Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Đất Dữ

Cuộc đấu tranh tàn khốc nhằm giành lấy khu rừng Sanqueiro Grande – nơi có loại đất đen tốt nhất để trồng ca cao – cuốn rất nhiều người vào vòng quay điên cuồng của nó. Một bên là đại tá Horácio, với sự trợ giúp của tay luật sư có học thức và tài năng Virgilío Cabral, không từ thủ đoạn nào để chiếm đoạt hết đất của những điền chủ nhỏ trong vùng. Bên kia là anh em nhà Badaró: Juca và Sinhô, thích giải quyết mọi chuyện một cách nhanh, gọn bằng những cuộc mưu sát. Và nhiều, nhiều nữa những con người tìm đến vùng đất ấy để làm giàu. Ở đó, cuộc đời của họ gắn liền, xoay quanh, phụ thuộc vào những gốc ca cao để rồi cuối cùng kết thúc bên chính những gốc cây ấy. Ra đời năm 1943, Đất dữ của Jorge Amado viết về nền “văn hóa ca cao” đặc trưng của đất nước Brazil bằng tình yêu của tác giả dành cho quê hương xứ sở. Tác phẩm đã trở thành một trong những tiểu thuyết thành công nhất trong sự nghiệp của ông, được dịch ra nhiều ngôn ngữ, rồi chuyển thể thành kịch, phim và được khán giả đón nhận nồng nhiệt. *** Review Binh Boog: 6 tháng 6, 2018 Ngày, tháng, năm Em thân yêu Ngày chia tay em, anh ra đi với bao ước vọng sẽ giàu có trở về. Hành trang mang theo là niềm khát khao gây dựng cho mình được một đồn điền ca cao. Mỗi quả ca cao chín là một tấc vàng. Ở mảnh đất hứa ấy, ca cao là vàng, là sự giàu có. Nhưng em thân yêu ơi. Anh đã thực sự bị choáng ngợp bởi mảnh đất ấy. Nó không phải là mảnh đất hứa như anh đã tưởng tượng. Ở mảnh đất ấy là sự dữ dội của thiên nhiên. Quay đi quay lại xung quanh chỉ là những khu rừng âm u tăm tối, là những đầm lầy, là bùn đất. Là tiếng kêu của các loài động vật, là tiếng thét gào vĩnh biệt của chú ếch khi bị rắn độc nuốt. Là rắn bò ngổn ngang nhiều vô kể, phải luôn cảnh giác đề phòng với nọc độc của chúng. Là đối mặt với dịch sốt vô phương cứu chữa, là sốt rét rừng. Nhưng trên hết là máu. Máu ở đây đổ xuống mỗi ngày. Cái chết ở đây diễn ra như cơm bữa. Luật lệ nằm trong tay những kẻ mạnh. Người ta thanh toán, trừ khử, chĩa súng vào nhau để tranh dành địa bàn là những đồn điền ca cao hay khu rừng sẽ khai phá để trở thành đồn điền ca cao sau này. Em có thể hình dung những thế lực ở đây không khác gì những băng đảng mafia khét tiếng. Những cuộc ám sát, trừ khử, tranh dành không bao giờ chấm dứt. Người ta sai đi giết người dễ như đi chặt một cái cây. Cùng với ca cao và bùn đất nơi đây đã biến anh thành một con người khác mà chính anh cũng thấy thật xa lạ không còn là chính mình. Từ một người hiền lành và hoà nhã đầy tham vọng rồi anh cũng trở thành một con người thô bạo, một con quỷ một con người hèn hạ vô ích và nhu nhược, một kẻ giết người. Ngoài những lúc bắn giết thì trò giải trí duy nhất ở đây là gái điếm và cờ bạc. Những cô gái ở đây là công cụ giải trí thoả mãn cơn hứng của những tay chém giết hay những anh phu cày lưng lao động trên những đồn điền ca cao. Ca cao ở đây là sự sống, là vàng. Mỗi gốc cây ca cao ở đây là một xác người vun xới. Và anh rồi cũng sẽ là một trong những người nằm dưới gốc cây ca cao để hoà máu mình vào đất cho những đồn điền ca cao ngày càng được mở rộng. Máu và bùn đất sẽ vẫn hoà trộn vào nhau để vun xới cho những cây ca cao ở đây và sẽ luôn luôn tiếp nối trên mảnh đất này. Yêu em! *** Review Huy Minh: Trong lịch sử thế giới, đã có rất nhiều cuộc chiến liên quan đến những loại cây công nghiệp, có thể kể đến cuộc chiến tranh nha phiến hay mặt trận cao su. Đến với “Đất dữ”, tôi được chứng kiến một cuộc chiến mới: cuộc chiến ca cao, một cuộc chiến đẫm máu và đầy rẫy bạo lực với sự dẫn dắt của nhà văn Brazil Jorge Amado. Được viết vào năm 1942, “Đất dữ” – tên của cuốn sách đã nói lên câu chuyện của nó – cuộc chiến giữa hai nhà điền chủ để chiếm đoạt những đồn điền ca cao. Một bên là Horacio, người sẵn sàng gạt phăng tất cả những thứ gì cản đường để đạt được mục đích của mình, với điểm yếu duy nhất là người vợ nhỏ nhắn, luôn khao khát tự do Ester. Một bên là anh em nhà Badaro, cũng thèm khát vùng đất mà Horacio muốn chiếm đoạt, bất chấp thủ đoạn để trở thành người thắng cuộc. Với hệ thống nhân vật khá nhiều và dày đặc nhưng nhân vật trung tâm của cuốn sách không phải là bất cứ người nào trong câu chuyện, Jorge Amado chọn chính vùng đất là nhân vật chính cho cuốn tiểu thuyết của mình. Chúng ta bắt gặp một vùng đất vô luật lệ mà sự quyến rũ của tiền nhanh chóng thu hút mọi người từ khắp nơi đổ về mà trong đó có rất ít người trở về nguyên vẹn – cả về thế xác lẫn tâm hồn: “Người ta nói vùng đất này thực là cái mỏ vàng; người ta bảo có một người nào đó vừa xuống khỏi tàu thủy đã giàu ngay rồi; người ta nói là phố xa đều lát vàng, kiếm vàng cũng dễ như kiếm bụi.” Trong câu chuyện, Jorge Amado liên tục mô tả sự chuyển động song song giữa một bên là bọn điền chủ và tay sai của chúng, một bên là hơi thở tự nhiên của những khu rừng xung quanh – nơi bọn chúng khao khát phá bỏ để lập nên những đồn điền. Nhịp điệu của cuốn sách biến đổi không ngừng, mở đầu với sự chậm rãi và mô tả tỉ mỉ cảnh vật, những phong tục địa phương và giới thiệu từng nhân vật, lúc sau khi bạo lực bắt đầu leo thang thì Jorge Amado liên tục kéo người đọc với những diễn biến nhanh dồn dập, những cuộc giao dịch, những vụ giết người chớp nhoáng. Thông qua cốt truyện chính (cuộc đấu tranh giữa Badaros và Đại Tá Horacio), Jorge Amado mở cho tôi một cánh cửa để nhìn vào thời kỳ khi đồng tiền chi phối mọi thứ và làm thế nào mà bạo lực trở thành một vòng xoáy liên tục định hình cuộc sống của tất cả mọi người. Bạo lực chảy xuyên suốt cuốn sách theo một vòng lặp lại, không biết bao giờ kết thúc, những cây ca cao được tưới bằng máu của những người ngã xuống sau các cuộc tranh giành đất đai. Những nhân vật của Jorge Amado đôi lúc cũng bối rối, không chắn chắc rằng bạo lực sẽ giải quyết tất cả hay tiền sẽ là câu trả lời cho mọi chuyện: “Có tiền đâu phải là xấu, nếu như người ta không mong ước gì khác nữa. Nhưng nếu một người nào đó ở đời chỉ biết có tiền thì hắn quả là một thằng tồi. Người ta trở nên mù và điếc khi nói đến tiền.” Nhưng những suy tư ấy nhanh chóng bị gạt bỏ khi người ta bị cuốn vào cái vòng xoáy mà không thoát ra được. Hai nhân vật là đại diện cho những khao khát hướng thiện trong cuốn sách là Ester và Virgilio, cặp tình nhân luôn tha thiết được bỏ trốn đến nơi nào mà ban đêm họ có thể nhắm mắt ngủ an lành bên nhau mà không bận tâm đến những bạo lực, những cuộc tranh chấp, những kẻ thù. Nhưng quả thật, chỉ ao ước là không đủ, cần phải có can đảm đứng lên nữa. Những đoạn độc thoại nội tâm của hai nhân vật này là những đoạn dường như Jorge Amado muốn gửi gắm thông điệp thật sự của mình. Đây không phải là cuốn sách đầu tiên của Jorge Amado mà tôi đọc, vì vậy tôi thật sự cảm giác lạ lẫm với phong cách này của ông khi đã quên với sự huyền ảo trong các cuốn sách khác của ông, cũng có thể là được viết trong thời kỳ đầu trong sự nghiệp sáng tác, nên “Đất dữ” cũng kém đi sự uyển chuyển, kỳ bí như những cuốn sách khác, cũng có thể bởi tiếp cận một chủ đề có phần thực tế – ông lớn lên ở một đồn điền ca cao – nên ông chọn cách kể chuyện thô ráp, trực diện nhưng vẫn là một cuốn sách hấp dẫn, kỳ lạ dẫn tôi đến một thế giới hoàn toàn mới, mà tôi luôn khao khát được khám phá them nữa. *** Jorge Amado de Faria Leal (10/8/1912 - 06/8/2001)   Trong lịch sử văn học Brazil, không có nhà văn nào nổi tiếng, có uy tín và nhiều độc giả như Jorge Amado. Bằng những tác phẩm văn học và hoạt động chính trị không mệt mỏi, nhà văn cộng sản này đã được sự ngưỡng mộ của tầng lớp người nghèo khổ, người da đen bị áp bức.   Hầu hết những tiểu thuyết của Jorge Amado đều được thai nghén tại thành phố Salvador, thủ phủ bang Bahia thuộc vùng Đông Bắc vốn là thủ đô của Brazil c đến năm 1763.   Ra đời năm 1912 trong ngôi làng Ferradas, con một nông dân trồng ca cao, J. Amado trải qua thời thơ ấu trong một khu phố nghèo của Salvador mà mọi đường phố, ngôi nhà giờ đây vẫn gợi nhớ về quá khứ thuộc địa của Bồ Đào Nha từ thế kỷ 17.   Là nhà văn hiến mình cho sự nghiệp giải phóng người nghèo khổ, Jorge Amado bắt đầu cuộc chiến đấu từ nghề làm báo năm 14 tuổi. 5 năm sau, ông xuất bản cuốn tiểu thuyết đầu tiên O País do Carnaval (1931) trong khi đang học luật tại Rio. Tuy nhiên, Amado không hề hành nghề luật sư mà tự nguyện đứng vào hàng ngũ Đảng Cộng sản Brazil, đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng người nghèo. Cho đến những năm 1950 của thế kỷ trước, hàng loạt tác phẩm của Amado viết về người nghèo đã ra đời như: Cacau (Cacao, 1933), Suor (1934), Jubiabá (1935), Mar Morto (Sea of Death, 1936)…   Đến cuối những năm 50, các tác phẩm của Amado có một bước ngoặt sang hướng trào lộng và phê phán mà ông tự nhận là theo chủ nghĩa hiện thực XHCN. Các cuốn tiểu thuyết Gabriela, Cravo e Canela (Gabriela, Clove and Cinnamon, 1958) hoặc Dona Flor e Seus Dois Maridos (Dona Flor and Her Two Husbands, 1966) nói lên sức sống mãnh liệt của nhân dân Brazil. Đây là 2 cuốn tiểu thuyết được dịch ra nhiều thứ tiếng nhất trên thế giới, kể cả ở Việt Nam (cuốn Dona Flor và hai người chồng do NXB Đà Nẵng ấn hành năm 1987) và được dựng thành phim năm 1977 và 1984 do các nghệ sĩ tên tuổi Marcello Mastroianni và Sonia Braga thể hiện. Đây là phim thành công nhất trong lịch sử điện ảnh Brazil, đã được các đề cử cho giải Quả cầu vàng và Giải BAFTA.   Đã nhiều lần được đề cử giải Nobel, nhưng do bị thành kiến, Amado chưa lần nào đoạt giải. Năm 1998, đất nước Brazil của Amado là khách mời danh dự tham gia Hội chợ Triển lãm sách Paris trong đó tên tuổi Amado được tôn vinh xứng đáng. Những thành công của Amado có phần đóng góp không nhỏ của bà Zélia Gattai, người bạn đời cũng là một nhà văn và nhà trí thức có tên tuổi ở Brazil.   Các tác phẩm của J. Amado đã được dịch ra 50 thứ tiếng ở 55 nước trên thế giới và được chuyển thành phim, kịch. Ở VN nhiều tiểu thuyết của J. Amado đã được dịch: Đất dữ, Miền đất quả vàng, Ca cao, Têrêza, Dona Flor và hai người chồng, Gabriela nhành quế và hoa đinh hương… Một số tác phẩm được xuất bản tại Việt Nam: Biển Chết Dona Flor Và Hai Người Chồng Hảo Hán Nơi Trảng Cát Đất Dữ Hải Trình Ven Bờ   Các tác phẩm:  - O País do Carnaval (1931)  - Cacau (Cacao, 1933)  - Suor (1934)  - Jubiabá (1935)  - Mar Morto (Sea of Death, 1936)  - Capitães da Areia (Captains of the Sand, 1937)  - Vida de Luis Carlos Prestes (The Life of Luis Carlos Prestes,1942) also published as “The Knight of Hope”  - Terras do Sem Fim (The Violent Land, 1943)  - São Jorge dos Ilhéus (1944)  - Seara Vermelha (1946)  - Os Subterrâneos da Liberdade (1954)  - Gabriela, Cravo e Canela (Gabriela, Clove and Cinnamon, 1958)  - A Morte e a Morte de Quincas Berro Dágua (The Two Deaths of Quincas Wateryell, 1959)  - Os Velhos Marinheiros ou o Capitão de Longo Curso (Home Is the Sailor, 1961)  - Os Pastores da Noite (Shepherds of the Night, 1964)  - Dona Flor e Seus Dois Maridos (Dona Flor and Her Two Husbands, 196  - Tenda dos Milagres (Tent of Miracles, 1969)  - Teresa Batista Cansada da Guerra (Tereza Batista: Home from the Wars, 1972)  - Tieta do Agreste (Tieta, the Goat Girl, 1977)  - Farda Fardão Camisola de Dormir (Pen, Sword and Camisole, 1979)  - Tocaia Grande (Showdown, 1984)  - O Sumiço da Santa (The War of the Saints, 1988)  - A Descoberta da América pelos Turcos (How the Turks Discovered America, 1994)  - Navegação de Cabotagem (1992)  - O Compadre de Ogum>(Companion of the God Ogum, 1995)  Mời các bạn đón đọc Đất Dữ của tác giả Jorge Amado.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Cánh Đồng Bất Tận - Nguyễn Ngọc Tư
Cánh đồng bất tận là tên một tập truyện ngắn phát hành năm 2005 của  Nguyễn Ngọc Tư, đồng thời cũng là tên một truyện trong tập truyện ngắn đó được đăng báo lần đầu cùng năm. Tính đến nay, tập truyện đã được phát hành dưới dạng sách in và sách nói. Một vài truyện ngắn trong tuyển tập đã được chuyển thể thành phim và kịch. Gồm có: Cải ơi Thương quá rau răm Huệ lấy chồng Cái nhìn khắc khoải Nhà cổ Mối tình năm cũ Cuối mùa nhan sắc Biển người mênh mông Nhớ sông Dòng nhớ Duyên phân so le Một trái tim khô... Cánh đồng bất tận Mời các bạn đón đọc ​Cánh Đồng Bất Tận của tác giả Nguyễn Ngọc Tư.
Cho Tôi Xin Một Vé Đi Tuổi Thơ - Nguyễn Nhật Ánh
Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ là truyện dài của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh. Tác phẩm là một trong những sáng tác thành công nhất của ông và nhận được Giải thưởng Văn học ASEAN của năm 2010. Nguyễn Nhật Ánh viết ở mặt sau cuốn sách: "Tôi viết cuốn sách này không dành cho trẻ em. Tôi viết cho những ai đã từng là trẻ em". Trả lời phỏng vấn của báo Người lao động, ông nói "đối tượng cảm thụ mà tôi muốn nhắm tới là người lớn", với Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ ông "cho phép mình mở rộng biên độ đề tài và hình ảnh đến tối đa vì tôi viết về trẻ em nhưng là cho những ai từng là trẻ em đọc". Ông chia sẻ, "tôi muốn người lớn thông cảm với trẻ em hơn". Tác phẩm gồm những câu chuyện nhỏ xoay xung quanh 4 đứa trẻ trong cùng một khu xóm là con Tủn, con Tí sún, thằng Hải cò và thằng cu Mùi. Trong đó, người kể chuyện là cu Mùi dưới hình thức kể song song của "thằng cu Mùi" lúc bé và nhận xét, đánh giá của "ông Mùi" khi đã gần 50 tuổi. Nguyễn Nhật Ánh là tên và cũng là bút danh của một  nhà văn  Việt Nam chuyên viết cho tuổi mới lớn. Ông sinh ngày  7 tháng 5 năm  1955 tại huyện  Thăng Bình,  Quảng Nam. Truyện dài, truyện ngắn, thơ và các tác phẩm khác: Thành phố tháng tư (thơ, in chung với Lê Thị Kim, 1984) Trước vòng chung kết (truyện dài, 1984) Cú phạt đền (truyện ngắn, 1985) Đầu xuân ra sông giặt áo (thơ, 1986) Trò chơi lãng mạn của tình yêu (tập truyện, 1987) Chuyện cổ tích dành cho người lớn (tập truyện, 1987) Bàn có năm chỗ ngồi (truyện dài, 1987) Còn chút gì để nhớ (truyện dài, 1988) Bí mật của một võ sĩ (tập truyện, 1989) Cô gái đến từ hôm qua (truyện dài, 1989) Chú bé rắc rối (truyện dài, 1989) Nữ sinh (truyện dài, 1989) Thiên thần nhỏ của tôi (truyện dài, 1990) Phòng trọ ba người (truyện dài, 1990) Mắt biếc (truyện dài, 1990) Thằng quỷ nhỏ (truyện dài, 1990) Hoa hồng xứ khác (truyện dài, 1991) Hạ đỏ (truyện dài, 1991) Bong bóng lên trời (truyện dài, 1991) Bồ câu không đưa thư (truyện dài, 1993) Những chàng trai xấu tính (truyện dài, 1993) Tứ tuyệt cho nàng (thơ, 1994) Lễ hội của đêm đen (thơ, 1994) Trại hoa Vàng (truyện dài, 1994) Út Quyên và tôi (tập truyện ngắn, 1995) Đi qua hoa cúc (truyện dài, 1995) Buổi chiều Windows (truyện dài, 1995) Quán Gò đi lên (truyện dài, 4/12/1999) Những cô em gái (truyện dài, 7/5/2000) Ngôi trường mọi khi Kính vạn hoa (bộ truyện 54 tập, 1995-2002: 45 tập, 9 tập viết thêm sau) Chuyện xứ Lang Biang (bộ truyện 4 phần, 2004-2006) Tôi là Bêtô (truyện, 4/4/2007) Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ (truyện, 1/2008) Đảo mộng mơ (truyện, 21/10/2009) Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh (truyện dài, 24/10/2010) Lá nằm trong lá (truyện dài, 24/9/2011) Có hai con mèo ngồi bên cửa sổ (truyện dài, 6/2012) Sương khói quê nhà (tạp văn, 2012) Người Quảng đi ăn mì Quảng (tạp văn, 2012) Ngồi khóc trên cây (truyện dài, 27/6/2013) Thương nhớ Trà Long (tạp văn 2014) Chúc một ngày tốt lành (truyện dài, 6/3/2014) Bảy bước tới mùa hè (truyện dài, 1/3/2015) Con chó nhỏ mang giỏ hoa hồng (truyện dài, 28/2/2016) Mời các bạn đón đọc  Cho Tôi Xin Một Vé Đi Tuổi Thơ của tác giả  Nguyễn Nhật Ánh.
Tu Viện Thành Parme - Stendhal
Có những cuốn sách đi vào trong con người chúng ta như một ông khách lầm nhà, vào rồi ra không dấu vết. Lại có những cuốn ta đọc lần đầu không thấy hay mấy, nhưng vẫn cảm thấy có một cái gì khiến chúng ta không đành dứt bỏ, rồi đến một lúc nào đó tìm đọc lại mới thấy sâu sắc, nhất là khi mình đã hiểu biết việc đời chút ít thì càng đọc càng khám phá ra những khía cạnh mới, tuyệt vời… và mình ân hận như đã mất bao nhiêu năm chậm hiểu một người bạn khó tìm thấy trên đời. Tu Viện Thành Parme thuộc loại này. Nói về Tu Viện Thành Parme, nhà văn Paul Morand (1888 - 1976) viết: “Những tác phẩm lớn ngao du trong con người chúng ta, có khi chúng lần lượt biến thành nhiều sách khác nhau, trong lúc chúng ta cũng hóa nên nhiều người, chúng ta đọc Stendhal lúc cuối đời không như đọc ông trong tuổi đầu xuân. Tôi đã phát hiện nhiều “Tu viện” như thế đó, những “Tu viện” ấy đã đi vô định năm mươi năm trong tôi và có lẽ cũng chưa làm trọn cuộc chu du của nó!” Không những đối với một đời người, mà đối với nhiều thế hệ. Tu Viện Thành Parme cũng làm một cuộc hành trình tương tự. Cũng như mấy tiểu thuyết khác của Stendhal, buổi mới ra đời, Tu Viện Thành Parme không được hưởng một số phận tốt đẹp lắm, nó không làm chấn động dư luận, nhưng rồi thời gian và cuộc sống đã công bằng đem lại cho tác giả ánh hào quang thích đáng. Một phần vì Stendhal không viết theo thời thượng, phần khác vì sự phân tích con người rất sâu dưới vỏ ngôn ngữ mộc mạc, hầu như khô khan ở trên cái tầm tiếp thu thông thường của độc giả, ai dù thông minh, tinh tế và chịu khó đi vào chất nội dung mới thấy lý thú. Stendhal thường nghĩ rằng tác phẩm của mình phải mấy chục năm sau người ta mới đánh giá đúng và ham đọc. Thật ra, không phải đợi lâu đến thế. Đối với những ai ý chí lớn, những ai có dụng ý khác đời thì tri kỷ quả có hiếm, nhưng không phải là không có, Tu Viện Thành Parme phát hành đầu tháng từ năm 1839, thì tháng 9, ngày 25, đã có một bài bình luận của Balzac, dài 72 trang, Balzac tuy sinh sau 16 năm nhưng lúc bấy giờ đã lẫy lừng danh tiếng với ba bốn chục tác phẩm và những kiệt tác như Eugénie Grandet (1833), Le Père Goriot (1834) … Balzac nức nở khen Tu Viện Thành Parme và viết một cách kiêu hãnh: “Tu viện chỉ có thể tìm độc giả trong số một nghìn hay nghìn rưỡi người đứng đầu châu Âu. Bởi vậy tất cả những điều tôi sắp nói ra đây là để gửi đến những người trong sạch và cao quý ở nước nào cũng có, như những thiểu số không ai biết đến…”. Mời các bạn đón đọc Tu Viện Thành Parme của tác giả Stendhal.
Ở Quán Cà Phê Tuổi Trẻ Lạc Lối - Patrick Modiano
Đầu những năm 1960, giới văn chương và sinh viên lãng du hội tụ tại Le Condé, một quán cà phê nơi giao lộ Odéon. Bốn người kể chuyện cũng là bốn khách quen của quán: một sinh viên trưởng Mỏ, một cựu nhân viên tình báo, một cô nàng Louki nào đó hay còn có tên là Jacqueline Delanque và Roland, một nhà văn tập sự trẻ. Trong trường đoạn đầu tiên, tay sinh viên trường Mỏ hồi nhớ cuộc sống ở Le Condé và miêu tả chi tiết những lần xuất hiện của Louki – cô gái trẻ hai mươi hai tuổi – người khiến anh có cảm giác muốn làm mới bản thân. Trong trường đoạn tiếp theo, Caisley, cựu nhân viên tình báo, tiến hành một cuộc điều tra: chồng Louki, Jean-Pierre Choureau, thuê anh đi tìm vợ mình. Anh đã khám phá ra tuổi thơ của cô, quẩn quanh khu vực Moulin Rouge nơi mẹ cô làm việc. Trường đoạn thứ ba: Louki lên tiếng và nhớ lại tuổi thơ của chính mình, những lần cô bỏ trốn, những quán bar u ám ở quận 18… Cô nhắc đến những người đàn ông từng yêu thương cô: Jean-Pierre Choureau, Roland, Guy de Veer nhà huyền bí học, người giúp cô biết đến hình tượng “Louise của hư vô” mà cô tự thấy giống mình. Trường đoạn cuối: Roland nhớ lại cuộc gặp giữa mình và Youki cùng tình yêu của họ. Chàng trai trẻ say mê “quy hồi vĩnh cửu” và đang viết một tiểu luận về các “vùng trung tính”, anh cũng trôi nổi bồng bềnh như Louki và tin rằng có thể gặp được cô trong suy nghĩ. Nhưng cô thoát khỏi anh cũng như thoát khỏi tất cả những người khác… Cho tới ngày chính tại quán Le Condé, anh biết chuyện cô đã nhảy qua cửa sổ tự vẫn… Mời các bạn đón đọc Ở Quán Cà Phê Tuổi Trẻ Lạc Lối của tác giả Patrick Modiano.