ thực sự nhìn thấy được những bộ phim diễn ra trong đầu em, và, Ed ạ, đó là lí do vì sao hai đứa mình chia tay. • • • Em đã viết câu danh ngôn yêu thích lên nắp của cái hộp này, câu danh ngôn của Hawk Davies, một huyền thoại, và em đang dùng chính cái nắp hộp ấy làm bàn kê viết lá thư này để em có thể cảm nhận Hawk Davies đang chảy trôi trong từng con chữ gửi tới anh. Cái xe tải cửa hàng của bố Al có chút rung lắc nên thi thoảng chữ nghĩa xộc xệch, vì vậy chắc anh cũng sẽ phải chật vật lắm mới đọc hết được từng từ của lá thư. Sáng nay em đã gọi Al và ngay khi em vừa mới nói, “Đoán xem?” hắn đã đáp ngay, “Bà định nhờ tôi dùng xe của ông già để làm chân chạy việc cho bà chứ gì?” “Ông quả là thiên tài đoán mò,” em bật thốt. “Gần đúng đấy.” “Gần đúng thôi sao?” ... Mời các bạn đón đọc Sao Mình Chia Tay của tác giả Daniel Handler.
Trái Tim Mách Bảo - Susanna Tamaro
TRÁI TIM MÁCH BẢO là tự sự trong những ngày sống cuối cùng của một người bà thông qua những bức thư không gởi dành cho đứa cháu gái duy nhất đang ở rất xa mình. Về nhiều khía cạnh, lời tự sự cũng là lời tự thú của người bà về những bí mật mà bà đã tưởng sẽ mang theo xuống mồ về ông ngoại thật sự, về ông bố vô danh và người mẹ đầy những hoang mang của cô bé. Trên hết, đây không chỉ là những chi tiết giật gân về những bí ẩn cuộc đời mà là những suy tưởng rất sâu sắc, đầy trải nghiệm và chan chứa yêu thương về tình yêu, về cái chết, về cả sự đúng đắn trong hành xử của con người... Bối cảnh của câu chuyện này là ở Opicina, Trieste, nước Ý. *** Hai tiểu thuyết Trái tim mách bảo và Lắng nghe yêu thương là những trải nghiệm về tình yêu cuộc sống. Trái tim mách bảo là tự sự trong những ngày sống cuối cùng của một người bà thông qua những bức thư không gởi dành cho đứa cháu gái duy nhất đang ởrất xa mình. Lời tự sựcũng là lời tựthúcủa người bà về những bí mật mà bà đã tưởng sẽ mang theo xuống mồ về ông ngoại thật sự, về ông bố vô danh và người mẹ đầy những hoang mang của cô bé. Trên hết, đây không chỉ là b íẩn cuộc đời mà là những suy tưởng rất sâu sắc, đầy trải nghiệm và chan chứa yêu thương về tình yêu, về cái chết, về sự hành xử của con người... Lắng nghe yêu thương là những suy tư trong hành trình đi tìm lại cội rễ của chính mình của một cô gái trẻ người Ý gốc Do Thái, vốn chỉ biết mình sinh ra lúc 4 tuổi khi được chuyển đến sống với một người bà yêu mình hơn cả mẹ. Hành trình đi tìm lại cội rễ của cô gái cũng là hành trình chuyển hóa nhận thức và tình cảm của cô đối với những con người đã ban cho mình cuộc sống. Tủ sách sống đẹp cũng tuyển chọn những câu chuyện hay, thú vị về cuộc sống: Cảm ơn cuộc đời. Những câu nói, những mẩu chuyện truyền cảm hứng trong quyển sách này giúp độc giả biết yêu quý cuộc sống hiện tại của mình, trân trọng những gì mình đang có, và sẽ sống trọn vẹn và lạc quan hơn. Lạc quan để vui sống: Trong cuộc sống hối hả và bận rộn ngày nay, dường như ai cũng bị cuốn vào vòng xoáy của công việc và nhiều thứ khác. Đôi lúc thành công, vui vẻ, có lúc thất bại, nhiều người lại nản lòng. Lạc quan là một thái độ tiên quyết cho niềm hạnh phúc và thành công của mỗi người. Honey, I love You: Như một lời yêu gửi tặng những người đã, đang và sẽ yêu, quyển sách gồm những câu chuyện hay và ý nghĩa về tình yêu, những câu nói sâu sắc và có khi dí dỏm về tình yêu, và những lời tỏ tình của chàng trai dành cho cô gái cũng như ngược lại... *** Susanna Tamaro sinh năm 1957 tại Trieste - một thành phố nằm ở đông bắc nước Ý. Tác phẩm Trái tim mách bảo của Susanna ngay từ khi ra mắt đã được đón nhận rất nồng nhiệt và nhanh chóng trở thành cuốn sách được mua nhiều nhất trong thế kỷ 20 tại Ý, và sau đó được dịch ra gần 40 thứ tiếng. *** Cháu đi đã được hai tháng rồi, và trong suốt hai tháng ấy bà chẳng nhận được tin tức gì ngoài tấm bưu thiếp vỏn vẹn lời nhắn rằng cháu vẫn còn sống. Sáng nay, lúc ở trong vườn, bà đứng trước cây hoa hồng của cháu rất lâu. Dù trời đã sang thu, cây hoa hồng vẫn trổ hoa đỏ rực, đứng ngạo nghễ giữa những bụi cây tàn úa khác. Cháu còn nhớ lúc bà cháu mình trồng nó chứ? Lúc đó cháu chỉ mới mười tuổi đầu và vừa đọc xong cuốn Hoàng Tử Bé, món quà bà tặng cháu nhân dịp học hết lớp Năm. Cháu đã yêu cuốn sách ấy biết nhường nào. Trong tất cả các nhân vật, cháu yêu nhất cây hoa hồng và con cáo; cháu không thích cây bao báp, con rắn, người phi công hay bất kỳ gã đàn ông rỗng tuếch và kiêu ngạo nào trên những tiểu hành tinh. Và rồi vào một buổi sáng nọ lúc đang ăn sáng, cháu bảo rằng, “Cháu muốn một cây hoa hồng.” Khi bà phản đối vì chúng ta đã có rất nhiều hoa hồng trong vườn, cháu vẫn cương quyết, “Cháu muốn một cây của riêng cháu cơ, cháu muốn chăm nó và giúp nó lớn thật cao.” Dĩ nhiên là ngoài cây hoa hồng, cháu còn muốn một con cáo. Cháu bé bỏng của bà thật ranh mãnh khi biết đề nghị thứ đơn giản trước một thứ khác hầu như không thể thực hiện được. Làm sao bà có thể từ chối con cáo khi đã đồng ý về cây hoa hồng chứ? Thế là chúng ta đã tranh luận thật lâu, và cuối cùng thỏa hiệp rằng cháu sẽ có một con chó. Đêm trước khi đi gặp con chó cháu đã không hề chợp mắt. Cứ mỗi nửa tiếng đồng hồ cháu lại gõ cửa phòng bà và nói, “Cháu không ngủ được.” Trước bảy giờ sáng hôm sau, cháu đã tắm rửa, ăn mặc chỉnh tề, dùng xong bữa sáng, rồi mặc sẵn áo khoác và ngồi đợi bà trên chiếc ghế bành. Đúng tám giờ rưỡi bà cháu mình có mặt tại cổng Trại thú nuôi khi nó còn chưa mở cửa. Cháu liên tục ngó qua song sắt và hỏi, giọng đầy lo lắng, “Làm sao biết con nào là của cháu hở bà?” Bà cố gắng trấn an cháu rằng, đừng quá lo, cứ nhớ cách Hoàng Tử Bé thuần phục con cáo là được thôi mà. ... Mời các bạn đón đọc Trái Tim Mách Bảo của tác giả Susanna Tamaro.
Nữ Quái - Đào Hiếu
C hương trình tivi chiều chủ nhật chiếu lại một trận bóng đá buồn tẻ. Duy nhìn sững vào màn ảnh nhỏ, cố quên đi khuôn mặt đẫm máu của cô gái trên đường phố. Mặt úp xuống đất, tóc sổ tung, đôi xăng-đan quai trắng văng ra và hai bàn chân tái mét phơi trần giữa nắng chói chang. Mẹ kiếp, tai nạn giao thông có khi cũng như một nước cờ đi lầm, một đường chuyền không chính xác trong bóng đá. Nếu cô gái chọn một vị trí khác để băng qua đường có lẽ chiếc Honda 67 xoáy nòng quỷ quái kia đã không phóng vào người cô rồi đâm vào gốc cây. Chiếc xe gãy gập, tên đua xe bị bắn tung lên như quả banh da và rớt xuống đất, xì hơi, xẹp lép. Một thằng nhóc trạc mười sáu mười bảy tuổi. Một cơn điên tốc độ. Một sự rửng mỡ ngu xuẩn. Và hai mạng người. Trung úy Duy tắt tivi. Các đồng đội anh đang đánh cờ tướng trên băng ghế đá nên chẳng ai để ý. Duy bỏ vô phòng. Anh ngủ được một giấc ngắn và tỉnh dậy trong bóng tối của một căn phòng đầy muỗi. Tắm xong, Duy vừa định đi ăn cơm chiều thì chuông điện thoại reo. Lại thêm một tai nạn giao thông khác. Khi Duy đến nơi thì chiếc xe du lịch đang bốc cháy. Người bu đông nghẹt hiện trường. Cô dâu bị xé rách áo cưới và đánh bầm mặt. Chú trể thì chảy máu mũi, phải dùng khăn tay bịt vết thương. Những cánh hồng đỏ chói tung tóe trên mặt đường, bị đám đông dày nát. Cô dâu ôm mặt khóc. Mọi người nháo nhác tìm cách đưa các nạn nhân đi bệnh viện. Giao thông bị tắt nghẽn. Chỉ khi xe cứu hỏa đến thì đám đông mới dãn ra. Người ta thắc mắc: - Chẳng lẽ một cô dâu xinh đẹp mong manh như thế lại là tình địch của "nữ quái xa lộ" sao? Tình địch quái gì, Duy nghĩ thầm, anh quá rành tay nữ quái này. Và cả con mẹ sồn sồn ngồi phía sau. Một băng đâm thuê chém mướn chuyên nghiệp. Có điều là lần này nữ quái quá táo bạo và chơi ngông: Mặc áo bà ba màu xanh két, quần xoa đen, hiền lành như cô thôn nữ, vậy mà cưỡi chiếc xe 250 phân khối dềnh dàng, án ngữ trước đầu chiếc xe hoa, chĩa thẳng khẩu AK bá xếp, ra lệnh: - Tất cả xuống xe! Con mẹ sồn sồn ngồi phía sau nhào tới, vung quyền cước đấm đá lia lịa vào cô dâu bé bỏng, đánh dạt cả chú rể. Trước họng súng đen ngòm, mọi người lấm lét nhìn trận đòn thù. ° Mười giờ sáng hôm sau, Vân đến tìm trung úy Duy tại tụ sở Ðội cảnh sát giao thông, nước mắt ràn rụa: - Anh đến bệnh viện với em ngay bây giờ. - Chuyện gì vậy? Vân không trả lời, đạp máy xe và trao tay lái cho Duy. Duy vọt ra đường. Người đi như những quân cờ đen kịt trên đường phố. Xe, pháo, mã… và những con chốt sẵn sàng bị hy sinh nếu một kẻ nào đó liều lĩnh hoặc ngu dốt, hoặc không chấp hành luật giao thông. Vân gục đầu vào vai Duy, khóc tức tưởi. Duy đâm cáu: - Thì em phải nói cho anh biết chuyện gì chớ! ... Mời các bạn đón đọc Nữ Quái của tác giả Đào Hiếu.
Mười Điều Tôi Học Được Về Tình Yêu - Sarah Butler
Tại London, một cô gái trở về cạnh người cha đang hấp hối sau chuyến đi du lịch dài ngày. Trong lòng cô, cha cô không phải là người cha lý tưởng. Khi ở cạnh chăm sóc cha cùng người nhà, cô nhận ra được nhiều điều trước nay mình chưa biết. Một người cha nay đã 60 tuổi vẫn là một kẻ lang thang, ông không còn bất kỳ tài sản gì trừ tình yêu với đứa con gái nhiều năm không gặp. Ông vẫn đi tìm, và thể hiện tình yêu đó theo cách của một ông già không có gì trong tay làm được. Hành trình suy tưởng của hai nhân vật này về tình cha con, tình gia đình và những gì có được trong đời rất cảm động. *** Xếp thành một góc vuông, họ nằm xuống giữa quảng trường Trafalgar đầy nắng, nhìn lên bầu trời London và tự do ngắm mặt trời. "Cảm giác như ta đang bay, giống như tôi mới là vật dịch chuyển chứ không phải những đám mây kia. Nếu tôi liếc qua hết góc nhìn, tôi sẽ thấy được đỉnh các tòa nhà - South Africa House, Canada House, Nhà triển lãm Quốc gia, nhà thờ St Martin-in-the-Fields và phần thân trên của những người qua lại. Một cách chim hải âu lượn vào tầm mắt rồi đi mất. Tôi dõi theo đường bay chạm chạp, yên lặng của một chiếc máy bay, nghĩ tới hành khách trên đó đang nhìn xuống chúng tôi, thấy London càng lúc là nhỏ lại. Họ sẽ nhận biết hình dáng những tòa nhà, nhưng còn người ta - gồm có tôi, ông Daniel và mọi người quanh đây - sẽ vô hình đối với họ. Tôi nghĩ chắc lâu lâu nữa tôi mới lại ngồi trong một chiếc máy bay, nhìn thế gian teo tóp lại thành những khối tí hon bên dưới. Người ta đi vòng quanh chúng tôi; tôi nhận biết sức nặng của họ, nghe những câu chữ đứt đoạn của họ lơ lửng trong không khí một lúc rồi mới tan biến. Tôi nghĩ về lời ông Daniel nói: nếu cháu đứng yên một chỗ đủ lâu, cháu sẽ cảm thấy nơi ấy là nhà." (Trích tiểu thuyết Anh "10 điều tôi học được về tình yêu") "10 điều tôi học được về tình yêu" được viết rất đẹp ở các chi tiết nhỏ, với những nếp gấp bí mật giấu kín mà tác giả Sarah Butler chỉ bung mở dần dần qua từng đoạn tự sự, từng chương. Những độc giả chậm rãi sẽ vô cùng yêu thích, nhưng những độc giả thực dụng hơn lại có thể cảm thấy khó chịu vì sự dài dòng. Đây là một cuốn tiểu thuyết đầu tay được cả New York Times, Business Insider lẫn Independent để mắt và dành cho những lời động viên, khích lệ. Chứa đựng những nét riêng đặc sắc, Sarah Butler có cách xây dựng ngôn ngữ đầy màu sắc và biểu cảm. Sử dụng kĩ thuật viết hai giọng, nhà văn Anh trẻ tuổi cũng đan cài triết lý của đạo Phật để gỡ giải một trong những nút thắt quan trọng nhất cho nhân vật của mình. Alice - nhân vật chính của câu chuyện là một cô gái 28 tuổi, vóc người nhỏ nhắn với mái tóc đỏ xinh đẹp. Cô yêu tự do và cảm thấy xa lạ trong chính ngôi nhà của mình. Alice đã lang bạt ở tận Mông Cổ trước khi vội vã trở về nhà vì nhận được tin cha đang hấp hối. Ngôi nhà vốn xa lạ với cô. Alice chỉ cảm thấy, mà không thể nhận biết những bi kịch của cha mẹ trước khi cô ra đời. Đó là sự quấn quyện của tình yêu, chịu đựng, sự tùy hứng, lòng yêu tự do và mọi điều khác biệt nữa giữa cha và mẹ - dù cả hai đều là người tốt. Sự khác biệt giữa hai bọn họ đã làm nảy sinh bi kịch trước khi Alice ra đời. Nếu như trong nhiều câu chuyện khác, việc ngoại tình của người đàn ông thường hay xảy đến hơn và người phụ nữ đóng vai trò cam chịu, thì trong gia đình Alice là trường hợp ngược lại. Mẹ cô là một người phụ nữ đẹp và phóng khoáng - nhưng đồng thời bà cũng đã là một người mẹ đã gắn chặt trách nhiệm với gia đình và con cái, không thể bỏ đi theo tiếng gọi của tình yêu... Người đàn ông vô gia cư mang tên Daniel được nhắc đến ở trong đoạn trích có liên hệ mật thiết với cuộc đời của Alice và mẹ cô. Trước đây, ông từng là một họa sĩ trẻ tài năng, một người say mê màu sắc và có tài trang trí. Một người mà mẹ Alice từng cảm thấy đó là lối thoát của cuộc đời mình. Với những nhân vật có phần lạc lối xuyên suốt trong tác phẩm, cuốn sách dần được khép lại một cách thanh thản, an yên chứ không hề đau thương hay bi lụy. Ở cảnh cuối, một ông già vô gia cư và một cô gái trẻ xếp thành góc vuông trên mặt đất, ngắm hoàng hôn buông dần trên quảng trường London. Họ gọi đó là tự do và đứng yên để thành phố mở lòng ra đón nhận. Một tác phẩm bình dị, chan chứa tình yêu thầm kín, hơi ấm của gia đình, và cả sự vị tha. *** Mười lý do để ở lại 1. Bà chị cả có thai. 2. Bà chị kế có khả năng lấy đó làm cớ sinh sự. 3. Tôi mệt mỏi. 4. Đôi khi tôi cảm thấy như đi trong vòng tròn lẩn quẩn. 5. Tôi ghét những căn phòng khách sạn. 6. Tôi ghét chứng đờ đẫn sau chuyến bay. 7. Tôi có thể làm quen ai đó. Quỷ thật, có khi tôi lấy chồng rồi đẻ con luôn ấy chứ. 8. Bố muốn tôi ổn định cuộc sống, ông lo ngày lo đêm chuyện tôi cứ bay tới những miền đất xa lạ. 9. Hai bà chị nghĩ lúc nào tôi cũng trốn chạy. 10. Tôi muốn ngừng trốn chạy. Tôi chà chà tràng hạt nhựa vào ngực, đi theo ông Daniel qua bãi cỏ, xuống Đồi Nghị Viện. Không hiểu sao tôi lại đeo chuỗi hạt ấy vào. Chắc trông tôi ngố lắm. Hạt dẻ ngựa gõ vào xương ức khi tôi bước đi. Hồi còn nhỏ tôi hay lượm lặt dẻ ngựa, gom lại thành cả bụm bóng loáng. Rồi mỗi năm qua đi, tôi lại buồn bã khi vỏ hạt mờ dần, nhăn lại, dù tôi biết trước là chúng sẽ như vậy. Trước đường chạy bộ, ông Daniel quành sang trái, băng qua khoảng sân quần vợt, nhà hóng mát, quán ăn có cửa kính, rồi ngang hồ bơi ngoài trời, xuống nhà ga Gospel Oak. Chúng tôi đứng chỗ những ngọn đèn, và tôi tự hỏi những người lái xe ngang qua nghĩ gì, họ có thấy một cô gái trẻ - người đã ngủ một mình ngủ dưới tán cây trong công viên Hamstead Heath – đứng cùng một ông già, thoáng nhìn qua cũng biết chắc là kẻ không nhà. Họ sẽ không để ý, mà nếu có cũng không quan tâm làm chi. Tôi sờ túi quần jean kiểm tra xem mảnh bìa cứng còn nguyên không. Trước khi tới một dãy căn hộ cao tầng xây bằng gạch tối màu kiểu thập niên bảy mươi, chúng tôi băng qua một khu toàn những dãy nhà gạch sơn phết đẹp đẽ, dây tử đằng bò quanh, hàng rào thuỷ lạp xén tỉa gọn gàng. Rồi lên cầu. Ông Daniel dừng giữa cầu, chúng tôi nhìn qua lưới lan can cầu xuống những đường ray thẳng tắp bên dưới. “Nếu bây giờ ông có thể tới bất kỳ nơi nào, ông chọn đi đâu?” Một chuyến xe lửa vụt qua, cây cầu rùng mình dưới chân chúng tôi. Ông Daniel rà ngón tay dọc lan can, tạo ra những tiếng trầm trầm. “Tôi sẽ ở lại đây,” ông nhìn tôi đáp. Đêm ấy tôi nằm mơ thấy ông – một cơn mơ vừa thật, vừa khiến tôi hoang mang. Cả hai tháo bàn tay ra cứ như búp bê, rồi đổi cho nhau. Có điều khi tôi nhìn lại, tôi thấy từ cổ tay trở xuống là tay của chính mình. Lúc tôi thức dậy thì ông đã ở đó, rồi kỳ lạ một nỗi, tôi nghe như đang ở trong căn nhà thật sự của mình. Tôi có thoáng nghĩ qua, rằng có lẽ ông và mẹ tôi... Nhưng điều ấy thật ngớ ngẩn, tôi không muốn nhớ tới nữa. Tôi quý ông, chỉ vậy thôi. “Tôi sẽ đi Inverness, hoặc đâu đó xa hơn về hướng bắc. Tôi sẽ tới cực bắc của Scotland rồi bắt thuyền qua Iceland, hoặc đâu đó ở Na Uy. Tôi sẽ đi ngắm bắc cực quang, vì đã xem qua nhiều hình ảnh mà thấy giả giả thế nào.” Ông cười, nhưng có chiều buồn bã, nên tôi im. Chúng tôi bước tiếp, ngang qua một toà nhà đơn độc, tua tủa xung quanh là những bảng Cho thuê, có xe máy và chậu cây cùng những lá cờ đội bóng dán trên kính ban công đã phai mờ. Chúng tôi tiến vào sự hỗn độn của con đường Kentish Town, đến khi ông quặt sang khúc cong ngõ St. Pancras, men theo bên trái đến khu Agar Grove. Chúng tôi không chuyện trò mấy, nhưng kỳ lạ là nhịp bước cả hai dường như đang nói chuyện với nhau. Cứ một lúc ông Daniel lại dừng và nhặt gì đó lên – một nắp chai màu vàng kim; một cái nút vàng giữa có một cái sao; một cây đinh gập thành góc vuông. Ông nhìn nhìn những thứ ấy, rồi cho vào túi. “Tôi thích áo khoác của ông,” tôi nói. Ông bật cười. “Một gã tên là Thợ Săn cho tôi đó.” “Thợ Săn à?” ... Mời các bạn đón đọc Mười Điều Tôi Học Được Về Tình Yêu của tác giả Sarah Butler.