Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Hành Trình Về Phương Đông (Nguyên Phong)

Lời mở đầu

Trong cuộc sống vội vã, quay cuồng hiện tại, nhiều người đã mất đi niềm tin. Họ quan niệm rằng sống để thụ hưởng, thoả mãn các nhu cầu vật chất vì chết là hết. Không có Thượng đế hay một quyền năng siêu phàm gì hết. Các đây không lâu, một tờ báo lớn tại Hoa kỳ đã tuyên bố, “Thượng đế đã chết!”

Tác giả bài báo công khai thách đố mọi người đưa ra bằng chứng rằng Thượng đế còn sống. Dĩ nhiên, bài báo đó tạo nên một cuộc bàn cãi rất sôi nổi. Một nhà thiên văn học tại trung tâm nghiên cứu Palomar cũng cho biết, “Tôi đã dùng kính viễn vọng tối tân nhất, có thể quan sát các tinh tú xa trái đất hàng triệu năm ánh sáng mà nào có thấy thiên đường hay thượng đế cư ngụ nơi nào?” Sự ngông cuồng của khoa học thực nghiệm càng ngày càng đi đến chỗ quá trớn, thách đố tất cả mọi sự. Tuy nhiên, trong lúc khoa học đang tự hào có thể chứng minh, giải thích tất cả mọi sự, thì một sự kiện xảy ra:

Một phái đoàn ngoại giao do Tiểu vương Ranjit Singh cầm đầu sang thăm viếng nước Anh. Trong buổi viếng thăm đại học Oxford, vua Ranjit đã sai một đạo sĩ biểu diễn. Vị đạo sĩ này đã làm đảo lộn quan niệm khoa học lúc bấy giờ. Không những ông ta có thể uống tất cả mọi chất hoá học, kể cả những chất cường toan cực mạnh mà không hề hấn gì, ông ta còn nhịn thở hàng giờ đồng hồ dưới đáy một hồ nước. Sau khi để một phái đoàn y sĩ do bác sĩ Sir Claude Wade khám nghiệm, ông ta còn chui vào một quan tài để bị chôn sống trong suốt 48 ngày. Khi được đào lên, ông ta vẫn sống như thường. Đạo sĩ còn biểu diễn nhiều việc lạ lùng, dưới sự kiểm chứng nghiêm khắc của các khoa học gia. Điều này gây sôi nổi dư luận lúc đó. Hội Khoa Học Hoàng Gia đã phải triệu tập một uỷ ban để điều tra những hiện tượng này. Một phái đoàn gồm nhiều khoa học gia tên tuổi được chỉ thị sang Ấn độ quan sát, sưu tầm, tường trình và giải thích những sự kiện huyền bí. Phái đoàn khoa học đã đặt ra những tiêu chuẩn rõ rệt để giúp họ quan sát với một tinh thần khoa học tuyệt đối. Không chấp nhận bất cứ một điều gì nếu không có sự giải thích rõ ràng, hợp lý. Để soạn thảo bản tường trình, mỗi khoa học gia trong phái đoàn phải tự mình ghi nhận những điều mắt thấy, tai nghe vào sổ tay cá nhân. Sau đó, tất cả cùng nhau so sánh chi tiết và kiểm chứng cẩn thận. Chỉ khi nào tất cả đều đồng ý thì điều đó mới được ghi nhận vào biên bản chính. Điều này đặt ra để bảo đảm cho sự chính xác, không thành kiến đến mức tối đa. Tất cả những điều gì xảy ra mà không có sự giải thích khoa học, hợp lý đều bị loại bỏ.

Khi ra đi, họ không mấy tin tưởng nhưng khi trở về, họ đều đổi khác. Giáo sư Spalding đã cho biết, “Phương Đông có những chân lý quan trọng đáng để cho người Tây phương nghiên cứu, học hỏi. Đã đến lúc người Tây phương phải quay về Đông phương để trở về với quê hương tinh thần.” Điều đáng tiếc là sự trở về của phái đoàn đã gặp nhiều chống đối mãnh liệt từ một dư luận quần chúng đầy thành kiến hẹp hòi. Các khoa học gia bị bắt buộc phải từ chức, không được tuyên bố thêm về những điều chứng kiến. Sau đó ít lâu, trưởng phái đoàn, giáo sư Spalding đã cho xuất bản bộ sách, “Life and teachings of Masters of the East” và nó đã gây ra một dư luận hết sức sôi nổi. Người ta vội tìm đến những người trong phái đoàn, thì được biết họ đã rời bỏ Âu châu để sống đời tu sĩ trong dãy tuyết sơn. Tuy thế, ảnh hưởng cuốn sách này đã tạo hứng khởi cho nhiều người khác trở qua Ấn độ để kiểm chứng những điều ghi nhận của phái đoàn. Thiên ký sự của Sir Walter Blake đăng trên tờ London Scientific cũng như loạt điều tra của ký giả Paul Bruton, Max Muller đã vén lên tấm màn huyền bí của Đông phương và xác nhận giá trị cuộc nghiên cứu này. Tìm mua: Hành Trình Về Phương Đông TiKi Lazada Shopee

Ấn độ là xứ có rất nhiều tôn giáo. Tôn giáo gắn liền với đời sống và trở nên một động lực rất mạnh làm chủ mọi sinh hoạt người dân xứ này. Người Ấn thường tự hào rằng văn hoá của họ là một thứ văn minh tôn giáo và dân xứ này được thừa hưởng một kho tàng minh triết thiêng liêng không đâu có. Vì thế Hội Khoa Học Hoàng Gia đã bảo trợ cho phái đoàn đến Ấn độ để nghiên cứu những hiện tượng huyền bí này.

Tuy nhiên, sau hai năm du hành khắp Ấn độ từ Bombay đến Calcutta, thăm viếng hàng trăm đền đài, tiếp xúc với hàng ngàn giáo sĩ, đạo sĩ nổi tiếng, phái đoàn vẫn không thoả mãn hay học hỏi điều gì mới lạ. Phần lớn các giáo sĩ chỉ lập đi lập lại những điều đã ghi chép trong kinh điển, thêm thắt vào đó những mê tín dị đoan, thần thánh hoá huyền thoại để đề cao văn hoá xứ họ.

Đa số tu sĩ đều khoe khoang các địa vị, chức tước họ đã đạt. Vì không có một tiêu chuẩn nào để xác định các đạo quả, ai cũng xưng là hiền triết (Rishi), sư tổ (Guru), hay đại đức (Swami), thậm chí có người xưng là thánh nhân giáng thế (Bhagwan). Ấn độ giáo (Hinduism) không có một chương trình đào tạo tu sĩ như Thiên chúa giáo, bất cứ ai cũng có thể vỗ ngực xưng danh, ai cũng là tu sĩ được nếu y cạo đầu, mặc áo tu hành, xưng danh tước, địa vị để lôi cuốn tín đồ. Ấn giáo không phải một tôn giáo thuần nhất, mà có hàng ngàn tông phái khác nhau, mỗi tông phái lại chia làm nhiều hệ phái độc lập chứ không hề có một tổ chức hàng dọc như các tôn giáo Âu châu. Các giáo sĩ mạnh ai nấy giải thích kinh điển theo sự hiểu biết của họ. Phần lớn cố tình giảng dạy những điều có lợi cho họ nhất, ngoài ra họ còn tụ họp để phong chức tước lẫn nhau hay chống đối một nhóm khác. Sự tranh luận tôn giáo là điều xảy ra rất thường, nhóm nào cũng tự nhận họ mới là chính thống, mới là đúng với giáo lý của thượng đế. Do đó, cuộc nghiên cứu tôn giáo của phái đoàn không mang lại một kết quả mong ước, nhiều lúc mọi người thấy lạc lõng, rồi rắm không biết đâu là đúng, là sai. Hội Khoa Học

Hoàng Gia chỉ thị việc nghiên cứu phải đặt căn bản trên nền tảng khoa học, hợp lý nhưng lấy tiêu chuẩn này áp dụng sẽ gặp nhiều trở ngại vì văn hoá Ấn độ và Âu châu khác hẳn nhau. Người dân xứ này chấp nhận các tông phái như một điều hiển nhiên, không ai chất vấn khả năng các giáo sĩ hay suy xét xem lời tuyên bố của họ có hợp lý hay không? Họ sùng tín một cách nhiệt thành, một cách vô cùng chịu đựng.

Thất vọng về cuộc du khảo không mang lại kết quả như ý muốn, giáo sư Spalding một mình lang thang đi dạo trong thành Benares. Giữa rừng người hỗn tạp ồn ào, một thuật sĩ cởi trần đang phùng má thổi kèn gọi rắn. Một con rắn hổ to lớn nằm trong sọt ngửng cổ lên cao, phun phì phì. Tiếng kèn lên bỗng xuống trầm, con rắn cũng lắc lư, nghiêng ngã. Đám đông xúm lại xì xầm coi bộ khâm phục lắm. Nếu họ hiểu con rắn đã bị bẻ răng, nuôi bằng bả á phiện và được luyện tập cẩn thận… Khắp xứ ấn, các trò bịp bợm này diễn ra không biết bao nhiêu lần trong ngày, nó sẽ kết thúc khi một vài tên “cò mồi” đứng trong đám đông vỗ tay, ném tiền vào rổ, và khuyến khích dân chúng ném theo… Đang mãi mê suy nghĩ, Spalding bỗng thấy một người Ấn to lớn, phong độ khác thường chăm chú nhìn ông mỉm cười. Người Ấn lễ phép cúi đầu chào bằng một thứ tiếng Anh hết sức đúng giọng, ông cũng đáp lễ lại. Câu chuyện dần dần trở nên thân mật, Spalding bèn lên tiếng hỏi người bạn mới quen nghĩ sao về những trò bịp bợm này. Người Ấn trả lời:

- Các vị minh sư đâu có cư ngụ trong đền thờ lộng lẫy, họ đâu in danh thiếp với các chức tước, địa vị to lớn, trọng vọng. Họ đâu cần phải quảng cáo các quyền năng, đạo quả hoặc in tên trong điện thoại niên giám. Một vị minh sư không nhất thiết phải có đông đệ tử, muốn tìm gặp họ phải biết phân biệt.

Các đạo sĩ mà ông đã gặp, sở dĩ nổi tiếng có đông giáo đồ vì họ biết thu tập đệ tử qua các hình thức quảng cáo, biết hứa hẹn những điều giáo đồ muốn nghe, họ chả dạy điều gì ngoài một số “từ chương” trong kinh sách. Điều này một người thông minh có thể tự đọc sách, nghiên cứu lấy. Phải chăng ông thất vọng vì các đạo sĩ ông đã gặp chưa từng có các kinh nghiệm tâm linh?”

Giáo sư Spalding ngạc nhiên:

- Tại sao ông biết rõ như thế?

Người Ấn mỉm cười:

- Các ông đã bàn cãi với nhau rằng cuối tháng này, nếu không thu thập thêm điều gì mới lạ, phái đoàn sẽ trở về Âu châu và kết luận rằng Á châu chả có điều gì đáng học hỏi. Giai thoại về các bậc hiền triết, thánh nhân chỉ là những huyền thoại để tô điểm cho vẻ huyền bí Á châu.

Giaó sư Spalding mất bình tĩnh:

- Nhưng tại sao ông lại biết những điều này? Chúng tôi vừa bàn định với nhau như thế, ngay trong phái đoàn còn có nhiều người chưa rõ kia mà?

Người Ấn nở một nụ cười bí mật và thong thả nhấn mạnh:

- Ông bạn thân mến, tư tưởng có một sức mạnh thần giao vượt khỏi thời gian và không gian. Thái độ của ông bạn là lý do mà hôm nay tôi đến đây để chuyển giao một thông điệp ngắn ngủi, chắc hẳn ông bạn rất thuộc thánh kinh, “Hãy gõ cửa, rồi cửa sẽ mở. Hãy tìm rồi sẽ gặp”. Đó là thông điệp của một vị chân sư nhờ tôi chuyển giao.”

Sự kiện người Ấn đứng giữa chợ Benares nhắc đến một câu trong Kinh thánh làm giáo sư Spalding ngây ngất như say vừa tỉnh. Toàn thân ông như rung động bởi một luồng điện cao thế.

Ông lắp bắp:

- Nhưng làm sao chúng tôi biết các ngài ở đâu mà tìm? Chúng tôi đã bỏ ra suốt hai năm trời đi gần hết các đô thi, làng mạc xứ Ấn…

Người Ấn nghiêm nghị trả lời:

- Hãy đến Rishikesh, một thị trấn bao phủ bởi dẫy Hy Mã Lạp Sơn, các ông sẽ gặp những đạo sĩ hoàn toàn khác hẳn những người đã gặp. Những đạo sĩ này chỉ sống trong các túp lều sơ sài, hoặc ngồi thiền trong các động đá. Họ ăn rất ít và chỉ cầu nguyện. Tôn giáo đối với họ cần thiết như hơi thở. Đó mới là những người dành trọn cuộc đời cho sự đi tìm chân lý. Một số người đã thắng đoạt thiên nhiên và chinh phục được các sức mạnh vô hình ẩn tàng trong trời đất… Nếu các ông muốn nghiên cứu về các quyền năng, phép tắc thần thông thì các ông sẽ không thất vọng.

Người Ấn im lặng một lúc và nhìn thẳng vào mặt giáo sư Spalding:

- Nhưng nếu các ông muốn đi xa hơn nữa, để tìm gặp các đấng chấn sư (Rishi) thì các ông còn mất nhiều thời gian nữa…

Giaó sư Spalding thắc mắc:

- Ông vừa dùng danh từ Chân sư, vậy chứ Chân sư (Rishi) và đạo sĩ (Yogi) khác nhau thế nào?

- Nếu ông tin ở thuyết tiến hoá của Darwin, thì tôi xin tóm tắt: “sự tiến hoá của linh hồn đi song đôi với thể xác. Chân sư là một người đã tiến rất xa trên mức thang tiến hoá; trong khi đạo sĩ chỉ mới bắt đầu…”

- Như thế thì các vị chân sư có thể làm các phép lạ được chứ?

Người Ấn mỉm cười khẽ lắc đầu:

- Chắc chắn như thế, nhưng phép thuật thần thông đâu phải mục đích tối hậu của con đường đạo. Nó chỉ là kết quả tự nhiên do sự tập trung tư tưởng và ý chí. Đối với các bậc chân sư, sử dụng phép thuật là điều ít khi nào các ngài phải làm. Mục đích của con đường đạo là Gỉai Thoát, là trở nên toàn thiện như những đấng cao cả mà đức Jesus là một.

Giáo sư Spalding cãi:

- Nhưng chúa Jesus đã từng làm các phép lạ.

Người Ấn bật cười trả lời:

- Ông bạn thân mến, bạn nghĩ rằng chúa Jesus làm vậy vào mục đích khoe khoang hay sao? Không bao giờ, đó chỉ là những phương tiện để cảm hoá những người dân hiền lành, chất phác và đem lại cho họ một đức tin mà thôi.

Một lần nữa, người Ấn lạ lùng này lại nói về một đấng giáo chủ mà hầu như mọi người Tây phương đều biết đến. Giáo sư Spalding suy nghĩ và hỏi:

- Thế tại sao các đấng Chân sư không xuất hiện dạy dỗ quần chúng?

Người Ấn nghiêm nghị:

- Ông nghĩ rằng các ngài sẽ tuyên bố cho người đời biết mình là ai chăng?

Nếu đức Phật hay đấng “Christ” hiện ra tuyên bố các giáo điều, liệu ông có chịu tin không? Có lẽ các ngài phải biểu diễn các phép thần thông như đi trên mặt nước hay biến ra hàng ngàn ổ bánh mì cho dân chúng thì các ông mới tin sao? Điều này chắc rồi cũng sẽ có một số đạo sĩ Hắc đạo biễu diễn để lôi cuốn tín đồ nhưng các đấng cao cả đâu có làm thế phải không ông bạn?

- Nhưng….nhưng các ngài sống ẩn dật như thế có lợi gì cho thế gian đâu?

Người Ấn mỉm cười:

- Vì không biết rõ các ngài nên thế gian không thể xét đoán các ngài một cách đứng đắn. Ai bảo rằng các ngài không giúp ích gì cho nhân loại? Nếu tôi quả quyết rằng đấng “Christ” vẫn thường xuất hiện và vẫn giúp đỡ nhân loại không ngừng thì ông có tin không? Có lẽ ông sẽ đòi hỏi một bằng chứng, một hình ảnh hoặc một cái gì có thể chứng minh được. Bạn thân mến, những tư tưởng sâu xa của các đấng cao cả không dễ gì chúng ta hiểu thấu.

Có lẽ câu trả lời giản dị nhất là các ngài phụng sự thế gian một cách âm thầm, lặng lẽ bằng cách phóng ra các tư tưởng yêu thương, bác ái, tốt lành mà sức mạnh có thể vượt thời gian và không gian. Tuy mắt ta không trông thấy nhưng hiệu lực của nó vô cùng mạnh mẽ. Khi xưa, nhân loại còn ấu trĩ nên các ngài đã xuất hiện để đặt một nền móng, căn bản, hướng dẫn loài người. Đến nay, nhân loại đã ít nhiều trưởng thành và phải tự lập, sử dụng khả năng của mình, chịu trách nhiệm về những việc họ làm.

Giáo sư Spalding suy nghĩ và hỏi:

- Lúc nãy bạn nói rằng có một vị chân sư nhờ bạn chuyển giao một thông điệp cho chúng tôi. Bạn có thể cho tôi biết địa chỉ của ngài được không?

- Bạn thân mến, tất cả đều do Nhân Duyên, đến khi nào đủ duyên bạn sẽ gặp các ngài.

Nói xong, người Ấn độ cúi đầu chào và biến mất trong đám người đông đúc, ồn ào giữa ngôi chợ thành phố BenaresDưới đây là những tác phẩm đã xuất bản của tác giả "Nguyên Phong":Bên Rặng Tuyết SơnĐường Mây Qua Xứ TuyếtHoa Trôi Trên Sóng NướcMinh Triết Trong Đời SốngNgọc Sáng Trong Hoa SenHành Trình Về Phương ĐôngTrở Về Từ Cõi SángTử Thư Tây TạngMuôn Kiếp Nhân Sinh - Tập 1Dấu Chân Trên CátHoa Sen Trên TuyếtMột Làn Gió Tinh KhôiMuôn Kiếp Nhân Sinh - Tập 2Muôn Kiếp Nhân Sinh - Tập 3

Độc giả có thể tìm mua ấn phẩm tại các nhà sách hoặc tham khảo bản ebook Hành Trình Về Phương Đông PDF của tác giả Nguyên Phong nếu chưa có điều kiện.

Tất cả sách điện tử, ebook trên website đều có bản quyền thuộc về tác giả. Chúng tôi khuyến khích các bạn nếu có điều kiện, khả năng xin hãy mua sách giấy.

Nguồn: thuviensach.vn

Đọc Sách

Tính Mệnh Khuê Chỉ Toàn Thư (Nguyễn Văn Thọ)
Nguyên tập 1. Tam Thánh đồ 2. Đại đạo thuyết 3. Tính Mệnh thuyết 4. Tử sinh thuyết Tìm mua: Tính Mệnh Khuê Chỉ Toàn Thư TiKi Lazada Shopee 5. Tà Chính thuyết 6. Phổ chiếu đồ 7. Phản Chiếu đồ 8. Thời chiếu đồ 9. Nội chiếu đồ 10. Thái Cực đồ 11. Thái Cực đồ phát huy 12. Trung tâm đồ 13. Hoả Long Thuỷ Hổ đồ 14. Hoả Long Thuỷ Hổ thuyết 15. Nhật ô, Nguyệt thố đồ 16. Nhật ô, Nguyệt thố thuyết 17. Đại Tiểu Đỉnh Lô đồ 18. Đại Tiểu Đỉnh Lô thuyết 19. Nội Ngoại Nhị Dược đồ 20. Nội Ngoại Nhị Dược thuyết 21. Thuận Nghịch Tam Quan đồ 22. Thuận Nghịch Tam Quan thuyết 23. Tận Tính Chí Mệnh đồ 24. Tận Tính Chí Mệnh thuyết 25. Chân Thổ đồ 26. Chân Thổ Căn Tâm thuyết 27. Hồn Phách đồ 28. Hồn Phách thuyết 29. Thiềm quang đồ 30. Thiềm quang thuyết 31. Hàng Long đồ 32. Hàng long thuyết 33. Phục Hổ đồ 34. Phục Hổ thuyết 35. Tam gia tương kiến đồ 36. Tam gia tương kiến thuyết 37. Hoà hợp tứ tượng đồ 38. Hoà hợp tứ tượng thuyết 39. Thủ Khảm Điền Ly đồ 40. Thủ Khảm Điền Ly thuyết 41. Quan Âm Mật chú đồ 42. Quan Âm Mật chú thuyết 43. Cửu đỉnh luyện tâm đồ 44. Cửu đỉnh luyện tâm thuyết 45. Bát thức qui nguyên đồ 46. Bát thức qui nguyên thuyết 47. Ngũ khí triều nguyên đồ 48. Ngũ khí triều nguyên thuyết 49. Đãi chiếu đồ 50. Đãi chiếu thuyết 51. Phi thăng đồ 52. Phi thăng thuyếtDưới đây là những tác phẩm đã xuất bản của tác giả "Nguyễn Văn Thọ":Tính Mệnh Khuê Chỉ Toàn ThưDịch Kinh Đại Toàn - Tập 1 Yếu ChỉDịch Kinh Đại Toàn - Tập 2 Thượng KinhDịch Kinh Đại Toàn - Tập 3 Hạ KinhHà Đồ Và Lạc ThưLão, Trang Giản LượcĐạo Đức Kinh Lão TửÂm Phù KinhPhật Học Chỉ NamTrung Dung Tân KhảoTìm Hiểu Kinh Hoa NghiêmKhổng Học Tinh HoaHướng Tinh ThầnĐường Vào Triết Học Và Đạo HọcChân Dung Khổng TửThiên Địa Vạn Vật Đồng Nhất ThểTrời Chẳng Xa NgườiCon Đường Huyền Nhiệm Trung DungCon Đường Qui Nguyên Phản Bản Theo Nho GiáoĐịnh Luật Tiến HoáKhổng Giáo Vô Thần Hay Hữu ThầnKinh Dịch Với Đông YĐức Lão Tử Và Con Đường Huyền Nhiệm Tâm LinhLecomte Du Noüy Và Học Thuyết Viễn ĐíchLễ, Nghĩa, Liêm, SỉNê Hoàn - Nhâm - ĐốcQuan Niệm Tam Tài Với Con NgườiRa Đời, Vào ĐạoSẫm VioletThất Huyền CầmĐộc giả có thể tìm mua ấn phẩm tại các nhà sách hoặc tham khảo bản ebook Tính Mệnh Khuê Chỉ Toàn Thư PDF của tác giả Nguyễn Văn Thọ nếu chưa có điều kiện.Tất cả sách điện tử, ebook trên website đều có bản quyền thuộc về tác giả. Chúng tôi khuyến khích các bạn nếu có điều kiện, khả năng xin hãy mua sách giấy.
Tinh Hoa Trí Tuệ (Thích Nhật Từ)
MỤC LỤC Chương I: Vai trò của Tâm Kinh.1 I. Giới thiệu Tâm Kinh..3 1. Tầm quan trọng của Tâm Kinh.3 2. Các bản dịch...4 Tìm mua: Tinh Hoa Trí Tuệ TiKi Lazada Shopee 3. Vị trí Tâm Kinh.7 II. Cấu trúc Tâm Kinh.9 1. Bối cảnh Pháp hội..9 2. Đối tượng quán chiếu...9 3. Nội hàm giải thoát...10 4. Nội hàm nhận thức: Chánh Tri Kiến..10 5. Thế giới quan và nhân sinh quan Bát-nhã... 11 6. Nội hàm tư duy: Chánh tư duy...12 7. Nội hàm Vô chấp: Pháp bất khả đắc..12 8. Thần chú Tâm Kinh.13 III. Tựa đề bài kinh..14 1. Chữ Tâm trong Tâm Kinh...14 2. Lầm lẫn về chữ Tâm...14 3. Ý nghĩa Tâm Kinh trong các nghi thức Phật giáo.15 IV. Ba biểu hiện của trí tuệ Bát-nhã..18 1. Về trí tuệ Bát-nhã..18 2. Văn tự Bát-nhã...19 3. Quán chiếu Bát-nhã..21 4. Thực tướng Bát-nhã.22 5. Kết luận..23 V. Những vấn đề quan trọng..24 vi • TINH HOA TRÍ TUỆ 1. Trí Tuệ Bát-nhã là Mẹ sinh ra pháp lành...24 2. Bối cảnh pháp thoại của văn hệ Bát-nhã...26 3. Diệu dụng của Bát-nhã...27 4. Định trong văn hệ Bát-nhã...29 5. Bát-nhã và cuộc sống hàng ngày...30 Chương II: Vượt qua khổ ách.37 I. Tuyên ngôn giải thoát...39 II. Những dị biệt trong các bản dịch..40 1. Bồ-tát Quán Tự Tại..40 2. Hành thâm Bát-nhã...47 3. Chiếu kiến ngũ uẩn giai không...55 4. Vượt qua khổ ách..66 III. Phương tiện chấm dứt khổ đau...67 Chương III: Cắt lớp cái tôi...69 I. Cái “Tôi” và sự vật...71 1. Ngã và Pháp.71 2. Tướng và thực-tướng...72 II. Tương liên giữa cái tôi và thực tướng của nó...73 1. Sự vật hiện hữu vốn không thực thể...74 2. Năm uẩn và khổ ách.76 3. Thực tướng của năm uẩn...77 III. Tính vô ngã của mọi hiện tượng.79 1. Khổ ách vốn không thực thể..79 2. Bốn trình tự thể nhập tánh Không...80 IV. Tính vô ngã của cái tôi...82 1. Thân thể hay sắc uẩn vốn không có thực thể..83 2. Cảm thọ vốn không thực thể..88 3. Ý tưởng vốn không thực thể.92 4. Tâm lý vốn không thực thể...96 5. Tâm thức vốn không thực thể..98 V. Kết luận.100 MỤC LỤC • vii Chương IV: Cắt lớp thực tại..103 I. Phân tích ngữ cảnh..105 1. Ý nghĩa chân thực của câu văn.105 2. Ba lớp cắt của thực tại..107 II. Phân tích thực tại.107 1. Mục đích.107 2. Thực tại và ý niệm.108 III. Phân tích ba lớp cắt của thực tại.. 112 1. Không sanh, không diệt.. 112 2. Không tăng, không giảm...121 3. Không dơ, không sạch.127 IV. Kết luận...131 Chương V: Phá chấp bằng phủ định.135 I. Phủ định là phương tiện.137 II. Buông bỏ mọi chấp mắc...138 1. Ý nghĩa nguyên văn...138 2. Ý nghĩa của từ phủ định “vô”...140 3. Nhu cầu buông bỏ mọi chấp mắc...141 III. Phủ định để buông bỏ ngũ uẩn..143 1. Phủ định để buông bỏ sắc uẩn.144 2. Phủ định để buông bỏ thọ uẩn..145 3. Phủ định để buông bỏ tưởng uẩn.146 4. Phủ định để buông bỏ hành uẩn..147 5. Phủ định để buông bỏ thức uẩn...147 6. Kết luận về sự chấp ngũ uẩn.148 IV. Phủ định để buông bỏ 18 giới...148 1. Phủ định để buông bỏ 6 giác quan.149 2. Phủ định để buông bỏ 6 đối tượng giác quan..165 3. Phủ định để buông bỏ 6 thức giác quan..165 V. Phủ định để buông bỏ chấp trước 12 nhân duyên...167 1. Các yếu tố thuộc quá khứ..167 viii • TINH HOA TRÍ TUỆ 2. Các yếu tố thuộc hiện tại.168 3. Hai yếu tố tương lai...170 4. Phủ định để buông bỏ 12 nhân duyên..171 VI. Kết luận...179 Chương VI: Phá chấp khổ và chứng đắc...181 I. Phá chấp về tứ đế..183 1. Đối tượng áp dụng..184 2. Mục đích của phá chấp khổ và chứng đắc.184 II. Phá chấp về khổ.186 1. Không có khổ đau thực sự..186 2. Không có khổ khi già..189 3. Không có khổ do bệnh tạo ra...190 4. Không có khổ do ái biệt ly.191 5. Không có khổ do cầu bất đắc...191 III. Phá chấp về nguyên nhân của khổ..194 IV. Phá chấp về niết bàn...196 V. Phá chấp về con đường tuyệt đối..198 VI. Phá chấp về trí tuệ...202 1. Phá chấp không có trí tuệ...202 2. Nội hàm của trí tuệ.203 3. Đỉnh cao của trí tuệ...206 VII. Phá chấp sự chứng đắc...207 VIII. Kết luận.212 Chương VII: Trí tuệ vượt sợ hãi..213 I. Sở đắc và quái ngại...215 II. Vượt qua các trở ngại.219 1. Trở ngại từ nghịch cảnh...219 2. Trở ngại về tâm lý..220 3. Trở ngại về thái độ..221 4. Trở ngại về lười biếng..221 5. Trở ngại về thói quen tiêu cực..222 MỤC LỤC • ix 6. Trở ngại do vô minh và cố chấp..222 III. Sử dụng trí tuệ vượt qua sợ hãi.223 IV. Vô hữu khủng bố..226 V. Viễn ly điên đảo mộng tưởng...230 VI. Cứu cánh niết bàn...235 Chương VIII: Phép mầu của tuệ giác..241 I. Tuệ giác không sợ hãi...243 II. Trí tuệ là mẹ sinh các đức Phật...245 III. Trí tuệ là đỉnh cao nhất của sáu năng lực...247 IV. Ba năng lực tuệ giác..249 V. Tuệ giác là phép mầu.252 VI. Tuệ giác Ba-la-mật khác.257 VII. Kết luận..265Dưới đây là những tác phẩm đã xuất bản của tác giả "Thích Nhật Từ":Nghệ Thuật Hạnh Phúc Trong Thế Giới Phiền NãoTinh Hoa Trí TuệKinh Phật Cho Người Mới Bắt ĐầuHạnh Phúc Giữa Đời ThườngChuyển Hóa Cảm XúcChuyển Hóa Sân HậnChìa Khóa Hạnh Phúc Gia ĐìnhPhật Giáo Nam Tông Tại Vùng Nam BộKinh Vu Lan Bồn - Vu Lan Báo HiếuĐộc giả có thể tìm mua ấn phẩm tại các nhà sách hoặc tham khảo bản ebook Tinh Hoa Trí Tuệ PDF của tác giả Thích Nhật Từ nếu chưa có điều kiện.Tất cả sách điện tử, ebook trên website đều có bản quyền thuộc về tác giả. Chúng tôi khuyến khích các bạn nếu có điều kiện, khả năng xin hãy mua sách giấy.
Tinh Hoa Trí Tuệ (Thích Nhật Từ)
MỤC LỤC Chương I: Vai trò của Tâm Kinh.1 I. Giới thiệu Tâm Kinh..3 1. Tầm quan trọng của Tâm Kinh.3 2. Các bản dịch...4 Tìm mua: Tinh Hoa Trí Tuệ TiKi Lazada Shopee 3. Vị trí Tâm Kinh.7 II. Cấu trúc Tâm Kinh.9 1. Bối cảnh Pháp hội..9 2. Đối tượng quán chiếu...9 3. Nội hàm giải thoát...10 4. Nội hàm nhận thức: Chánh Tri Kiến..10 5. Thế giới quan và nhân sinh quan Bát-nhã... 11 6. Nội hàm tư duy: Chánh tư duy...12 7. Nội hàm Vô chấp: Pháp bất khả đắc..12 8. Thần chú Tâm Kinh.13 III. Tựa đề bài kinh..14 1. Chữ Tâm trong Tâm Kinh...14 2. Lầm lẫn về chữ Tâm...14 3. Ý nghĩa Tâm Kinh trong các nghi thức Phật giáo.15 IV. Ba biểu hiện của trí tuệ Bát-nhã..18 1. Về trí tuệ Bát-nhã..18 2. Văn tự Bát-nhã...19 3. Quán chiếu Bát-nhã..21 4. Thực tướng Bát-nhã.22 5. Kết luận..23 V. Những vấn đề quan trọng..24 vi • TINH HOA TRÍ TUỆ 1. Trí Tuệ Bát-nhã là Mẹ sinh ra pháp lành...24 2. Bối cảnh pháp thoại của văn hệ Bát-nhã...26 3. Diệu dụng của Bát-nhã...27 4. Định trong văn hệ Bát-nhã...29 5. Bát-nhã và cuộc sống hàng ngày...30 Chương II: Vượt qua khổ ách.37 I. Tuyên ngôn giải thoát...39 II. Những dị biệt trong các bản dịch..40 1. Bồ-tát Quán Tự Tại..40 2. Hành thâm Bát-nhã...47 3. Chiếu kiến ngũ uẩn giai không...55 4. Vượt qua khổ ách..66 III. Phương tiện chấm dứt khổ đau...67 Chương III: Cắt lớp cái tôi...69 I. Cái “Tôi” và sự vật...71 1. Ngã và Pháp.71 2. Tướng và thực-tướng...72 II. Tương liên giữa cái tôi và thực tướng của nó...73 1. Sự vật hiện hữu vốn không thực thể...74 2. Năm uẩn và khổ ách.76 3. Thực tướng của năm uẩn...77 III. Tính vô ngã của mọi hiện tượng.79 1. Khổ ách vốn không thực thể..79 2. Bốn trình tự thể nhập tánh Không...80 IV. Tính vô ngã của cái tôi...82 1. Thân thể hay sắc uẩn vốn không có thực thể..83 2. Cảm thọ vốn không thực thể..88 3. Ý tưởng vốn không thực thể.92 4. Tâm lý vốn không thực thể...96 5. Tâm thức vốn không thực thể..98 V. Kết luận.100 MỤC LỤC • vii Chương IV: Cắt lớp thực tại..103 I. Phân tích ngữ cảnh..105 1. Ý nghĩa chân thực của câu văn.105 2. Ba lớp cắt của thực tại..107 II. Phân tích thực tại.107 1. Mục đích.107 2. Thực tại và ý niệm.108 III. Phân tích ba lớp cắt của thực tại.. 112 1. Không sanh, không diệt.. 112 2. Không tăng, không giảm...121 3. Không dơ, không sạch.127 IV. Kết luận...131 Chương V: Phá chấp bằng phủ định.135 I. Phủ định là phương tiện.137 II. Buông bỏ mọi chấp mắc...138 1. Ý nghĩa nguyên văn...138 2. Ý nghĩa của từ phủ định “vô”...140 3. Nhu cầu buông bỏ mọi chấp mắc...141 III. Phủ định để buông bỏ ngũ uẩn..143 1. Phủ định để buông bỏ sắc uẩn.144 2. Phủ định để buông bỏ thọ uẩn..145 3. Phủ định để buông bỏ tưởng uẩn.146 4. Phủ định để buông bỏ hành uẩn..147 5. Phủ định để buông bỏ thức uẩn...147 6. Kết luận về sự chấp ngũ uẩn.148 IV. Phủ định để buông bỏ 18 giới...148 1. Phủ định để buông bỏ 6 giác quan.149 2. Phủ định để buông bỏ 6 đối tượng giác quan..165 3. Phủ định để buông bỏ 6 thức giác quan..165 V. Phủ định để buông bỏ chấp trước 12 nhân duyên...167 1. Các yếu tố thuộc quá khứ..167 viii • TINH HOA TRÍ TUỆ 2. Các yếu tố thuộc hiện tại.168 3. Hai yếu tố tương lai...170 4. Phủ định để buông bỏ 12 nhân duyên..171 VI. Kết luận...179 Chương VI: Phá chấp khổ và chứng đắc...181 I. Phá chấp về tứ đế..183 1. Đối tượng áp dụng..184 2. Mục đích của phá chấp khổ và chứng đắc.184 II. Phá chấp về khổ.186 1. Không có khổ đau thực sự..186 2. Không có khổ khi già..189 3. Không có khổ do bệnh tạo ra...190 4. Không có khổ do ái biệt ly.191 5. Không có khổ do cầu bất đắc...191 III. Phá chấp về nguyên nhân của khổ..194 IV. Phá chấp về niết bàn...196 V. Phá chấp về con đường tuyệt đối..198 VI. Phá chấp về trí tuệ...202 1. Phá chấp không có trí tuệ...202 2. Nội hàm của trí tuệ.203 3. Đỉnh cao của trí tuệ...206 VII. Phá chấp sự chứng đắc...207 VIII. Kết luận.212 Chương VII: Trí tuệ vượt sợ hãi..213 I. Sở đắc và quái ngại...215 II. Vượt qua các trở ngại.219 1. Trở ngại từ nghịch cảnh...219 2. Trở ngại về tâm lý..220 3. Trở ngại về thái độ..221 4. Trở ngại về lười biếng..221 5. Trở ngại về thói quen tiêu cực..222 MỤC LỤC • ix 6. Trở ngại do vô minh và cố chấp..222 III. Sử dụng trí tuệ vượt qua sợ hãi.223 IV. Vô hữu khủng bố..226 V. Viễn ly điên đảo mộng tưởng...230 VI. Cứu cánh niết bàn...235 Chương VIII: Phép mầu của tuệ giác..241 I. Tuệ giác không sợ hãi...243 II. Trí tuệ là mẹ sinh các đức Phật...245 III. Trí tuệ là đỉnh cao nhất của sáu năng lực...247 IV. Ba năng lực tuệ giác..249 V. Tuệ giác là phép mầu.252 VI. Tuệ giác Ba-la-mật khác.257 VII. Kết luận..265Dưới đây là những tác phẩm đã xuất bản của tác giả "Thích Nhật Từ":Nghệ Thuật Hạnh Phúc Trong Thế Giới Phiền NãoTinh Hoa Trí TuệKinh Phật Cho Người Mới Bắt ĐầuHạnh Phúc Giữa Đời ThườngChuyển Hóa Cảm XúcChuyển Hóa Sân HậnChìa Khóa Hạnh Phúc Gia ĐìnhPhật Giáo Nam Tông Tại Vùng Nam BộKinh Vu Lan Bồn - Vu Lan Báo HiếuĐộc giả có thể tìm mua ấn phẩm tại các nhà sách hoặc tham khảo bản ebook Tinh Hoa Trí Tuệ PDF của tác giả Thích Nhật Từ nếu chưa có điều kiện.Tất cả sách điện tử, ebook trên website đều có bản quyền thuộc về tác giả. Chúng tôi khuyến khích các bạn nếu có điều kiện, khả năng xin hãy mua sách giấy.
Tìm Lại Chính Mình (Thích Thánh Nghiêm)
Lời dẫn Con người hiện đại đang sống trong một hệ thống giá trị đa nguyên và hỗn loạn, ai cũng muốn tìm tự do cho riêng mình. Do muốn tìm tự do bên ngoài nên họ không biết gốc rễ của tất cả các vấn đề nảy sinh bên trong chính họ, đương nhiên họ càng không biết thực chất tất cả các đáp án đó lại nằm trong nội tâm mình. Vì vậy, muốn giải quyết triệt để các vấn đề đó, đầu tiên bạn hãy nhìn lại chính bản thân mình, trở lại với bản thân mình. Tìm lại chính mình là một trong những tác phẩm hay của Hòa thượng Thánh Nghiêm, liên quan mật thiết đến đời sống tâm linh của con người hiện đại. Toàn bộ cuốn sách chia thành bốn phần lớn gồm: 1. “La bàn định hướng cuộc đời”; 2. “Giải thoát cho mình”; 3. “Tìm về âm thanh nội tại”; 4. “Khẳng định bản thân, trưởng thành và thể nhập vô ngã”. Là bậc thầy hướng dẫn đời sống tâm linh của xã hội đương đại, Hòa thượng Thánh Nghiêm không giống với những tác giả bình thường chỉ bàn luận đến thành công và trưởng thành của mỗi cá nhân. Xuất phát từ tầm nhìn vĩ mô, ngài cho rằng khi con người xác định được phương hướng đúng đắn, hòa mình vào mục tiêu chung của nhân loại, tự nhiên sẽ định vị được bản thân, không đi lệch hướng. Hơn nữa, trưởng thành của mỗi cá nhân chính là sự trưởng thành của cả nhân loại, thành công của cá nhân chính là thành công của toàn xã hội, cá nhân và tập thể không mẫu thuẫn đối lập mà tác động qua lại, bổ trợ cho nhau. Nếu không có trí tuệ uyên thâm, thiếu hiểu biết cuộc đời thì làm sao có được tầm nhìn rộng lớn và sâu sắc như thế được! Tìm lại chính mình là kết tinh của tâm từ mẫn, trí xuất trần giúp chúng ta tìm lại nẻo về bản lai diện mục, đối diện với chính mình. Tìm mua: Tìm Lại Chính Mình TiKi Lazada Shopee Dưới đây là những tác phẩm đã xuất bản của tác giả "Thích Thánh Nghiêm":Bình An Trong Nhân GianBuông Xả Phiền NãoAn Lạc Từ TâmThành Tâm Để Thành CôngTìm Lại Chính MìnhGiao Tiếp Bằng Trái TimĐộc giả có thể tìm mua ấn phẩm tại các nhà sách hoặc tham khảo bản ebook Tìm Lại Chính Mình PDF của tác giả Thích Thánh Nghiêm nếu chưa có điều kiện.Tất cả sách điện tử, ebook trên website đều có bản quyền thuộc về tác giả. Chúng tôi khuyến khích các bạn nếu có điều kiện, khả năng xin hãy mua sách giấy.