Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Bay Đêm

Ngay khi ra mắt độc giả vào năm 1931, Bay đêm - được Antoine de Saint-Exupéry viết trong những ngày lưu lại Argentina - đã được công chúng hào hứng đón nhận và giành được nhiều giải thưởng của giới phê bình ở cả Pháp và Mỹ, trong đó có Giải thưởng Fémina uy tín. Với Saint-Exupéry, Bay đêm trên hết là một khúc tráng ca về màn đêm và những con người dũng cảm đi tiên phong trong ngành hàng không. Ở tác phẩm này, lại một lần nữa, vốn kinh nghiệm của một phi công lão luyện đã giúp ông vẽ nên những khung cảnh hùng vĩ đầy sắc màu, đầy thơ mộng nhưng cũng ẩn giấu những nguy hiểm khôn lường dưới đôi cánh bay. Tác phẩm đã được xuất bản ở Anh và Mỹ ngay từ năm 1932 và một năm sau đó, được hãng Metro Goldwyn Mayer chuyển thể thành phim, đưa tên tuổi của Saint-Exupéry đến toàn thế giới. “Bên dưới đôi cánh bay, những quả đồi đã rạch sâu thành đường xé nước thẫm màu trong ánh vàng ban chiều. Đồng nội rạng rỡ ánh sáng, sáng kéo dài đến bất tận: ở đất nước này đồng nội không khi nào ngừng hắt lên ánh vàng, cũng như vào lúc tàn đông, chúng không khi nào ngừng hắt lên màu trắng tuyết. Đôi khi, sau trăm kilômét thảo nguyên còn hoang vắng hơn cả biển cả, anh bay ngang một nông trại hẻo lánh, anh chợt thấy như nó chở nặng những kiếp người lui lại phía sau, giữa những sóng cồn đồng cỏ, và thế là anh đã nghiêng cánh chào con tàu thủy ấy.” *** BAY ĐÊM – ANTOINE DE SAINT EXUPÉRY #Thái Trung Tín #14CVH1 Là câu chuyện về một thế giới riêng tư, chỉ có những con người sống trong thế giới ấy mới cảm thấy mình được thảnh thơi và thoải mái, Bay đêm của Saint – Exupéry đại diện cho tiếng nói của thời đại vào những năm thập niên 30 của thế kỷ XX, đặc biệt là những người hoạt động trong ngành hàng không. Cuốn sách được viết nên sau một vụ tai nạn máy bay vào năm 1923, Saint – Exupéry bị giải ngũ, ông không còn lái máy bay tại trung đoàn Không quân ở Strasbourg và Casablanca. Bay đêm chuyên chở những giá trị về số phận của con người trước sự khắc nghiệt của thiên nhiên, của thời đại. Nó như một thông điệp đẹp đẽ nhất, mang trọn ý nghĩa sống mãnh liệt về sự dũng cảm kiểu mới trong thời đại công nghiệp. Toàn bộ Bay đêm là sự tương tác “hài hòa” giữa những phi công như Fabien, những giám đốc cấp trên như Revière hay những Kiểm soát viên không lưu, những thợ máy và cả vợ của Fabien là Simone Fabien. Và hơn hết, dưới cánh bay là một chuỗi câu chuyện dài cho những số phận bi tráng, nghiệt ngã: “Đôi khi, sau trăm kilômét thảo nguyên còn hoang vắng hơn cả biển cả, anh bay ngang một nông trại hẻo lánh, anh chợt thấy như nó chở nặng những kiếp người lui lại phía sau, giữa những sóng cồn đồng cỏ, và thế là anh đã nghiêng cánh chào con tàu thủy ấy”. Cứ ngỡ Fabien sẽ may mắn trở về bình an như những chuyến tàu chuyên chở thư tín khác, nhưng cuối cùng mọi thứ đều vùi trong sự chờ đợi mỏi mòn. Hôm ấy là lúc nửa đêm trong lúc chợp mắt với vợ mình, Fabien nhận được cuộc gọi theo lệnh của Revière sẽ đảm nhiệm chuyến bay đêm đi châu Âu, trên con tàu Patagonia. Trước những nỗi lo lắng của vợ Fabien, chàng phi công điềm tĩnh trả lời những câu hỏi từ phía vợ mình với một nụ cười mỉm: “Thành phố này... anh sẽ xa nó nhanh lắm. Ra đi vào lúc đêm thật tuyệt. Anh yêu ngôi nhà của anh. Anh có trời đẹp và đường anh đi lát đầy sao”. Fabien đại diện cho kiểu người dũng cảm nhất trong xã hội Pháp lúc bấy giờ. Đối với anh, công việc bay đêm chưa bao giờ làm anh chán nản. Anh âm thầm vượt qua bóng tối, vượt qua những cơn dông hãi hùng, vượt qua biển đêm sâu thẳm hay chinh phục dãy núi Andes bằng đôi bàn tay vững chắc, quyết đoán. Anh chinh phục chúng bằng những kinh nghiệm của riêng anh, bằng sự tin đoán và trí tuệ của một người phi công. Fabien dường như biết được mình khó có thể quay trở về, khó có thể sống sót vì mọi thứ với Fabien đã tắt lịm, chỉ còn mình Fabien trong buồng lái và xung quanh anh là bầu trời tĩnh mịch. Anh bị tách bạch vào một thế giới mới, anh không thể nhận bất cứ nguồn thông tin nào từ các trạm điều khiển Không lưu: Trelew, Commodoro, San Antonio, Bahia Blanca, Buenos – Aires: “Đối với người phi công, đó là một đêm không bờ bến, vì nó không dẫn tới một bến đậu (dường như mọi bến cảng đều không thể tới nổi) cũng chẳng dẫn tới bình minh: trong vòng một giờ bốn mươi phút nữa sẽ hết xăng. Vì sớm hay muộn cũng bắt buộc phải đắm chìm mù mịt trong cái dày đặt này”. “Anh thấy như thể vật chất cũng nổi lên phản kháng. Mỗi lần lao xuống, động cơ lại rung mạnh khiến cho chiếc máy bay cả toàn khối rung lên như nổi giận. Fabien kiệt sức để chế ngự con tàu, đầu anh chúi sâu trong buồng lái, trước mặt là đường chân trời xoay tròn chuyển vần, vì ở bên ngoài anh không phân biệt nổi giữa khối trời và khối đất, lạc lõng trong bóng đêm hỗn độn, một bóng đêm thời hoang sơ của muôn loài”. Dù bản thân có giỏi đến đâu, đứng trước cơn phẫn nộ của thiên nhiên, con người ta đều cảm thấy mình bé nhỏ: “Anh lẽ ra có thể đấu tranh thêm nữa, cố tìm một cơ may: không có cái định mệnh bên ngoài con người. Nhưng có một cái định mệnh bên trong con người: sẽ tới cái phút giây con người thấy mình vô cùng nhỏ yếu; khi ấy các sai lầm cuốn hút ta như con choáng váng”. Và dẫu Fabien đối diện với ranh giới giữa sự sống – cái chết, anh vẫn giữ thái độ lạc quan, anh cố gắng từng phút một để tìm kiếm bầu trời của chính mình, tìm kiếm ánh sáng. Nơi đó chỉ có mình anh cảm nhận được mọi khoảnh khắc của đời người, chỉ có mình anh hiểu được niềm tin yêu cái đẹp và những hoài niệm quan trọng cỡ nào, và hơn bao giờ hết “Fabien nghĩ mình đã bay tới những xứ sở huyền hoặc lạ kỳ, vì tất cả bỗng trở nên sáng lòa, cả tay anh, quần áo anh, đôi cánh anh. Vì ánh sáng không tỏa xuống từ các thiên thể mà tỏa ra từ bên dưới anh, chung quanh anh, từ những đám dự trữ màu trắng kia”, “Anh lang thang giữa vô vàn vì sao tích tụ dày đặc như một kho báu, trong một thế giới không có gì khác, tuyệt nhiên không có gì khác đang còn sống ngoài anh”. Fabien đã chiến thắng bản thân mình, anh đã cống hiến hết khả năng của mình trong quãng thời gian được bay và còn bay được. Anh hoàn thành trách nhiệm được giao một cách xuất sắc, cho đến khi “anh lang thang giữa những đá quý lạnh cóng, giàu có đến vô cùng, nhưng cái chết đã kề”. Revière cũng thế, dù cho ông là người phụ trách cả mạng lưới các tuyến bay, song ông vẫn có những lần bị tình cảm, cảm xúc chi phối. Ông yếu đuối ngay trong sự bản lĩnh của chính mình. Ông đã từng nghĩ rằng những người điều khiển máy bay không được phép sai sót, dù đó là những chi tiết nhỏ nhất. Ông kỉ luật những phi công bay về trễ, ông không để tâm mấy đến những chuyến bay đáp cánh trễ giờ, miễn làm sao phải đúng giờ là được. Nhưng mọi thứ với ông chỉ là bề ngoài, ông tỏ vẻ trang nghiêm bởi vì ông biết công việc của ông chẳng hề dễ dàng, chỉ lơ là một chút thì những chuyến tàu thư kia sẽ không có cơ hội trở về. Ông trân trọng thời gian và nhận ra rằng “Tưởng chừng như thật sự vào một lúc nào đó, con người sẽ có thể có thời gian, tưởng chừng như đến đầu mút cuộc đời con người có thể giành giật được cái thanh bình diễm phúc mình vẫn thường mơ tưởng. Nhưng thanh bình là điều không có. Chiến thắng cũng có thể là điều không có. Không có cái bến đậu dứt khoát của tất cả các con tàu thư”. Không khác gì Fabien, Revière cũng có những lúc bị thiên nhiên quật ngã. Tại trạm Không lưu không nhận được tín hiệu nào, mọi máy móc hiện đại cũng trở thành những cổ máy chết hoặc sự chủ quan trong công việc đã vô tình giết chết những tay điều khiển cừ khôi: “Đó là một trận gió xoáy Thái Bình Dương, chúng ta được nhận thông báo quá muộn. Vả lại, những trận gió xoáy đó không khi nào vượt qua dãy Andes. Lúc ấy không thể đoán biết là cơn gió xoáy đó tiếp tục đi về hướng Đông”. Reviève đầy kinh nghiệm sống, ông là mẫu đàn ông quyết đoán. Khi tiếp xúc trực tiếp với những phi công thì sẽ tỏ thái độ khác, khi trực tiếp tiếp xúc với thanh tra Robineau lại với thái độ khác “Những con người ấy hạnh phúc vì họ yêu mến điều họ làm, và họ yêu như vậy, bởi vì tôi cứng rắn”. Có thể ông đã làm cho mọi người đau khổ, nhưng cũng bằng cách đó ông đem lại cho họ những niềm vui mạnh mẽ “Phải đẩy họ tới một cuộc đời mạnh mẽ, một cuộc đời có cả đau khổ lẫn niềm vui nhưng là cuộc đời duy nhất đáng kể”. Reviève tự trách mình tuổi đã cao trong khi công việc thì đầy rẫy ra đó “Biết bao công việc đã làm để đi đến cái bước này! Năm chục tuổi đời; năm mươi năm mình đã sống đủ đầy, đã tự đào tạo, đã đấu tranh, đã làm đổi dòng các biến cố, để bây giờ đây, đó lại là điều mình bận tâm và chất chứa và được coi là quan trọng bậc nhất trên đời... Thật là kỳ cục”. Khuôn mặt của toàn chuyến bay thật đẹp nhưng khắc nghiệt. Nó phải bắt chúng ta phải trả giá bằng nhiều con người, và là những con người trẻ trung nhất – những con người đã từng không biết mình cao đẹp “Ta không biết điều ta làm có phải là tốt hay không. Ta không biết rõ cái giá trị đích xác của kiếp người, của công lý cũng như của nỗi phiền muộn. Ta không biết đích xác niềm vui của con người có nghĩa lý gì. Không biết cả về một bàn tay đang run rẩy. Cả tình thương, cả sự dịu dàng...”. Cuộc sống vẫn bấp bênh chất chưởng, con người tìm mọi cách vật lộn giành giật với cuộc sống... Thế nhưng, còn việc tồn tại lâu bền, còn việc sáng tạo, còn việc đổi trao cái thần xác mềm yếu mỏng manh của mình thì lại khác, biết đâu hôm nay ta chiến thắng nhưng hôm sau ta thất bại; biết đâu hôm nay ta còn nhiệt huyết nhưng hôm sau ta dường như muốn dừng lại và buông bỏ mọi việc hay biết đâu hôm nay ta còn sống, còn cười nhưng hôm sau ta đã trở về với bầu trời, với những vì sao, mãi mãi. Bay đêm thật ra là một câu chuyện mà Saint – Exupéry muốn chia sẻ với tất cả những đồng nghiệp làm nghề hàng không, muốn chia sẻ với những con người đang sống trong xã hội công nghiệp. Bề ngoài họ có thể hào nhoáng nhưng tận sâu trong bên trong họ là những người cần được yêu thương và đồng cảm, những con người mà chẳng hề biết mình sẽ đi về đâu. Bay đêm là tiếng nói đại diện cho đất nước Pháp, cho toàn thế giới rằng ở đâu đấy trong cuộc sống này, vẫn còn những con người hy sinh thầm lặng, họ chỉ biết yêu bầu trời và xem bầu trời chính là ngôi nhà đặc biệt của họ. Đã cất cánh rồi thì phải chiến đấu đến cùng. Bay đêm dạy cho ta biết chấp nhận những điều rủi ro mà cuộc đời luôn luôn cho phép xảy đến, đùng một cái người vợ phải co ro vì thiếu chồng, đùng một cái phải nghẹn lời chia tay với “chiến binh” – là người thân của mình. Trơ trọi. Tàn nhẫn. Lạnh tanh. Cho đến hôm nay khi có thời gian nhìn lại, bản thân chúng ta sẽ càng biết trân trọng những con người hoạt động trong nghề hàng không. Và trên mỗi chuyến bay của cuộc đời mình, chúng ta mới thấu hiểu được rằng “Một khi đã vạch xong con đường, con người không thể nào không đi tiếp”. Lúc đó nhìn lại cuộc đời và tìm kiếm cho mình cái đam mê, sự nhiệt huyết và trách nhiệm với bản thân, cộng đồng và đất nước. Thế giới đó không có quá nhiều về sự thịnh vượng của vật chất, tiền tài mà là hòa nhập vào nhịp điệu của sự chia sẻ, hoàn thiện mình từng ngày và trên hết là biết quan sát cuộc sống. Và sau tất cả những giông bão bao quanh, người ở lại phải sống thay phần của người đã khuất, sống một cuộc đời trọn vẹn hơn. Với lối kể đứt quãng, kết cấu phân mảnh cùng giọng điệu chân thực. Bay đêm dựng nên một bức tranh nhiều màu sắc với khoảng trống khác nhau trong thời gian, không gian và khai thác chiều sâu tâm lý của con người thông qua hành động một cách đa sắc thái. Đọc từng câu chữ, ta có thể dễ dàng phát hiện ra chất điện ảnh trong Bay đêm, từ đó dựng nên bộ phim cho riêng mình – bộ phim về một chuyến Bay đêm chinh phục những chặng đường chông gai đang đón đợi. *** [Review 2018] Bay Đêm – Antoine de Saint-Exupéry Chất văn của Antoine de Saint-Exupéry luôn song hành hai mặt đối lập: một là cái thơ mộng, trìu mến, cái đẹp lẩn khuất trong sự vật, mặt còn lại chính là sự thực của cuộc sống vừa bình thản mà chân thật. Khi mà ta đã trót sa vào cái lớp lụa nhung kết từ chữ của Saint-Exupéry rồi mê mải tận hưởng nó thì ông lại dẫn ta vào cái mặt phẳng phũ phàng của hiện thực. Tôi không thấy cái bi lụy hay khắc nghiệt trong văn của Antoine de Saint-Exupéry, dù cho với những đoạn văn mà nhân vật cận kề sinh tử, thì câu chữ, khung cảnh ông tạo nên vẫn rất đỗi êm dịu, đẹp đẽ như cái vuốt từ ngón tay người thương, hoặc là sự chân thành, hy vọng và nghiêm cẩn đằng sau nỗi suy tư của người ở lại. Tôi đã chẳng biết phải viết tiếp như thế nào sau mấy dòng chữ trên cho đến khi lại có một đêm mất ngủ, nằm thao thức rồi chợt nhớ tới Bay Đêm, liền ngồi dậy bật máy lên gõ thử vài dòng. Cũng xin nói, mấy câu có vẻ màu mè trên là cảm nghĩ của tôi sau khi đọc hai tác phẩm của Antoine de Saint-Exupéry mà thôi, không dám múa rìu qua mắt thợ. Còn lẽ sao bài này lại đổi đại từ nhân xưng thành “tôi”, vì tôi muốn vậy thôi.   Antoine de Saint-Exupéry ngoài việc làm nhà văn thì còn kiêm nghề phi công, nên qua Bay Đêm mà khắc họa lại cho người đọc cái niềm vui, tình yêu, khó khăn, dấu ấn của nghề phi công thuở ngành hàng không còn mới sơ khai. Nhiều người, trong đó có cả tôi đều kêu rằng Bay Đêm khó đọc quá, dù rằng nó chẳng nặng chuyên môn khó hiểu nhưng ta lại bỡ ngỡ với cách viết của Saint-Ex khi ông cứ liên tục đổi góc nhìn giữa các nhân vật với nhau mà viết. Đôi khi dịch giả Châu Diễn lại làm người đọc thêm bối rối bằng vài chỗ dịch như sau: “Như một hành trang, ông luôn luôn mang theo cái vẻ âu sầu ấy.”. Nhưng tôi xin cam đoan với bạn, nếu bạn kiên trì đọc tới trang 59 rồi lật sang số 60, trải nhiệm đọc của bạn bỗng trở nên mượt mà rất nhiều. Nếu chưa được, hãy dành cuốn sách này cho những đêm mất ngủ, bật đèn lật sách, mơ màng vượt biển ngắm sao trên cánh con tàu bay chất đầy thư gửi nơi xa.   Như tôi đã nói, cuốn truyện chừng hai trăm trang này kể về những chuyến bay vận chuyển thư tín diễn ra trong cảnh đêm và qua nhiều góc nhìn khác nhau từ những con người đã gắn mình với công việc ấy: người chỉ huy, người truyền điện tín, phi công, ông thanh tra hay người vợ trẻ của anh phi công. Tôi thích góc nhìn của Rivière – vị thủ trưởng chỉ huy các chuyến bay đêm, một con người vừa nghiêm khắc, gan lì, không nhân nhượng nhưng cũng có lúc mềm lòng để suy tư về những con người làm việc dưới quyền chỉ huy của ông. Đọc những đoạn văn trăn trở của ông mà tôi vừa không đồng ý lẫn nể phục tinh thần quyết đoán của Rivière. Ông rèn luyện cấp dưới của mình để họ nghiêm túc với công việc, không đổ lỗi cho hoàn cảnh và dám chịu trách nhiệm với việc mình làm. Nhưng ngược lại, đôi lúc ta lại thấy Rivière quá xa cách, không biết cảm thông với những người đồng nghiệp. Dầu sao vẫn phải thừa nhận rằng Rivière đúng, trên cương vị của một người thủ lĩnh, ông phải duy trì tỉnh táo, nghiêm khắc, tránh bi lụy để đương đầu với khó khăn và duy trì nhiệm vụ. Tai nạn luôn có thể xảy ra và từ những đau khổ, ta phải rút ra bài học, cải thiện hơn nữa, như chính Rivière nhận định: “Những thất bại tăng thêm sức mạnh cho những kẻ sung sức.” — Rivière Nhưng dù hành động của Rivière có phục vụ cho mục đích cấp tiến nào đi chăng nữa thì sinh mạng, sự an toàn của con người luôn là ưu tiên và phải được pháp luật bảo hộ. Trong một cuốn truyện ngắn thì thôi cũng không nên yêu cầu nhiều. Với Rivière, màn đêm là vô tận, là trách nhiệm không ngừng nghỉ. Thì với Fabien, với những người phi công khác, mặt đất là chốn xa xôi, bầu trời bất tận mà đẹp đẽ, là nỗi chán chường, sự hào hứng, nỗi nhớ đất liền, là sự tự hào về con tàu bay. Tôi thích cả bầu trời sao trăng giữa giông bão của Fabien, thích cả bầu trời của Fabien qua ánh mắt mến mộ của người vợ trẻ: “Anh có trời đẹp, đường anh đi lát đầy sao.” Nay tôi xin dừng bút, vì thực là hết chữ rồi. Có nhiều đoạn văn đẹp trong Bay Đêm tôi sẽ không trích lại, gập cuốn sách này mà phải gật đầu đồng ý với lời bạt ở bìa sách: Bay đêm đẹp, mê hoặc mà đầy nguy hiểm. ***   Rating: 5 out of 5. Saint-Ex vẫn như thế, vẫn cái giọng văn trữ tình đẹp đẽ như thơ ấy mà ta đã mong được gặp lại kể từ Hoàng Tử Bé, dẫu rằng lần này đó là chất thơ trong đanh thép. Trước khi được nói đến điều ta ghi dấu nhất từ cuốn sách, ta xin được cảm thán cách Saint-Ex miêu tả bầu trời đêm với sao, trăng, mây gió và giông tố. Niềm say mê, tình yêu tha thiết với ánh sáng tuyết trắng của trăng và sao trải lên sáng lóa trên dải mây ngàn là điều dễ hiểu, nhưng dường như ta còn thấy trong ông là niềm bao dung, biện hộ cho cả những cơn giông bão dữ dội nuốt chửng đồng đội của ông. Ta đọc và nghe tình yêu ấy ngấm vào mình một cách dịu dàng, từ khi nào ta thôi còn oán trách những khắc nghiệt trên đường đi nữa? Ngày xưa khi học môn Xác suất thống kê, ngụp lặn trong vô vàn công thức tính toán, ta còn nhớ thầy giáo đã bảo rằng: “Các em có thể quên môn học này, có thể quên mớ kiến thức của nó, nhưng đừng quên nguyên tắc Số Lớn khi bước ra đời”. Khi ấy ta chỉ lờ mờ hiểu được cách vận dụng của nó trong các quyết định: Không có gì tuyệt đối cả, nếu phải chọn hãy chọn phần lớn. Nhưng đến khi ta biết đến Rivière, một hình tượng của người lãnh đạo, người mang trên mình sức nặng của Vĩ Đại và Chiến thắng, ta đã sáng rõ hơn về cái được gọi là Số Lớn. Những thất bại, những mất mát đã xảy ra, và sẽ tiếp tục diễn ra nhưng không vì thế mà Rivière chậm trễ, ngưng trệ một chuyến tàu. Ông sẽ không vì một sinh mạng đã tan biến, một hạnh phúc đã ngừng thở mà bỏ cuộc, mà không tiếp tục đưa những con tàu vào đêm tối. Tại sao một chuyến tàu thư cho một thành phố lại quan trọng hơn mạng sống quý giá của một con người, hơn cả hạnh phúc của một gia đình êm ấm? Tại sao cả một dân tộc điêu đứng cho một bức tường mang tên Vạn lí trường thành? Tại sao hàng vạn người chết đánh đổi cho những hòn đá xếp chồng lên nhau mang ý nghĩa Kim tự tháp? Có đáng giá không khi biết bao hạnh phúc để đánh đổi cho những sự vật như thế? Có, “Quyền lợi chung do các quyền lợi riêng hợp thành: nó không biện bạch thêm một tí gì khác.” Có một thứ gì đó còn cao quý hơn cả những mạng sống, những hạnh phúc cá nhân ấy. Đó là cái gì? Hàng vạn số phận đã mất đi là nhiều, nhưng vẫn là số ít so với nhân loại này. Còn số lớn còn lại, họ nhận được thứ được gọi là Văn Minh, là Thành tựu, là những bằng chứng cho những điều Vĩ Đại vượt trên sức mạnh nhỏ bé của con người. Nếu không có sự hi sinh của số ít thì số ít ấy sẽ được sống nốt số phận của mình, và rồi cũng sẽ biến mất đi, nhưng nhân loại sẽ trôi đi như những hạt bụi không vết tích. Rivière đã làm đúng những gì cần làm, sự cực đoan ấy tàn nhẫn ấy không phải để thỏa mãn cho cái Tôi vị kỉ ngạo mạn, ông hết lòng bảo vệ những chuyến tàu, và cũng dũng cảm dâng hiến chúng cho Chiến thắng và Số Lớn. Ta quý trọng và nể phục những con người như Rivière, họ bước những bước vững chải qua sự yếu hèn của con người, nắm chặt trong tay niềm tin sắt đá để bước đến điều Vĩ Đại và dám chấp nhận những thất bại để đến gần với Chiến Thắng hơn. Chỉ cần có họ, nhân loại sẽ còn hi vọng về sự tiến hóa. Và cuối cùng, ta xin được trích dẫn một câu ta nghĩ rằng Saint-Ex đã nói hộ lòng mình bấy lâu nay: “Chúng ta không đòi hỏi sự vĩnh cửu, mà chỉ đòi hỏi không phải chứng kiến các hành động mà sự vật bỗng chốc mất hết ý nghĩa. Khi đó, cái trống rỗng bao quanh ta sẽ hiện ra…”. Khi đã chứng kiến những hành động ấy đôi lần, ta trở nên vô cùng sợ hãi cái sự thật rằng sự vật sẽ trở nên vô nghĩa trong đời sống này… Ta không biết mình sẽ thở thế nào trong sự chân-không ấy. Nhưng vẫn theo nguyên tắc Số Lớn, ta chấp nhận đánh đổi những giờ khắc trống rỗng khủng khiếp ấy để đi đến cái Chiến thắng mà niềm tin của ta xây dựng nên, như cách Saint-Ex xây dựng trong suốt đời mình. Mời các bạn đón đọc Bay Đêm của tác giả Antoine De Saint-Exupéry.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Ngôi Nhà Sặc Sỡ
Đây là câu chuyện xúc động về hành trình từ một cậu bé ngây thơ đến, vẫn một cậu bé, già dặn, đầy kinh nghiệm. Một tiểu thuyết trữ tình, táo tợn, và đầy riêng tư... Tác phẩm hay nhất của J.Grisham (Sunday Times). Một câu chuyện ly kỳ và đầy cảm hứng về thời thơ ấu của chính nhà văn bestseller John Grisham, tác giả những tiểu thuyết được cả thế giới đón nhận như Công Ty Rửa Tiền, Thân Chủ, Vua Lầm Lỗi... Khi đó Luke, tức nhà văn, sống cùng gia đình trong một trang trại trồng bông. Mùa thu hoạch họ phải thuê một nhóm người Mêhicô đến phụ giúp. Trong suốt sáu tuần hái bông, Luke được nghe và thấy những điều không thích hợp với một đứa trẻ, và Luke đã nhận ra mình đã nắm giữ điều bí mật quái đản không chỉ đe dọa vụ mùa mà còn làm thay đổi cuộc sống gia đình cậu, mãi mãi. Ngôi Nhà Sặc Sỡ với cách hành văn tùy tiện nhưng thanh nhã của J. Grisham, đôi khi gợi ta nhớ đến phong cách của Hemingway. Một câu chuyện được kể ra bởi một bậc thầy. Đọc xong, thật khó quên các nhân vật (Spectator). *** John Grisham (sinh ngày 8/2/1955) là một tác giả người Mỹ nổi tiếng với những tiểu thuyết trinh thám hình sự. Sau khi tốt nghiệp đại học Mississippi, ông học thêm chuyên ngành luật của trường này và hoạt động trong ngành luật hình khoảng mười năm.  Ông cũng phục vụ trong Hạ nghị viện từ năm 1984 đến năm 1990. Khởi đầu sự nghiệp viết lách năm 1984, năm 2008 số sách của ông bán ra đã vượt quá con số 250 triệu bản trên toàn thế giới. Tác giả từng đoạt giải Galaxy British Book Awards này còn là một trong số ba tác giả ít ỏi bán được hai triệu cuốn trong bản in đầu tiên, cùng Tom Clancy và J. K. Rowling. Các tác phẩm của John Grisham được dịch ra 38 ngôn ngữ. Hiện ông đang sống ở Virginia và Mississippi.   Mời các bạn đón đọc Ngôi Nhà Sặc Sỡ của tác giả John Grisham & Võ Hải Nga (dịch).
Ngôi Nhà Của Những Hồn Ma
Isabel Allende Llona (sinh ngày 2-8-1942) là một nhà văn Chile với tư cách công dân Mỹ. Allende có các tác phẩm đôi khi chứa đựng các khía cạnh của truyền thống “ma thuật hiện thực”, nổi tiếng với tiểu thuyết như “Ngôi nhà của các linh hồn” (La casa de los espíritu – 2002) đã thành công về mặt thương mại. Allende được mệnh danh là “tác gia sáng tác bằng tiếng Tây Ban Nha được đọc rộng rãi nhất”. Năm 2010, bà nhận được Giải thưởng văn học quốc gia Chile. Năm 2004, Allende được ghi tên vào Viện Hàn lâm nghệ thuật và văn học Hoa Kỳ. Tiểu thuyết của Allende đôi khi dựa vào kinh nghiệm của riêng cá nhân mình và thường tỏ lòng kính trọng đối với cuộc sống của phụ nữ, trong khi thêu dệt cùng các yếu tố của thần thoại và hiện thực. Bà thuyết giảng và đi lưu diễn tại nhiều trường đại học, cao đẳng Hoa Kỳ để giảng dạy văn học. Allende nhận tư cách công dân Hoa Kỳ vào năm 2003 và sống ở California với chồng từ năm 1989. Bà là người gốc xứ Basque, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Đây là cuốn sách hay, nhưng rất ít người biết vì nó không được giới thiệu rộng rãi. Cuốn sách được đánh giá ngang với “Trăm năm cô đơn” của Garcia Marquez. (Trích từ “Hội những người thích Tiểu thuyết kinh điển” trên mạng xã hội) *** Đây là tiểu thuyết dang dở duy nhất trong bộ ba tác phẩm hiện thực huyền ảo có tác động sâu sắc đến tôi, với hai tác phẩm còn lại là Thế kỷ ánh sáng và Trăm năm cô đơn. Gọi là dang dở, bởi lẽ khi tôi còn trẻ, ở nhà tôi chỉ có tập một trong bộ hai tập, thiếu mất tập hai. Hơn mười năm sau, tôi mới có đủ điều kiện để đặt mua một bản dịch bằng tiếng anh, và kết thúc việc đọc tác phẩm này. Có lẽ cái dang dở thì bao giờ cũng đẹp hơn thực tế, tôi có phần nào thất vọng với phần hai không giống như tôi tưởng tượng, nhưng nhìn lại một cách tổng thể, đây vẫn là một tác phẩm lớn, đặc biệt và tinh tế theo một kiểu mà chỉ có một người phụ nữ mới viết ra được.Cái gì trong tiểu thuyết này đã làm cho tôi của thời niên thiếu thích đến như thế ? Hồi đó tôi còn đơn giản, còn xao động bởi những câu đơn, chưa hiểu rằng một câu văn câu nói đứng riêng, dù hay đến đâu cũng không có giá trị nhiều, nghệ thuật không nằm nơi đầu lưỡi. Nhìn lại, tôi có thể hơi ngượng ngùng mà thừa nhận rằng đoạn độc thoại của Alba trích ở phần giới thiệu chính là thứ đã ảnh hưởng đến tôi, cho tôi cái quyết tâm sắt đá vào đúng khi tôi đang rất cần những lời cổ vũ, động viên, cũng khiến tôi ngày một hàm ơn điều tuyệt vời mang tên văn học :   “…ngày mà ông ngoại tôi vật ngửa bà hắn, Pantra Garcia, giữa những bụi lau bên bờ sông, ngày đó đã vẽ thêm một mắt xích những sự việc thế tất phải được hoàn thành. Sau đó đứa cháu của người phụ nữ bị hiếp lại lặp lại hành động đó với đứa cháu gái của kẻ hiếp dâm, và trong khoảng bốn mươi năm sau, có thể cháu trai của tôi sẽ vật cháu gái của hắn giữa những bụi lau sậy ven sông, và cứ thế, cho tới những thế kỷ sắp tới, trong một lịch sử vô tận những đau thương, đổ máu và tình yêu. Trong chuồng chó, tôi đã có ý định sắp đặt một trò chơi nhức đầu mà trong đó mỗi bộ phận đều được lắp vào đúng chỗ của nó… …tôi sẽ rất khó trả thù cho tất cả những người cần được trả thù, vì sự trả thù của tôi sẽ lại chỉ là một phần của vẫn cái nghi thức từ xưa, không thay đổi. Tôi muốn nghĩ đến công việc của tôi là sống và sứ mệnh của tôi không phải là kéo dài mãi mối căm thù, mà chỉ là công việc viết đầy những trang sách này trong khi chờ đợi Miguel trở về, trong khi chôn cất cho ông tôi, người hiện đang nằm nghỉ bên tôi, trong căn phòng này, trong khi tôi chờ đợi những thời kỳ tốt đẹp nhất định sẽ đến và thai nghén cho đứa nhỏ mà tôi mang trong bụng, đứa con của biết bao cuộc hãm hiếp, hoặc có thể là con của Miguel, nhưng trước hết, nó là con tôi.” Câu nói ở trên chứa đựng một điều mà rất ít người hiểu được : cần nhiều lòng dũng cảm, nghị lực và lòng nhẫn nại để vượt qua những thăng trầm trong cuộc sống, còn cần rất nhiều hơn thế để gạt đi quá khứ và bắt đầu lại mọi sự từ đầu, nhưng khi anh muốn chặn đứng cái vòng quay nghiệt ngã và tàn ác mà số phận đã cài lên người anh, chặn đứng dòng thác những nhơ nhuốc và xấu xa vẫn cuốn anh đi không ngừng, làm ô uế tâm hồn anh, như thế vẫn là chưa đủ. Nếu muốn dừng cái vòng quay đó, nếu muốn gìn giữ lấy tâm hồn mình nguyên vẹn và xa rời cái tất yếu của lòng hận thù, sự hèn nhát, sự giả dối không tránh khỏi, hy vọng duy nhất mà anh có thể nắm lấy, là hãy nuôi dưỡng tình yêu trong trái tim mình. Rất lâu sau này tôi mới hiểu rằng để làm được điều đó, người ta có thể phải hi sinh tất cả phần còn lại. Tôi vẫn thường nghĩ đến thời điểm mà Allende đặt bút viết những dòng cuối này của cuốn tiểu thuyết của bà, cũng như khi Gorki đọc lên những câu nói tuyệt vời đầy ánh sáng về văn học trong một buổi hội nghị ở Nga, hay lúc những câu chữ từ ngòi bút của Aimatov thấm lên trang giấy, những thời điểm tưởng như rời rạc và xa lạ ấy đều có kết nối với tôi, thay đổi tâm hồn tôi, một đứa trẻ cô độc sinh ra nhiều năm sau đó trên một vùng đất gần như tận cùng thế giới, thay đổi cuộc đời tôi. Khi đó tôi cảm nhận được rõ rệt và sâu sắc sự vĩ đại của môn nghệ thuật mang tên văn học và có lẽ từ lúc ấy, cuộc sống của tôi đã gắn liền với nó. Năm tháng trôi đi, tôi bây giờ đã là người của tuổi ba mươi. Có thể nói, ngoài việc gìn giữ trái tim mình, tôi không đạt được gì nhiều. Cuộc sống vẫn tiếp tục, vật chất đầy đủ hơn, nước trôi về nơi thấp hơn, xung quanh tôi, con người tha hóa. Tôi của tuổi ba mươi không còn xúc động chỉ vì một câu nói nữa, dù câu nói đó có là của Isabel Allende. Lần đọc này điều làm tôi thích thú là những nhân vật nữ trong truyện, vốn được lấy cảm hứng từ chính những người trong gia đình của Allende. Dù khác nhau, bọn họ có một điểm chung : giống như Remedios của Garcia Marquez, muốn chinh phục được họ, không có cách nào khác ngoài việc cho họ thấy tình yêu trong trái tim anh. Và tình yêu ấy phải trong sạch, giản dị, chân thành. Chỉ có cách ấy thôi, họ không thể bị mua chuộc hoặc chinh phục bởi bất kỳ điều gì khác. Đây là một điểm mà nói chung những cô gái tầm thường không bao giờ hiểu, thậm chí thấy xa lạ, khó tiếp cận : tình yêu chân chính luôn luôn gắn liền với một cảm nhận sâu sắc về lẽ phải, nó có sức mạnh khiến những kẻ yêu nhau nhận thức được điều đúng sai một cách thật tự nhiên như bản năng. Từ Rosa người đẹp, Clara người tiên tri cho đến những cô gái bình thường hơn như Blanca, Amanda, Alba, tất cả những người phụ nữ trong tác phẩm này đều nổi bật lên vì chiều sâu tâm hồn của họ và không phải sắc đẹp của họ mà chính là cái chất nữ tính nguyên thủy và tinh tế đã khiến họ đều có sức thu hút khủng khiếp với đàn ông. Trong truyện, mối tình được khắc họa chi tiết nhất là giữa Esteban Trueba và Clara. Esteban là một mẫu đàn ông phấn đấu cho sự nghiệp, khởi đầu với chỉ một cái tên quý tộc và một gia đình sa sút nghèo hèn, anh làm việc như súc vật để đổi đời, để có tiền lấy được vị hôn thê là Rosa người đẹp. Đáng tiếc cô tiên tóc xanh này không phải là người của cõi trần, cô sớm ra đi để lại anh thanh niên cay đắng và điên giận số phận. Anh bộc lộ hết phần xấu xa của con người mình : làm việc như điên, bóc lột nông nô, hiếp dâm thôn nữ, sống như một kẻ man rợ. Clara là người mang anh trở lại với sự cân bằng, cô lấy hôn phu của người chị đã mất. Mỏng manh, lơ đãng, vui tươi và thần bí, Clara luôn là một cái gì đó mà Esteban không bao giờ nắm bắt được, quyền hành của anh không bao giờ áp đặt nổi cá tính của cô, những cơn giận dữ thô bạo của anh không bao giờ có tác dụng với cô, sự dâm đãng của anh không làm cô sợ hãi, quà tặng xa xỉ của anh không làm cô vui sướng, sự ngoại tình của anh không làm cô ghen tức. Từ khi lấy cô cho đến tận khi anh chết, rất lâu sau khi cô qua đời, Esteban luôn yêu cô đến mức mất cả lý trí. Tôi thực sự vui thích khi đọc những dòng Allende miêu tả cảm giác của Esteban về vợ, những suy nghĩ bực tức mà trìu mến, bất lực trong sự say mê của một kẻ vốn thô lỗ, chuyên quyền, không biết diễn đạt cảm xúc của mình, không hiểu rằng muốn được vợ yêu, chỉ có duy nhất một cách đấy là anh phải trở thành người tốt và không chỉ tốt với cô : “Căn bệnh kéo dài đã làm sứt mẻ cơ thể tôi và tính nết tôi càng trở nên tồi tệ… Đến cả Clara, người chưa bao giờ sợ hãi cơn cáu bẳn tồi tệ của tôi, một phần vì tôi cũng hết sức giữ gìn để không nổi giận với em, cuối cùng cũng đi đến sợ hãi. Nhìn em sợ hãi mình, tôi càng thấy trong người căng thẳng. Dần dà Clara tới chỗ có nhiều thay đổi. Em có dáng mỏi mệt và tôi thấy em như xa cách mình. Em đã không còn cảm tình với tôi, những cơn đau của tôi không còn khiến em thương hại mà lại làm em khó chịu, và tôi nhận thấy em như muốn tránh mặt tôi… Clara càng xa cách, tôi lại thấy sự cần thiết về tình yêu của em càng lớn. Nỗi thèm muốn mà tôi có khi cưới em đã không giảm bớt, tôi vẫn muốn được em hoàn toàn, đến tận những ý nghĩ sâu thẳm nhất của em, nhưng người phụ nữ trong vắt như không khí kia đi qua bên tôi như một hơi thở, và dù cho tôi có nắm giữ em bằng đôi bàn tay và ôm hôn em một cách tàn nhẫn, tôi vẫn không thể cầm giữ được em. Tinh thần em không ở cùng tôi … Chúng tôi chỉ gặp nhau trong giờ ăn, và lúc đó tôi là người vừa nói vừa nghe hết cuộc chuyện trò, vì em dường như bay trên những tầng mây lơ lửng. Em trở nên rất ít nói và để mất đâu nụ cười tươi mát và mạnh bạo, cái vẻ mà tôi thích thú nhất trong người em. Bây giờ em đã thôi không còn ngả đầu ra đằng sau mà há miệng cười ha hả. Hầu như không cả mỉm cười… …có lẽ tôi chẳng phải là một anh chồng tế nhị, lúc nào cũng biết tặng hoa và nói những chuyện có duyên, hay đẹp. Nhưng tôi cố gần em. Sao lại định nhỉ, lạy chúa ! Tôi đột nhập vào buồng em khi em đang say mê viết những cuốn vở ghi chép cuộc đời hoặc đang ngồi bên chiếc bàn gọi hồn. Tôi định cố chia sẻ cùng em cả những trò đó nữa, nhưng em không thích người khác xem những điều em ghi chép, và sự có mặt của tôi cắt đứt hứng thú của em khi đang chuyện trò với những hồn ma, cho nên tôi phải từ bỏ ý đồ… Có thể chúng tôi cũng có những sự hiểu lầm bởi nhiều lý do khác. Trên thực tế, rất ít khi chúng tôi đồng ý với nhau về một sự việc gì. Không phải tính nóng nẩy cáu bẳn của tôi là cái tội gây ra tất cả những cuộc tranh cãi và bất đồng ý kiến đó, vì tôi là một người chồng tốt, không còn chút nào bóng dáng của anh chàng điên cuồng khi chưa vợ xưa kia. Và em, em là người phụ nữ duy nhất của tôi. Cho đến bây giờ vẫn thế. Một hôm Clara cho đặt một khóa ngang trong cửa phòng em và không để cho tôi vào nằm cùng giường, ngoài những trường hợp tôi thúc ép ghê quá, dọa rằng nếu từ chối có nghĩa là cắt đứt hoàn toàn… việc đó kéo dài nhiều tuần lễ, tôi liền quyết định phải nói với em. Bình tĩnh em giải thích cho biết quan hệ vợ chồng giữa chúng tôi đã bị tổn thương, và vì vậy sự sẵn sàng đón nhận những yêu đương nhục thể trong em đã mất. Em diễn giải một cách tự nhiên rằng nếu đã chẳng còn gì để nói với nhau, thì cũng không có lý do gì nằm cùng một giường, và tỏ vẻ ngạc nhiên thấy suốt ngày tôi giận dữ với em, mà đến đêm lại muốn được em vuốt ve âu yếm. Tôi cố sức nói cho em rõ về phương diện đó đàn ông và đàn bà có đôi chút khác nhau, và tôi yêu quý em dù cho tôi có nhiều tai quái, nhưng tất cả đều vô ích… Điều lạ lùng là vấn đề tình dục của tôi, theo năm tháng trôi qua, trở nên có chọn lọc hơn, nhưng hầu như vẫn bừng bừng dễ cháy như thể trong thời trai tráng. Tôi thích ngắm nhìn phụ nữ, đến bây giờ vẫn như vậy. Nó như một khoái cảm thẩm mỹ, tinh thần. Nhưng chỉ riêng Clara bao giờ cũng khơi dậy trong tôi một thèm muốn cụ thể, tức khắc, bởi trong cuộc chung sống lâu dài, chúng tôi đã hiểu biết rõ về nhau, và người nọ bằng ngón tay của mình đã thông thuộc cái địa lý chính xác của người kia. Em biết đâu là những điểm nhạy cảm nhất của tôi, và có thể nói cho tôi biết đúng điều tôi cần nghe. Vào độ tuổi mà số đông nam giới đã chán vợ mình và cần thiết có sự kích thích của những người phụ nữ lạ để có thể tìm thấy tia lửa thèm muốn, tôi vẫn tin chắc chắn rằng chỉ có cùng Clara tôi mới có thể thực sự yêu đương, như thể trong thời kỳ trăng mật, không biết mệt. Nên tôi không hề có ý định đi tìm những người đàn bà khác. Tôi bắt đầu bao vây em khi bóng đêm đổ xuống. Về buổi chiều khi em ngồi viết, tôi giả vờ thưởng thức píp thuốc, nhưng thực tế tôi liếc mắt dò xét trộm. Nhẩm tính rằng em sắp sửa rút về phòng, vì thấy em đã bắt đầu lau ngòi bút và gấp những quyển vở lại, tôi liền đi trước ngay. Tôi khập khiễng bước vào phòng tắm, lau rửa, mặt một áo khoác trong nhà bằng nhung tơ mà tôi đã mua nhằm quyến rũ em, nhưng hình như em chưa bao giờ chú ý đến sự tồn tại của nó ; tôi dán tai vào cánh cửa và chờ em. Khi tôi thấy tiếng em bước trên hành lang, liền chạy ra ôm liền. Tôi đã thử đủ mọi cách, từ trút đầy người em những lời khen ngợi và tặng phẩm, cho đến dọa nạt sẽ tống ra khỏi cửa và dần cho một trận ba-toong dừ người, nhưng chẳng cách nào có thể lấp nổi vực thẳm ngăn cách giữa hai chúng tôi… Clara lảng tránh tôi bằng vẻ lơ đãng mà tôi rất ghét. Tôi không thể hiểu được cái gì đã làm cho em có sức hấp dẫn tôi đến thế. Em là một phụ nữ đã có tuổi, không đỏm dáng chút nào, khi bước đi hơi lê đôi chân, và đã không còn tính vui vẻ vô cớ nó làm cho em rất duyên dáng trong thời kỳ thanh niên. Clara cũng chẳng có vẻ quyến rũ hoặc dịu dàng âu yếm với tôi. Chắc chắn em không hề yêu tôi. Thật chẳng có lý do gì làm cho tôi phải thèm muốn em đến độ không mực thước và thô bạo nó đẩy tôi tới chỗ thất vọng và lố lăng như vậy. Thế nhưng tôi vẫn chẳng tránh được điều đó. Dáng đi đứng nhỏ nhẹ của em, mùi sạch sẽ của quần áo và xà phòng của em, ánh sáng của đôi mắt em, cái duyên dáng của chiếc gáy gầy nhỏ có những mớ tóc loăn xoăn bướng bỉnh rối tung của em, tất cả những thứ đó trong em tôi đều thấy thích. Sự mảnh dẻ của em gây cho tôi một cảm giác dịu hiền không chịu nổi, lại muốn che chở bênh vực em, ôm ấp làm cho em cười vang như những ngày xưa, lại cùng ngủ bên nhau, đầu em gục trên vai tôi, đôi chân thật nhỏ và ấm của em co dưới đôi chân tôi, tay em đặt trên ngực tôi, ôi thật dễ thương và quý giá. Đôi lần tôi có ý định trừng phạt em bằng lối giả vờ hờ hững, nhưng chỉ sau một vài ngày là tôi chịu thua ngay, vì em có vẻ yên tâm và sung sướng nhiều hơn trong thời gian tôi tỏ vẻ quên em. Tôi đục một lỗ thủng trên tường buồng tắm để nhìn trộm em, nhưng việc đó lại đẩy tôi vào một tình trạng nôn nao xáo động gớm ghê nên tôi lại phải bịt nó lại bằng vôi vữa…” Thật sự là chỉ có một người phụ nữ nhạy cảm và thông minh mới viết ra được những dòng này, thứ văn dịu dàng và tình cảm làm tôi cười nhiều lần khi gõ lại như thế này không thể là của một người đàn ông. Cũng không thể là của một cô bé như kiểu Banana Yoshimoto. Tôi nghĩ, giá mà Allende cứ tiếp tục viết như thế này thì sẽ hay biết mấy, một câu chuyện thuần chất phi chính trị, đi sâu vào đời sống và tâm hồn con người Chile nói riêng và Mỹ latin nói chung… Cuộc chiến giữa hai phe cực tả và cực hữu, giữa quân phiệt và cộng sản, những cuộc tàn sát ở phần hai đã làm câu chuyện có tính thời cuộc hơn, và bớt tính phi thời gian hơn. Nhiều năm trôi qua, sự khác biệt này giữa Ngôi nhà của những hồn ma và Trăm năm cô đơn đã lộ rõ. Isabel Allende không bằng được Garcia Marquez, nhưng tôi thấy bà cũng đã quá thành công.   Mời các bạn đón đọc Ngôi Nhà Của Những Hồn Ma của tác giả Isabel Allende.
Ngài Tổng Thống
"Ngài Tổng thống" là sự sáng tạo của nhà văn tiểu thuyết Asturias Guatemala, là một trong những tiểu thuyết quan trọng của Asturias. Cuốn sách năm 1898 ~ 1920 của chọn quản Estrada Cabrera như một nguyên mẫu, với một phim hoạt hình theo phong cách cường điệu một mùa nhựa thô tục, kỳ lạ khung, xảo quyệt, tàn ác bạo chúa hình ảnh, trong khi mô tả trong Người dân ở đây ly hợp chiếm ưu thế, trong đó sự thiếu hiểu biết rộng rãi, nghèo đói, đau khổ, bầu không khí khủng khiếp. Dựa trên nghiên cứu này cho thấy thực tế sâu sắc về các vấn đề xã hội hơn so với phạm vi bảo hiểm rộng điển hình của nghệ thuật, trong việc giảm gần nửa thế kỷ sau khi công bố mặc ngày hôm nay, công tác này vẫn còn nhận ra rằng không có thiếu ý nghĩa xã hội quan trọng. "Ngài Tổng thống", với Ust Lal 彼特里 các "đám tang của nhà độc tài", Gabriel Garcia Marquez của "Phụ huynh của suy giảm", Jose Luis Garcia Sanchez " Tyrant Banderas 'đồng gọi là "chống độc tài bốn tiểu thuyết Mỹ Latinh." Miguel Angel Asturias, 1967 người chiến thắng của giải Nobel Văn học. *** Văn học Mỹ Latin được giới thiệu ở miền Bắc Việt Nam trước hết bởi tính chất cách mạng (xã hội) của nó. Đó là thơ văn từ nền văn học Cuba: Thơ An-giê-ri – Quy-ba (nhiều dịch giả, NXB Văn học, 1960; về sau, riêng tác giả Nicolas Guillén còn được Xuân Diệu tuyển dịch một tập: Thơ Nicôla Ghiden, NXB Văn học, 1981), tiểu thuyết Béc-ti-li-ôn 166 [Bertillion 166], Giải nhất về tiểu thuyết do cơ quan trao đổi văn hoá giữa các nước châu Mỹ Latin, của José Soler Puig (Đức Ngọc dịch, NXB Văn học, 1962), kịch Đồng mía, Giải nhất văn học Cuba, của Paco Alfonso (Trần Công Tá dịch, NXB Văn học, 1965), truyện ngắn nhiều tác giả: Truyện ngắn Cuba (Lê Xuân Vũ dịch, NXB Văn học, 1964), về sau, còn hai tuyển tập truyện ngắn Cuba khác cũng được tuyển dịch: Giờ thì em không còn sợ nữa (nhiều người dịch, NXB Văn học, 1980) và Mặt đất và bầu trời (nhiều người dịch, NXB Lao động, 1984). Ngoài nền văn học dân tộc Cuba, thời gian này còn xuất hiện tác phẩm của các tác giả Mỹ Latin khác. Từ nền văn học Chile, thơ của Pablo Neruda (Thơ Pabơlô Nêruđa, Đào Xuân Quý dịch, NXB Văn học, 1961). Từ nền văn học Brazil, tiểu thuyết Những con đường đói khát của Amado (Huy Phương dịch, NXB Văn hóa, 1960). Từ nền văn học Guatemala, tiểu thuyết Ngài tổng thống của Asturias (Đặng Thế Bính, Vũ Cận dịch, NXB Văn học, 1964). Và, từ nền văn học Venezuela, tiểu thuyết Năm người im lặng của Miguel Otero Silva (Vũ Chính dịch, NXB Văn học, 1968)... *** MIGUEL ANGEL ASTURIAS (19/10/1899 – 09/06/1974) Giải Nobel Văn chương 1967 Miguel Angel Asturias là nhà thơ, nhà văn, nhà viết kịch người Guatemala gốc Indian Bắc Mỹ, học luật tại Đại học Guatemala, dân tộc học và thần học ở Sorbon, làm báo và dạy học, sớm tiếp xúc với các đại diện của phong trào siêu thực; năm 1929 công bố tập thơ trữ tình đầu tiên Ánh sao, năm 1933 viết Ngài Tổng thống, một tác phẩm u ám về chế độ độc tài ở Châu Mỹ Latinh. Trong những năm tình hình chính trị ở Guatemala tương đối dễ thở, M. Asturias vào ngành ngoại giao, làm tham tán Đại sứ ở Mexico, Argentina, đại sứ ở Salvador… Năm 1946, ông xuất bản cuốn Những người Maya được coi là tác phẩm lớn nhất của ông. Năm 1956, tổng thống than Hoa Kỳ lên nắm quyền đã tước quyền công dân của M. Astuiras và buộc ông phải di tản sang Buenos Aires, sau đó sang châu Âu. Ông vẫn tiếp tục hoạt động báo chí và sáng tác văn học. Năm 1966 lại xảy ra đảo chính ở Guatemala, bạn của M. Asturias trở thành Tổng thống, ông được chỉ định làm Đại sứ ở Pháp. Cùng năm này M. Asturias được trao tặng giải thưởng Lenin “Vì hoà bình giữa các dân tộc”, và năm sau ông được trao giải Nobel vì những tác phẩm xuất sắc bám rễ sâu xa vào những truyền thống văn hoá và huyền thoại của dân tộc Maya và thổ dân Mỹ Latinh. Asturias được coi là người mở đầu chủ nghĩa hiện thực huyền ảo Mỹ Latinh. Năm 1970, trong bối cảnh chế độ chính trị bắt đầu siết chặt lại, M. Asturias từ chức Đại sứ và tập trung thời gian, sức lực cho các hoạt động văn học cho đến cuối đời. Tác phẩm của M. Asturias đến với độc giả miền Bắc Việt Nam từ trước khi ông đoạt giải Nobel. Tiểu thuyết Ngài Tổng thống được các dịch giả Đặng Thế Bính và Vũ Cận chuyển ngữ, nxb Văn học xuất bản năm 1964. Ở Miền Nam, tạp chí VĂN số 109 ngày 01/07/1968 dành riêng để viết về M. Asturias và đăng các tác phẩm của ông; năm 1969, nxb Phù Sa (Sài Gòn) xuất bản tiểu thuyết Ngài Tổng thống qua bản dịch của Tâm Linh. Sau 1975, tác phẩm Mắt những người đã khuất (2 tập) của ông được nxb Văn học ấn hành năm 1986 qua bản dịch của Nguyễn Vĩnh. Ngoài ra một số truyện ngắn của ông cũng được dịch và đăng rải rác trong các tuyển tập và tạp chí Văn học nước ngoài. *** "Kêu vang kêu vang kêu vang ...... ......" Kinh Chiều chuông thì thầm như một lời cầu nguyện vang lên trên thành phố, đám đông người ăn xin cầu xin cuối ngày, kéo cơ thể kiệt sức mình để buộc các vuông, tập hợp dưới mái hiên của nhà thờ qua đêm. Xung quanh quảng trường được bao phủ bởi lính gác, bảo vệ an ninh của Tổng thống Cộng hòa. Trong bóng tối, Pala Đại tá Les quan hệ cha con, thậm chí, lỏng lẻo dưới hiên nhà, dừng lại ở một người ăn xin bên cạnh một 名叫佩莱莱, học trò đùa lời nói bậy của ông kêu lên: Carter, Pellet "Mẹ!" Levin từ mặt đất như Fengleyiban nhảy về phía đại tá, bột đá là kết quả của cuộc đời. Đại tá lỏng Caliente là tâm tình của tổng thống, cái chết đột ngột của ông cho tổng thống để loại trừ bất đồng chính kiến ​​cung cấp một cơ hội tốt. Vì vậy, dưới thời Tổng thống sắp đằng sau hậu trường, một khung-up âm mưu chính trị bắt đầu. Đầu tiên, khi cảnh sát bắt giữ tại hiện trường của những người ăn xin tội, tra tấn, buộc họ phải thừa nhận rằng kẻ giết người là không Peilai Lai Adams tướng và rau quả nhưng Fabio Carvajal Masters. Sau đó, Chủ tịch triệu tập một tâm Angel, nói cho anh ta vì một số lý do đặc biệt, các nhà chức trách sẽ bất tiện uy tín đạo đức Qana món ăn Adams tướng trong tù, vì vậy số phận của Tổng Thiên thần Canales lặng lẽ tiết lộ gió thúc đẩy anh ta bỏ trốn. Thiên thần lâu dài với một khuôn mặt thiên thần, đẹp trai, làm việc như hiệu trưởng, nhà ngoại giao, nghị sĩ, thị trưởng, và sau đó trở thành chủ tịch của những tên côn đồ thuê côn đồ. Ông đã ra lệnh cho Canales trở về nhà và thấy rằng có đã được giám sát chặt chẽ Phi hiến binh. Khi anh lang thang nhân dịp ngần ngại ngần ngại, tôi đột nhiên thấy một căn phòng đi ra một cô gái trẻ xinh đẹp, đó là những gì con gái nói chung Camilla Canales. Thiên thần đã có cơ hội đến trong một từ, về cha cô đã gặp, ông nói với các nhà chức trách sẽ bắt giữ ông vào ngày thứ hai, khuyên anh suốt đêm. Canales cân lại chấp nhận đề nghị của Angel. Vào ban đêm, với một vài tên côn đồ Thiên thần Canales đến gần nhà phục kích, ông đã có hai mục đích này đi, đầu tiên chuẩn bị một dòng, giám đốc một nhà riêng để ăn cắp một trò hề đêm đột kích, bao gồm các tướng bỏ chạy: và thứ hai ý định Jiaxizhenzuo, bắt cóc con gái của chung, vì ông nhận chung của ân sủng, và do đó con gái của ông cũng được hưởng các quyền nhất định. Tuy nhiên, xung quanh điệp viên gendarme tìm thấy tăng lên rất nhiều so với ngày khi họ tiếp cận các thiên thần nhà chung thức tỉnh này, tổng thống đã gửi cho anh bí mật mách không thực sự muốn đưa Fabio món ăn Adams là một lối thoát, nhưng bỏ chạy khi ông dự định sẽ tận dụng lợi thế nó giết công cụ trong âm mưu này, ông cũng là một bị khai thác. Đối với điều này không hạnh phúc hạnh phúc trong tâm trí của mình, xác định theo kế hoạch ban đầu để hoạt động bất kể hậu quả, để giúp sự nguy hiểm nói chung. Ông dẫn đầu đám đông leo trên mái nhà của các tướng nhà, cắt điện. Camilla thấy rằng phong trào, hét lên "kẻ trộm," điệp viên cảnh sát quân sự xung quanh nhà, nghe nói đến họ chỉ đơn giản là cướp phá tài sản trong phòng tối, Canales tướng bỏ chạy trong tình trạng lộn xộn, nhưng Thiên thần đưa thẻ Mira chuyển đến một căn phòng bí mật. Camilla bởi các kích thích, một số ngày trong Thông Thiên Học nhầm lẫn giữa Awoke sau đó khóc. Thiên thần đã nói với cô ấy để giữ không tự nhiên, vì vậy cô không thể không nhìn thấy lòng từ bi và sự dịu dàng. Ông đã cẩn thận để chăm sóc an ủi cô ấy, và sau đó đi cùng mình để tìm nơi ẩn náu với một số người chú của mình, nhưng các tướng Canales anh trai của anh liên quan vì sợ hãi, không có ai sẵn sàng chấp nhận cô. Desperate Camilla bệnh nặng, sắp chết. Thiên thần chỉ trong vài ngày đã được sản xuất cho các cô gái tình yêu chân thành vô tội của Chúa, cảm thấy rằng cuộc sống của họ không thể sống thiếu cô ấy. Ngày của ông canh gác Camilla xung quanh, và cuối cùng theo người hiểu biết lời khuyên Thaumaturgy già trước khi đám cưới của cô với giường của Camilla, hy vọng bởi sức mạnh của tình yêu vượt qua cái chết. Chắc chắn, một phép lạ đã xảy ra. Camilla ngày một tốt hơn với nhau, và cuối cùng đã hồi phục hoàn toàn. Chủ tịch triệu tập thiên thần nghe tin, một mặt ông đã cảnh báo thảm họa gây tử vong, mặt khác cho phép các tờ báo lớn đăng tải tin tức về đám cưới, và nói dối với họ trong dinh tổng thống được tổ chức đồ dùng cá nhân chủ trì của ông Chủ tịch một buổi lễ lớn. Thiên thần đã làm cho nó tất cả bằng cách nào đó. Tổng Canales lớn lên ở vùng nông thôn sau khi chạy trốn biểu ngữ thành công của sự công chính, đề xuất ý tưởng của một loạt các cải cách dân chủ, đa số người nghèo khổ nhận được phản ứng nhiệt tình, các thành phần của quân nổi dậy. Nhưng một ngày kia tướng cuộc hôn nhân đọc bài báo tin tức được công bố, cao chót vót cơn giận dữ hết hạn, các phiến quân cũng sẽ sụp đổ. Thạc Carvajal tại thủ đô là phí và bị kết án bị bắn vu. Chủ tịch ác người nước ngoài cốt lung lay tất cả thành công, nhưng anh không bỏ cuộc. Ngay Thiên thần nghe nhiều tin đồn rằng ông đã bí mật chống lại tổng thống, hỗ trợ cuộc cách mạng nói chung Canales. Thiên thần đã nghe rất đáng lo ngại, và nhanh chóng đi đến chủ tịch Bianbai. Tổng thống nói rằng nó thậm chí không nghe lời vu khống, ngược lại, vẫn nghĩ rằng đánh giá cao anh ấy, và quyết định gửi đại sứ của mình tại Hoa Kỳ. Thiên thần vui mừng rằng điều này là để thoát khỏi đất nước, đi từ chủ tịch của trời cho con thú. Ông và chia tay vợ, đồng ý và sớm đoàn tụ ở nước ngoài, họ hào hứng đi xe lửa đến bài mới của mình. Hóa ra ngay khi anh ta sắp rời đi, một nhóm binh lính lên tàu ông bị bắt, đưa vào ngục tối. Thiên thần tôi phát hiện ra rằng đây là một cái bẫy do tổng thống. Tin tức của chồng Thời gian bay của mình, Camilla buồn bã ở nhà, kết quả là luôn luôn tin tức. Ngay sau đó cô đã sinh ra một cậu bé, cuộc sống không có nơi nương tựa do, cô đã buộc phải chuyển nơi ở đến các vùng nông thôn. Thiên thần đã bị tra tấn trong ngục tối chỉ có một hơi thở, mỗi ngày suy nghĩ Camilla, nhờ sức mạnh của tình yêu kiên trì sống sót. Tuy nhiên, các nhà chức trách để gửi một giả ra một tù nhân và Angel cùng một tế bào, sau khi lừa đảo niềm tin của mình, nói với anh một tin nhắn giả mạo: Camilla vì chồng bị bỏ rơi, lòng hận thù, bất đắc dĩ cho tình nhân của tổng thống. Thiên thần nghe tuyệt vọng, Qijueshenwang. Hoạt động đánh giá cao Theme Điều này, hơn 20 triệu từ tiểu thuyết của phương tiện biểu hiện nghệ thuật chủ đề chống độc tài, phong cách thể hiện tư tưởng và nghệ thuật của tác giả. Chế độ độc tài châu Mỹ Latin trong lịch sử hiện đại là một trong những hiện tượng xã hội nổi bật nhất. Kể từ những năm 1920, các nước Mỹ Latinh có để thoát khỏi ách thuộc địa từ độc lập cho đến khi bắt đầu của văn học Asturias, gần 100 năm, "caudillos học thuyết" (hùng quân sự cai trị độc tài) như bệnh dịch hạch thường phổ biến ở mảnh Continental, một trở ngại nghiêm trọng đối với tiến bộ xã hội và phát triển kinh tế của quốc gia. Asturias bản địa của Guatemala, đã bị tàn phá bởi một số nhà độc tài. Các nhà văn tự là trong quy tắc tối Cabrera trải qua tuổi thơ và tuổi trẻ của mình trong. Để sử dụng cảnh sát thảm sát thám tử độc tài, bỏ tù và đàn áp của người dân, gây khủng bố trên khắp cả nước, Asturias cha vì ông từ chối phản bội lương tâm của họ bị bệnh, thấy nhẹ nhõm trở lại với nhiệm vụ luật sư làng, tất cả để Asturias trẻ Asturias lại ấn tượng khó quên. Sau đó, ông bước vào trường đại học tích cực tham gia cuộc đấu tranh chống chế độ độc tài, buộc phải lưu vong ở châu Âu vào năm 1932, khi hành lý của mình điền vào "người ăn xin chính trị" bản thảo. Asturias và những kẻ độc tài tử, và văn chương là vũ khí hữu ích nhất mà ông đã tham gia cuộc đấu tranh cuộc sống. Tuy nhiên, tiểu thuyết của ông không vì thế dòng chảy trong chính trị đơn giản. Các tác giả có mô tả này "Ngài Tổng thống", mục đích sáng tạo: "Có những tiểu thuyết chính trị phơi bày, tuy nhiên, tất cả mọi thứ có thể thấy rõ phía sau hình ảnh của một Tổng thống sống của Cộng hòa Mỹ Latinh, để xem loại trông giống như một thực tế hiện đại tôn thờ sức mạnh ma thuật cổ đại. (Tổng thống) là một người đàn ông của Thiên Chúa, Superman (không phân biệt có hay không điều này là đúng, chúng tôi miễn cưỡng), ông đã thay thế các chức năng của các tù trưởng bộ tộc trong xã hội nguyên thủy, với một số vị thần, như Thiên Chúa và đôi mắt trần nhìn thấy không nhìn thấy. "Đó không phải là quan niệm chung của các tác phẩm của một nhà độc tài bị buộc tội vi phạm cá nhân, nhưng sự phê phán nhân đạo với sự kết hợp của phân tích xã hội, cố tình tạo ra một tác phẩm văn học bạo chúa độc tài điển hình Mỹ Latinh. Ông là chuyên quyền và kẻ phản bội, mà còn cho hàng ngàn năm để đánh lừa các lực lượng của mê tín và sức mạnh siêu nhiên của quần chúng trong ngụy trang. Công việc là như một trung tâm, một phân tích sâu sắc về nguyên nhân gốc rễ của ý thức xã hội và bản chất của chế độ độc tài. Nghệ thuật Cuốn tiểu thuyết mang tên "Ngài Tổng thống", trên thực tế các công trình chỉ chơi năm lần con số này, tác giả phác thảo một mực mưu ngấm ngầm rất hạn chế, khuôn mặt kiêu ngạo độc ác, và trong nhiều chương, người đọc chỉ từ các nhân vật khác lời nói và hành động, tâm lý và mô tả số phận của họ để xác định chúng như ma quái độc tài bí mật thống trị bóng tối. Ông là vô hình, nhưng ở khắp mọi nơi, tất cả mọi người đang sống trong trái tim của các vị thần. Với cuốn tiểu thuyết này để trở thành thạc sĩ, với tình hình thực tế cách này, hình ảnh của bạo chúa bỏ sương mù bí ẩn. Hơn nữa, để làm nổi bật công việc của đề tài này, nhà văn dành rất nhiều sự khéo léo. Hoàng hôn cuốn tiểu thuyết giống như một câu thần chú như chuông nhà thờ bắt đầu đáng sợ, làm cho bầu không khí tôn giáo mạnh mẽ, một thảm họa trên là màn đêm buông xuống. Nhiều người trong khóc bút của tác giả, rên rỉ, khóc, chiến đấu, nhưng vẫn không thể phá vỡ bầu không khí ngột ngạt của khủng bố. Nhà độc tài vẫn tuyệt vời, thái quá khát máu, nạn nhân vô tội vẫn không được trợ cấp. Là kinh chiều chuông, câu chuyện đã kết thúc. Cuốn sách này được thiết kế giống như một bầu không khí ảm đạm của sự đàn áp dưới sự cai trị của ma quỷ của địa ngục. Fiction là một nhân vật quan trọng Cara de Angel, tên của ông có nghĩa là "thiên thần mặt" các tác giả đã viết thường, ông luôn luôn nhắc nhở "Anh ấy là như thế, như Sa-tan, xuất hiện xinh đẹp, trái tim nham hiểm" hàm ý Thiên thần có một tính cách kép, như Kinh Thánh rằng đối với "thượng đế" không trung thành "ma quỷ." Với sự phát triển của cốt truyện, một chút của nhân loại Thiên thần phục hồi trong tâm trí, anh bắt đầu mơ về cuộc sống của một con người thực sự, và nhà độc tài không rõ ràng, bị mất điều khiển chương trình, đã được đưa vào một hầm ngục cho đến khi chết. Điều này cũng giống Kinh Thánh rằng Thiên Chúa sẽ thiên thần nổi loạn đã giảm xuống địa ngục, để những câu chuyện của bản án cấp phát diệt vong gần như giống hệt nhau. Asturias Kinh Thánh ám chỉ khéo léo vay thể hiện ý nghĩa nhất định, viết nổi loạn của nhân loại chống lại cái ác, làm sâu sắc hơn rất nhiều các tác phẩm chủ đề. Cuốn sách tác giả lặng lẽ về tất cả mọi thứ trên bề mặt, trên thực tế, mỗi từ của mỗi câu với một thích mạnh mẽ và không thích là. Tiểu thuyết kết thúc bi thảm mọi người đọc làm dấy lên sự phẫn nộ chống lại chế độ độc tài, mà còn làm cho mọi người nhận thức được để chống chọi lại số phận, Gan Đặng Nucai là không có lối thoát. Để diệt trừ bệnh ung thư Fengyun chế độ độc tài ở châu Mỹ Latinh, chúng ta phải đập tan xiềng xích của sự mê tín và thuyết định mệnh. Đây là nghệ thuật của những lời nói dối thành công của cuốn tiểu thuyết. *** Miguel Angel Asturias (Miguel Ángel Asturias 1899-1974) nhà văn Guatemala và nhà thơ. Sinh ra tại Guatemala. Cuộc sống của ông đã viết được mười tiểu thuyết, bốn bài thơ và một số vở kịch, cũng như ở Guatemala trong lịch sử văn học hiện đại đóng một vai trò quan trọng ở châu Mỹ Latinh. Năm 1899, Asturias sinh ra ở Guatemala City. Sinh ra và lớn lên ở các cư dân lục địa Ấn Độ đã trải qua thời thơ ấu và thanh niên. Sau đó, trở về thủ đô, học nghề luật sư là một luật sư sau khi tốt nghiệp đại học. Mời các bạn đón đọc Ngài Tổng Thống của tác giả Miguel Ángel Asturias & Đặng Thế Bính (dịch) & Vũ Cận (dịch).
Kẻ Lừa Dối
Hai cái xác không quần áo trong phong cô gái gọi cao cấp cùng những cuốn băng video hành nghề của cô ta liên quan gì tới một tài liệu quân sự tuyệt mật và thời kỳ Đông – Tây Đức còn chìa cắt ? Tại sao nguyên một con tàu vũ khí của nhóm khủng bố IRA khét tiếng bị “bắt sống” giữa biển khơi ? Và ai dám mạo nhận Nữ Hoàng Anh ban sắc chỉ tự phong cho mình chức Thống đốc một vùng lãnh thổ. Sau khi đã làm tan rã một tập đoàn ma tuý Columbia ? Chỉ một người trả lời được những câu hỏi ấy. Đó là Sam McCready. Kẻ Lừa Dối khét tiếng trong nghề song lại trung hậu, đáng yêu nhất trong đời. Và số phận của con người ấy ra sao !!?? ***   Mời các bạn đón đọc Kẻ Lừa Dối của tác giả Frederick Forsyth & Trần Hưng (dịch).