Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Thiên Sứ Tử Thần - Linda Howard

Thiên Sứ Tử Thần Cô - Drea - là nhân tình của một tên trùm buôn ma túy, rất biết cách dùng thân xác để quyến rũ và lợi dụng đàn ông. Còn gã - Simon - là một sát thủ máu lạnh, giết người vì tiền và chưa bao giờ mắc sai lầm. Cảm xúc của cô với gã như những cơn sóng nghịch chiều: vừa hạnh phúc tràn trề sau bốn tiếng đồng hồ hoan lạc, vừa đau đớn bẽ bàng khi bị gã bỏ rơi, lại vừa kinh hoàng tột độ khi bị gã truy lùng trên con đường trốn chạy. Vậy mà sợi dây liên kết vô hình giữa họ đã đưa đến những biến chuyển kỳ diệu trong đời. Những xúc cảm tưởng như thoáng chốc đã trở thành vĩnh viễn. Hai con người, vốn chẳng tốt đẹp, bỗng trở nên khát khao hướng thiện, khát khao được chia sẻ, yêu thương… “Khi gã chạm vào cô, cô thấy tràn ngập tình yêu thương - Drea Rousseau - người chưa bao giờ được quý mến trong cuộc đời, chưa bao giờ được yêu, được trân trọng. Cảm nhận trọn vẹn rằng mình được gã nâng niu, rằng gã quan tâm tới nhu cầu tình cảm, mong muốn, sở nguyện của mình, điều đó vượt quá xa những gì cô có thể tưởng tượng.” “Vì yêu Drea, gã sẵn sàng từ bỏ nghề đâm thuê chém mướn. Vì yêu Drea, gã đã cố gắng mở lòng với cô, để cô bước qua bức tường ngăn cách gã với cả thế giới. Gã vốn thích cô độc trong cái kén của riêng mình, nhưng vì cô, gã không ngại thoát ra, một cách mãnh liệt, để sống phần đời còn lại, chấp nhận bị phơi bày và tổn thương.” *** Linda Howard tên thật là Linda S. Howington. Cô sinh ngày 3/8/1950 tại tiểu bang Alabama thuộc miền Nam Hoa Kỳ. Cô là một trong những tiểu thuyết gia thuộc trường phái lãng mạn nổi tiếng thế giới. Các tác phẩm của cô thường xuyên lọt vào danh sách những cuốn sách bán chạy nhất do tạp chí New York Times bình chọn. Năm 2005, cô đạt giải Career Achievement Award - giải thưởng dành cho các tác giả viết tiểu thuyết lãng mạn xuất sắc nhất. *** Tác phẩm tiêu biểu: Sắc màu của hoàng hôn Cầu vồng lúc nửa đêm Vịnh tình yêu White Lies - Bản giao hưởng ngọt ngào The way home - Đường về nhà... *** Thành phố New York "Làm khá lắm," Rafael Salinas uể oải nói với gã sát thủ đang đứng phía bên kia căn phòng, gần cửa ra vào. Gã không thích sán lại gần ai, hoặc là gã chẳng tin tưởng gì Salinas và muốn chừa cho mình một đường thoát phòng khi cuộc đàm phán xấu đi - dù gì gã cũng là kẻ thông minh cả. Những kẻ cảnh giác với Salinas thường có nhiều cơ hội sống sót hơn những kẻ tin tưởng hắn. Cô nàng Drea Rousseau đang cuộn mình bên cạnh Salinas, chẳng cần quan tâm lý do của gã sát thủ, miễn nó giữ gã cách cô xa xa một chút.Gã khiến cô ớn lạnh, cái kiểu dường như không bao giờ chớp mắt của gã. Trong lần chạm trán trước đây, gã rõ ràng không ưa sự có mặt của cô. Gã chĩa cái nhìn trừng trừng vào cô lâu đến nỗi cô tự hỏi liệu có phải tên sát thủ này có thói quen khử những ai nhận ra mình. Tất nhiên trừ những người thuê gã ra, và thậm chí tên này cũng xử họ luôn sau khi tiền được chuyển đến tay an toàn, hoặc trong tài khoản, hoặc bất kỳ cách nào mà các sát thủ nhận được thù lao. Drea chẳng biết tên gã, mà cô cũng chẳng muốn biết, bởi trong khi người ta vẫn tin sự thật sẽ đưa bạn đến tự do, thì cô nghĩ trong trường hợp này nó có thể chỉ đưa đến chỗ chết mà thôi. Cô coi gã như một trong số những sát thủ của Rafael, nhưng thực tế gã không phải là một tay sai bình thường mà là kẻ hành nghề tự do, làm cho bất kỳ ai đủ tiền trả gã. Ít nhất đây là lần thứ hai, như cô biết, Rafael chấp nhận giá đó.Để tránh không nhìn vào gã và không cho cái nhìn chòng chọc đáng sợ đó bủa vây lấy mình lần nữa, cô chán nản săm soi lớp sơn màu hồng tím trên móng chân. Cô vừa mới sơn sáng nay, tưởng rằng chúng sẽ nổi bật trên bộ đồ lụa màu kem cô đang mặc, nhưng cái sắc tím này thành ra quá lòe loẹt. Đáng ra cô nên chọn màu hồng nhạt, hoặc một màu gì đó phơn phớt và gần như trong suốt để tôn bộ đồ lên. Cũng chẳng sao, lần sau sẽ rút kinh nghiệm.Khi gã sát thủ không thèm đáp lời, cũng chẳng vội xum xoe rằng mình rất vinh dự được làm việc cho Rafael như những kẻ khác, những ngón tay Rafael bắt đầu gõ gõ một cách mất kiên nhẫn lên đùi. Hắn thường bồn chồn như vậy mỗi khi không thoải mái, một cử chỉ dễ đoán, ít nhất đó là theo Drea để ý. Cô luôn để ý kỹ càng mọi tâm trạng, mọi thói quen của hắn. Không hẳn là hắn sợ, nhưng hắn, cũng như gã kia, đang rình mồi, điều đó có nghĩa là có hai con cáo già đang cùng ở trong căn phòng này. "Ta muốn thưởng thêm cho anh," Rafael ướm lời. "Một trăm ngàn đô. Anh thấy sao?"Dù chẳng ngước lên, nhưng Drea nhanh chóng phân tích lời đề nghị và hàm ý của nó. Cô đã học cách để không bao giờ quan tâm tới các phi vụ làm ăn của Rafael, thỉnh thoảng hắn hỏi cô vài câu vu vơ nhưng thật ra là có chủ đích thì cô luôn giả vờ mình chẳng hiểu hắn đang nói gì. Và thế là, Rafael chẳng hề cảnh giác với cô như đáng ra phải thế. Đối với hắn, cô chẳng thèm để tâm tới bất kể điều gì không ảnh hưởng trực tiếp đến mình. Hẳn cô chẳng quan tâm chút nào đến việc gã sát thủ đã khử ai theo lệnh của hắn, mà chỉ để ý đến việc cô đang mặc gì, tóc tai ra sao, và làm thế nào cho Rafael đẹp mặt bằng cách trông thật sexy và quyến rũ thôi. Cô đương nhiên rất chăm chút đến cái khoản sau; cô làm cho Rafael mát mặt trước mắt những kẻ khác luôn khiến hắn vui vẻ và hào phóng. Drea ngắm nhìn sợi lắc chân đang ôm lấy cổ chân phải, thích thú nhìn những viên kim cương đung đưa lấp lánh dưới ánh sáng mặt trời và màu bạch kim ánh lên trên nước da rám nắng của cô. Chiếc lắc là một trong những món quà của Rafael khi hắn vô cùng đắc ý về việc gì đó. Hy vọng chiến công của gã sát thủ lần này sẽ khiến tâm trạng hắn vui vẻ tương đương thế - cô không ngại có thêm một cái vòng tay đồng bộ đâu. Tất nhiên cô chẳng bao giờ gợi ý bóng gió điều đó. Cô luôn luôn cẩn thận không bao giờ hỏi xin Rafael bất cứ thứ gì, và luôn ồ à trước mọi thứ hắn tặng cho mình cho dù thứ đó có thể trong như cứt, bởi vì cái thứ cứt cứt đó cũng đáng khối tiền.Cô không có chút ảo tưởng nào về chuyện cả đời được cặp kè mãi bên Rafael. Ngay lúc này cô đang đứng trên đỉnh cao cuộc chơi, đủ chín để thật đàn bà và đủ trẻ để không bận tâm đến mấy sợi tóc bạc hay những nếp nhăn. Nhưng một, hai năm nữa thì sao, ai mà biết được?Cuối cùng Rafael cũng sẽ chán cô, và khi đó cô muốn tự gây dựng một gia tài nho nhỏ, hầu hết là đồ trang sức. Drea Rousseau biết thế nào là nghèo đói, và cô không bao giờ muốn chịu cảnh ấy nữa. Cô đã không còn là Andie Butts nghèo khổ ngày xưa, mục tiêu của những trò đùa quái ác chỉ vì cái tên cũng như mọi điều tệ hại khác. Cô đã biến mình thành Andrea (phát âm là anDRAYuh, nghe có vẻ Pháp Pháp) Rousseau (để vần với thanh âm hoa mỹ kia). "Cô ta," gã sát thủ lên tiếng. "Tôi muốn cô ta."Điều đó làm cô chú ý ngay lập tức - ai là cô ta? Drea ngước lên… và chới với. Gã sát thủ đang nhìn chằm chằm vào cô, vẫn với cái nhìn lạnh lẽo không chớp mắt ấy. Cơn choáng váng dội thẳng vào cô như thủy triều; cô là cô ta mà gã đang nói đến. Đâu có người đàn bà nào khác trong phòng này, gã chẳng thể ám chỉ ai ngoài cô. Những ngón tay lạnh cóng của cơn hoảng loạn kinh hoàng như lũ rắn trườn quanh sống lưng cô, nhưng rồi lý trí quay trở lại và cô thả lỏng. Ơn Chúa Rafael là một kẻ ích kỷ; hắn sẽ không bao giờ…"Chọn thứ gì khác đi," Rafael uể oải nói, vòng tay qua vai Drea và kéo cô vào gần hơn. "Đời nào ta lại cho đi bùa may mắn của mình chứ." Hắn đặt một nụ hôn lên trán cô và Drea cười rạng rỡ, người mềm nhũn ra vì nhẹ nhõm, dù gắng không để lộ ra rằng trong khoảnh khắc mình đã sợ đến lịm người."Tôi chẳng thiết giữ cô ta," gã sát thủ khinh khỉnh nói, không hề rời mắt khỏi khuôn mặt của Drea. "Tôi chỉ muốn ngủ với cô ta. Một lần thôi."Được bảo đảm lần nữa bởi lời từ chối ngay lập tức của Rafael, Drea cười. Cô có tiếng cười ngọt ngào, du dương như những tiếng chuông trong trẻo. Rafael đã từng nói rằng cô làm hắn nhớ đến hình ảnh một thiên thần, với mái tóc vàng quăn dài, đôi mắt xanh to tròn, và tiếng cười ngân vang như tiếng chuông. Cô luôn cố tình sử dụng tiếng cười đó như một thứ vũ khí, ngầm nhắc Rafael rằng cô là thiên thần của hắn, bùa may mắn của hắn.Trước tiếng cười ấy, người ngợm gã sát thủ dường như căng ra, ánh mắt gã gắt gao đến nỗi cô gần như có thể cảm nhận được sự động chạm của nó lên da mình. Mãi về sau này, nếu nghĩ kỹ, Drea sẽ hiểu gã vốn đã cảnh giác, nhưng thời điểm ấy lại càng dè chừng hơn, như thể toàn bộ các giác quan được tăng cường, sự tập trung quá dữ dội đến nỗi cô tưởng như nó thiêu đốt da mình và tiếng cười cô nghẹn lại đột ngột như thể bị một bàn tay bóp chặt cổ. "Ta không dùng chung," Rafael nói, vẻ khó chịu ngầm ẩn trong tông giọng nhẩn nha. Một con đầu đàn không bao giờ chia sẻ con cái; làm thế sẽ đánh mất một lưỡi dao sắc rất quan trọng trong uy quyền mà nó có với người của mình. Chắc chắn rằng gã sát thủ biết điều đó. Nhưng chỉ có ba người họ trong căn hộ trên tầng thượng này, sẽ không có ai chứng kiến việc Rafael đã làm hay không, có lẽ vì thế mà gã nghĩ sẽ đạt được thứ mình muốn. Một lần nữa tên sát thủ chẳng nói gì, chỉ đứng nhìn. Và dù gã không hề cử động, nhưng vẫn có cái gì đó ngột ngạt chết chóc trong không khí giữa ba người. Cuộn tròn bên cạnh Rafael, Drea cảm thấy hắn hơi co người lại, như thể nhận thấy sự thay đổi trong không khí giống cô. "Thôi nào," Rafael nói, giọng phỉnh phờ, nhưng Drea còn lạ gì hắn; cô nhận ra sự không thoải mái mà hắn đang cố gắng che giấu hết mức. Bởi đó không phải là điều cô quen thấy; cô suýt phóng cái nhìn hoảng hốt về phía hắn, nhưng đã kịp giữ bản thân lại và thay vào đó làm bộ săm soi cái móng tay như phát hiện ra một vết xước trên lớp sơn. "Chả đáng phải ném cả đống tiền qua cửa sổ cho cái thứ chóng vánh như thế. Tình dục quá rẻ mạt; với một trăm ngàn đô anh có thể mua được hàng tá."Nhưng gã sát thủ vẫn đợi, không nói một lời. Gã đã đưa ra lời yêu cầu, chỉ chờ xem Rafael có chấp nhận nó hay không. Bằng cách im lặng, gã tỏ rõ rằng mình không nhận số tiền thưởng thêm mà sẽ quay lưng bước đi và chắc chắn Rafael đừng hòng có được sự giúp đỡ của hắn khi cần nữa. Tình huống xấu nhất - Drea không muốn nghĩ xem điều tồi tệ nhất có thể xảy ra là gì. Với một gã kiểu này, có gì mà không thể xảy ra.Rafael bất chợt nhìn Drea, ánh nhìn nham hiểm, lạnh lùng và đầy toan tính. Cô hớp lấy không khí, hoảng sợ bởi vẻ lãnh đạm bất ngờ và sự cân đo đong đếm đó. Có phải hắn đang thực sự cân nhắc lời đề nghị, so đo cái giá phải trả nếu gã kia vẫn nói không?"Mặt khác," hắn trầm ngâm, "có lẽ ta phải tự thuyết phục bản thân. Tình dục quả là rẻ mạt, và ta, cũng có thể mua hàng tá với một trăm ngàn đô." Hắn nhấc tay ra khỏi bờ vai của Drea rồi đứng dậy, giũ thẳng quần bằng một động tác thuần thục khiến nếp quần về đúng vị trí. "Một lần thôi, chính anh nói đấy. Ta có việc ở đầu kia thành phố mất chừng năm giờ, thế là quá đủ rồi còn gì." Hắn dừng lại, rồi nhẹ nhàng thêm vào, "Đừng có làm hại cô ấy". Rồi không thèm nhìn cô lấy một lần, hắn bước qua phòng khách và tiến về phía cửa.Cái gì? Drea bật thẳng dậy, không còn nghĩ được gì. Hắn đang nói gì vậy? Hắn đang làm gì vậy? Đây chỉ là đùa thôi, đúng không? Đúng không?Drea ghim chặt ánh nhìn tuyệt vọng, sững sờ vào tấm lưng của Rafael khi hắn bước về phía cánh cửa. Hắn không có ý đó. Hắn không thể có ý đó. Rồi hắn sẽ quay người lại và bật cười, thưởng thức trò đùa của hắn trước cái giá gã sát thủ đưa ra, xem như chưa hề có chuyện vừa suýt làm tim cô ngừng đập. Cô sẽ không để bụng chuyện hắn đã dọa cô sợ gần chết, không nói lại một lời nào về chuyện này, chỉ cần hắn dừng trò này lại, chỉ cần hắn nói, "Mày thực sự nghĩ tao đang nói thật đấy à?"Không thể nào hắn lại đem cô cho gã sát thủ, không đời nào…Rafael đi đến mở cánh cửa… và bỏ đi. Nỗi sợ hãi trào dâng như sóng triều bóp nghẹt hai lá phổi Drea khiến cô không thở nổi. Cô nhìn cánh cửa không chớp mắt. Rafael sẽ mở nó ra ngay bây giờ và cười. Hắn sẽ quay lại ngay thôi.Cô không nhìn gã sát thủ, không cử động, không cả chớp mắt, tê liệt hoàn toàn. Cô nghe thấy mạch đập thình thịch bên tai, và nhịp tim thì thùng thùng như sấm dậy. Toàn thân và phần lớn não bộ của cô tê cứng, chỉ một phần nhỏ trí óc còn hoạt động nhưng vẫn đủ để hiểu rằng Rafael đã ném cô vào miệng cọp rồi bước đi, không hề do dự hay ngoảnh lại một lần.Gã sát thủ di chuyển đến tầm mắt của cô, lặng lẽ tiến về phía cánh cửa và khóa nó lại - tất cả các loại khóa, khóa chống trộm, thậm chí trượt cả xích an toàn vào. Không kẻ nào vào được, kể cả có chìa khóa, mà không đánh động gã.Cơ thể Drea dần sống lại và cô chạy, đôi giày gót nhọn hơn mười phân gõ lộp cộp lên nền đá cẩm thạch. Cơ thể cô tự động phản ứng, theo sự điều khiển nỗi tuyệt vọng, mà không kịp suy nghĩ hay tính toán gì. Cô lao về phía hành lang, rồi nhận thức khiến cô đột ngột dừng lại khi lý trí theo kịp bản năng. Cuối hành lang là phòng ngủ, nơi cuối cùng cô muốn lao vào.Cô tuyệt vọng nhìn quanh. Căn bếp… nơi có những con dao, một cái búa dần thịt - có lẽ cô có thể dùng để tự vệ… Chống lại gã ư? Nỗ lực thế nào cũng chỉ làm trò cười cho gã thôi - hoặc, tệ hơn, khiến gã điên lên, rồi kết liễu cô luôn không chừng. Trong phút chốc, mục đích của cô không còn là trốn chạy mà đơn giản là sống sót. Cô không muốn chết. Bất kể gã có hung bạo với cô thế nào, bất kể gã giở trò gì, cô cũng không muốn chết.Chẳng có nơi nào an toàn cả, không có chốn nào cho cô dung thân. Dù biết rõ điều đó và thừa nhận nó, Drea cũng không thể cứ đứng đó. Và rồi cô phóng thẳng ra ban công nhìn xuống thành phố xa tít ở bên dưới. Cô chạy tới bờ tường và cùng đường, trừ khi cô gắng sức bay lên, bản năng sống quá mạnh thừa sức cho phép cô dám thử việc đó. Chỉ cần được sống, cô sẵn sàng tồn tại bằng cách ấy.Cô mò mẫm vươn ra và nắm lấy chấn song trên gờ tường, những ngón tay cô giữ chặt thanh kim loại khi đôi mắt nhìn chằm chằm vào hư vô. Công viên Central trải dài dưới kia, một ốc đảo xanh tươi, mát mẻ giữa rừng bê tông sắt thép của Manhattan. Những chú chim bay liệng phía dưới, còn trên cao từng đám mây trắng khổng lồ đang lững lờ trôi qua bầu trời xanh trong vắt. Những tia nắng chói chang rọi lên mặt cô, lên bờ vai và cánh tay trần, một cơn gió nhẹ thổi qua khẽ vờn những lọn tóc cô. Drea cảm thấy như bị tách rời khỏi tất cả những thứ ấy, như thể không gì trong số đó là thật cả, ngay cả sức nóng của mặt trời đang bỏng rát trên má cô.Cô cảm thấy gã tới gần và dừng lại ngay phía sau. Chẳng có một âm thanh nhỏ nào ngoài tiếng gió xào xạc và những tiếng ồn xa xăm của thành phố tít dưới kia vẳng lên; dẫu vậy cô vẫn biết kẻ đáng sợ đó đang cận kề. Mọi dây thần kinh dưới da cô thét lên báo động rằng cô sắp rơi vào tay Thần Chết.Bàn tay gã đặt lên bờ vai trần của cô.Cơn hoảng loạn nổ tung trong đầu Drea, lấn át hoàn toàn mọi suy nghĩ và hành động. Cô không phản ứng gì, không thể phản ứng, chỉ đứng đó, run lên cầm cập. Thật chậm rãi, dường như gã đang thưởng thức làn da mịn màng của cô, rồi ve vuốt dần xuống cánh tay. Bàn tay gã rắn đanh và ấm nóng, năm đầu ngón tay và lòng bàn tay ram ráp những vết chai nhưng sự đụng chạm lại đầy kiểm soát, thậm chí là… dịu dàng? Cô đã lường trước sự hung bạo, chuẩn bị đối phó với nó và dồn hết sức để được sống sót đến mức không thể hiểu được thực tế là hắn đang vuốt ve âu yếm mình. Những giác quan của cô quay cuồng.Bàn tay gã trượt xuống, chạm tới những ngón tay đang bấu chặt quanh chấn song của cô, nhẹ nhàng mơn trớn chúng rồi từ từ chuyển hướng lên trên. Lên tới bả vai gã tiếp tục vuốt ve lên cổ, vén những lọn tóc sang một bên và lướt đầu ngón tay qua cổ họng cô, qua đường cong nơi quai hàm. Gã lần theo những cơ bắp mảnh dẻ và đường gân mỏng manh, đem đến những cơn rùng mình chạy khắp thân thể Drea. Rồi gã chuyển sang quai áo lụa của cô, chơi đùa và luồn những ngón tay qua nó, lần theo đường viền vải xuống dưới. Nếu lúc trước gã chưa nhận ra cô không mặc áo ngực, thì bây giờ gã hẳn là đã biết. "Thở," gã nói, từ đầu tiên gã nói với cô. Chất giọng trầm, hơi khàn của gã khiến từ ấy nghe chẳng khác gì mệnh lệnh.Cô làm theo, hổn hển hớp lấy không khí và giải thoát cho hai lá phổi khỏi sự đau đớn. Cô vừa nín thở lâu đến nỗi sắp ngất đi.Thật chậm rãi, vẫn thật chậm rãi, gã lướt bàn tay xuống hai bên hông cô, hơi nóng từ những cái vuốt ve của gã lan qua lớp lụa mỏng. Gã chạm đến gấu áo, rồi những ngón tay luồn xuống dưới lớp vải, khám phá phần cạp co giãn của chiếc quần xếp nếp mềm mại, trượt sâu xuống bên dưới và xung quanh. Bây giờ gã cũng đã biết cô không mặc quần lót rồi. Drea nuốt cục nghẹn trong cổ họng xuống, mắt nhắm nghiền. Nhắm mắt là một hành động bản năng để cô lờ gã đi, ngăn cách cô với những gì đang xảy ra tại đây, ngay lúc này, nhưng thay vì thế, dường như nó càng khiến giác quan của cô nhạy bén hơn. Vì không có gì khiến cô xao nhãng, mọi sự tập trung lập tức dồn hết vào bàn tay đang thong thả lướt trên bụng cô, cảm giác mãnh liệt gần như đau đớn. Cơ bắp cô siết lại, toàn thân căng ra khi tay gã lên cao dần, cao dần, và một lần nữa cô nín thở chờ đợi.Bàn tay gã ôm trọn bầu ngực trái của Drea, và không khí đột ngột rút hết khỏi phổi cô. Gã vừa ôm vừa vuốt ve nó, khum khum lòng bàn tay lại như để ướm, rồi lướt ngón tay cái trên đầu nhũ hoa nhạy cảm cho đến khi nó ửng hồng, se lại và cương cứng. Với bầu vú bên kia gã cũng làm y hệt.Một lần nữa những giác quan của cô quay cuồng. Khoái cảm từ sự mơn trớn ấy làm hỗn loạn mọi suy nghĩ khiến cô hổn hển, hổn hển tìm chỗ bấu víu, hay một thứ gì đó giữ cô không khuỵu xuống. Cô tưởng hắn sẽ giở trò gì chứ không phải là… việc này. Gã sát thủ cúi đầu xuống, hơi nóng từ miệng cùng đôi môi mềm mại chạm vào sợi dây chằng nhạy cảm bên cổ Drea cùng lúc gã rướn người ép toàn bộ cơ thể vào sau người cô. Ôi, Chúa ơi, người gã nóng bừng. Cô cảm thấy lạnh, nhưng hơi nóng ấy làm cô bị thiêu đốt. Cô tưởng sẽ phải đối mặt với sự hung bạo, vậy mà gã đã lách qua bức tường tự vệ của cô chỉ bằng một cái chạm nhẹ tràn trề khoái cảm. "Tôi sẽ không làm cô đau," gã thì thầm, bờ môi mơn man trên da thịt cô trong khi bàn tay trượt xuống dưới lớp áo, âu yếm ngực cô, ve vuốt chúng, kéo nhẹ hai đầu vú. Miệng gã đặt lên cổ cô khiến một lần nữa bụng dạ cô chao đảo, như thể cô đang cưỡi trên một con tàu nâng lên hạ xuống theo từng đợt sóng khoái cảm ngất ngây. Drea không biết họ đã đứng đó bao lâu, chỉ cảm thấy sự lâng lâng choáng ngợp cứ mỗi lúc một trào dâng. Cô chìm đắm giữa đại dương bao la không biết đâu là bờ. Điều này vượt quá xa so với trải nghiệm và dự đoán nên cô chẳng biết phải làm sao. Khoái cảm ư? Quan hệ với Rafael chỉ là làm sao thỏa mãn hắn; cảm giác của cô chả có ý nghĩa gì cả. Cô chấp nhận, chỉ chăm chăm làm mọi thứ để hắn mãn nguyện. Lần cuối cùng một người đàn ông cố gắng thỏa mãn cô là khi nào nhỉ? Những ký ức lờ mờ, phai nhạt theo thời gian, lâu tới nỗi cô đã không còn mong mỏi được hưởng nó cho riêng mình. Giờ đây khi được cảm nhận nó, dưới đôi tay - theo đúng nghĩa đen - của một gã sát thủ máu lạnh, cô thực sự sửng sốt. Gã kéo đầu vú cô, nhẹ nhàng vân vê giữa những ngón tay và cảm xúc mạnh mẽ ấy tạo nên một luồng kích thích xuyên thẳng xuống phần bụng dưới. Cô thấy mình rướn người lên và ngả ra đằng sau, cơ thể tự động uốn cong trong vòng tay gã còn bàn tay lướt quanh gáy gã, cảm nhận sự rắn chắc, vạm vỡ của những cơ bắp. Cô áp sát vào người gã, nghe những âm thanh gọi mời khe khẽ thoát ra từ chính miệng mình. Cơ bụng thắt lại, cô cố quay người về phía gã.Gã vẫn giữ chặt lấy cô, bắt cô quay mặt về phía lan can, cả thành phố trải dài trước mặt và xung quanh họ. Gã tụt mạnh cạp quần cô, không khí mát lạnh đột ngột trùm lên cặp mông trần của cô khi lớp lụa rơi xuống dưới. Sự sợ hãi lại cồn cào, một lần nữa hòa quyện với nỗi hoài nghi xen lẫn khiếp sợ? Ở đây ư? Ngay trên ban công, giữa thanh thiên bạch nhật, nơi kẻ nào cũng có thể nhìn thấy ư? Đường phố ở bên dưới quá xa, nhưng còn người ở những tòa nhà xung quanh thì sao? Ống nhòm nhan nhản trong thành phố này, có cả ngàn, cả ngàn người dò xét nhà hàng xóm của họ, và chắc chắn là có cả FBI, DEA hoặc ai đó đang rình rập Rafael nữa, thế thì họ cũng đang canh chừng cô - và gã đàn ông đang giữ cô trong tư thế gần như trần truồng ngay trên ban công này. ©STE.NTGã lại xích gần hơn nữa, khẽ thì thầm câu gì đó rất êm ái, rồi áp sát lên phần thân thể trần trụi của cô, bàn tay luồn vào giữa. Cô nghe thấy tiếng khóa kéo loạt xoạt, sau đó khớp ngón tay gã đột ngột đẩy vào khe mông cô, làm cô giật mình hét lên, rồi chẳng còn cảm thấy gì ngoài sự lõa lồ nhục nhã và lực ấn dữ dội của vật đó ở cửa mình. "Cúi xuống một chút."Gã đè tay lên gáy cô để đảm bảo cô sẽ vâng lời. Chân gã luồn vào giữa và tách hai chân cô ra xa, chiếc cạp quần quanh đùi dãn hết sức. Gã chùng gối xuống, hạ thấp người ở tư thế thuận hơn, rồi đẩy lên và nhích sâu vào trong cô một cách khó khăn, chậm chạp. Drea đau nhói, bị giữ chặt như một con sâu mắc vào lưỡi câu. Cơ đùi cô căng lên rồi nhũn ra, bủn rủn. Gã túm lấy cô, kéo về phía mình. Tay phải ghì chặt cô vào người, tay trái gã đưa xuống và luồn vào hai cánh môi mềm mại giữa chân cô. Gã mơn trớn những ngón tay quanh đó, vừa giữ chặt nó vừa di chuyển vào trong. Chúa ơi, cô không biết, cô không còn biết gì ngoài chuyện đang tới cao trào nhanh đến không ngờ, rồi cô lên đỉnh dữ dội, cơ bắp bên trong cô quấn chặt lấy gã, những tiếng rên bản năng trong cổ họng vỡ ra.Drea suýt nữa khuỵu về phía trước nếu không có vòng ôm của gã. Gã rút ra và quay người cô lại, ôm lấy cô cho đến khi cô thôi hổn hển, run rẩy và ngừng khóc. Cô khóc vì cái quái gì chứ? Cô chưa bao giờ khóc, ít nhất là khóc thật. Vậy mà giờ đây hai má cô ướt đẫm, hơi thở nặng nhọc và thổn thức. Cố lấy lại bình tĩnh, cô mở mắt ra nhìn lên, và bắt gặp ánh nhìn chăm chú của gã sát thủ. Một lần nữa cô ngạt thở.Cô cứ nghĩ mắt gã màu nâu, nhưng giờ lại thấy chúng màu nâu pha lục nhạt, từ ấy vẫn chưa thật chuẩn để diễn tả màu mắt đó: không chỉ có màu nâu, xanh lá và vàng, mà còn có xanh dương, xám và đen nữa, và cả những đường sọc trắng. Cô nhớ đến loại ngọc opal sẫm, đầy những sắc màu kỳ lạ. Ánh nhìn của gã cũng không hề lạnh lẽo; cô cảm thấy bị thiêu đốt bởi sức nóng trong đó và cả sự khao khát mãnh liệt. Gã vẫn chưa xuống, điều này trái ngược hoàn toàn với những điều cô biết. Một khi đàn ông lên đến đỉnh, họ sẽ chẳng còn hứng thú làm tiếp. Nhưng gã đàn ông này vẫn cứng, vẫn sẵn sàng, và…"Anh chưa lên đỉnh," cô buột miệng, thình lình nhận ra.Gã bắt đầu đưa cô bước về phía cánh cửa kính, nhấc cô lên khi cái quần sắp tuột hẳn xuống. "Chỉ có một lần thôi, nhớ không?" gã nói, ánh mắt lấp lánh với ý định nóng bỏng và dữ dội. ... Mời các bạn đón đọc Thiên Sứ Tử Thần của tác giả Linda Howard.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Một Thời Đang Qua - Nhật Tiến
Ở ngoài đời, tôi chưa bao giờ gặp Nhật Tiến. Điều này, nếu đối vớí cá nhân tôi có thể được xem là một sự thiệt thòi thì trái lại, đối vớí tác phẩm có khi lại là một điều hay: tôi không có cách nào khác hơn là đến với anh qua tác phẩm. Tuy chưa được gặp anh song Nhật Tiến trong Văn Học Việt Nam thì không phải là một ai xa lạ. Sau khi bước vào văn đàn với truyện dài Những người áo trắng (1959) và nhất là Những vì sao lạc (1960) nói về những trẻ "bụi đời" có cả mười mấy, hai chục năm trước khi có từ ngữ sau này, anh đã, ở tuổi 25, đạt tới được một vinh dự không nhỏ là được Giải thưởng Văn chương Toàn quốc cho hai năm 1961-1962 vì truyện Thềm Hoang do nhà xuất bản Đời Nay của Nhất Linh in ra năm 1961. Là người yêu văn học, từ đó không ai là không để ý đến những tác phẩm gần như năm nào Nhật Tiến cũng có mặt để đóng góp vào văn học miền Nam tự do. *** Những Chặng Đường Văn Học Của Nhật Tiến N gười ta để ý đến anh không phải vì anh viết nhằm vào cái sôi nổi, như Chu Tử với những Loạn, Ghen, Yêu của ít năm sau đó hay Hoàng Đông Phương (tức Nguyễn Thị Hoàng) của Vòng tay học trò hoặc Lệ Hằng của những năm 70. Người ta cũng lại không để ý đến anh vì anh đi tìm cái mới như Thanh Tâm Tuyền hay thử nghiệm nhiều như Bùi Giáng, Phạm Thiên Thư trong thơ. Người ta tìm đọc Nhật Tiến vì anh rất "cổ điển", cổ điển không thua gì những bậc đàn anh (và cả đàn chị) như Nhất Linh và Nguyễn Thị Vinh, những người đầu tiên đã nhìn ra văn tài của anh và khuyến khích anh trên con đường sự nghiệp. Ở anh nổi bật lên những đức tính như một lòng thương xót bao la dành cho những kẻ xấu số trong xã hội, một con mắt thật tinh đời nhưng không ác ý, một trái tim ôn hòa nhưng không phải không biết phẫn nộ, một con ngườỉ thuần túy dành cho giáo dục (kể cả giáo dục có bề ngoài hình thức như ở trong học đường lẫn giáo dục tưởng như không có hình thức như báo chí, tiểu thuyết, truyền thanh, truyền hình... ). Người ta, do đó, tìm ở Nhật Tiến một cái gì chân thật, một lương tâm xã hội đôi khi có thể xem là hơi lý tưởng quá nhưng lúc nào cũng đầy một lòng trìu mến đối vớỉ tuổi thơ (như trong Chim hót trong lồng, Chuyện bé Phượng, hay Tay Ngọc), đối với những người dân lành bị kẹt vào trong một cuộc chiến thảm khốc mà họ không có đủ trí tuệ hay hiểu biết để tách bạch, phân tích các vấn đề (điển hình như những truyện dài Giấc ngủ chập chờn hay Quê nhà yêu dấu, viết vào trong những giờ phút khốc liệt ngay theo sau trận Mậu Thân). Ở trong một khung cảnh chiến tranh mà nhiều khi ta cảm thấy như bị bẫy, không trách có người cảm thầy mình điên lên được, không trách có người điên thực sự như trong truyện ngắn "Tặng phẩm của dòng sông", một trong những truyện ngắn hay nhất của anh và được lựa chọn vào trong tuyển tập Những truyện ngắn hay nhất của quê hương do nhà xuất bản Sống in ra ở Saigon năm 1973. Ở Nhật Tiến có nhiều con người xa lạ, tưởng không bao giờ có thể gặp nhau trong một người. Từ ngày trưởng thành, là một sinh viên di cư vào Nam, anh trong căn bản là một nhà giáo. Ra đời, anh đi dạy tư ở Mỹ Tho, nơi đây anh gặp Truơng Cam Vĩnh. Đời sống tỉnh lẻ, anh không biết làm gì hơn là ngồi viết văn – trước hết là cho mình, chưa dám nói là cho ai khác vội. Rồi một cơ may (qua sự giới thiệu của anh Trương Cam Vĩnh) anh đã đến với Nhất Linh, và từ đó anh trở thành một tác giả có sách xuất bản. Hỏi anh có làm gì về văn chương trong khung cảnh học đường không? "Thưa không, tôi dạy Toán, Lý, Hóa...." Cho đến tận những năm cuối cùng trước khi miền Nam sụp đổ, anh vẫn làm nghề ‘‘gõ đầu trẻ" và trong đám "trẻ" này đôi khi cũng có cả những ông bà trung niên được anh luyện thi mà nhiều người không hề bao giờ biết là anh viết văn. "Tôi không bao giờ nói về văn chương ở trong lớp cả", anh tuyên bố. Anh dạy từ khi mới vào đời, anh dạy từ trong thời gian dài làm báo, viết văn, anh dạy tư thêm trong lúc bị động viện, ở trong quân đội, anh dạy cả sau khi Cộng sản vào thành. Nói tóm lại, ở trong anh từ trước đến sau là một nhà giáo. Nhưng là vì anh dạy tư suốt đời nên khi Cộng sản vào, anh cũng không phải đi học tập gì nhiều. Anh chỉ phải theo có một đợt học tập ngắn ngày dành cho diện các văn nghệ sĩ (lần đó anh đi có cả Thái Thanh, Phạm Đình Chương, Lệ Hằng, Nguyên Thị Hoàng v...v... bị gọi đi cùng). Và cũng vì người ta, cả xã hội chung quanh anh nhìn anh là một "ông thầy" dậy trẻ nên không ai nỡ tâm khai anh đã từng là giảng viên trong quân đội, Cục Chính Huấn. (Có ai ở trong hoàn cảnh này mới rõ được lòng yêu mến, tình bao bọc của đồng bào là quý đến chừng nào !) Mãi đến năm 78 anh mới thôi dạy học vì trong một xã hội Cộng sản, dạy học dầu là Toán, Lý, Hóa....mà không được dạy theo ý mình, phải theo giáo án, phải theo chỉ thị, phải theo yêu cầu chính trị của Nhà nước và Đảng thì quả là hơn một cực hình. Anh chị Nhật Tiến quay ra mở quán cà phê. Ta hãy nghe Mai Thảo nói về anh trong giai đoạn này: "Một buổi chiều Saigon, ít ngày sau khi 30 tháng tư 1975, ngồi sau chiếc xe gắn máy của Duyên Anh, cũng tác giả Ngựa Chứng Trong Sân Trường dạo quanh một vòng trên những phố phường tan hoang của thành phố vừa đổi chủ, tôi bổng nhìn thấy Nguyễn Thụy Long trên một khúc vì hè ở khu đại học Duy Tân. Long ngồi sau một cái quán lộ thiên mọc lên như nấm ở Saigon lúc đó. Tác giả Loan Mắt Nhung đang nhậu, mặt mày đỏ sậm, kính trắng dầy cộm. Và cạnh đó, là một quán hàng khác, với Nhật Tiến, Nhật Tiến không nhậu, không nhậu bao giờ, đang lụi hụi với một chậu nước và một chồng bát đũa nhớp cạnh một gốc cây. Cái cảnh tượng đập vào mắt tôi lúc đó, về hai cái quán liền sát, cũng ở trước một vi tường thấp chạy dài, là cái cảnh tượng của một đối nghịch hoàn toàn. Mang chung sự thất thế của văn nghệ gác bút ra đường bán quán trước hoàn cảnh mới, cái quán của Nguyễn Thụy Long với những xị đế ngổn ngang trên mặt bàn và mấy người khách hàng trẻ tuổi cũng ngất ngưởng như Long, hiện rõ vẻ bụi đời anh chị. Cái quán của Nhật Tiến khác hẳn. Nó lành mạnh hơn và cũng gia đình hơn gấp bội, với những đĩa rau muống chẻ nhỏ đặt ngay ngắn, bên cạnh là một chảo mỡ sôi bắn khói bốc xanh um, chị Nhật Tiến má hồng củi lửa chiên những cái bánh tôm vàng ngậy và đứa cháu lớn, nơ cài mái tóc, váy xếp chững chạc đang phụ một tay với ông bố nhà văn. Nhìn Long một bên, Tiến một bên, cũng đã lăn cả ra với sương nắng thời thế với gió bụi hè đường, cũng đã trở thành hai ông chủ quán tài tử bất đắc dĩ mà quán bạn là quán bạn, quán tôi là quán tôi, bạn anh chị bụi đời, tôi gia đình nghiêm chỉnh, tôi đã nhìn thấy một lần nữa, và lần đó là lần cuối cùng, điều tôi yêu thích và tự hào nhất cho văn nghệ miền Nam 20 năm, là cái trạng thái đa diện và đa dạng không bao giờ đồng dáng và đồng tính. Đó là cái thế giới văn nghệ của mỗi người một trời mình, mỗi kẻ một biển mình. Đó là vùng đất đai văn nghệ của mỗi người một non sông, mỗi người một sông núi. Cái không đồng dáng, không đồng phục nơi mỗi người trước bàn viết cũng như trong đời sống ấy, lại là điều văn nghệ miền Bắc đổ khuôn và con số thù ghét nhất. Và bởi vì thù ghét nhất nên muốn triệt hủy nhất. Đó cũng chính là nguyên nhân của đại nạn đã tới với mọi ngành văn học nghệ thuật muôn nghìn hình vẻ của ta. Và đương nhiên là đại nạn ấy cũng đã đến với Nguyễn Thụy Long và Nhật Tiến. Nhớ hôm đó, tôi và Duyên Anh đã ngưng xe lại. Đã vào ngồi xuống mấy cái ghế đẩu thấp. Đã lên tiếng ca ngợi cái tinh thần quả cảm của gia đình Nhật Tiến, hàng ngày từ thật xa cổng xe lửa số sáu xuống, vui vẻ nhập được tức khắc vào nếp sinh hoạt mới ở quanh mình. Nhớ lời hôm đó, chúng tôi đã ăn ủng hộ Thềm Hoang Quán mỗi người một đĩa bánh tôm, rất ngon, và tôi đã hỏi đùa Nhật Tiến: - Rửa bát thạo ngay. Giỏi nhỉ? Và Nhật Tiến đã cười nụ cười bình thường, chừng mực, nụ cười hơi già trước tuổi một chút của một nhà giáo. Nhật Tiến bao giờ cũng trước hết xác nhận mình là một nhà giáo: - Giỏi quỷ gì. Việc làm thì phải làm. Để cho ai đây (Trích Văn số 6, tháng 12,1982) ***   H ồi nhỏ, khi còn cắp sách đi học ở lớp nhất trường Hàng Vôi, ngày nào tôi cũng có dịp đi qua nhiều khu phố tráng lệ ở Hà Nội. Tôi học lớp chiều và hay đi học sớm vì có thói quen la cà chỗ này, chỗ kia. Qua phố Hàng Trống, tôi hay đứng tại tòa báo Giang Sơn hay Liên Hiệp để đọc những tiểu thuyết in từng kỳ trên tờ báo ra trong ngày, được tòa soạn treo trước cửa ở khu cho người qua lại xem tự do. Qua phố Hàng Khay, tôi hay đứng lại ở khu chợ Hoa ven bờ hồ ngắm nhìn những bông hồng, bông cúc hay glaïeul phô những mầu sắc rực rỡ trên những nền đá xanh biếc. Nhưng điều mà tôi ghi nhớ sâu xa nhất vẫn là bức hình chân dung được trưng bầy tại một tiệm ảnh có tên là Dung Photo ở ngay trên Phố Bờ Hồ. Tôi không phải là loại người say mê nghệ thuật chụp ảnh. Tôi cũng không quan tâm đến những bức hình chụp phong cảnh hay tĩnh vật trưng bầy ở hai bên tủ kính lồng trong những khung cảnh đẹp đẻ mỹ thuật. Tôi chỉ chú ý, hay nói đúng hơn bị thu hút bởi mỗi một tấm chân dung chụp hình một thiếu nữ. Nàng là ai, tên là gì, tôi chẳng đủ số tuổi mơ mộng để quan tâm nhưng thực sự tôi đã bị lôi cuốn bởi đôi mắt đó, vầng trán đó, mái tóc đó và nụ cười đó. Người thiếu nữ trong hình còn rất trẻ, chỉ trạc khoảng mười lăm, hay mười sáu, cái số tuổi chưa làm cho đôi mắt trong veo kia vương vấn một nét buồn, cho nụ cười kia vẫn còn mang đầy vẻ hồn nhiên, vô tư và duyên dáng như những búp hồng mới nở ? Hôm đầu tiên bức ảnh chân dung được bầy ra trong tủ kính, tôi đã chiêm ngưỡng một cách sững sờ?. Rồi kể từ đó, không ngày nào đi qua mà tôi lại không đứng lại, nhìn, ngắm, ghi gói từng chân tóc, từng kẽ mày, từng những nốt đen lốm đốm trên giấy ảnh ở vành môi của nàng, ở khóe mắt của nàng, ở hàm răng trắng nuốt có một cái răng khểnh rất xinh, rất nghịch ngợm và đầy vẻ hồn nhiên, vô tư của nàng. Thời gian si mê bức chân dung ấy kéo dài có đến trên bốn năm. Bốn năm trời trôi qua, bức ảnh ấy vẫn còn tồn tại ở đó, trong khung kính sáng lòa, ở vị trí chính giữa, thuận tiện cho khách qua lại bên đường ghé lại nhìn ngắm và hầu như chủ nhân của tiệm Dung Photo cũng đắc ý với tác phẩm của mình nên không chịu thay đổi đi mặc dầu những hình ảnh phong cảnh khác cứ vài tháng lại được thay đổi một lần. ... Mời các bạn đón đọc Một Thời Đang Qua của tác giả Nhật Tiến.
Me Tư Hồng - Nguyễn Ngọc Tiến
Hơn trăm năm rồi, người ta vẫn muốn đặt câu hỏi: Cô Tư Hồng là người có công hay có tội? Dựa trên các trang tư liệu, giai thoại dân gian về cuộc đời của người đàn bà có tính cách mạnh mẽ, quyết liệt nhưng cũng nữ tính, báo chí trước đây đã khai thác các khía cạnh khác nhau với những góc nhìn khác nhau, đôi khi đối nghịch. Cô Tư Hồng là người nổi danh khắp Bắc Kỳ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX vì trúng thầu phá tường thành Hà Nội năm 1894 – một sự kiện đụng chạm đến di sản “cung điện nghìn năm” của nhiều triều đại lẫn tổn thương tinh thần sĩ phu Bắc Hà trong hoàn cảnh thuộc địa. Nhưng đời cô Tư Hồng còn nhiều câu chuyện đình đám khác: mở công ty buôn bán đầu tiên của người Việt, làm từ thiện, lấy chồng Tàu, chồng Tây. Xinh đẹp, khêu gợi, thông minh đến độ tinh quái và làm đàn ông say mê, cuộc đời cô Tư Hồng vẫn còn đầy bí ẩn như một huyền thoại đất Hà thành. 120 năm sau, hiện ở Hà Nội vẫn tồn tại những công trình liên quan đến cô Tư Hồng quanh hồ Hoàn Kiếm hay khu phố Tây, chẳng hạn như hai chiếc ghế đá đầu tiên nơi công cộng của Hà thành ở 16 Lê Thái Tổ ngày nay hay khu nhà ở phố Quán Sứ, trường Việt Đức… Tiểu thuyết Me Tư Hồng của Nguyễn Ngọc Tiến dựa theo cuộc đời của cô Tư Hồng, có sự hư cấu mang “hình dáng tiểu thuyết chân dung”. Tuy nhiên cùng với nhân vật cô Tư Hồng, rất nhiều nhân vật khác trong tiểu thuyết là những người có thật. Bên cạnh đó hoàn cảnh lịch sử trong tiểu thuyết, địa danh, thời gian xảy ra sự kiện… cũng đã được ghi trong chính sử và dã sử, vì vậy có thể gọi Me Tư Hồng là tiểu thuyết tư liệu. Đây là một cố gắng nhìn lại con người và xã hội cách chúng ta đã hơn một thế kỷ. Qua tiểu thuyết Me Tư Hồng, người đọc nhận diện được một xã hội Việt Nam vào thời điểm đã suy vong các giá trị cũ, và cả nỗi bi kịch của con người trong sự va chạm giữa đạo đức truyền thống và văn minh vật chất tân thời, một bi kịch vẫn đậm tính thời sự. *** Sân ga Hàng Cỏ đông đúc. Khách xuống chuyến sớm đứng ngáp vặt chờ người thân đến đón. Khách lần đầu ra Hà Nội lơ ngơ chưa biết về đâu. Đám xe kéo xúm lại mời chào. Đầu phố Gambetta, một gánh xẩm chào đón họ bằng tiếng nhị eo éo và lời hát vui tai. Cái lạnh làm người khỏe phải xuýt xoa mà ông lão vẫn hát. Bắc Kỳ vui nhất Hà thành Phố phường sầm uất văn minh rợp trời Thanh tao, thanh lịch đủ mùi Cao lâu rạp hát vui chơi đủ đầy Đâu đâu khắp hết đông tây Thăng Long thắng địa xưa nay tiếng đồn Cũ thời băm sáu phố phường Ngày nay mở rộng đến hàng vài trăm... Gió thổi ào ào kèm theo vài hạt mưa. Mọi người vội chạy vào nấp dưới mái hiên, chỉ còn trơ hai người. Lan như kẻ mất hồn, mặc cho gió thổi tung cái khăn lụa đỏ, cô đứng im như không có mưa. Laglan quay mặt về phía tòa nhà, điếu thuốc lá trên môi cháy đỏ. Tòa xử đã cho hai người ly hôn và hôm nay Laglan đi tàu xuống Hải Phòng về Pháp. Tối qua, Laglan khóc lóc trên giấy nói xin Lan bỏ qua mọi chuyện. Rằng ông không biết sẽ thế nào nếu sống thiếu cô nhưng Lan cương quyết không chịu. Cô chỉ đồng ý sẽ ra ga tiễn ông. Có lẽ chẳng gì nặng nề hơn chia ly, bao điều cần nói, cần thanh minh, giải thích hay xin lỗi đã nói rồi, chia ly là bậc cuối cùng trong nấc thang tình cảm. Laglan quay lại nhìn Lan rồi rút túi đưa cho cô mảnh giấy. - Đây là bức thư Hồng gửi cho tôi lúc hai ta cưới nhau chưa lâu. Lan đã đọc thư này. Sao từ ngày đó ông ta không bao giờ nhắc đến, hôm nay đưa lại chắc có ý “tôi yêu cô, thế mà cô lại bỏ tôi”. Lan lắc đầu: - Ông ta gửi anh thì nó là của anh. Laglan thả xuống sân ga. Tiếng loa thông báo mời khách lên tàu đã giải thoát cho cả hai. Móc lá thư trong túi, giọng Laglan trầm trầm. ... Mời các bạn đón đọc Me Tư Hồng của tác giả Nguyễn Ngọc Tiến.
Giờ Thứ 25 - Constantin Virgil Gheorghiu
Đối với Xã hội kỹ thuật hóa, đây là một mặt thật của Kiếp người, sống trong thời buổi giá trị con người bị tiết giảm xuống con số không: nhân vị, cá nhân, tình cảm hầu như không còn nữa. Máy móc. Tất cả đều sử dụng theo máy móc, đều hành động một cách máy móc, nên con người cũng bỏ lần nhân cách để theo kịp đà tiến hóa kỹ thuật rồi trở thành nô lệ cho kỹ thuật và lôi cuốn đồng loại mình vào trận cuồng phong, vào vực thẳm. Có còn chăng chút hy vọng lập lại xã hội loài người, như lời mục sư Koruga, trong truyện: “Sau rốt, Chúa lại đến phải xót thương con người, - như Chúa đã từng thương hại nhiều lần. Và, giống chiếc thuyền của ông Noé trên lượn sóng trận đại hồng thủy, vài người thật là người, còn giữ được chân tính, sẽ nổi trôi trên trận vận xoáy nhiễu loạn của đại nạn tai ương tập thể này. Và chính nhờ mấy người ấy mà loài người sẽ được bảo tồn cứu vãn, như đã trải qua bao lần trong lịch sử”. Lời dịch giả Thi sĩ kiêm văn sĩ Constantin Virgil Gheorghiu sanh ngày 15-9-1916 tại Razboeni-Neamtz xứ Roumanie, con của một vị linh mục ở Moldavie. Học triết lý và thần học tại Đại học đường Bucarest và Heidelberg (Đức). Ông sáng tác nhiều quyển sách mà thi phẩm Calligraphie sue la neige được giải thưởng Hoàng gia về thi ca (Prix Royal de Poésie) năm 1940, ở Roumanie. Ông cưới vợ là nữ sĩ, năm ngày trước trận Thế chiến thứ Hai. Với lòng nhiệt huyết của tuổi trẻ, thi sĩ công phẫn và xúc động khi bọn thân phát-xít ám sát Thủ tướng dân chủ Armand Calinesco, nên viết quyển thi binh vực tự do, chống phát-xít, lấy tên là Armand Calinesco (1939). Hậu quả của thi phẩm này là ông suýt bị bọn “cơ quan sắt” thủ tiêu. Và cũng với lòng công phẫn mà ông viết quyển “Bờ sông Dniestr bừng lửa”, xuất bản ở Bucarest, chống bọn chống phát-xít đã tàn sát một phần ba dân số miền Bessarabie, quê hương ông. Tác phẩm này về sau, đã làm dư luận Pháp chống lại ông. Nhưng theo ông, “đứng trước những tàn phá giết chóc dã man, bất cứ từ đâu đến, thi sĩ không thể không công phẫn”. Năm 1943, hai vợ chồng phụ trách về liên lạc văn hóa tại Bộ Ngoại giao Roumanie ở Zaghreb. Được một năm, nước Roumanie theo phe Nga. Quân Đức bắt vợ chồng ông giam trong một trại giam các nhà ngoại giao tại Đức. Kế Đức quốc xã thua, vợ chồng ông bị quân Mỹ giam mỗi người một nơi, mãi hai năm sau (1947), mới được thả ra và gặp nhau ở Heidelberg (Đức). Trong thời gian bị giam cầm, ông viết quyển “Giờ thứ hai mươi lăm”. Nhằm lúc đồng mark mất giá, không thể sống ở Đức, vợ chồng ông đi bộ sang Pháp, đem quyển này dịch ra Pháp văn và cho xuất bản ở Paris (1949). Đây là một trong những tác phẩm bi đát nhứt của thời đại. Gabriel Marcel, trong bài tựa, đã viết: “Tôi tưởng không còn tìm ra một tác phẩm nào ý nghĩa hơn, phác họa rõ ràng hơn tình trạng hãi hùng mà nhân loại đang bị chìm đắm”. Tác giả quyển sách bán chạy nhất, - bán 600.000 quyển trong vài tuần lễ, riêng tại Pháp đến 300.000 quyển, - lại bị dư luận Pháp chống đối (1950), khi biết ông là tác giả quyển Bờ sông Dniestr bừng lửa, nghĩa là ông binh vực phát-xít. Trong một bài tự thuật, Virgil viết: “... Dấu ô nhục chống phát-xít đốt cháy da thịt ta ở Bucarest, và dấu ô nhục phát-xít bị đóng ở Paris chỉ là duyên cớ giản dị để quần chúng bóp chết ta... Phải chăng người ta chỉ được lên án những sự độc ác dã man của một bên... Không, nhà thơ ấy chỉ lấy vĩnh cửu làm khuôn vàng thước ngọc...” Thi sĩ đã đi tu. Lễ thăng thiên, ngày 23-5-1963, ông được Đức giám mục từ Nữu Ước đến làm lễ thụ phong linh mục giáo hội Chính Thống tại nhà thờ Lỗ-ma-ni ở Ba Lê. Ông qua đời ngày 22-6-1992 tại Ba Lê. *** Bà West, tôi muốn nói chuyện riêng với bà! Eleonora để tập hồ sơ trên bàn, ngó Trung úy Lewis. Ông đang ngồi tại bàn giấy, chân tréo, ưỡn ngực dựa lưng ghế và hút thuốc. Trung úy Lewis là trưởng phòng Phòng tuyển mộ ngoại kiều đến tình nguyện xin vô quân đội Mỹ. Eleonora là nhân viên và thông dịch viên tại Phòng này. Nàng làm việc từ sáu tháng nay, dưới quyền Trung úy Lewis. Nora ngó đôi vớ cuốn kèn quanh ống quyển Trung úy, rồi nghĩ thầm: “Tại sao hắn không mang dây kẹp vớ? Và tại sao hắn ngồi ghế như ngồi ngựa vậy? Giống như bọn thủy thủ ở bến tàu! Vậy mà hắn cũng là con nhà có giáo dục, cũng xuất thân trường đại học. Dầu hắn có tự do quá mức đi nữa, hắn cũng không được phép ở trong phòng văn, đưa cặp giò trước mặt một người đàn bà như thế này!” Nàng thấy như bị tát tai mỗi khi Trung úy Lewis bắt tay nàng mà miệng còn ngậm điếu thuốc, hoặc mỗi lần quăng một hồ sơ trên bàn cho nàng, như ném miếng xương cho chó. Trung úy Lewis không ngờ Nora đã nghĩ gì đến mình, trái lại, còn tưởng nàng phục mình lắm. Nhưng đôi mắt nhìn của ông vẫn còn ngượng nghịu. Nora đáp: - Tôi xin nghe ông. - Bà West có bằng lòng ưng làm vợ tôi không? Trung úy ngồi bật ngửa, xích đòng đưa chiếc ghế, chiếc ghế chỉ còn đứng có hai chân. Nora trả lời: - Tôi không ưng làm vợ ông! - Vậy bà có những dự tính nào khác sao? - Không có! Nhưng câu trả lời của tôi là: không bằng lòng. Nora giở tập hồ sơ ra, song không làm việc được. Mắt ngó giấy tờ mà trí ở đâu đâu. Nàng ở tù hai năm trong trại giam, rồi đương nhiên được thả ra, cũng vô căn cứ, như lúc bị bắt. ... Mời các bạn đón đọc Giờ Thứ 25 của tác giả Constantin Virgil Gheorghiu.
Đường Về Trùng Khánh - Han Suyin
Đường về Trùng Khánh (1973)—Destination Tchounking (1953) Tác giả Han Suyin aka Hàn Tú Anh Dịch giả Trùng Dương & Hồ Hải Nhà xuất bản Tổ Hợp Gió 1973 LỜI NGƯỜI DỊCH Qua Đường Về Trùng Khánh, người đọc có thể nhận ra những nhân vật điển hình — những diễn viên kỳ cựu — của bất cứ vở kịch chiến tranh nào xẩy ra từ trước tới nay trong lịch sử nhân loại : đó là đám nông dân cổ cày vai bừa sẽ chết, trong khi đám con cháu các gia đình khá giả lười biếng ăn chơi hay học hành tại các trường đại học và sửa soạn vào các nghề tài chánh, y khoa, hay luật sư và dĩ nhiên, cũng có những ngoại lệ và tuy thế cũng không phải là ít và thực đáng cảm động: “ Tôi không thể nào ngồi yên được nữa, tôi phải tham dự vào cuộc chiến, tôi phải tham dự vào cuộc kháng chiến của nhân dân Trung Hoa. Tôi phải về nước. Dù không làm được gì quan trọng tôi cũng phải về, tôi cần hiện diện để chia sẻ những khổ cực và gian nguy. Tôi là người Trung Hoa mà.” Đó là câu nói của nhân vật chính của tác giả, Hàn-tú-Anh, người nữ văn sĩ mang hai giòng máu Trung Hoa—Bĩ. *** Tựa Của Tác Giả Người ta đã yêu cầu tôi viết bài tựa cho cuốn Destination Tchoungking đã được xuất bản lần đầu tiên tại Anh vào năm 1942. Bằng cả tâm hồn và thể xác, tôi đã sống lùi lại mười một năm về trước, hồi còn trẻ, tại Trùng Khánh, ngập mình trong binh lửa, và thấy lại trọn vẹn cảnh tượng lúc bấy giờ: những chữ ở đây đều có một nghĩa tuyệt đối; những mục tiêu tự nó tồn tại, chính đáng và đáng kính; đạo đức và niềm tin đã chống cự lại nạn đói kém, nỗi đau khổ và sự buồn nản. Chúng tôi đã tin tưởng rằng sẽ tồn tại để cất lên tiếng cười, để tận dụng cuộc sống, mặc trạng huống hiện hữu, mặc những điệp khúc vô tận của những trận mưa bom mỗi ngày khô ráo mỗi tái diễn. Rồi thì cuối cùng mọi sự đều đã được giải quyết ổn thỏa. Tôi không có một mảy may ý định viết văn. Hồi đó tôi tập sự nghề cô đỡ tại một bảo sinh viện nhỏ dưới quyền điều khiển của Marian Manly, một nhà nữ truyền giáo Hoa Kỳ, ở Thành Đô thuộc tỉnh Tứ Xuyên. Pao, chồng tôi, đóng tại Tây Bắc, và trong thời gian chàng vắng nhà, tôi ở lại nhà thương với Marian. Cha mẹ của Marian đã từng là những nhà truyền giáo tại Trung Hoa. Chị nàng cũng thế. Chính nàng ta, một y sĩ kiêm truyền giáo, đã trải qua phần lớn đời nàng tại Trung Hoa. Nàng đã vẻ kiểu và xây lấy ngôi bảo sinh viện này, và tại đây, nàng huấn luyện các cô đỡ Trung Hoa cho đến khi những người này tốt nghiệp, gửi họ về các vùng quê, hay đưa đến những đô thị bị cô lập để làm cái việc cần thiết nhất tại Trung Hoa là giúp các sản phụ sinh nở dễ dàng và hợp vệ sinh. Một đêm nọ, tôi ngồi với nàng trong phòng nàng, trước ngọn lửa được đốt bằng củi để sưởi ấm, và chúng tôi đã thảo luận về những cuốn sách đã đọc. Nàng nói với tôi là đã nhiều lần nàng hy vọng sẽ viết một cuốn sách về tất cả những kinh nghiệm đã trải qua ở Trung Hoa trong tình thương và thông cảm. Nàng đã viết nhiều truyện ngắn và thơ nhưng chưa có được cuốn sách nào cả. Tôi đưa cho nàng xem những ghi chú và những đoạn văn mà tôi thường viết khi nhàn rỗi, cho những bạn bè ở Anh quốc muốn biết những gì đang xảy ra tại Trung Hoa. Nàng xem xong, bảo tôi: "Đây là những chất liệu quý giá có thể dùng để cấu tạo nên một cuốn truyện. Tại sao chị không viết nó thành cuốn sách nhỉ? Điều đó làm tôi run sợ. Anh văn của tôi, học từ hồi mười tuổi tại Bắc Kinh, và về sau này có được dồi dào thêm là nhờ đọc chứ chẳng phải nhờ thực tập, chắc đâu đủ để cho phép tôi viết thành một cuốn sách! Nhưng nhờ sự khích lệ nóng bỏng của Marian, tôi đã bắt tay vào việc hình thành cuốn Destination Tchoungking. Cuốn sách này đã được viết bằng những tờ rời, từng đoạn một, đôi khi vào buổi tối, dưới ánh đèn dầu trong những cái còn lại của một căn phòng sau trận oanh tạc vừa qua; đôi khi vào buổi trưa, trở về nhà sau một cuộc đỡ đẻ kéo dài từ sáng tới tối; hoặc vào khoảng giữa công việc bếp núc nhà cửa và việc quan sát những dấu vết địch quân trên trời. Tôi đã từng đem theo bản thảo Destination Tchoungking vào hầm trú ẩn trong quả đồi gần nhà, nhét giữa cái nồi thổi cơm và con gái tôi. Trong phần lớn thời gian viết cuốn sách này, Marian và tôi ở xa nhau. Tôi ở với Pao ở Trùng Khánh hoặc theo chàng xê dịch trong vùng Trung Hoa tự do. Nàng vẫn không rời bệnh viện của nàng ở Thành Đô. Tuy thế, sự hợp tác giữa chúng tôi vẫn không bị đứt khoảng, và điều này nói ra không khỏi tầm thường nhưng tôi vẫn cảm thấy phải nói, là nếu không nhờ có Marian sửa chữa, phê bình cùng tu bổ cho từng chương một, chắc chắn cuốn sách này đã không có dịp ra đời. Ngay khi vừa hoàn tất một chương, tôi gửi bằng máy bay tới Marian liền. Bản thảo bay tới bay lui giữa tác giả và đồng tác giả(co-auteur) trên vòm trời Trùng Khánh, được đánh máy trên những tờ giấy thực mỏng với tất cả thận trọng và rõ ràng để có thể nhét vào phong thơ của bưu điện hàng không. Rồi, một ngày đẹp trời nọ, nhà xuất bản nhận lời in. Tuy nhiên, vào thời đó, chưa thể tiết lộ tên tác giả được vì một lý do kỳ khôi. Hồi đó, nhờ chồng tôi nên tôi tạm thời trở thành một nhân viên ngoại giao của xứ tôi. Các bà trong ngoại giao đoàn không được phép viết văn. Nơi chúng tôi sống, người ta coi viết văn như một nghề ít phụ nữ tính và độc hại, y như nghề kịch sĩ vậy. Ngay cả cuốn tự truyện đầy sinh động và duyên dáng, Huilan Koo, của bà Wellington Koo, phu nhân của ông đại sứ Trung Hoa tại Hoa Thịnh Đốn, đã đột nhiên bị cấm lưu hành một cách bất công. Cuốn sách của tôi không bị số phận đó, nhưng trong nhiều năm, tôi khá thấu đáo về vấn đề này. Đó là câu chuyện đằng sau cuốn Destination Tchoungking của tôi. Ngoài bài mở đầu này ra, kỳ dư tôi không hề sửa đổi chi tiết nào trong cuốn sách khả dĩ khác với lần xuất bản đầu tiên, trừ vài lỗi chính tả và văn phạm. HÀN TÚ ANH Tháng 2, 1953 Mời các bạn đón đọc Đường Về Trùng Khánh của tác giả Han Suyin.