Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Tay Sát Thủ Mù

Giữa những sát thủ mù, người thằn lằn, ma nữ, tiểu thư thượng lưu, nghệ sĩ hiện đại, tư sản học làm sang, cựu  chiến binh, thủ lĩnh công đoàn, tài phiệt… Margaret Atwood cuốn người đọc qua một câu chuyện trải hơn một thế kỷ,  hai lục địa và vài hành tinh. Từ những mảnh tưởng chừng rời rạc, Atwood đã dệt nên một tiểu thuyết đáng kinh ngạc,  thêm một lần nữa khẳng định vị thế của bà như một trong những tiểu thuyết gia đương đại hàng đầu, người kể những  câu chuyện ly kỳ một cách xuất chúng.   Nhận định   “Nghệ thuật kể chuyện vĩ đại trên quy mô lớn… Tuyệt hay.” - The Washington Post Book World   Hãy tưởng tượng vị hãn Agha Mohammed, kẻ đã lệnh đem hạ sát hoặc chọc cho mù mắt toàn bộ dân thành Kerman, không từ một ai. Đội cận vệ hăm hở bắt tay vào việc. Chúng gom cư dân thành hàng, người lớn cắt đầu, trẻ con khoét mắt… Về sau, đàn đàn lũ lũ trẻ con mù rời khỏi đô thành. Một số, sau khi xiêu dạt nơi thảo dã, lạc đường trong sa mạc mà chết khát. Số khác tìm được tới nơi người ở… hát những bài ca về cuộc tận diệt gái trai già trẻ Kerman… - RYSZARD KAPUŚCIŃSKI   Ta bơi, biển khơi vô tận, nhìn chẳng thấy bờ. Tanit nguyệt thần không biết xót thương, ta nguyện cầu, người đền đáp. Hỡi kẻ kia chìm trong bể ái, hãy nhớ về ta. - KHẮC TRÊN BÌNH TRO THỜI CARTHAGE   Lời là lửa cháy trong lòng kính tối. - SHEILA WATSON *** TAY SÁT THỦ MÙ – BẤT CẦN VÀ SAY ĐẮM Có rất nhiều điều để nói về văn chương Margaret Atwood, một tên tuổi lớn khác của văn chương Canada hiện đại (cùng với Alice Munro). Chẳng hạn như lối viết hết sức chi tiết, nghệ thuật kể chuyện tự nhiên, sống động, cách dẫn dắt tài tình hay ngôn ngữ sắc lạnh và có phần giễu cợt nhưng chứa chan tình cảm. Tuy nhiên, đáng chú ý nhất có lẽ là tính nữ đậm đạc trong các tác phẩm của bà. NHỮNG CÂU CHUYỆN CỦA BÀ GIÀ IRIS “Bà Iris Chase Griffen đã đột ngột tạ thế thứ Tư tuần trước, thọ 83 tuổi, trong ngôi nhà của mình ở cảng Ticonderoga. Bà Griffen là chị gái nữ tác giả danh tiếng người thị trấn là Laura Chase. Bên cạnh đó bà còn là con gái Đại úy Norval Chase, chắc chắn sẽ được thị trấn ghi nhớ lâu dài, và cháu nội Benjamin Chase, người sáng lập công ty Công nghiệp Chase, đã mở Nhà Máy Cúc cùng nhiều cơ sở khác. Thêm vào đó, bà là vợ ngài Richard E. Griffen quá cố, nhà công nghiệp và chính trị gia lừng danh, cũng như chị dâu bà, Winifred Griffen Prior, nhà hảo tâm Toronto vừa qua đời năm ngoái, để lại quỹ tiền thưởng hào phóng cho trường trung học thị trấn ta. Gia đình còn lại cháu gái bà là Sabrina Griffen, cô vừa về nước và nghe đồn là sắp tới thị trấn lo liệu công việc cho bà ngoại” (tr. 469) Đó là những dòng trích bản tin về cái chết của bà Iris Chase Griffen mà tờ Sứ điệp và Tinh kỳ thuộc Cảng Ticonderoga đã đưa, trong chương cận kề chương cuối cuốn tiểu thuyết Tay sát thủ mù của Margaret Atwood (An Lý dịch; Nhã Nam & NXB Hội Nhà văn ấn hành 2015). Một bản tin tóm lược, giới thiệu ngược trở lại các nhân vật chính của cuốn tiểu thuyết. Laura Chase: em gái của Iris người đã qua đời ở tuổi 25, sau một tai nạn ô tô, hay có thể nói là tự lái xe lao xuống vực, để lại một bản thảo dở dang: Tay sát thủ mù. Iris, khi về già, lọm khọm, đơn độc, bị bệnh tim, luôn sống trong trạng thái bị phơi bày sự tan hoang của tuổi tác. Bà muốn náu mình, muốn quên lãng. Nhưng việc tình cờ tìm thấy bản thảo của Laura khiến quá khứ sống dậy. Từng trang bản thảo, mỗi khi giở ra, khiến bà nhớ lại, liên tưởng, ráp nối và “ngoan cường viết” như hiệu đính (những phần trong bản thảo dang dở của cô em Laura), bình luận và hoàn thiện, một cách tinh tế, hài hước, thậm chí có phần độc địa. Một thiên truyện trải dài gồm ba câu chuyện đan cài vào nhau như dệt vải kiểu ngẫu hứng, rất phong phú và bất ngờ. Từ thời thơ ấu, với những biến cố lớn lao như chuyện chiến tranh và những rung động đầu đời. Tưởng chẳng là bao, chẳng có nghĩa lý gì, nhưng khi chạm vào sột soạt trang giấy, khi chữ dẫn đường cho cảm xúc, thì Iris nhớ lại, cảm xúc cứ dâng mãi lên như nước dâng lên lòng hồ, rồi tràn bờ đập lai láng, miên man. Và dần dần hé lộ những bí mật trong cuộc đời từng nhân vật. Cấu trúc “truyện lồng trong truyện” Atwood sử dụng không phải tân kỳ gì. Nhưng đây không phải là cuốn sách đặt nặng vấn đề kỹ thuật hay cấu trúc (mặc dù nó được tác giả tính toán khá thông minh). Đây có lẽ là một tuyệt tác về văn phong, cách hành văn điêu luyện chỉ có ở những bậc thầy. Cho nên, câu chuyện dẫu dằng dặc, đôi khi có cảm giác lê thê, ảm đạm như bánh xe lửa rin rít trên đường ray ngày mưa vẫn khiến người đọc bị mê hoặc, chìm đắm. Từng câu chữ được viết ra, từng trang văn được bày biện ngập tràn cảm xúc, tỉ mẩn đến từng chi tiết. Tuy nhiên, không chỉ có vậy, văn chương Atwood vừa viễn tưởng về phía tương lai vừa phảng phất chút phong vị cổ điển u hoài. Giở bất kỳ trang văn nào, người đọc cũng có thể bắt gặp những câu, đoạn văn hay và lạ, tỉa ra những đoạn kinh điển. Một đoạn tả thời tiết: “Cái nóng mùa Hè đã về đầy đủ, vánh lại trên thị trấn như súp kem. Tiết trời sốt rét, một thời; tiết trời thổ tả. Hàng cây che đường tôi đi xòe những tán ô rũ rượi, giấy ẩm nhớp dưới tay, chữ viết đâm râu tua tủa như son môi rỉ vào đường chân chim ven khuôn miệng già cỗi. Chỉ cần leo thang đã trổ một hàng ria mồ hôi”… (tr. 48) Hoặc: “Thảm dệt ra đời này sang đời khác đều nhờ trẻ con nô lệ, bởi chỉ có ngón tay trẻ con mới đủ nhỏ cho những động tác tinh vi đến thế. Nhưng những giờ dằng dặc sít sao khiến đám trẻ lên tám hay chín là thảy mù lòa, và người bán thảm dựa vào đó mà tính toán cũng như quảng bá giá trị hàng hóa. Tấm thảm này đã khiến mười đứa trẻ mù đấy, họ rao thế”. (tr. 24) Những câu văn đầy bi phẫn và hài hước, bóc trần tất cả, từ chuyện tình yêu, hôn nhân đến chính trị, nghệ thuật, tài phiệt qua giọng kể cay độc, tưởng như vô cảm của bà già “khó ưa” Iris. Không dễ gì tìm được một tác giả có giọng văn vừa ngầu đời, bất cần mà vừa lại thi vị và say đắm như vậy. Nó dường như lột tả hết tính cách nhân vật, cô gái tên Iris với một vẻ nhu mì cam chịu nhưng ẩn chứa một nội tâm nổi loạn, cá tính ngang ngạnh tiềm tàng với khát vọng tự do. Không tâm sự hay thở than, không một chút ai oán, Iris chính là hiện thân của tính nữ, mềm mại dịu dàng nhưng không bao giờ đầu hàng hay bỏ cuộc, với sự bền bỉ âm thầm và khôn khéo. Iris là kiểu phụ nữ bao nhiêu sức mạnh lặn cả vào trong để sự nhún nhường ra mặt chiến đấu. Cô kiên cường nhưng không lộ liễu, mạnh mẽ nhưng không phô phang, nữ tính nhưng không ẻo lả. Và vì bà là một nhà thơ, nên chúng ta có một cuốn sách đầy chất thơ và tính ẩn dụ, đồng thời có một cuốn sách gai góc, đầy những vết thương. Tấm vải mà Margaret dệt nên vừa mềm mại vừa thô nhám, vừa êm ái vừa đầy vết cứa. Nó chính là thế giới được chiếu rọi từ ánh sáng phát ra phía tâm hồn những người phụ nữ, đầy nhạy cảm nhưng rất can trường. Không nhiều, nhưng đủ để quàng chiếc khăn lên mình như khát vọng của chính họ, được cuộc đời ôm ấp và vỗ về đầy dịu dàng và đau đớn. Như khoác lên mình thứ mà thế giới này ưu ái dành cho họ, là tình yêu. Một tác phẩm đáng thưởng thức, như lời Margaret mượn của Sheila Watson đề từ: Lời là lửa cháy trong lòng kinh tối. *** Mười ngày sau khi chiến tranh kết thúc, Laura em tôi lái xe lao khỏi cầu. Cầu đang sửa, nó phi thẳng qua biển báo Nguy hiểm. Chiếc xe rơi ba chục mét xuống vực, bổ qua những ngọn cây lơ thơ trổ lá, rồi cháy đùng đùng lăn xuống lòng con suối nông choèn dưới đáy. Từng tảng ván cầu lả tả rơi lên trên. Em tôi không còn lại gì ngoài tro tàn than vụn. Tôi được tin từ một viên cảnh sát: xe là xe tôi, họ tra ra biển số. Anh ta tỏ ra lễ độ: hẳn nhiên anh ta nhận ra họ Richard. Anh ta nói có lẽ bánh bị kẹt vào rãnh xe điện hoặc phanh bị hỏng, nhưng anh cũng có bổn phận báo tôi biết có hai người - một luật sư về hưu và một thu ngân ở nhà băng, toàn những người đáng tin tưởng cả - tự nhận đã chứng kiến từ đầu đến cuối. Họ cho biết Laura đã chủ động quành xe rất gắt, và đâm qua tường cầu thản nhiên cứ như đang bước trên hè xuống. Họ có nhận ra tay em tôi vẫn đặt trên vô lăng nhờ đôi găng trắng. Không phải tại phanh, tôi nghĩ. Nó có những lý do riêng. Không bao giờ giống lý do của ai khác. Về mặt đó nó tàn nhẫn vô cùng. “Tôi nghĩ các anh cần người nhận dạng,” tôi nói. “Tôi sẽ cố gắng xuống đó ngay khi được.” Tôi nghe giọng mình vang lên bình tĩnh, như từ xa vọng lại. Thực tế tôi hầu như không thốt được thành lời; miệng tôi tê dại, mặt sắt lại vì đau. Cảm giác như vừa đi nhổ răng. Tôi tức muốn điên vì việc Laura đã làm, và còn vì viên cảnh sát cả gan ám chỉ nó đã làm thế. Một luồng gió nóng đang cuộn quanh đầu tôi, những cọng tóc bị bốc lên ngoằn ngoèo trong gió, như mực loang trong nước. “Tôi e rằng sẽ có điều tra, thưa bà Griffen,” anh ta nói. “Tôi hiểu mà,” tôi đáp. “Nhưng đây là tai nạn thôi. Em gái tôi chưa bao giờ lái xe thành thạo cả.” Tôi hình dung khuôn mặt trái xoan của Laura, búi tóc cài trâm gọn, chiếc áo chắc hẳn nó mặc lúc ấy: áo chẽn eo cổ tròn khoét hẹp, một màu nghiêm nghị - xanh nước biển hoặc xám ánh thép, hoặc lá cây thứ màu hành lang bệnh viện. Những màu thống hối - nhìn không giống đồ tự chọn, mà như đồ ép mặc trước khi nhốt lại. Nụ cười nửa miệng nghiêm trang; đôi mày nhướng lên kinh ngạc, như là nó đang chiêm ngưỡng khung cảnh trước mắt. Găng tay trắng - cử chỉ học của Pontius Pilatus[1]. Nó đang rửa tay cho sạch khỏi tôi. Khỏi tất cả chúng tôi. Nó nghĩ gì khi chiếc xe bay bổng khỏi cầu, lơ lửng giữa hoàng hôn đầy nắng, lấp loáng như cánh chuồn trong khoảnh khắc nín hơi trước lúc bổ nhào? Nghĩ tới Alex, tới Richard, tới lòng man trá, tới cha chúng tôi và cuộc lụn bại của ông; có lẽ là tới Chúa, và cuộc thỏa thuận tay ba chết người của nó. Hay tới tập vở học trò rẻ tiền hẳn nó đã giấu vừa sáng hôm ấy, trong ngăn để tất của tôi, vì biết tôi sẽ là người tìm thấy. Khi viên cảnh sát đi rồi tôi lên lầu thay áo. Muốn tới nhà xác tôi cần găng tay, và mũ có mạng. Để che đôi mắt. Có thể sẽ có nhà báo. Tôi sẽ phải gọi tắc xi. Cũng cần báo trước cho Richard lúc này đang ở văn phòng; chắc sẽ muốn chuẩn bị trước vài lời ai điếu. Tôi vào phòng thay đồ: cần có đồ đen, và khăn tay nữa. Tôi mở ngăn kéo, nhìn thấy tập vở. Tôi tháo nắm chun chằng chịt buộc ngoài. Tôi nhận ra răng mình đang va lập cập, người mình đang lạnh từ đầu đến chân. Chắc đang bị sốc, tôi kết luận. Trong đầu tôi lúc đó nhớ lại Reenie, từ hồi chúng tôi còn nhỏ. Luôn là Reenie lo lấy bông băng, băng những vết trầy xước hay đứt tay và các thương tích lặt vặt khác: mẹ đang nghỉ, hoặc đi làm việc thiện ở đâu đó, nhưng Reenie thì luôn có mặt. Chị sẽ túm lấy chúng tôi đặt ngồi lên bàn men trắng trong bếp, cạnh chỗ bột làm bánh đang nhào hay con gà đang chặt hoặc con cá đang làm ruột, và dúi cho cục đường đen để chúng tôi ngậm miệng. Nói xem đau ở đâu nào, chị bảo. Đừng có rú lên nữa. Bình tĩnh lại rồi bảo cho tôi đau ở đâu. Nhưng có những người không thể nói được đau ở đâu. Không thể bình tĩnh lại. Thậm chí không thể ngừng rú lên. Mời các bạn đón đọc Tay Sát Thủ Mù của tác giả Margaret Atwood & An Lý (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Chó Sói Cắn Chó Nhà - Martin Cruz Smith
Chó sói cắn chó nhà là cuốn tiểu thuyết với nhân vật trung tâm là điều tra viên Arkady Renko của nhà văn Martin Cruz Smith. Bối cảnh câu chuyện phần lớn diễn ra ở một vùng đất tối tăm, nơi đã xảy ra thảm họa hạt nhân chấn động thế giới năm 1986 - Cherbobyl. Đó là một miền hoang vắng, chứa đầy hạt phóng xạ, chất độc hại, mà như các nhân vật gọi là “nơi tận cùng thế giới.” Đó cũng là nơi diễn rao toàn bộ những tội ác, các vụ án mạng mà Arkady điều tra. Mở đầu là cái chết của Pasha Ivanov - một doanh nhân thành đạt, một nhà khoa học lỗi lạc, sáng chói của thế hệ Nga mới tại Matxcova. Nhưng rồi, ông ta bất ngờ chết, một cách mờ ám. Rồi một nhà triệu phú khác cũng bất ngờ tử nạn, ông này vừa là bạn nối khố, vừa là đồng sở hữu tập đoàn lớn cùng Ivanov, tại Chernobyl. Arkady đã tới Cherbobyl để điều tra nguyên nhân của những cái chết bí hiểm này. Arkady một mình rong ruổi khắp vùng đất độc hại đó bất kể ngày đêm, từng bước khám phá ra sự thật. Bộ sách Arkady Renko gồm có: Án Mạng Ở Công Viên Gorky (#1) Chó Sói Cắn Chó Nhà (#5) ... *** Martin Cruz Smith sinh ngày 3 tháng 11 năm 1942 tại hoa Kỳ. Martin Cruz Smith xếp hạng nổi tiếng thứ 36200 trên thế giới và thứ 269 trong danh sách Tiểu thuyết gia nổi tiếng. Ông theo học tại Đại học Pennsylvania vào đầu những năm 1960, tốt nghiệp với bằng văn bản sáng tạo. Vào giữa những năm 1960, ông bắt đầu làm việc như một nhà báo; ông xuất bản tác phẩm văn học đầu tiên của mình, Người Ấn Độ Won, vào năm 1970. *** Matxcova chìm đắm trong sắc màu. Những ngọn đèn pha lờ mờ ở Quảng trường Đỏ hòa lẫn ánh đèn neon từ các sòng bạc trong Quảng trường Cách mạng. Ánh sáng len lỏi chui lên từ trung tâm thương mại dưới lòng đất ở Manezh. Ánh đèn rực rỡ bao quanh các tòa tháp bằng kính và đá hoa cương bóng loáng, trên đỉnh mỗi tòa là tháp hình chóp nhọn. Thị trưởng thành phố yêu thích những ngọn tháp. Dẫu những mái vòm mạ vàng vẫn thấp thoáng quanh Vành đai Garden*, nhưng hằng đêm máy xúc lại xé toạc thành phố già nua và đào những cái hố ngập tràn ánh sáng ngày càng rộng hơn để nhào nặn nên một Matxcova hiện đại, cao vút như Houston hay Dubai. Đó chính là Matxcova mà Pasha Ivanov đã góp phần xây dựng, một khung cảnh đang chuyển dịch của các mảng kiến tạo, dòng dung nham nóng rực và những sai lầm chết người. Điều tra viên cấp cao Arkady Renko ngó ra ngoài từ cửa sổ tầng mười nhìn xuống thi thể Pasha Ivanov đang nằm trên vỉa hè. Ivanov đã chết nhưng không quá đẫm máu, tay và chân gập lại trong tư thế quái dị. Hai chiếc Mercedes màu đen đỗ ở lề đường, một của Ivanov, và chiếc SUV còn lại dành cho các vệ sĩ của ông ta. Đôi khi Arkady nhận thấy, điểm chung của các doanh nhân thành đạt lẫn những ông trùm mafia ở Matxcova là đều sở hữu hai con Mercedes dòng SS-black của Đức. Ngoài các vệ sĩ từ chiếc xe hộ tống của Ivanov, thì lễ tân và nhân viên điều hành thang máy của tòa nhà cũng được trang bị vũ khí. Hành lang, thang máy dành cho khách, lối đi cho người phục vụ và mặt trước tòa nhà đều gắn máy quay. Pasha đã đến đây lúc 9:28 tối, lên thẳng căn hộ an toàn nhất Matxcova và vào lúc 9:48 thì lao thẳng xuống đường phố. Arkady đã đo khoảng cách từ điểm Ivanov chạm đất tới chân tòa nhà. Nếu là một vụ giết người thì khoảng cách đó thường gần hơn vì nạn nhân sẽ cố gắng vùng vẫy để không bị rơi. Còn nếu là tự tử thì điểm rơi sẽ có một đích đến duy nhất và cách xa hơn. Ivanov gần như đã chạm tới lòng đường. ... Mời các bạn đón đọc Chó Sói Cắn Chó Nhà của tác giả Martin Cruz Smith.
Chậm Một Bước - Henning Mankell
Một ngày hạ chí ở Skåne, tỉnh xa xôi nhất miền Nam Thụy Điển. Ba người bạn trẻ hẹn nhau trong một cánh rừng, và trong bóng chiều chạng vạng, họ mặc trang phục của thế kỷ 18 và làm bộ như trong một bữa tiệc hóa trang – ngay trước mắt cái gã đang theo dõi họ. Kẻ-quan-sát-bí-mật này nhanh chóng đặt dấu chấm hết cho màn trình diễn của họ. Hành động cẩn trọng, mục tiêu hoàn hảo. Ba viên đạn, ba xác chết. Cùng lúc, một mùa hè yên ắng bất thường đang diễn ra ở sở cảnh sát thành phố Ystad. Cảnh yên bình đó đã hoàn toàn tiêu tan, khi một trong những đồng nghiệp thân cận của Wallander bị giết chết. Đầu mối duy nhất: một bức ảnh làm nhiễu mọi thông tin, và rồi, những bước điều tra lần theo một tên giết người vừa đơn giản, vừa chính xác, vừa điên rồ trong chính sự giản đơn đó. Nhưng họ đã luôn chậm một bước, một cách đáng sợ và trêu ngươi, với tay sát thủ mà phương pháp tỉ mỉ và sự chọn lựa nạn nhân của hắn mang tới thật nhiều cảm giác, thông qua những tội ác lố bịch và lạnh lẽo. Để rồi một bước cuối, Wallander không chậm nữa. Trực giác và suy luận thông minh của ông đã vượt lên tác giả của chuỗi dài chết chóc kia, mang tới cho người đọc khoái cảm về một câu chuyện được kể ra một cách kỳ tài, hé lộ nhiều điều về bản chất con người, làm nên tác phẩm nổi tiếng nhất của Henning Mankell, một tác giả trung tâm trong dòng tiểu thuyết Trinh thám đen mới của châu Âu hiện tại.  *** Nhận định   “ Wallander nằm trong số những nhân vật hay nhất, khác thường nhất của tiểu thuyết hình sự - một đóng góp lớn lao của thể loại” - Daily Telegraph   “Mẫu mực… với sự thông minh đậm đặc và tinh tế mà Mankell đặt trong những trang viết trinh thám của ông”   - The Washington Post Book World *** Henning Mankell nhà văn Thụy Điển, nổi tiếng thế giới với serie truyện trinh thám về thanh tra Kurt Wallander, bao gồm 8 tiểu thuyết và 1 tập truyện ngắn. Các tác phẩm đó được xuất bản tại 33 quốc gia và liên tục đứng trong danh sách sách bán chạy nhất châu Âu và thế giới. Các tác phẩm của ông đạt được nhiều giải thưởng, nổi bật nhất là giải Great Britian’s Gold Dagger 2001. *** Mưa ngừng rơi không lâu sau mười bảy giờ. Gã đàn ông ngồi úp mình dưới gốc cây chầm chậm cởi áo vest ra. Cơn mưa rào không kéo dài đến ba mươi phút, nhưng gã đã bị ướt. Nỗi tức giận trào lên một thoáng. Gã không muốn mắc cảm. Không phải là bây giờ, khi mùa hè mới bắt đầu. Gã đặt áo vest xuống đất và đứng dậy. Hai chân tê mỏi. Gã vươn người vài cái để phục hồi lưu thông của các mạch máu. Những người mà gã đang chờ sẽ không đến trước hai mươi giờ. Họ đã quyết định như vậy và họ sẽ không đổi ý. Nhưng vẫn còn một nguy cơ rất nhỏ là sẽ có ai đó tình cờ đi lạc vào một trong những lối đi dẫn vào khu bảo tồn. Đó là chi tiết không thể dự đoán duy nhất trong kế hoạch được lên một cách chi tiết của gã. Chi tiết duy nhất mà gã không thể chắc chắn tuyệt đối. Tuy nhiên, gã không cảm thấy lo lắng. Không có hoạt động hội hè nào được dự kiến ở khu bảo tồn vào đêm Saint-Jean này (Tức là ngày 21 tháng Sáu (tất cả chú thích trong sách đều của người dịch)). Không có ai cắm trại gần đây. Thêm nữa, những người mà gã đang chờ đã chọn chỗ cho mình vô cùng cẩn thận. Họ muốn được yên tĩnh. - Chỗ hẹn đã được ấn định mười lăm ngày trước - vào lúc đó, gã đã theo dõi họ được nhiều tháng. Ngay ngày hôm sau, gã đã kín đáo đến khu vực để hoang của khu bảo tồn. Đột nhiên, một cặp vợ chồng nhiều tuổi xuất hiện trên một lối đi. Gã vội lẩn vào sau một bụi cây; hai người biến mất. Khi tìm được địa điểm họ định dùng để tổ chức bữa tiệc, ngay lập tức gã nhận ra nó thật lý tưởng ở tất cả các khía cạnh: nằm trong một khoảng đất trũng xuống dưới chân một đoạn dốc, bao quanh là những bụi cây nhỏ và đằng sau là vài cái cây. Họ sẽ không thể tìm được một nơi nào tốt hơn thế. Cả họ. Cả gã. ... Mời các bạn đón đọc Chậm Một Bước của tác giả Henning Mankell.
Cánh Cửa Thứ 4 - Paul Halter
Một ngày nọ, người ta tìm thấy một phụ nữ hiền lành nằm chết giữa vũng máu trong căn phòng khóa kín, da thịt đầy những vết dao. Từ đó, ma mị lần quất kêu gào, vô vàn hiện tượng lạ lùng bắt đầu phát sinh trong tư dinh u ám. Để chấm dứt những bí ẩn ấy, một người tự nguyện bước vào phòng, thử nghiệm gọi hồn với hy vọng xoa dịu hồn ma đang giận dữ và khám phá sự thật ẩn giấu sau cái chết của bà ta. Căn phòng được đóng lại từ bên ngoài, và niêm phong bằng dấu ấn một đồng xu hiếm. Dấu niêm vẫn nguyên vẹn khi cửa mở ra lần nữa, nhưng xác của một người khác đã im lìm nằm đó… Kỳ quái. Phi lý. Không thể giải thích theo logic tự nhiên. Và vượt ra ngoài những trải nghiệm bình thường của con người. Đây là tác phẩm kinh dị của một hồn ma báo oán? Hay đơn giản là trò bịp của những kẻ thủ ác cao tay? *** Đ êm ấy tôi về phòng sớm, dự định tận hưởng buổi tối dễ chịu cùng một cuốn sách. Nhưng chưa kịp ấm chỗ thì nghe cửa phòng vang lên ba tiếng gõ dè dặt. Người chọn đúng thời điểm này để tìm đến, không ai khác hơn là Elizabeth em gái tôi. Ở tuổi mười tám, em đã trở thành một thiếu nữ đẹp mê hồn, song đôi lúc tôi tự hỏi liệu em có nhận ra điều đó hay không. Em thay đổi rất nhiều chỉ trong mấy tháng qua, sắc đẹp của em khiến John Darnley không thể làm ngơ, để rồi theo đuổi với một quyết tâm thầm lặng. Trong khi hãnh diện rõ rệt vì sự chú ý của cậu ta, em lại để mắt tới Henry White nhà hàng xóm đồng thời cũng là người bạn thân nhất của tôi. Còn Henry, dù có phong thái tự tin đầy học thức, nhưng lại nhút nhát không ngờ trước con gái, đặc biệt là trước Elizabeth, người mà cậu cũng rất si mê. “Em có làm phiền anh không, James?” em hỏi, tay do dự đặt nơi nắm cửa. “Đương nhiên là không rồi,” tôi nói với một tiếng thở dài và hi vọng là đầy ý tứ, mũi vẫn chúi vào cuốn sách. Elizabeth ngồi xuống giường, cạnh tôi, đầu cúi gầm, hai bàn tay bồn chồn vặn vẹo. Cuối cùng nghiêm trang ngước cặp mắt to màu nâu nhìn tôi. “James, em phải nói chuyện với anh.” “Gì thế?” “Đó là về Henry.” Tôi biết tiếp theo là gì rồi. Tôi sẽ phải làm ông tơ cho hai người: một quá kiêu hãnh, còn một quá nhút nhát không dám thể hiện cảm xúc của mình. Elizabeth giật lấy quyển sách từ tay tôi và gay gắt hỏi, “Anh có định nghe em nói không, James?” Bất ngờ khi thấy em cao giọng, tôi bèn hạ cố nhìn em, châm một điếu thuốc và tập trung nhả vài vòng khói tròn hoàn hảo. Hồi nhỏ, tôi không thích gì hơn là chọc tức em bằng cách giữ thái độ lạnh lùng bình thản mỗi khi em khó chịu. Tôi luôn tính toán làm sao để đẩy em vào cơn giận cực độ, và phải xấu hổ thừa nhận rằng tôi đã duy trì rất tốt sở trường đó. Mặc dù vậy, không muốn đi quá giới hạn chịu đựng của em, tôi lại mềm lòng. ... Mời các bạn đón đọc Cánh Cửa Thứ 4 của tác giả Paul Halter.
Án Mạng Đường Nhà Xác - Edgar Allan Poe
Nói tới truyện trinh thám, quái đản, và rùng rợn, ai cũng phải nhắc đến nhà văn đại tài Edgar Allan Poe (1809—1849). Ông là người đầu tiên viết những truyện bí mật và ly kỳ, dùng suy luận tỷ mỉ và khoa học để dẫn tới kết thúc - đó là những truyện khơi mào cho loại tiểu thuyết trinh thám ngày nay. Ai đọc truyện của Edgar Poe cũng đều bị lôi cuốn một cách say sưa từ trang đầu tới trang cuối. Ngày nay Poe không những được coi là một trong các nhà văn tài ba nhất Mỹ Quốc mà còn được cả thế giới thán phục. Nhưng nếu ta biết được cuộc đời đầy đau khổ của văn sĩ, ta mới càng thương xót cho con người lỗi lạc mệnh yểu đó, để tưởng nhớ những giai đoạn gây cảm hứng cho ông viết nên những truyện bất hủ và sáng tác những vần thơ tuyệt diệu mà ngày nay cả nhân loại được thưởng thức. Song thân của Poe là kịch sĩ lưu động nay đây mai đó. Cậu bé sinh tại tỉnh Boston ngày 19 tháng Giêng, 1809. Khi mới lên 3 đã mồ côi cha mẹ, và được một thương gia tên là John Allan đón về nuôi, vì thế sau này ông mới xen chữ Allan vào giữa tên mình. Khi 17 tuổi, Poe vào học tại Đại Học Đường Virginia, nhưng chàng thanh niên phóng túng đó đã cờ bạc và rượu chè, vì vậy người cha nuôi bực bội đã triệu chàng về nhà. Chỉ vài tháng sau, Poe lại bỏ nhà ra đi. Ngay lúc tuổi còn non như vậy, Poe đã tỏ ra có thiên tài về văn chương, nhưng tiền nhuận bút nào có ăn thua gì, sao đủ nuôi sống chàng, nên chàng buộc lòng phải ghi tên nhập ngũ, rồi thăng lên tới chức thượng sĩ. Sau chàng được chấp nhận vào trường võ bị West Point, nhưng chẳng bao lâu, vì không chịu nổi kỷ luật nghiêm khắc ở đó, nên chàng vi phạm thường xuyên các điều luật và bị trục xuất sau 8 tháng học tập tại đó. Từ đấy trở đi, Poe nhất quyết kiếm cách sinh sống bằng cây bút. Tới năm 1835, chàng cưới cô em họ là Virginia. Thơ, truyện ngắn và các bài bình bút của Poe bắt đầu được nhiều người chú ý. Chàng quá mải miết viết văn, và vợ chàng, vì yêu quí chàng, nên mỗi khi chàng thức khuya viết lách dưới ngọn đèn lù mù, nàng cũng ngồi chầu chực bên chồng - có lẽ để gây thêm cảm hứng cho chồng. Ngờ đâu chẳng bao lâu, chính nàng thụ bệnh lao phổi, và qua đời vào ngày 30 tháng Giêng 1847. Cái chết của người vợ yêu quí đã làm Poe vô cùng đau đớn trong một thời gian, rồi chàng đâm ra bê tha quá độ để giải sầu, cố sao tìm khoái lạc để quên đau thương. Tới 1849, chàng lại đính hôn với người yêu thuở thiếu thời, lúc đó là một quả phụ giàu có, thì đột nhiên văn sĩ bị nhóm gian manh bắt cóc và đầu độc. Khi tìm ra ông, người ta thấy ông hoàn toàn bất tỉnh nhân sự và bốn ngày sau, ông đã từ trần vào ngày 7 tháng Mười 1849, hưởng thọ vừa chẵn tứ tuần. Sáu truyện ngắn trong cuốn sách này được coi là hay nhất của Edgar Poe. Độc giả sẽ thấy nó thuộc sáu loại khác hẳn nhau, có truyện rùng rợn, có truyện quái đản và ly kỳ, có truyện đượm vẻ triết lý và phân tâm lý. Nó đã cho ta thấy các biến chuyển trong tâm hồn một nhà văn có tài nhưng đã chịu nhiều đau khổ Loại truyện ngắn này, nếu được độc giả hoan nghênh, chúng tôi sẽ dịch xuất bản thêm để giới thiệu một số văn sĩ đại tài quốc tế khác. L. B. K *** Edgar Poe (tên đầy đủ là Edgar Allan Poe) sinh ngày 19/1/1809 tại thành phố Boston, tiểu bang Massachusetts trong một gia đình nghệ sĩ. Người cha, David Poe, mất khi cậu con trai Edgar chưa chào đời, còn người mẹ Eliza cũng từ trần lúc Edgar Poe mới tròn ba tuổi. Một câu chuyện đáng sợ không phải nằm ở những hành vi giết người mà nằm trong chính sự rối loạn tâm thần của nhân vật mà Poe đã tạo ra bằng một hệ thống ngôn ngữ rất lãnh đạm, với sự tỉnh lược những miêu tả diễn biến nội tâm nhưng lại dựng nên được một bầu không khí u uẩn, chết chóc, và cô độc, quái dị của tâm hồn con người. Poe thường đặt bối cảnh truyện vào ban đêm, trong bóng tối; tập trung miêu tả những hình ảnh tưởng tượng ghê rợn đến kỳ lạ vốn không có trong hiện thực như trong Mặt nạ tử thần đỏ, Sự sụp đổ của ngôi nhà Usher, Cuộc trò chuyện với một xác ướp, Linh hồn, Con quỷ trên gác chuông, Con mèo đen… Bản thân những hình ảnh ấy đã gợi trí tò mò và sự kinh hãi nơi người đọc. Những sáng tác của Poe không đơn thuần là sản phẩm của trí tưởng tượng. Chúng còn được viết dựa trên các kiến thức tuyệt vời của ông trong các lĩnh vực khoa học khác nhau như tâm lý học, tội phạm học, nghệ thuật học, y học, sinh - hóa học... Do đó, các câu chuyện cho dù nhuốm màu sắc hoang đường, kỳ ảo nhưng lại rất logic. Nhịp điệu trầm buồn, kết thúc đầy bất ngờ, những yếu tố tâm linh thể hiện một xúc cảm u buồn mãnh liệt, sự khổ đau và cả nỗi ám ảnh của chứng loạn thần kinh về cái chết, bạo lực và toàn bộ cái nhìn về nhân sinh quan của ông cho thấy một sự thiết tha với cái đẹp bí ẩn đầy bi kịch của cuộc sống. "Edgar Poe để lại nhiều cái bóng khác nhau. Chúng ta thừa hưởng biết bao nhiêu kho báu từ con người kỳ lạ ấy", Jorges Louis Borges nói. Cũng theo Borgers, nếu đầu thế kỷ 19, nước Mỹ không có Edgar Poe, văn học thế giới hiện nay không giống như chúng ta đang thấy. *** Án Mạng Đường Nhà Xác gồm có: CHÔN SỐNG (The Cask of Amontillado) NGÔI NHÀ DÒNG HỌ USHER (The Fall of the House of Usher) ÁN MẠNG TẠI ĐƯỜNG NHÀ XÁC (The Murders in the Rue Morgue) WILLIAM WILSON (The Story of William Wilson) CON BỌ HUNG VÀNG (The Gold Bug) MẶT NẠ TỬ THẦN ĐỎ (The Mask of the Red Death) Mời các bạn đón đọc Án Mạng Đường Nhà Xác của tác giả Edgar Allan Poe.