Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Mùa Gặt Đỏ

MÙA GẶT ĐỎ - KHO BÁU BỊ ĐÁNH MẤT. Một tay súng đơn độc đi vào trong thị trấn. Anh ta sẽ dọn dẹp nó dù muốn hay là không? "Người chiến đấu với quái vật phải cẩn thận nếu không muốn trở thành một con quái vật khác". Được xuất bản lần đầu vào năm 1929, Mùa gặt đỏ (Red Harvest) là một cuốn tiểu thuyết trinh thám kinh điển của Dashiell Hammett - người được coi là "ông tổ" của thể loại trinh thám đen - hard-boiled. Đây cũng là nguồn cảm hứng cho nhiều bộ phim nổi tiếng, trong đó có Yojimbo (1961), A Fistful of Dollars (1964) và Blood Simple (1984)… Truyện được mở đầu bằng việc Hãng thám tử tư Continental cử một đặc vụ tới Personville - thành phố đang chìm đắm trong bạo lực và sợ hãi dưới sự cai trị của các băng đảng tội phạm và đám quan chức tham nhũng - theo yêu cầu của Donald Willsson, chủ bút tờ báo địa phương và là người đang muốn lấy lại trật tự, công bằng cho thành phố. Nhưng khi nhân viên đặc vụ đó tới nơi thì phát hiện ra khách hàng của mình đã bị bắn chết. Theo như thỏa thuận từ trước, Personville vẫn sẽ được "thanh tẩy", cho dù cái giả phải trả là có thể khiến nó bị nhấn chìm trong biển máu. *** Dashiell Hammett (1894 - 1961) là một trong những tác giả tiên phong của thể loại tiểu thuyết trinh thám đen, với các tác phẩm tiêu biểu như Mùa gặt đỏ (1929), Chim ưng Malta (1930) và Chìa khóa thủy tinh (1931). Những tiểu thuyết của ông thường mang phong cách mạnh mẽ, gay cấn, lối viết ngắn gọn, không hoa mỹ, tiết tấu nhanh, hấp dẫn, đậm mùi súng đạn. Mùa gặt đỏ, tác phẩm đầu tay của Hammett, mang đầy đủ những đặc trưng của thể loại trinh thám đen, đồng thời là hình mẫu cũng như nguồn cảm hứng cho nhiều tác giả trinh thám sau này: một bầu không khí nhớp nhúa ở phần tối của xã hội; một hình ảnh “người hùng không hoàn hảo” với quan niệm về công lý không hoàn toàn đồng nhất với pháp luật. Người thám tử vô danh ấy đến thành phố tội lỗi đó như một lãng khách độc hành thấy việc bất bình ra tay nghĩa hiệp, để rồi bắt đầu “mùa gặt”, mang lại bình yên cho thành phố… *** Review sách Mùa Gặt Đỏ Mùa gặt đỏ được xuất bản lần đầu vào năm 1929, Mùa gặt đỏ (Red Harvest) là một cuốn tiểu thuyết trinh thám kinh điển của Dashiell Hammett - người được coi là "ông tổ" của thể loại trinh thám đen - hard-boiled. Tôi đã khá băn khoăn khi quyết định đọc hay không vì không muốn sa đà liên tục vào trinh thám. Thế nhưng vì một vài lí do, tôi vẫn đọc. Có thể vì thế mà tâm trạng đã không tốt khi tiếp cận cuốn sách. Truyện Trinh thám về những thế lực bên rìa công lý, kiểu mafia, mở đầu bằng cái chết của thân chủ khi chưa kịp làm việc với tay thám tử mà mình mời về. Nhiều nhân vật liên quan, nhiều vấn đề nổi cộm của thế giới thu nhỏ Personville được phơi bày. Theo như thỏa thuận từ trước, Personville vẫn sẽ được "thanh tẩy", cho dù cái giả phải trả là có thể khiến nó bị nhấn chìm trong biển máu.Tiết tấu càng ngày càng nhanh với sự mưu mô, toan tính cả bằng trí tuệ và sự nhanh nhẹn trong việc siết cò với những pha hành động tương đối kịch tính. Truyện thuộc dang trinh thám đen, hành động kịch tính và mang tính giải trí. Cơ bản có lẽ tại tôi không thích văn phong hơi khô của tác giả (hay dịch giả)??, hội thoại, lời văn ngắn gọn, súc tích. Tôi cũng không thích bìa, không thích tên gọi, chỉ an ủi được là việc biên tập đã ổn hơn khá nhiều so với những cuốn sách trước đây của PM. Tạm gác lại, biết đâu một ngày nào đó sẽ có hứng thú đọc lại và biết đâu sẽ thích. Cho tạm 3* vì cuốn sách chưa đủ hấp dẫn khiến tôi bị cuốn hút cũng như tò mò. Hồng Khánh 14.9.2019 *** Người phụ nữ trong bộ đồ xanh và người đàn ông trong bộ đồ xám Lần đầu tiên tôi nghe thấy Personville được đọc lái thành Poisonville là từ một gã tóc đỏ đầu đường xó chợ tên Hickey Dewey tại khách sạn Con Tàu Lớn ở Butte. Hắn cũng phát âm shirt thành shoit. Lúc đó tôi không nghĩ ngợi gì về cách hắn đọc tên thành phố, nhưng rồi tôi thấy những người đã phát âm đúng chữ “r” nhưng vẫn đọc sai như vậy. Tôi chỉ cho rằng việc đám trộm cướp dùng từ richardsnary thay cho dictionary thật quá sức nhạt nhẽo. Vài năm sau, khi đến Personville, tôi mới hiểu rõ hơn. Tôi gọi tới tờ Herald từ một bốt điện thoại tại ga, yêu cầu được nói chuyện với Donald Willsson và sau đó bảo anh ta rằng tôi đã tới. “Anh có thể tới nhà tôi lúc mười giờ tối nay được không?” Anh ta nói, giọng quả quyết. “Số 2101 đại lộ Mountain. Bắt một chiếc xe điện, xuống ở chỗ đại lộ Laurel, rồi đi bộ theo hướng Tây hai dãy nhà.” Tôi hứa sẽ có mặt. Rồi tôi tới khách sạn Great Western, vứt mấy chiếc túi xuống và ra ngoài ngắm nhìn thành phố. Thành phố này không đẹp. Hầu hết chủ thầu xây dựng ở đây đều có gu thẩm mỹ lòe loẹt. Có thể ban đầu họ đã đạt được mục đích. Rồi những lò luyện kim mọc lên sừng sững bên một ngọn núi ảm đạm ở phía Nam đã hun mọi thứ trong lớp khói màu vàng xỉn. Thế là chúng ta có một thành phố xấu xí với bốn mươi ngàn dân, nằm trong một khe hẻm xấu xí giữa hai ngọn núi xấu xí bị ô nhiễm vì sự khai mỏ. Bao trùm lấy nó là bầu không khí ám đầy bụi, như thể vừa chui ra từ ống khói của lò luyện kim. Người cảnh sát đầu tiên mà tôi gặp rõ ràng cần phải cạo râu. Người thứ hai có vài chiếc cúc bị đứt trên bộ đồng phục tồi tàn. Người thứ ba đứng ở giữa giao lộ chính của thành phố, giữa Broadway và phố Union, với một điếu xì gà trên miệng. Sau đó thì tôi không để ý đến họ nữa. Vào lúc chín giờ rưỡi, tôi bắt một chiếc xe điện và đi theo hướng mà Donald Willsson đã chỉ. Nó đưa tôi tới một ngôi nhà có hàng rào bao quanh bãi cỏ. Người giúp việc ra mở cửa bảo tôi rằng ông Willsson không có nhà. Trong khi tôi đang giải thích rằng mình có hẹn với anh ta thì một người phụ nữ tóc vàng mảnh khảnh, khoảng dưới ba mươi tuổi, bận bộ đồ vải crepe màu xanh bước tới. Ngay cả khi cười, sự lạnh nhạt vẫn ẩn hiện trong đôi mắt xanh của cô ta. Tôi giải thích lại một lần nữa. “Chồng tôi hiện không có nhà.” Âm giọng địa phương mờ nhạt khiến phát âm của cô ta hơi nhịu. “Nhưng nếu đã có hẹn thì chắc anh ấy sẽ về sớm thôi.” Cô ta dẫn tôi lên tầng, tới một căn phòng nhìn về hướng đại lộ Laurel. Căn phòng được sơn hai màu nâu đỏ và có rất nhiều sách. Chúng tôi ngồi xuống chiếc sofa da, nửa quay về phía người đối diện, nửa hướng về phía lò sưởi đang đỏ than, và cô ta bắt đầu tìm hiểu về chuyện giữa tôi và chồng cô ta. “Anh sống ở Personville à?” Cô ta hỏi trước. “Không. San Francisco.” “Nhưng đây không phải lần đầu anh tới Personville, phải vậy không?” “Đây là lần đầu tiên.” “Thật ư? Anh nghĩ sao về thành phố này?” “Tôi chưa quan sát đủ để có thể đưa ra ý kiến.” Đó là một lời nói dối. Tôi đã thấy đủ. “Tôi vừa mới tới lúc chiều.” Sự tò mò biến mất khỏi đôi mắt lấp lánh của cô ta. Rồi cô ta nói: “Anh sẽ thấy rằng đây là một chốn ảm đạm.” Rồi cô ta tiếp tục soi mói, “Tôi cho rằng tất cả các thành phố mỏ đều giống như thế này. Anh có tham gia vào ngành khai mỏ không?” “Hiện tại thì không.” Cô ta nhìn đồng hồ trên mặt lò sưởi và nói: “Donald thật thiếu chu đáo khi hẹn anh tới rồi lại để anh ngồi đợi, giữa đêm hôm khuya khoắt thế này. Đã quá giờ làm việc lâu quá rồi.” Tôi đáp rằng không sao. “Có lẽ đây không phải là vấn đề công việc.” Cô ta bóng gió. Tôi không trả lời. Cô ta cười, tiếng cười cộc lốc và có phần chói tai. “Thường thì tôi không tọc mạch thế này đâu”, cô ta vui vẻ nói, “nhưng anh quá kín đáo đến mức tôi không thể không tò mò. Anh không phải dân buôn rượu lậu đấy chứ? Donald đổi người rất thường xuyên.” Tôi để cô ta tự suy diễn và nở một nụ cười. Chuông điện thoại reo dưới tầng. Cô Willsson duỗi đôi chân đi dép lê xanh về phía lò sưởi đang đỏ than và vờ như không nghe thấy gì. Tôi không hiểu tại sao cô ta nghĩ thế là cần thiết. Cô ta bắt đầu, “Tôi sợ rằng mình sẽ ph…”, và dừng lại, nhìn về phía cô hầu đứng bên cửa. Người giúp việc nói rằng đầu dây bên kia muốn gặp cô Willsson. Cô ta cáo lỗi rồi ra ngoài. Cô ta không đi xuống tầng dưới mà nói qua máy điện thoại kéo dài, trong tầm nghe của tôi. Tôi nghe được, “Tôi, Willsson nghe đây… Vâng… Xin lỗi?… Ai đấy?… Anh có thể nói to lên không?… Gì cơ?… Vâng… Vâng… Ai đó?… A lô! A lô!” Rồi có tiếng dập máy và tiếng bước chân của cô ta vang lên trên hành lang. Tôi châm một điếu thuốc và nhìn chằm chằm vào nó cho đến khi nghe thấy tiếng bước chân của cô ta dưới thềm. Rồi tôi tới bên cửa sổ, vén rèm lên, nhìn xuống đại lộ Laurel và thấy phía sau ngôi nhà là một nhà để xe màu trắng. Ngay sau đó, một người phụ nữ mảnh mai đội mũ và bận áo khoác tối màu vội vã đi ra chỗ nhà để xe. Đó là cô Willsson. Cô ta lái chiếc Buick hai chỗ đi. Tôi quay lại ghế và chờ đợi. Bốn mươi lăm phút trôi qua. Lúc mười một giờ năm phút, tiếng phanh ô tô rít lên bên ngoài. Hai phút sau, cô Willsson bước vào phòng. Cô ta cởi mũ và áo khoác ra. Mặt cô ta trắng bệch, đôi mắt ủ dột. “Tôi vô cùng xin lỗi”, cô ta nói với khuôn miệng mím chặt chuyển động nhát gừng, “anh đã mất công ngồi đợi vô ích rồi. Tối nay chồng tôi sẽ không về nhà.” Tôi nói rằng tôi sẽ liên lạc với anh ta tại Herald sáng mai. Tôi đi về và tự hỏi tại sao mũi dép bên trái của cô ta lại dính thứ gì đó sẫm màu và ướt giống như máu vậy. • • • Tôi đi bộ đến Broadway và bắt một chiếc xe điện. Qua ba dãy nhà lớn ở phía Bắc khách sạn, tôi xuống xe để xem đám đông đang làm gì quanh lối vào Tòa thị chính. Tầm ba, bốn mươi người đàn ông và lác đác vài phụ nữ đang đứng trên vỉa hè, nhìn vào một cánh cửa gắn biển Sở Cảnh sát. Đám đông bao gồm những người công nhân mỏ và lò nung vẫn mặc nguyên đồ bảo hộ, những anh chàng mặc đồ lòe loẹt vừa bước ra từ tiệm bi-a và vũ trường, những gã chải chuốt với khuôn mặt nhợt nhạt, những người mang vẻ ngoài trì độn của một ông chồng đứng đắn, vài người phụ nữ cũng trì độn và đứng đắn y như vậy cùng vài ả gái điếm. Đến bên rìa đám đông, tôi dừng lại cạnh một người đàn ông nghiêm nghị mặc bộ đồ xám nhàu nhĩ. Khuôn mặt và đôi môi dày của anh ta trông cũng xám xịt, mặc dù nhìn qua anh ta không quá ba mươi tuổi. Khuôn mặt anh ta rộng, đường nét thô kệch và sáng sủa. Anh ta đeo một chiếc cà vạt đỏ thắt kiểu Windsor trên chiếc áo sơ mi bằng vải flannel màu xám. “Chuyện gì ồn ào vậy?” Tôi hỏi anh ta. Anh ta cẩn thận nhìn tôi trước khi trả lời, như thế muốn chắc chắn rằng thông tin sẽ được gửi đi một cách an toàn. Mắt anh ta cũng xám như bộ đồ, nhưng trông chúng không hề mềm như thế. “Don Willsson đã đến ngồi bên tay phải của Chúa, nếu Chúa không ngại nhìn vào những vết đạn.” “Ai đã bắn anh ta?” Tôi hỏi. Người đàn ông gãi đầu và đáp lại: “Một kẻ nào đó mang súng.” Tôi muốn thông tin, chứ không phải sự hóm hỉnh. Tôi sẽ thử vận may với một người khác trong đám đông nếu gã đeo cà vạt đỏ này không khiến tôi hứng thú. Tôi bảo: “Tôi mới đến thành phố. Cứ diễn vở Punch và Judy* với tôi đi. Người lạ thì phải chịu thôi.” “Quý ngài Donald Willsson, chủ biên của tờ Herald Buổi sáng và Herald Buổi tối, mới được tìm thấy trên phố Hurricane, bị một kẻ vô danh nào đó bắn chết.” Anh ta nói một lèo bằng giọng đều đều. “Hết cảm thấy bị tổn thương rồi chứ?” “Cảm ơn.” Tôi đưa tay ra và chạm vào đầu chiếc cà vạt thắt lỏng của anh ta. “Có ý nghĩa gì không? Hay chỉ đeo vậy thôi?” “Tôi là Bill Quint.” “Hóa ra là anh!” Tôi kêu lên, giả bộ như mình đã biết cái tên này. “Chúa ơi, tôi rất mừng được gặp anh!” Tôi rút chiếc ví chứa danh thiếp ra và lục lọi trong đống danh thiếp mà tôi đã kiếm được bằng nhiều cách, ở nhiều nơi khác nhau. Tấm màu đỏ là cái tôi muốn tìm. Trên đó ghi tôi là Henry F. Neill, thủy thủ được đào tạo bài bản, thành viên cấp cao của Hiệp hội Công nhân Công nghiệp Thế giới*. Không một chữ nào là sự thật. Tôi đưa tấm danh thiếp cho Bill Quint. Anh ta đọc kỹ nó, cả mặt trước lẫn mặt sau, rồi trả lại và nhìn tôi từ đầu đến chân một cách ngờ vực. “Chẳng có gì để nhìn nữa đâu.” Anh ta nói. “Anh định đi đâu?” “Đâu cũng được.” Chúng tôi đi cạnh nhau, rẽ vào sau góc phố một cách bâng quơ. “Điều gì đã đưa anh tới đây, nếu anh là một thủy thủ?” Anh ta chợt hỏi. “Sao anh lại nghĩ vậy?” “Có tấm danh thiếp đó.” “Tôi còn có một cái ghi rằng mình là tiều phu nữa cơ.” Tôi nói. “Nếu anh muốn tôi trở thành thợ mỏ, tôi sẽ làm một cái ngay trong ngày mai.” “Anh không kiếm được đâu. Tôi điều hành ở đây.” “Thế nếu anh nhận được điện báo từ Chi* thì sao?” Tôi hỏi. “Mặc xác Chi! Tôi điều hành ở đây.” Anh ta hất đầu về phía nhà hàng và hỏi, “Uống gì không?” “Kiếm được không đã.*” Chúng tôi bước vào nhà hàng, leo lên các bậc thang và bước vào một căn phòng nhỏ với một dãy bàn dài trên tầng hai. Bill Quint gật đầu và nói, “Hullo!” với vài cậu trai và cô gái, rồi đưa tôi vào một trong nhũng căn buồng có màn che màu xanh lá nằm thẳng hàng dọc bức tường đối diện quầy bar. Chúng tôi dành hai giờ để uống rượu whiskey và nói chuyện. Người đàn ông trong bộ đồ xám cho rằng tôi chẳng liên quan gì tới tấm danh thiếp mà tôi vừa cho anh ta xem, cũng như những danh tính khác mà tôi đã đề cập. Anh ta cũng không cho rằng tôi là một thành viên cấp cao của Hiệp hội. Với vai trò là thủ lĩnh quan trọng của IWW ở Personville, anh ta cho rằng nhiệm vụ của mình là phải tìm ra sự thật về tôi, đồng thời không để mình bị dò hỏi ngược lại trong khi đang làm việc đó. Với tôi thế cũng chẳng sao. Tôi hứng thú với các vấn đề ở Personville. Anh ta thì không bận tâm tới chuyện đó mà chỉ tập trung vào tấm thẻ đỏ của tôi. Và đây là những gì tôi moi được từ anh ta: Trong vòng bốn mươi năm, Elihu Willsson - cha của người đàn ông bị giết đêm qua - đã sở hữu trái tim, linh hồn cũng như xác thịt của Personville. Lão là chủ tịch và cổ đông lớn nhất của Tập đoàn Khai mỏ Personville cũng như ngân hàng First National, là chủ sở hữu của tờ Herald Buổi sáng và Herald Buổi tối, những tờ báo duy nhất của thành phố, và đồng sở hữu gần như tất cả các doanh nghiệp quan trọng khác. Cùng với khối tài sản đó, lão cũng nắm trong tay một Thượng nghị sĩ Mỹ, vài dân biểu, thống đốc bang, thị trưởng thành phố và hầu hết các cơ quan lập pháp của bang. Elihu Willsson là Personville, và gần như là toàn bộ bang. Hồi chiến tranh, IWW - khi đó đang lan rộng về phía Tây - đã giúp đỡ Tập đoàn Khai mỏ Personville. Nói giúp đỡ là không hoàn toàn chính xác. Họ đã sử dụng sức mạnh để đòi hỏi quyền lợi. Elihu già buộc phải chấp nhận và nín nhịn chờ thời. Chuyện xảy ra vào năm 1921. Việc kinh doanh gặp khó khăn. Elihu già không quan tâm xem liệu có phải đóng cửa tạm thời hay không. Lão xé hết những bản thỏa thuận trước đó và đá đám công nhân trở lại tình trạng khó khăn trước thời chiến. Tất nhiên là các công nhân đã yêu cầu sự giúp đõ. Bill Quint được trụ sở chính của IWW ở Chicago cử đến để giải quyết tình hình. Anh ta phản đối bạo loạn hay đình công. Anh ta khuyên họ hãy sử dụng một mánh cũ, trở lại làm việc và phá hoại từ bên trong. Nhưng điều đó là không đủ với các công nhân của Personville. Họ muốn tên mình được biết đến, muốn tạo ra lịch sử. Vậy là bạo loạn nổ ra. Nó kéo dài tám tháng. Cả hai bên đều tổn thất nặng nề. Chính các thành viên của Hiệp hội cũng phải đổ máu. Elihu già đã thuê các tay súng, lực lượng chống bạo loạn, vệ binh quốc gia và thậm chí là cả quân đội để chiến đấu cho mình. Khi đám tàn quân cuối cùng bị tiêu diệt, công đoàn của Personville chỉ còn là một xác pháo nổ tan tành. Nhưng, Bill Quint nói, Elihu già không biết gì về lịch sử nước Ý. Lão thắng, nhưng đã đánh mất quyền lực ở thành phố và tiểu bang. Để đánh bại đám thợ mỏ, lão đã để cho đám lính đánh thuê được tự do lộng hành. Khi cuộc chiến kết thúc, lão không thể loại bỏ chúng. Lão đã trao thành phố vào tay chúng và không đủ mạnh để lấy lại. Personville là một miếng mồi ngon và chúng đã chiếm lấy nó. Chúng giúp lão thắng cuộc chiến, và chiến lợi phẩm chúng yêu cầu là thành phố. Lão không thể công khai chống lại chúng. Chúng quá mạnh so với lão. Lão phải chịu trách nhiệm với những gì chúng đã làm trong cuộc bạo loạn. Khi câu chuyện tới được đó thì cả Bill Quint và tôi đều đã chếnh choáng. Anh ta bỏ kính xuống, gạt mớ tóc lòa xòa trước mặt và đưa câu chuyện về thì hiện tại: “Giờ kẻ mạnh nhất trong số chúng có lẽ là tay Pete Người Phần Lan. Thứ chúng ta đang uống đây cũng thuộc sở hữu của hắn. Rồi đến Lew Yard. Hắn có một tiệm cho vay trên phố Parker, chuyên thu tiền bảo lãnh và dính líu tới hầu hết các sự vụ nóng sốt của thành phố - đó là theo những gì người ta nói, và khá thân với Noonan - cảnh sát trưởng. Tay Max Thaler - biệt danh Kẻ Thầm Thì - cũng có rất nhiều bạn. Một gã da màu lươn lẹo có vấn đề ở cổ họng. Không thể nói được. Một tay cờ bạc. Ba kẻ đó, cùng với Noonan, đã giúp Elihu điều hành thành phố của lão - giúp nhiều hơn những gì lão muốn. Nhưng lão buộc phải hợp tác với chúng, hoặc là…” “Người bị bắn tối nay - con trai của Elihu - vị trí của anh ta là ở đâu?” Tôi hỏi. “Ông già đặt đâu thì gã ngồi đó, lúc nào cũng vậy.” “Ý anh là lão già đã khiến anh ta…?” “Có thể, nhưng tôi không cho là vậy. Tay Don đó chỉ vừa mới về nhà và bắt đầu điều hành tờ báo cho lão già. Lão quỷ già này, sắp xuống mồ đến nơi mà vẫn không để cho ai tóm đuôi mà không cắn lại. Nhưng lão phải cẩn trọng với đám kia. Lão đã mang con trai và người vợ quốc tịch Pháp của gã từ Paris về và sử dụng gã như một con khỉ trong rạp xiếc - một chiêu trò chết tiệt của một người cha. Don bắt đầu tiến hành cải tổ tờ báo. Dọn sạch sự tham nhũng và thối nát - đồng nghĩa với việc loại bỏ cả Pete, Lew và Kẻ Thầm Thì, đấy là nếu nó thành công. Anh hiểu rồi chứ? Nước cờ của lão già đã khiến chúng lâm vào thế bị động. Tôi đoán chúng chán chuyện đó rồi.” “Có gì đó sai sai trong suy đoán của anh.” Tôi nói. “Cái chốn đê tiện này còn cả đống thứ sai hơn nhiều. Uống đủ rồi chứ?” Tôi nói đã đủ. Chúng tôi xuống phố. Bill Quint bảo rằng anh ta đang ở trong khách sạn Miners trên đường Forest. Đường về của anh ta đi qua khách sạn của tôi, vậy nên chúng tôi đi cùng nhau. Có một gã cao lớn trông giống một tay cớm mặc thường phục đứng trước khách sạn của tôi, đang nói chuyện với một gã ngồi trong chiếc Stutz du lịch. “Trong xe là Kẻ Thầm Thì.” Bill Quint bảo tôi. Tôi bỏ qua người đàn ông lực lưỡng và thấy khuôn mặt trông nghiêng của Thaler. Hắn còn trẻ, da sậm và nhỏ con, với gương mặt đẹp như tượng tạc. “Hắn trông dễ thương đó.” Tôi nói. “Ừ hứ”, người đàn ông mặc đồ xám đồng ý, “và thuốc nổ cũng thế.” Mời các bạn đón đọc Mùa Gặt Đỏ của tác giả Dashiell Hammett & Nguyệt Minh (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Dòng Sông Hắc Ám
“Một ngày nào đó cô sẽ hiểu được thứ gì đang đến với cô. Nó không đến từ tôi đâu. Mà từ một trong số chúng, một trong những người mà cô tin tưởng… Sẽ thú vị lắm đây.” Đó là lời cảnh báo trước khi chết của kẻ sát nhân bệnh hoạn Melvin Royal dành cho Gwen Proctor. Có lẽ hắn nói đúng, nhưng chỉ một phần… Melvin đã nằm sâu dưới nấm mồ, còn Gwen phải tiếp tục đấu tranh để chữa lành những vết sẹo của quá khứ, giải quyết những mối đe dọa ở hiện tại và sẵn sàng cho một tương lai đầy bấp bênh. Liệu những thử thách mới, những âm mưu mới có thể đánh gục được người mẹ giàu lòng trắc ẩn và dũng cảm như sắt đá? Ở thế giới bên kia, liệu Melvin có thể có cơ hội chứng kiến Gwen sụp đổ và vụn vỡ hay không? Tiếp nối thành công của hai tập trước trong series ăn khách Stillhouse - Dòng sông hắc ám không chỉ đem tới cho độc giả những khoảnh khắc hồi hộp, gay cấn, mà còn cả những phút giây lắng đọng, xúc động và giàu chiêm nghiệm. ----- “Và tôi cần phải đối phó với hắn, bởi hắn đang đe dọa đến tính mạng của con tôi. Con tôi. Tôi chưa bao giờ có cảm giác mạnh mẽ như thế này trước đây - cảm giác muốn được bảo vệ Connor bằng mọi giá. Cảm giác ấy, ước muốn ấy, nó không hề mất đi, vẫn luôn chôn sâu bám rễ vào trong máu thịt của tôi.” ----- Tác giả Rachel Caine là một trong những tác giả ăn khách nhất thế giới với hơn năm mươi đầu tiểu thuyết nằm trong danh sách bán chạy, bao gồm hai series truyện dành cho tuổi thiếu niên là Ma cà rồng vùng Morganville và Đại Thư viện. Các dòng sách bà theo đuổi gồm có: tiểu thuyết giật gân, huyền bí, kỳ ảo hiện đại, khoa học viễn tưởng và tiểu thuyết siêu linh dành cho giới trẻ. Bà hiện sống cùng gia đình tại Fort Worth, bang Texas, Mỹ. *** Bốn ngày trước Khi giáo viên của Ellie White, cô Willingham, nói với cô bé rằng tài xế sẽ đến trường học sớm hơn thường lệ để đón cô bé, Ellie biết đó không phải toàn bộ sự thật. Bác Lou chưa bao giờ đến sớm như vậy cả, trừ khi cô bé bị ốm. “Tại sao ạ?” Cô bé hỏi. Cô bé thích đưa ra những câu hỏi mỗi khi có điều chưa rõ. Có thể cô bé chỉ mới sáu tuổi, nhưng bố đã dạy cô bé phải hỏi nếu không hiểu. Mẹ lúc nào cũng có chút xấu hổ bởi cô bé cứ làm theo lời dặn của bố một cách máy móc như vậy. “Cô e rằng… Cô e rằng đó là vì bố con đã nhờ bác ấy làm vậy.” Cô Willingham nói. Cô ấy là một phụ nữ da trắng tử tế với một lọn tóc màu bạc điểm xuyết trên mái tóc nâu, và cô là một giáo viên tốt. Mặc dù bố Ellie rất giàu có, cô chưa bao giờ đối xử với Ellie khác biệt so với những học sinh trong lớp. Kể cả khi Ellie có làn da màu nâu đậm, đậm hơn bất cứ bé gái nào khác ở đây - những cô bé có làn da trắng như những trang giấy. “Bố sẽ không làm vậy…” Ellie nói. “Có điều gì đó không ổn.” Cô Willingham đưa mắt về phía Ellie, nhưng không nhìn thẳng vào cô bé: “Ừ thì, mẹ con bị ốm…” Cô nói. “Vậy nên ông ấy mới điều xe đến đón và đưa con tới bệnh viện nơi ông ấy đang ở cùng với mẹ con. Như vậy được rồi chứ?” Cô giúp Ellie mặc chiếc áo len dài tay. Chiếc áo này Ellie không thích, nhưng cũng không muốn bỏ lại. Tiếp đến là chiếc cặp sách. “Cô Willingham?” Ellie hỏi, ngước lên nhìn cô giáo của mình. “Cô đang khóc đấy ạ?” “Không, bé con ạ. Cô ổn mà. Đi nào. Ra khỏi đây thôi, bác ấy đang đợi.” “Nhưng bố có nhắc đến mật mã nữa chứ ạ?” “Ông ấy có nhắc đến mật mã…” Cô Willingham nói. “Mật mã của hôm nay là chim hét đen, phải không nào?” Ellie gật đầu. Thứ Năm là chim hét đen. Mỗi ngày sẽ là một loài chim nào đó, bởi vì cô bé rất thích chim và mẹ luôn luôn gọi cô bé là chim ruồi nhỏ do cô bé luôn phóng đi rất nhanh. Nhưng Chủ nhật mới là chim ruồi. Trước tiên, cô Willingham bước xuống bậc thềm của trường học để nói chuyện với bác Lou, bác đang đợi trong chiếc xe đậu ở khúc quành nằm giữa những bậc thềm và đài phun nước lớn làm bằng đá cẩm thạch. Nguyên tắc là Ellie không bao giờ được tới chỗ chiếc xe cho đến khi cô Willingham xác nhận rằng mọi thứ đều ổn. Cô và bác Lou nói chuyện rất lâu. Cô Willingham cứ khóc mãi không ngừng. Hôm nay thời tiết nóng và ẩm, nhưng đài phun nước trông rất mát mẻ và đẹp đẽ. Tia nước bắn ra từ những chiếc vỏ sò làm bằng bê tông, rơi vào một chiếc vỏ sò lớn hơn nằm ở chính giữa. Mẹ từng nói với Ellie rằng đã từng có một nàng tiên rất xinh đẹp sống ở trong vỏ sò, nhưng một vài bậc phụ huynh đã buộc nhà trường phải đưa nàng ấy ra ngoài, và giờ đây nàng ấy phải ở trong kho chứa đồ, điều này thật đáng buồn làm sao. Cô Willingham bước trở lại bậc thềm để đón lấy tay cô bé. Ellie ngước lên nhìn cô. “Mọi thứ sẽ ổn thôi…” Cô nói, nhưng giọng cô lạc đi. Đôi mắt cô đỏ lên. “Cô xin lỗi, bé con. Nhưng cô phải làm điều này. Cô cũng có gia đình của mình.” Ellie cảm thấy lo lắng cho gia đình của cô giáo. “Goa đình của cô ổn cả chứ, cô Willingham?” Cô bé không có ý định làm cho người phụ nữ phải khóc. “Ừ, Ellie ạ, họ sẽ ổn thôi. Con có thể giúp cô đảm bảo rằng họ sẽ ổn chứ?” Ellie không rõ mình phải làm điều đó như thế nào, nhưng cô bé vẫn gật đầu. Cô bé thích giúp đỡ mọi người, ngay cả khi cô bé không thực sự chắc chắn tại sao cô Willingham lại nghĩ rằng cô bé có thể giúp. Cô Willingham mở cửa xe và nâng Ellie lên. Đây vốn là công việc của bác Lou. Sau đó, người phụ nữ ôm lấy cô bé. “Hãy mạnh mẽ, Ellie. Con sẽ ổn cả thôi.” “Nhưng còn gia đình của cô thì sao ạ?” Ellie hỏi. “Cô không định đi với con để cùng giúp họ sao?” Cô Willingham bụm miệng, những giọt nước mắt lăn dài trên má, và cô chỉ còn biết lắc đầu. Cô đóng sầm cánh cửa xe, và đó là khi Ellie biết rằng có điều gì đó thực sự không ổn. Cô giáo Willingham đã nói dối, nhưng cô bé không biết tại sao cô phải làm vậy. Và rồi Ellie nhận ra rằng điều này còn tồi tệ hơn những gì cô bé nghĩ, bởi mặc dù chiếc xe trông giống với chiếc xe vẫn thường đưa đón cô bé, nó không hề có mùi dừa mà cô bé vẫn yêu thích. “Bác Lou?” Cô bé cất tiếng gọi người tài xế. Tiếng chốt cửa xe vang lên nặng trịch. Cô bé có thể nhìn thấy người đàn ông đang ngồi ở ghế trước, đó là một người to lớn đội chiếc mũ lưỡi trai. Ngồi ở băng ghế sau, Ellie cảm thấy mình nhỏ bé hơn bình thường, và khi chiếc xe bắt đầu di chuyển, cô bé nhanh chóng thắt dây an toàn; bác Lou không bao giờ cho xe chạy cho đến khi cô bé thắt dây an toàn xong xuôi. “Bác Lou? Có chuyện gì với mẹ cháu vậy? Cô Willingham nói rằng…” Cô bé ngừng lại câu hỏi bởi lẽ người đàn ông đang lái xe không phải bác Lou. Đôi mắt nhìn vào cô bé trong gương chiếu hậu không phải là của bác ấy. “Thắt dây an toàn vào.” Ông ta nói. Còn bác Lou sẽ luôn nói xin hãy. “Cháu đã thắt rồi…” Cô bé nói. Cô bé cảm thấy sợ hãi, nhưng cô bé sẽ không thể hiện điều đó ra ngoài. “Bác có biết mật mã không?” “Chim hét đen.” Ông ta nói. “Phải không?” “Bác là ai?” “Tôi là người sẽ đưa cháu đến một nơi nào đó thật an toàn…” Ông ta nói. “Cũng giống như mong muốn của bác Lou vậy. Được rồi chứ?” “Cháu sẽ gọi cho bố.” Ellie nói, và rồi mở khóa cặp sách để lấy chiếc điện thoại di động. Nó không có ở đó. Cô bé biết rằng mình không được để điện thoại lung tung. Chiếc điện thoại rất đắt tiền, quan trọng, và cô bé luôn luôn để nó ở trong chiếc túi đó. Cô bé cảm nhận được nước mắt đang chực trào ra, nhưng cô bé sẽ không để mình khóc. Họ muốn cô bé phải khóc, bất kỳ ai đã lấy mất chiếc điện thoại. Bất kỳ ai đang chơi trò chơi đểu cáng này. “Bác là ai?” “Không ai cả.” Người lái xe nói. “Giờ thì ngồi im và yên lặng đi.” Ông ta lái chiếc SUV vào trục đường chính. Cô bé cố gắng nhìn xem họ đang đi đâu, nhưng nhanh chóng bị mất phương hướng; cô bé chưa bao giờ phải chú ý đến những điều như thế này trước đây. Ngôi trường đã khuất sau quả đồi, và ông ta rẽ ngoặt nhiều hơn, cô bé hoàn toàn không biết họ đang ở đâu. Cô bé không biết phải làm gì. Bố luôn nói với cô bé rằng có rất nhiều người xấu ở ngoài kia, và cô bé không nên đi với họ nếu họ không biết mật mã. Thế nhưng, ông ta biết nó, và cô bé cũng không thể nhấn nút “cuộc gọi khẩn cấp” nếu không có chiếc điện thoại nào ở đây. “Để cháu đi.” Cô bé nói. Cô bé cố gắng để giọng mình nghe giống với giọng của mẹ: lạnh lùng và tự tin. “Bác có thể dừng xe ở đây.” “Im mồm.” Người lái xe nói. “Giữ yên lặng. Nếu còn ồn ào, tao sẽ dán miệng mày lại.” Điều đó thậm chí còn khiến cô bé hoảng sợ hơn việc phải ngồi trên một chiếc xe lạ hoắc và không có điện thoại ở bên, nhưng cô bé sẽ không để người đàn ông này biết được điều đó. Cô bé sẽ không khóc. Cô bé nhìn xung quanh và cố gắng nghĩ ra việc khác để làm. Cánh cửa không thể mở. Phần kính cũng thế. Chiếc SUV được gắn kính tối màu, cũng giống như chiếc xe của bác Lou; nó có tác dụng chống nắng. Nhưng nó cũng được tạo ra để mọi người không thể nhìn được vào bên trong. Ellie nhận ra một điều cực kỳ tồi tệ. Cô bé là cái bóng ngồi bên trong một chiếc xe màu đen, đằng sau những ô cửa tối màu, không ai có thể nhìn thấy, và cô bé không biết phải làm gì tiếp theo. Khi cô bé bắt đầu gào thét để tìm kiếm sự giúp đỡ từ những chiếc xe chạy qua, người lái xe rẽ vào đường nhánh, đỗ xe dưới một cây cầu nằm giữa những tán cây xanh rì, dán băng dính quanh miệng cũng như quanh tay và chân cô bé. Ông ta đưa cô bé vòng ra phía sau chiếc SUV. Phía sau trống trơn, chỉ có một chiếc túi ngủ có in hình các công chúa Disney. Cô bé hét lên dưới lớp băng dính, ngọ nguậy và cố gắng để thoát ra, nhưng ông ta đặt cô bé lên chiếc túi ngủ và lắc đầu. “Đi ngủ đi…” Ông ta nói với cô bé, rồi quệt mồ hôi trên mặt. “Chúng ta còn một quãng đường dài phía trước. Mày chú ý cách cư xử và tao sẽ cho mày ăn trong một vài giờ tới. Mấy ngày nữa mày sẽ trở về nhà cùng một câu chuyện thật hay ho để kể.” Bố đã luôn dặn cô bé rằng: “Nếu rơi vào tay kẻ xấu, đừng bao giờ tin lời chúng nói.” Cô bé hoàn toàn không tin rằng chúng sẽ đưa mình trở về nhà. Cô bé thật sự sợ hãi khi thấy mình bắt đầu sổ mũi và khó thở với băng dính dán kín miệng. Vì vậy, cô bé nằm yên hít thở, chậm rãi, đều đặn. Cô bé vẫn còn hoảng sợ, lại thêm kiệt sức nữa, và cuối cùng, cô bé nhắm mắt lại và cố gắng giả vờ như mình đang ở một nơi nào đó khác, được trở về nhà với mẹ. Một cách khó nhọc, cô bé giả vờ rằng mình đang ngủ thiếp đi và cuộn người lại trên đùi của mẹ. Khi tỉnh lại, cô bé rất muốn nói với người đàn ông rằng mình muốn đi vệ sinh, nhưng ông ta thì lại đang nói chuyện điện thoại, và họ đang ở trong một khu rừng, vào giữa đêm tối. Ông ta thấy cô bé ngồi dậy. Ông ta quay đầu lại. Và rồi qua tấm kính chắn gió ô tô, cô bé trông thấy tấm biển báo “phía trước có lối ngoặt” cùng với luồng ánh sáng bừng lên xung quanh nó. Luồng ánh sáng đang chiếu thẳng về phía bọn họ. Cô bé cố hét lên về phía ông ta, nhắc ông ta coi chừng chiếc xe, nhưng ông ta chỉ cau mày và nói: “Tao đã nói là im…” Và rồi chiếc xe kia đâm sầm vào họ, tất cả lộn nhào và vỡ vụn; cô bé nghĩ mình đã nghe thấy người đàn ông hét lên. Cứu với, Ellie muốn nói điều đó, nhưng cô bé quá sợ hãi và quá đau đớn, rồi người đàn ông ngưng la hét, mọi thứ đều trở nên im bặt. Mời các bạn mượn đọc sách Dòng Sông Hắc Ám của tác giả Rachel Caine & Yến Nhi (dịch).
Dư Tội
Trung Quốc thập niên 90, làn sóng đóng cửa các quốc xĩ khiến không ít gia đình tan nát, trong đó có cả gia đình Dư Tội. Mẹ hắn bỏ đi khi hắn vẫn còn ắm ngửa, Dư Tội được người cha đặt lên xe bán hoa quả kéo đi khắp nơi kiếm sống. Từ nhỏ Dư Tội đã tiếp xúc đủ thủ đoạn đường phố, thiếu thốn tình cảm từ mẹ, thêm kiểu giáo dục đòn roi từ cha. Dư Tội biến thành kẻ bất trị, từ trộm cắp, đánh nhau, thu tiền bảo kê, không chuyện tệ hại nào không làm. Lo cho tương lai của con, cha Dư Tội dồn hết tiền bạc chạy cho hắn vào trường cảnh sát, mong con thành người tử tế. Dư Tội càng lớn càng hiểu chuyện, biết cha mình nuôi mình không dễ, hắn chỉ có một ước mơ nhỏ bé, được về quê làm cảnh sát để bảo kê cho cha bán hoa quả. Ngày tốt nghiệp sắp tới gần, Dư Tội vô ý đắc tội với hoa khôi trường cảnh sát, rắc rối kéo tới ngay hôm đó khi Dư Tội bị một đám người đột nhập vào trường tấn công. Bằng vào thủ đoạn ranh ma, Dư Tội không những thoát được mà còn truy ra nguồn gốc của chúng, dẫn theo đám anh em được gọi là 13 con sâu hại đánh cho những kẻ này nhập viện. Sự việc bị trường phát hiện, 13 con sâu hại đối diện với nguy cơ đuổi học … đây cũng trở thành bước ngoặt cuộc đời của Dư Tội. *** Tác giả Thường Thư Hân một quái kiệt hiếm có của làng văn học mạng, cái tên anh không được biết tới nhiều ở Việt Nam, nhưng chắc hẳn không ít độc giả biết tới Hắc Oa, Dư Tội, Đối Dịch, Hương Sắc Khuynh Thành... Thứ tự đọc truyện Lão Thường là: Hắc Oa - Dư Tội - Hương Sắc Khuynh Thành - Đối Dịch, tuy đọc riêng bất kỳ truyện nào cũng không hề gì. Mặc dù sau đó đang ở đỉnh cao sự nghiệp, Thường Thư Hân và tập đoàn Văn Duyệt xảy ra tranh chấp bản quyền dữ dội, hai bên kéo nhau ra tòa, phiên tòa kéo dài bốn năm. Kết quả không có gì bất ngờ, một tác giả sao chống nổi tập đoàn lớn như thế, Thường Thư Hân thua, thậm chí tập đoàn Văn Duyệt sở hữu tên Thường Thư Hân tận 15 năm sau khi anh chết, khiến Thường Thư Hân phải đổi tên sáng tác, làm sự nghiệp của anh ảnh hưởng nghiêm trọng. Thế nhưng bộ đôi Hắc Oa, Dư Tội là viên ngọc quý trong giới văn học mạng, Văn Duyệt chẳng thể vùi dập được. Thường Thư Hân từ nhỏ mê tiểu thuyết võ hiệp, anh thích nhất Vi Tiểu Bảo dưới ngòi bút của Kim Dung, vì thế Dư Tội trong lòng anh cũng là người bình thường như vậy, không muốn làm anh hùng, chỉ muốn sống sao cho không hối tiếc, sống hết mình, không thẹn với lòng mà thôi. Đi ra ngoài một chuyến, anh hiểu ra, không bằng cấp tử tế, không dễ tìm việc tử tế. Thường Thư Hân ra tù về Sơn Tây, anh tự học một năm, thi đỗ vào trường đại học địa phương, không thể không nói đây là kỳ tích vì thời đó đại học vẫn có giá lắm, không tràn lan như sau này, thi vào đại học không hề dễ.  -------------o0o------------- Dư Tội, từ truyện ra đời, từ đời vào truyện. (Bài khá dài và khá chi tiết, nên đừng vì thấy dài mà không đọc hết nhé, kẻo bỏ qua một siêu phẩm đấy!) (Đáng lẽ bài này sẽ chia làm 2 phần, nhưng sợ các bạn chờ phần tiếp theo lâu sẽ mất hứng nên gộp luôn) Tác giả Thường Thư Hân một quái kiệt hiếm có của làng văn học mạng, cái tên anh không được biết tới nhiều ở Việt Nam, nhưng chắc hẳn không ít độc giả biết tới Dư Tội. Đây là tác phẩm hiếm hoi đạt thành công lớn ở cả ba mặt, tiểu thuyết mạng, sách in và cả phim truyền hình, một thời độ hot không gì sánh bằng, hãy thử nhìn lại năm xưa Dư Tội từng hot thế nào. Đầu tiên nói tới phim truyền hình, vì nhờ phim mà tên tuổi của anh vang dội khắp cả nước. Ngay từ mùa đầu lên sóng, Dư Tội trở thành hiện tượng, được cư dân mạng Trung Quốc xưng tụng là Hunger Games phiên bản Trung Quốc đạt 600 triệu lượt xem. Tới mùa thứ hai, chiếu chưa được một ngày, lượt xem đột phá 100 triệu, điểm douban lên tới 8.6. Chỉ cần tìm kiếm ở Trung Quốc phim hình sự hay nhất, chắc chắn có cái tên Dư Tội.   Trước khi trở thành bộ phim siêu hot trên mạng, nguyên tác Dư Tội được đăng trên Chuangshi, một trang web đăng truyện thuộc tập đoàn Văn Duyệt giống Qidian. Dư Tội chính là tổng quán quân tuyệt đối hai năm liên tiếp của Chuangshi. Khi truyện mới viết được hết quyển 1 trên 8 quyển, đã được Đằng Tấn mua bản quyền chuyển thể phim truyền hình. Đến lúc sách in phát hành, cơn sốt Dư Tội vẫn chưa hạ nhiệt, chỉ trong vòng 2 tháng, truyện phải in thêm tới ba lần, tới nay lượng tiêu thụ đột phá 100 vạn, trở thành tác phẩm best seller 5 năm liên tiếp của thể loại hình sự điều tra, thành tích này bị chặn lại bởi chính sách khác của anh. Khi Dư Tội đạt được sự thành công rực rỡ đó, nhiều tác phẩm của Thường Thư Hân lọt được vào mắt xanh đông đảo độc giả khắp nơi. Nhiều người nhận ra, Thường Thư Hân thậm chí còn có một tác phẩm xuất sắc hơn, cảm xúc mạnh mẽ hơn Dư Tội, đó chính là Hắc Oa. Ngay trong năm đó, Hắc Oa được in thành sách, Đằng Tấn tuyên bố, bấm máy phim Hắc Oa ( Cảnh sát Oa ca), khiến vô số độc giả thốt lên, đó là năm của Thường Thư Hân. Mặc dù sau đó đang ở đỉnh cao sự nghiệp, Thường Thư Hân và tập đoàn Văn Duyệt xảy ra tranh chấp bản quyền dữ dội, hai bên kéo nhau ra tòa, phiên tòa kéo dài bốn năm. Kết quả không có gì bất ngờ, một tác giả sao chống nổi tập đoàn lớn như thế, Thường Thư Hân thua, thậm chí tập đoàn Văn Duyệt sở hữu tên Thường Thư Hân tận 15 năm sau khi anh chết, khiến Thường Thư Hân phải đổi tên sáng tác, làm sự nghiệp của anh ảnh hưởng nghiêm trọng. Thế nhưng bộ đôi Hắc Oa, Dư Tội là viên ngọc quý trong giới văn học mạng, Văn Duyệt chẳng thể vùi dập được. Trong khuôn khổ bài viết này, mình sẽ chỉ nói tới Dư Tội. Dư Tội kể về một học viên trường cảnh sát có tên vô cùng kỳ lạ Dư Tội, vì tranh chấp nhỏ trong trường, Dư Tội và 12 người anh em trong trường, được gọi là 13 con sâu hại đối diện với nguy cơ đuổi học. Bọn họ không biết rằng đó là cái cớ, cả 13 người được đưa vào chương trình lựa chọn tinh anh, từ đó bắt đầu cuộc đời cảnh sát đầy câu chuyện cảm động, hoang mang, nhiệt huyết cùng kích động. Điều đầu tiên nói về Dư Tội thì y là kẻ sống sót, bất kể hoàn cảnh thế nào, người tồn tại cuối cùng sẽ là y. Dư Tội không phải là nhân vật lương thiện, tử tế gì, vì từ nhỏ đã phải lăn lộn phố phường nhiễm vô số thói hư tật xấu của tiểu thị dân, phải nói là nhân vật khó ưa nhưng đồng thời tính cách đa diện cũng làm người ta khó ghét, tính cách phóng túng tùy tiện, nhưng nhìn rõ bản thân, cũng nhìn rõ đối thủ vì thế y luôn là kẻ sống sót rút lui một cách an toàn nhất. Nhìn bề ngoài tựa một kẻ bất chính, gian xảo, tư lợi, hèn hạ kỳ thực đối với người thân, bạn bè, lại thực lòng chân thành, có sự lương thiện thuần túy. Tuy bị gọi là máu lạnh nhưng biết cảm thông, nhìn tựa kẻ hận đời sống buông thả lại khao khát sống đàng hoàng ... rất nhiều mâu thuẫn tập trung vào một nhân vật, khiến tính cách trở nên chân thực phong phú, cả cãi xấu cái tốt lẫn lộn, khiến Dư Tội thành một cảnh sát ưu tú nhất vươn tới tầm cao khiến tất cả phải ngước nhìn. Dư Tội tuy nổi tiếng là tác phẩm hình sự xuất sắc nhất trong thể loại, nhưng so với việc nói nó là tiểu thuyết trinh thám, không bằng nói nó là tác phẩm tuổi trẻ về lý tưởng và tình yêu. Truyện lấy chuyện vụ án chỉ để nói chuyện đời, truyện không đưa ra bài học cho độc giả, nhưng tin rằng khi đọc Dư Tội, không ít đoạn khiến độc giả bỏ sách xuống mà suy ngẫm. Vì sao Dư Tội thành công lớn như thế, rất nhiều người nói "tiểu thuyết quá chân thật". Làm sao không chân thực cho được, vì nguyên hình của nhân vật Dư Tội chính là tác giả, khi phóng viên liên hệ với Thường Thư Hân người được gọi là "Lão Thường" một ông chú lôi thôi đang ẩn cư ở thành phố nhỏ, người mà không ít cư dân mạng suy đoán là một hình cảnh, năm xưa lại là tên tội phạm cướp của bị bắt vào tù, từng là một tên lưu manh đầu đường xó chợ không hơn không kém. Khi được phóng viên hỏi tới chuyện cũ, Lão Thường ở bên kia điện thoại thoải mái kể lại chuyện năm xưa, chính vì trải nghiệm phong phú đầy vị cuộc sống đó thành chất dinh dưỡng tốt nhất cho tác phẩm của anh. Lão Thường thừa nhận, nguyên hình Dư Tội chính là mình. Phóng viên vốn muốn hẹn tới nhà Lão Thường xin phỏng vấn, Lão Thường gạt đi, nói mình không phải minh tinh, không cần tốn công như thế, huống hồ nhà anh rất xa, vất vả thế là không đáng. Tuy chỉ là cuộc phỏng vấn qua điện thoại, Lão Thường không vì thế mà qua loa, phóng viên hối hận, nếu biết trước được nghe câu chuyện đặc sắc như thế, dù vất vả thế nào cũng phải tới tận nơi, chỉ để tận mắt thấy Lão Thường, so với trong truyện, cuộc đời Lão Thường còn là truyền kỳ hơn nhiều. Anh sinh năm 1975, năm 1993 vừa tròn 18 tuổi, vào cái thời phương nam hừng hực cải cách mở cửa, anh bất chấp người nhà khuyên can, học theo người ta chạy tới Quảng Châu kiếm tiền. Nào ngờ, tiền chẳng kiếm nổi, đến cơm ăn chẳng no, tuổi trẻ kích động, anh sinh ra ý nghĩ nông nổi, đi cướp. Khi đó Lão Thường nấp ở một bến tàu hỏa, nhìn người ra rút NDT từ ví ra, chuẩn bị đưa vào cửa sổ thu phí, anh xông tới cướp ví chạy luôn. Kết quả lần đầu gây án đã thất bại, trả giá bằng 8 tháng tù giam. Lão Thường nói "Đó không phải chuyện hay ho gì, bình thường tôi xấu hổ không nói ra.". Ở trong tù, anh quen đủ loại người từ buôn ma túy, trộm cắp vặt, làm hàng giả, giết người ...v...v...v.. tất cả những người đó là nguyên nhân lớn sau này tác phẩm của Thường Thư Hân luôn sinh động chân thực. "Cảnh sát kể về vụ án thường không tỉ mỉ đôi khi còn phải bảo mật. Nhưng tội phạm thì khác, nhất là ở trong tù, thời gian rảnh nhiều mà." Lần lỡ bước đó làm Thường Thư Hân khi còn rất trẻ đã ý thức được, thì ra người bình thường đi theo hướng tà ác lại chỉ cách một bước mà thôi. Trong những năm tháng trong tù, anh được thấy khát vọng trần trụi nhất của con người, cùng nhân tính nguyên thủy nhất, về sau anh đặt tên tiểu thuyết là Dư Tội ( Tội lỗi che giấu) là vì thế. Thường Thư Hân từ nhỏ mê tiểu thuyết võ hiệp, anh thích nhất Vi Tiểu Bảo dưới ngòi bút của Kim Dung, vì thế Dư Tội trong lòng anh cũng là người bình thường như vậy, không muốn làm anh hùng, chỉ muốn sống sao cho không hối tiếc, sống hết mình, không thẹn với lòng mà thôi. Đi ra ngoài một chuyến, anh hiểu ra, không bằng cấp tử tế, không dễ tìm việc tử tế. Thường Thư Hân ra tù về Sơn Tây, anh tự học một năm, thi đỗ vào trường đại học địa phương, không thể không nói đây là kỳ tích vì thời đó đại học vẫn có giá lắm, không tràn lan như sau này, thi vào đại học không hề dễ.  Tuy quyết tâm thay đổi con người, nhưng thời gian trong tù ảnh hưởng tới anh nhiều hơn anh nghĩ, tính cách nóng nảy, ưa bao lực, vì xích mích nhỏ không nhịn được, anh đánh nhau trong trường, vì thế học được hơn một năm đã bị khai trừ. Không lâu sau khi bị đuổi học anh lại nghe tin dữ, cha qua đời bởi tai nạn giao thông, thành hối tiếc suốt cuộc đời Thường Thư Hân, vì tới tận khi cha mất, anh vẫn là đứa lông bông chưa thể làm cha mẹ yên lòng. Vừa có tiền án, lại bị đuổi học, anh không cách nào tìm được công việc đàng hoàng ngoài xã hội. Vì mưu sinh, anh làm tới ba bốn chục công việc khác nhau, bán rau, bán sách, bán vé số, kéo xe ba bánh, đi khai khoáng, tiếp thị, nấu ăn … "Có những lúc tôi làm liền mấy việc, cái gì kiếm được tiền là tôi làm. Bán rau, nghề này tính thời vụ cao, thu đông kiếm nhiều, mùa hè bình thường. Bán sách, nghề này chỉ được một hai tháng lúc khai trường, còn là bán sách in lậu." Công việc duy nhất anh làm lâu dài làm công nhân cho công ty điện tín đương địa, bắt đầu từ vác thang, kéo dây điện. Mỗi ngày làm việc xong phải viết báo cáo công tác, đó là việc rườm ra phiền phức tốn thời gian mà chẳng ai muốn làm cả, thế nên trong đội đẩy cho anh làm. Kết quả do báo cáo của Thường Thư Hân do gọn gàng đâu ra đó, câu chữ thông thuận, hoàn toàn khác người ta. Dần dà, anh được điều tới văn phòng làm văn thư. Mới đầu anh còn chịu khó học thêm máy tính, một lòng phấn đấu tiến bộ. Đáng tiếc quá khứ lần nữa níu kéo, ngay cả hi vọng ký hợp đồng chính thức cũng vô vọng, không thể tốn thời gian làm việc tạm thời thế này, anh liền từ chức. Có lẽ suốt thời gian đó, chuyện vui duy nhất của anh là trong thời gian đi bán sách lậu, cơ duyên thế nào, anh quen được một cô giáo, rất xinh xắn. Quen nhau ba năm, cô giáo trẻ không chê anh nghèo, chẳng chê anh có quá khứ không tốt, bất chấp cha mẹ ngăn cản, anh có được cái gật đầu của cô, hai người thành vợ chồng. “Có lẽ cô ấy mê món ăn tôi làm.” Lão Thường cười ha hả. Lão Thường không kể nhiều về khó khăn của mình, vì đó thành vốn sống quý nhất của anh, cũng hun đúc cho anh một ánh mắt thấu hiểu cuộc đời. Lại nói rời công ty điện tín, anh chuyển sang bán máy vi tính, ở cửa hàng vi tính, rảnh rỗi anh vào mạng xem tiểu thuyết. Khi đó anh vừa mua nhà để cưới vợ, áp lực khoản vay mua nhà rất lớn, anh không thể dựa vào vợ nuôi được, thấy người ta ở trên mạng viết tiểu thuyết kiếm nhiều tiền lắm, đó là năm 2008 giai đoạn tiểu thuyết mạng bắt đầu bùng nổ, anh muốn thử xem sao. Sau hai tác phẩm sáng tác thử, bộ tiểu thuyết chính thức đầu tiên của anh trên mạng là Hồng Nam Lục Nữ, đề tài đô thị, lượng người mua vip cũng được vài nghìn, mỗi tháng anh viết mấy chục vạn chữ, tiền thù lao là 900 đồng, tuy ít nhưng anh kích động lắm, dù sao anh chỉ tranh thủ sáng tác lúc rảnh rỗi thôi. Khi đó tôi nghĩ "Nghề này sống được đấy." Sang tới tác phẩm thứ hai Hắc Oa nhờ tích lũy được ít độc nhà từ bộ trước, lần này anh yên tâm sáng tác hơn nhiều, thành tích ngày càng tốt, nhiều độc giả thốt lên, té ra tiểu thuyết mạng còn có thể viết tới mức này. Anh chính thức trở thành tác giả toàn thời gian. Đến khi sáng tác Dư Tội, bắt đầu có công ty lớn phát hiện ra viên ngọc bị bỏ quên, mới viết được xong quyển một, người ta đã mua bản quyền truyền hình.  "Khi đó tôi còn chưa có tiếng tăm gì, bản quyền bán quá rẻ, chỉ được 60 vạn, xung quanh biết được, đều bảo tôi ngốc." Thế nhưng ông trời rất công bằng, nhờ thành công lớn của Dư Tội, Thường Thư Hân bán thêm bản quyền truyền hình 3 tác phẩm nữa, trong đó Hắc Oa bán với giá 280 vạn. Quay lại với Dư Tội, Thương Thư Hân hồi ức, khi anh đang Dư Tội trên mạng, rất nhanh anh có được lượng fan cực lớn. Tháng 10 năm đó, có 20 fan hâm mộ vì hợp ý nhau mà tập trung ở Tấn Thành, bọn họ không ngại đường xá xa xôi tới từ khắp nơi trên cả nước lặn lội tới huyện thành nhỏ vùng tây bắc, họ tới tìm Lão Thường. Làm anh bất ngờ là, 12 người trong đó là cảnh sát. Tất nhiên số cảnh sát đó còn bất ngờ hơn, họ nói "Chúng tôi cứ tưởng anh là đồng nghiệp." "Thái độ của tôi với cảnh sát khi đó là kính nhi viễn chi, dù sao tôi từng bị bắt, chẳng may họ tra ra tôi có an thì xấu hổ lắm. Có cả một tạp chí thuộc sở công an liên hệ với tôi, họ tưởng tôi tốt nghiệp trường cảnh sát, mời tôi phụ trách chuyên đề, tôi tất nhiên là từ chối." Rồi Dư Tội xuất bản thành sách, một số hình cảnh trong đại đội hình sự thành phố lái xe mang theo đống sách tới nhờ tôi ký tên, họ nói "Cả đại đội hình sự là fan của anh, chúng tôi đi xin chữ ký thay cho họ."  Từ đó thường có cảnh sát tới tìm Thường Thư Hân trò chuyện, họ tham dự thảo luận tình tiết, còn hiến kế cho anh viết sách, cung cấp tư liệu vụ án, ví như họ nói, "anh bố trí cảnh hàm sai hết rồi, đó là hệ thống của Hong Kong, không phải Đại Lục chúng ta." Vì thế Lão Thường phát hiện sách của mình còn nhiều sai lầm, anh sửa lại không ít tình tiết trong truyện, Dư Tội anh sửa tới 5 lần, Hắc Oa sửa tới lần thứ 3, các truyện khác không có truyện nào anh đăng lên rồi thôi, mà rất chịu khó sửa lại truyện. Vụ án trộm trâu, buôn ma túy v..v..v trong Dư Tội đều là vụ án chân thực mà anh được những người bạn cảnh sát cung cấp tư liệu. Giống Dư Tội, Lão Thường là người sống có phần cô độc kín tiếng, anh không giống tác giả thời đại này, anh không tham gia quảng bá phim, không tổ chức buổi kỳ tên sách, thậm chí còn chẳng mở tài khoản công chúng giao lưu với fan. Bởi thế xung quanh anh, trừ vài người thân và những người bạn cảnh sát, chẳng ai biết được ông chú lôi thôi hay đi dép lê lang thang ngoài đường hay ngậm cọng cỏ hoặc phì phèo thuốc lá như người thất nghiệp lại là tác giả bán được hàng trăm vạn cuốn sách.  Có thể nói Lão Thường thuộc thế hệ cũ rồi, chỉ biết lặng lẽ viết truyện đăng truyện, dùng tác phẩm thay tiếng nói bản thân. Vì vậy tên tuổi anh không nổi tiếng như tác phẩm của anh, nhưng nhờ độc giả yêu thích truyền miệng, tới giờ tác phẩm của anh vẫn luôn được săn tìm. Vì chuyên tâm sáng tác, Thường Thư Hân trong thời gian sáng tác Hắc Oa đã chuyển về nhà cũ ở thôn quê gần thành phố, sống cuộc đời ẩn cư. Mỗi tối trong khói thuốc mịt mù, anh đánh máy đăng truyện, đêm ngủ tới lúc tự nhiên tỉnh, sau đó lên thành phố làm cơm cho vợ và con, cuộc sống thong dong thoải mái. Anh nói đùa anh sáng tác là nghề phụ, nghề chính là ông chồng nội trợ. Trừ đưa đón con, làm việc nhà thì anh đóng cửa đánh máy. sở thích nghiệp dư là xem tiểu thuyết, nghe nhạc, tản bộ, cùng người xung quanh đánh cờ, bốc phét với đám bạn cảnh sát. Vợ anh và con gái đang học cao trung năm thứ hai đều không đọc tiểu thuyết của anh. "Vợ tôi thích xem phim gia đình, không bao giờ xem phim cảnh sát. Con gái tôi à, nó thích xem phim Hàn, thích theo đuổi ngôi sao, nhưng sách của tôi thì nó chả ưa chút nào, tôi thấy ngôi sao duy nhất mà con gái tôi không theo đuổi, chính là tôi." Phóng viên kể, Lão Thường nói câu đó với giọng khoái trá lắm, rõ ràng rất đắc ý về cuộc đời mình.   Mời các bạn mượn đọc sách Dư Tội của tác giả Thường Thư Hân.
Vị Khách Chủ Nhật
“… Những ngọn núi sau lưng ông sừng sững như một đại giáo đường. Chúng trỗi lên thẳng đứng từ mặt biển, vĩ đại và hùng tráng, già lão và nhàn nhĩ, mỗi ngọn có khuôn mặt xám xịt riêng. Những khuôn mặt luôn luôn thay đổi, có sống cả đời cũng chưa đủ để ghi nhận hết. Khúc nhạc đại phong cảm của gió tàn phá chúng với tốc độ vô cùng chậm chạp nhưng không bao giờ ngơi nghỉ. Ông chẳng để ý gì đến chúng nữa cả. Lúc nào chúng chả đứng đó. Những người khác đến đây để ngây ngất chiêm ngưỡng núi, để trèo lên đó và lại gần bầu trời thêm một chút, có lẽ để được diện kiến các đấng thánh thần chăng. Nhưng ông cũng như những người cư ngự khác ở đây, đối với ông núi non là sự mặc định. Phải chăng có sở thích triết luận và suy tư thì ắt ông sẽ coi chúng là những người lính gác, là rào chắn mọi hiểm nguy rình rập. Đã có lần ông rời đảo, đã cố gắng đoạn tuyệt nó mà không thành. Từ đó ông chỉ vào bờ khi chẳng dừng, và đôi khi làm một chuyến du ngoạn trọn gói về phương Nam. Bây giờ ông là một người khác. Sống một cuộc sống điều độ. Ngày xưa ai dám tin chuyện đó? Cũng đôi khi tâm trí ông trôi về dĩ vãng, song ngày càng hiếm hơn . Tốt hơn hết là cái gì đã qua thì cứ để nó yên. Nhưng không phải lúc nào cũng làm được thế. Con bé ấy đã biến đi đâu? Liệu có bao giờ ông biết được không?...” - “Khi bạn đã kiệt sức và từ bỏ Dostoyevsky, hãy đọc Kanger. Nó chính là phương thuốc chữa trị tình yêu đang phai nhạt mà bạn dành cho việc đọc sách”. – Upsala Nya Tidning - “Thomas Kanger đã trở thành một tác giả trinh thám tài năng ngang tầm những tên tuổi có uy tín trong thể loại này như Mankell, Edwardson và Nesser”. – Varnamo Nyheter. - “Văn phong của Kanger ấn tượng một cách tàn nhẫn. Không đối trọng nào được phép xuất hiện trong lời tường thuật của ông. Nó cũng tương tự phương pháp sắt đá đặc sắc của Hemingway” – Eskilstuna-kurien. - “Thomas Kanger và nhân vật Elina Wiik của ông nổi bật lên như ngôi sao sáng chói nhất trên bầu trời văn học trinh thám Thụy Điển” – Gefle Dagblad. *** Hồi hộp và lôi cuốn, tác phẩm trinh thám này không chỉ lần theo dấu vết hung thủ của một vụ án sắp hết thời hiệu khiếu kiện mà còn dẫn dụ độc giả khám phá thế giới tâm lý nhân vật ở những tầng sâu thẳm… Review Tác phẩm: Vị khách chủ nhật Một vụ án mạng từ hai mươi tư năm và mười một tháng trước, chính xác là còn hai mươi lăm ngày nữa sẽ khép lại vĩnh viễn. Một phụ nữ trẻ bị bóp cổ chết. Năm tháng sau xác của cô được phát hiện với những vết răng sói cắn. Đứa con gái hoàn toàn mất tích. Bộ hồ sơ dài tới ba nghìn trang với những phần điều tra tỉ mỉ và đầy nỗ lực… Nữ cảnh sát Elina Wiik đã quyết định lật lại vụ án này từ nỗi ám ảnh của một đồng nghiệp thân thiết, khi anh bị chứng nhồi máu cơ tim. 35 tuổi, xinh đẹp và đầy bản lĩnh, Wiik mang đến cảm giác đầu tiên về một “người đàn bà thép”, khi đã quyết là không rời bỏ mục tiêu lựa chọn của mình. Và Wiik đã chọn nạn nhân Ylva Marieanne Malmberg của gần hai mươi lăm năm trước, bắt đầu từ một xuất phát điểm mà chính cô cũng thừa nhận đây là một chuyện viển vông, một vụ chưa ai làm nổi bao giờ. Có bao điều phiền toái kéo theo từ vụ án tưởng chừng đã được khép lại ấy. Công việc thường ngày của Wiik là giải quyết những vụ trộm vặt, đánh nhau đã vì thế mà bê trễ. Ba nghìn trang hồ sơ không chỉ ngốn hết thời gian của Wiik mà còn lan sang cả một vài đồng nghiệp trong cơ quan. Điều này khiến vị sếp trong cơ quan hết sức bực bội. Đã có lúc Wiik bị dồn tới bước đường cùng, buộc phải rời bỏ vụ án. Tuy nhiên, người phụ nữ trẻ này lúc nào cũng biết tìm cho mình một lối để tiếp tục đi. Có tới ba mươi tư nghi phạm được Wiik liệt kê từ những cuốn nhật ký để lại của Ylva. Và cô đã quay ngược lại thời gian để tái hiện lại tất cả những gì đã xảy ra với nạn nhân trước đó. Những kẽ hở của hồ sơ đã được phát hiện, và Wiik lúc nào cũng tin tưởng sẽ giải quyết được vụ án mạng này tới cùng. Đầy cuốn hút với các nhân vật dường như ai cũng có xu hướng không muốn bày tỏ bản thân quá nhiều. Lôi cuốn với hai tuyến nhân vật cùng lao về quá khứ, một bên là nữ cảnh sát tài ba và chuyên nghiệp, một bên là cô gái trẻ Kari muốn kiếm tìm sự thật nguồn gốc của mình. Hồi hộp với những mắt xích mãi tận đẩu đâu có thể tình cờ ghép nối được với nhau, hé mở một cách bất ngờ. Và điều kỳ diệu mà Thomas Kanger đã làm được: chỉ để tội phạm xuất hiện ở phút cuối, và kèm theo một tiết lộ gây sửng sốt không kém. Vị khách chủ nhật là cuốn sách thứ tư trong bộ tiểu thuyết trinh thám sáu tập của nhà văn Thụy Điển Thomas Kanger. Khác với những cuốn trước đó, tác phẩm này được xây dựng hoàn toàn từ hư cấu. Với cặp mắt quan sát của một phóng viên điều tra, Thomas Kanger đã đưa vào Vị khách chủ nhật cái nhìn quyết liệt tới tận cùng sự thật, khiến văn phong của ông ấn tượng một cách tàn nhẫn. Đó là lý do để Thomas Kanger và nhân vật Elina Wiik của ông nổi bật lên như ngôi sao sáng chói nhất trên bầu trời văn học trinh thám Thụy Điển. Tác phẩm này đã được dịch ra nhiều thứ tiếng như Đức, Pháp, Tây Ban Nha, Na Uy, Phần Lan, Đan Mạch, Hà Lan…, được đề cử giải Tiểu thuyết hình sự Thụy Điển và hiện đang được Hollywood dựng thành phim. Thomas Kanger sinh năm 1951, sống gần Stockholm. Trước khi bước vào nghiệp viết tiểu thuyết trinh thám, ông là phóng viên thường trú nhiều năm ở nước ngoài. Là nhà văn, nhà báo, Thomas Kanger đã chín lần sang Việt Nam giảng dạy về báo chí, và dấu ấn này ít nhiều lưu lại trong Vị khách Chủ nhật, mở đầu với một khung cảnh ở Việt Nam. Bản lĩnh của phóng viên đã mang đến cho tác giả một cái nhìn chiều sâu sau những tác phẩm trinh thám, mà ông từng tâm sự: “Làm báo, tôi quan tâm đến vấn đề lạm dụng quyền lực; còn khi viết tiểu thuyết tôi muốn tìm hiểu xem tại sao người ta lại hành động theo cách này hay cách khác, sự phát triển trong xã hội đã ảnh hưởng đến con người ra sao, đặc biệt đối với phụ nữ”. Phúc Yên - vnexpress.net *** Tác giả Nhà văn, nhà báo Thụy Điển nổi tiếng Thomas Kanger sinh năm 1951, lớn lên ở Uppsala, sau đó sống gần hai mươi năm ở Västerås, hiện sống gần Stockholm, ông bắt đầu làm báo từ năm 1980, mười năm sau chuyển sang làm phóng viên truyền hình, từng là phóng viên thường trú nhiều năm ở nước ngoài. Thomas Kanger đã viết tổng cộng chín cuốn sách, bao gồm: năm tiểu thuyết trinh thám, một tiểu thuyết kinh dị, một cuốn sách nghiên cứu, hai cuốn sách điều tra. Thomas Kanger cũng hợp tác với Truyền hình Quốc gia Thụy Điển làm phim tài liệu phóng sự điều tra. Đề tài trong tác phẩm của ông thường gây được sự chú ý mạnh mẽ trong dư luận xã hội không chỉ ở Thụy Điển mà cả ở nước ngoài. Thomas Kanger làm báo và viết văn với niềm tin tạo ra những tác động góp phần loại bỏ những điều xấu trong xã hội. Với tài năng và tầm ảnh hưởng ngày càng mở rộng của ông, điều này đã phần nào trở thành hiện thực. Các tiểu thuyết của ông được dịch ra nhiều thứ tiếng, dựng thành phim. Thomas Kanger từng tham gia phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam tại Mỹ, đã đến Việt Nam chín lần để giảng dạy về báo chí. Tiểu thuyết trinh thám Vị khách Chủ nhật mở đầu với một khung cảnh Việt Nam lần đầu được dịch sang tiếng Việt sẽ là những trang sách hấp dẫn giới thiệu với độc giả Việt Nam một nhà văn tài năng đến từ đất nước Thụy Điển xa xôi. *** Chuyện kể ngày xưa lần đầu tiên sói và tuần lộc gặp nhau. Trông thấy cặp sừng to tướng và đôi mắt đen của tuần lộc, sói thất kinh. “Cậu cần sừng nhọn làm gì vậy?” sói hỏi. “Cậu nói đúng, sừng tớ nhọn lắm,” tuần lộc đáp. “Nhưng tớ vừa ra đời nên chưa rõ dùng sừng làm việc gì cả.” Không vì thế mà sói thấy yên tâm. “Tại sao đôi mắt đen to tướng của cậu lại nhìn tớ chằm chằm vậy?” sói muốn biết. “Tớ không muốn làm cậu sợ đâu, hay là tớ quay mặt đi vậy nhé,” tuần lộc nói. Giờ thì đến lượt tuần lộc hỏi sói. “Thế cậu là ai? Trông thấy răng cậu vàng khè và họng cậu đỏ chót tớ sợ phát run lên.” Nghe tuần lộc nói sợ mình, sói khẽ vẫy đuôi và gầm gừ: “Hãy liệu hồn khi gặp ta, vì lúc nào ta cũng thấy đói.” Từ đó trở đi sói là kẻ mạnh hơn và tuần lộc là con mồi của nó. Ông quen tay thả dây buộc lưỡi câu trượt xuống nước. Trời xám xịt đầy mây, không khí đã ứ hơi mưa, và xung quanh im ắng lạ thường so với biển Baltic thường ngày. Chiếc thuyền con lúc lắc trườn tới một cách thận trọng. Kinh nghiệm cho ông biết thời tiết có thể đột ngột thay đổi. Đang lặng gió đấy mà cũng có thể ầm ào ngay đấy, song chưa bao giờ vì thế mà ông không chèo thuyền ra biển. Ra tận ngoài khơi, cách xa bờ, chỉ ở đó ông mới thấy thanh thản. Những ngọn núi sau lưng ông sừng sững như một đại giáo đường. Chúng trồi lên thẳng đứng từ mặt biển, vĩ đại và hùng tráng, già lão và nhàu nhĩ, mỗi ngọn có khuôn mặt xám xịt riêng. Những khuôn mặt luôn luôn thay đổi, có sống cả đời cũng chưa đủ để ghi nhận hết. Khúc nhạc đại phong cầm của gió tàn phá chúng với tốc độ vô cùng chậm chạp nhưng không bao giờ ngơi nghỉ. Ông chẳng để ý gì đến chúng nữa cả. Lúc nào chúng chả đứng đó. Những người khác đến đây để ngây ngất chiêm ngưỡng núi, để trèo lên đó và lại gần bầu trời thêm một chút, có lẽ để được diện kiến các đấng thánh thần chăng. Nhưng ông cũng như những người ngụ cư khác ở đây, đối với ông núi non là sự mặc định. Phải chăng có sở thích triết luận và suy tư thì ắt ông sẽ coi chúng là những người lính gác, là rào chắn mọi hiểm nguy rình rập. Đã có lần ông rời đảo, đã cố gắng đoạn tuyệt nó mà không thành. Từ đó ông chỉ vào bờ khi chẳng đừng, và đôi khi làm một chuyến du ngoạn trọn gói về phương Nam. Bây giờ ông là một người khác. Sống một cuộc sống điều độ. Ngày xưa ai dám tin chuyện đó? Cũng đôi khi tâm trí ông trôi về dĩ vãng, song ngày càng hiếm hơn. Tốt hơn hết là cái gì đã qua thì cứ để nó yên. Nhưng không phải lúc nào cũng làm được thế. Con bé ấy đã biến đi đâu? Liệu có bao giờ ông biết được không? Mời các bạn mượn đọc sách Vị Khách Chủ Nhật của tác giả Thomas Kanger & Lê Quang (dịch).