Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Phía Đông Vườn Địa Đàng

Phía đông vườn địa đàng là câu truyện của những người Mỹ, khoảng những năm từ nửa cuối thế kỷ trước đến chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Tác giả cho nó diễn ra ở chính quê hương mình.  Tiểu thuyết được xuất bản năm 1952. Có thể là nhà văn đã thai nghén nó trong thời kỳ chiến tranh thế giới lần thứ hai. Phải chăng cuộc “người tàn sát người” khủng khiếp ấy đã làm cho Steinbeck băn khoăn về ý nghĩa cuộc sống, về bản chất của con người và cố tìm ra lời đáp.  Phía đông vườn Địa đàng, đây là cuốn truyện về con người. Nhận vật trung tâm mang cái tên Adam, con người đầu tiên của nhân loại. Với nó nhà văn muốn đặt cơ sở cho một chủ nghĩa nhân đạo hữu hiệu. Steinbeck khẳng định niềm tin vào con người, vào cuộc sống, nhưng không phải một niềm tin lý tưởng hóa. Niềm tin ấy phải là cái cây đứng chắc, bắt rễ sâu vào miếng đất thực tế có cả đất màu mỡ lẫn sỏi đá, biết tránh sỏi đá, hút màu mỡ mà sinh trái ngọt. *** John Ernst Steinbeck, Jr. (1902 – 1968) là một tiểu thuyết gia người Mỹ được biết đến như là ngòi bút đã miêu tả sự đấu tranh không ngừng nghỉ của những người phải bám trên mảnh đất của mình để sinh tồn. Tác phẩm đầu tiên gây tiếng vang của John Steinbeck là cuốn Của Chuột Và Người (Of Mice and Men) (1937), dựng nên một câu chuyện bi thảm về hai nông dân ít học thức hằng mong mỏi một mảnh đất cho riêng mình để canh tác. Tác phẩm được đánh giá cao nhất là Chùm Nho Phẫn Nộ (The Grapes of Wrath) (1939; đoạt giải Pulitzer năm 1940), dựng nên câu chuyện của gia đình Joad, bị nghèo khó ở vùng hoang hóa Dust Bowl của tiểu bang Oklahoma, phải chuyển đến California trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế của thập niên 1930. Quyển tiểu thuyết gây nhiều tranh cãi, được xem không những là truyện hư cấu nhưng có tính hiện thực mà còn là lời phản kháng xã hội đầy cảm động, đã trở nên một tác phẩm kinh điển trong nền văn học Mỹ. Là một trong những "tượng đài" văn học từ thập kỷ 1930, Steinbeck lấy chủ đề trung tâm là phẩm giá trầm lặng của những người cùng khổ, những người bị áp bức. Dù những nhân vật của ông thường bị vây bọc trong thế giới thiếu công bằng, họ vẫn giữ mình như là những con người đầy cảm thông và có anh hùng tính, tuy có thể bị khuất phục. John Steinbeck nhận Giải Nobel Văn học năm 1962. Tiểu thuyết của John Steinbeck đã được dịch ra tiếng Việt gồm có: Của chuột và người (Of Mice and Men, 1937) Chùm nho nổi giận, còn được dịch Chùm nho phẫn nộ hay "Chùm nho uất hận", (The Grapes of Wrath, 1939) Đoạt Giải Pulitzer năm 1940 Phía đông vườn địa đàng (East of Eden, 1952) Đồng cỏ nhà trời (The Pastures of Heaven, 1932) Tôi, Charley và hành trình nước Mĩ (Travels with Charley in search of America, 1961) *** Cách đây mấy năm, tôi có dịp nói chuyện với một giáo sư người Mỹ. Ông được giới thiệu là một nhà Việt Nam học. Trong lúc trò chuyện, tôi đặt một câu hỏi: “Tôi không hiểu tại sao nhà văn John Steinbeck lại ngồi trên phi cơ bay trên trời Việt Nam và ca ngợi những phi công ném bom nhân dân nước tôi?” Ông trả lời: “Đừng nói đến John Steinbeck nữa. Bây giờ thanh niên Mỹ không ai đọc ông ta nữa. Ông ta lẩm cẩm rồi.” Nói thế, không biết vì muốn làm vui lòng tôi, hay vì là nhà Việt Nam học, tự nhiên ông đứng về phía Việt Nam. Tôi chắc lý do thứ hai đúng hơn, ông tỏ ra là một người thẳng thắn. Nhưng câu trả lời không khiến tôi vui, mà làm tôi suy nghĩ. Tôi hiểu rằng thanh niên Mỹ bây giờ không đọc John Steinbeck nữa không phải vì họ bất bình về việc nhà văn ủng hộ ném bom Việt Nam. Chính ông giáo sư Việt Nam học ấy đã nói thanh niên Mỹ thuộc thế hệ sau chiến tranh Việt Nam hầu như không ai biết Việt Nam là gì. Vậy thì, không đọc John Steinbeck nữa, ấy là vì họ cho rằng nhà văn đã cổ lỗ rồi, không hợp thời nữa. Thanh niên Mỹ ưa chạy theo “mốt”. Nếu đúng như thế, thật đáng buồn. Vì tác giả củaChùm nho uất hận,Chuột và ngườivàPhía đông vườn Địa đàngmà chúng ta đang đọc đây là một nhà văn nhân văn chủ nghĩa. Các tác phẩm vừa kể mang giá trị nhân đạo cao cả. Đó là những tác phẩm làm vinh dự cho dân tộc Mỹ. Nếu thanh niên Mỹ bây giờ thấy những tư tưởng ấy là “lẩm cẩm” thì thật đó là một điều không hay. Nhưng tôi không tin là có điều ấy. Tôi vẫn thấy tác giảChùm nho uất hậnlà đáng kính mến. Bây giờ nói vềPhía đông vườn Địa đàng. Nghĩ về người Mỹ, người ta nghĩ ngay đếnchủ nghĩa thực dụng. Phương Tây cho là như thế. Đích thân người Mỹ cũng tự cho mình như thế. Tất nhiên là có nhiều cách hiểuchủ nghĩa thực dụngkhác nhau. Ta thì nói:chủ nghĩa thực dụng Mỹ, với ý phê phán. Đại khái như thế này: người Mỹ cái gì cũng tính toán bằng tiền. Ngồi với nhau, ai có thuốc lá thì lấy ra hút, không mời người khác. Bàn việc, hỏi ngay phần tôi bao nhiêu, phần anh bao nhiêu. Bố con mượn tiền nhau cũng là vay trả sòng phẳng. Đến những việc lớn hơn, Mỹ sản xuất vũ khí, buôn bán vũ khí, chỉ nhằm thu lợi nhuận, bất cần nhân nghĩa, đạo lý “sống chết mặc bay tiền thầy bỏ túi.” Đối với Mỹ chẳng có gì thiêng liêng hết, họ đem tất cả ra làm quảng cáo, để bán hàng v.v... Ta nhìn nhận Mỹ như vậy là có lý do. Ta thù ghét Mỹ. Ta và Mỹ đã gặp gỡ nhau trong những trường hợp không có gì vui vẻ. Những người Việt Nam ở miền bắc, ở các vùng kháng chiến miền nam đã bị bom đạn Mỹ gây cho biết bao nhiêu đau thương tang tóc. Những người trong các vùng đô thị thì căm giận các cuộc bố ráp, những cuộc tra khảo, những tai nạn lính Mỹ gây ra trên đường phố, những phụ nữ bị lính Mỹ xúc phạm đến nhân phẩm, những thanh niên hư hỏng vì “lối sống Mỹ”. Tất cả những cái đó ta quy tội chochủ nghĩa thực dụng Mỹ. Nó đồng nghĩa vớibần tiện, tham lợi, tàn nhẫn, phi nhân. Cũng có thể đó là những biểu hiện sai xấu củachủ nghĩa thực dụngnhưng không nên hiểuchủ nghĩa thực dụng chỉ là như vậy. Nói một cách cô đúc thì nội dung căn bản củachủ nghĩa thực dụnglà ở điểm, chỉ thừa nhận các chân lý của một lý thuyết sau khi đã thể nghiệm nó trong ứng dụng vào thực tế. Nguyên lý này được dùng cho cả khoa, triết lý, đạo đức, tôn giáo. Chỉ được coi là chân lý, một nền triết lý, một nền đạo đức, một tôn giáo có tác dụng cải thiện cuộc sống. Như vậy chủ nghĩa thực dụng là mộttriết học vị nhân sinh. Nước Mỹ là một nước mới, lịch sử chỉ có hơn hai trăm năm. Những người dân ở Âu châu, Á châu, Úc châu đến đây tổ chức một xã hội mới. Ở xứ sở của họ, họ sống trong những khuôn khổ đã định hình từ bao nhiêu đời trước. Họ suy nghĩ phán đoán theo những nếp cũ, theo truyền thống. Đến vùng đất mới này, mọi cái đều mới mẻ. Những người đến đầu tiên tập mình làm trọng tài cho mình. Họ không có cách nào khác là lấy hiệu quả để đánh giá những chủ trương, những việc làm của mình và điều này trở thành một lối tư duy của người Mỹ. Rõ ràng là trong tiểu thuyếtPhía đông vườn Địa đàng John Steinbeck đã chấp nhận lối tư duy ấy và khẳng định nó. Tác phẩm của ông đầy sức thuyết phục. Giả sử ông là triết gia và trình bày chủ nghĩa thực dụng bằng triết học chưa chắc ông thuyết phục được mạnh mẽ. Nhưng ông là nhà văn, và tiểu thuyết chính là bức tranh phản ánh cuộc sống cho nên chính cuộc sống chứng minh và như thế không ai chối cãi được. Tuy nhiên, để điều vừa nói không bị nghi ngờ, tôi cần phải nói về bút pháp của Steinbeck. Tiểu thuyết Mỹ, chí ít là tác phẩm của tiểu thuyết gia tiêu biểu, thể hiện một tính hiện thực rất trội. Có những cuốn có giá trị như một công trình nghiên cứu xã hội học, nhân chủng học (tất nhiên là bằng văn chương cho nên có thể còn rõ ràng hơn là khoa học nữa vì sinh động hơn, cụ thể hơn, tỉ mỉ hơn). Chúng không chỉ khảo sát một quãng đời mà cả cuộc đời, có khi từ đời nọ sang đời kia. Nhưng chẳng phải vì vậy mà chúng dày cộm, rậm rạp. Và đấy chính là chủ nghĩa thực dụng áp dụng vào lĩnh vực viết văn. Trong cuốn tiểu thuyết ta đang đọc đây Steinbeck theo dõi những nhân vật từ đời cha đến đời con. Ông chú ý đến từng chi tiết rất nhỏ, nhiều khi người đọc phải ngạc nhiên không biết ông làm thế nào mà quan sát được tinh tế như thế. Nhưng ông lại bỏ qua rất nhiều hành động, lời nói, tình huống mà thường thường nhiều tiểu thuyết gia đưa vào tác phẩm. Nghĩa là ông chọn chi tiết trên hiệu quả thực tiễn mà nó mang lại. Sự chọn lọc này thật khe khắt. Đọc sách, người ta thấy ông trình bày rất khách quan. Người ta không thấy có dụng ý gì muốn lái độc giả theo hướng này hướng khác. Đôi khi ông cũng phát biểu ngoài lề những ý kiến của ông. Nhưng những ý kiến ấy cũng thật khách quan, đúng là cuộc sống như vậy, ông chỉ phiên dịch lại trung gian. Nhưng Steinbeckkhách quanmà khôngkhách quan chủ nghĩa. Tôi muốn nói: người ta không thấy ở ông sự vô tình, thái độ trối kệ. Tôi phải so sánh cho rõ ý: ĐọcCuốn theo chiều giótôi thấy tác giả miêu tả rất trung thực, nhưng tôi vẫn cảm thấy ngòi bút hiện thực ấy hơi tàn nhẫn. Thuyền trưởng Butler có cái đầu óc thực tế rất hay, nhưng đối với Scarlett quả là ông đối xử quá tàn nhẫn. Tác giảNhững kẻ trần truồngvànhững người chếtcũng rất hiện thực, tôi không trách gì ông, nhưng ông cố ý phơi bày những mảng hiện thực kinh tởm quá. Vấn đề lànhìn hiện thực một cách hiện thực, nếu có thể nói như vậy. Cái hiện thực mà John Steinbeck trình bày, không bị tàn phế, uốn nắn chút nào, đầy những trầm luân khổ ải, nhưng nó không dọa nạt khủng bố người đọc mà làm cho người ta chấp nhận được. Chẳng phải là trong thực tế người ta vẫn sốngđượcvới đau khổ đó sao. Ta hãy nhớ lại bài thơ ngụ ngôn của La Phông-TenTử thần và tiều phu. Những người Mỹ đứng đắn thường bày tỏ thành thực cái ý muốn của họlàm cho cuộc sống có thể chịu đựng được. Nói thế nghĩa là: cuộc sống không chỉ có hoa thơm trái ngọt đâu, rất nhiều cay đắng nhưngcó thể chịu đựng được. Và người Mỹ thường có một phương châm, coi như một cách ngôn:Hãy giữ nụ cười. Cuộc sống là cuộc sống. Nó như thế. Vậy thì nhăn nhó cau có cũng chẳng thay đổi được gì. Tốt hơn là hãy giữ lấy nụ cười. Đó là chủ nghĩa thực dụng. Nó không phải dở, hay là khác. John Steinbeck chọn hai nhân vật để thuyết minh cho tư tưởng của ông. Hai con người bình thường. Một là ông Samuel Hamilton nguồn gốc Ái Nhĩ Lan nông dân, có nghề lò rèn và kiêm nghề đào giếng. Một là Lee nguồn gốc Trung Hoa, nấu bếp. Dường như John Steinbeck gửi gắm một ý nghĩ vào trong sự chọn lựa của mình: một người đơn giản hồn nhiên kiểu trẻ thơ, và một người đã được thừa kế, một gia tài khôn ngoan của một nền văn hóa lâu đời vào bậc nhất trên hành tinh này. Hai người gặp nhau thống nhất với nhau trong một quan niệm: chỉ có thực tiễn là chân lý. Thêm vào đó, tác giả lại viện dẫn Sáng thế ký của Kinh Thánh mà ông cho là người Trung Hoa đã tìm ra nghĩa đúng nhất. Đó là đem chúa Trời nói với Cain “Nếu người làm lành há chẳng ngước mặt lên sao? Còn như chẳng làm lành thì tội lỗi rình đợi trước cửa thềm người lắm, nhưng ngươi phải quản trị nó.” Phải quản trị nó trong nguyên văn hê-brơ, là Timshel. Theo LeeTimsheldịch làquản trịhaykiềm chếđều không đúng mà, phải dịch làngươi có thể chế ngự nó. Steinbeck dùng chi tiết này không phải do yêu cầu của nghĩa chữ mà chính là để nêu lên một quan niệm xử thế như bàn dưới đây. Hơn một thế kỉ nay, từ lúc các nước phương Tây đi chiếm các thuộc địa ở các nước phương Đông, có những triết gia, chính trị gia, nhà văn đặt câu hỏi: Phương Tây và phương Đông có thể gặp được nhau không? Trên thực tế, họ cũng gặp nhau rồi, đúng hơn là phương Tây đã gặp phương Đông bằng thế mạnh 1 Câu hỏi đặt ra là muốn có sự gặp gỡ tự nguyện kia. Nhiều câu trả lời khác nhau. Về phía phương Tây có người bảo có thể được. Có người bảo Tây là Tây, Đông là Đông không thể gặp nhau. Có người đề xuất công thức: Phương Tây là thầy, phương Đông là trò. Với nhân vật Lee, Steinbeck có câu trả lời độc đáo: Lee làđầy tớ trung thànhvà là thầy dạy khôn cho chủ. Không rõ nhà văn có đọc các truyện xưa của Trung Hoa không mà ông đã xây dựng nhân vật Lee như một quân sư, một mưu sĩ, một môn khách? Steinbeck tỏ ra rất hiểu phương Đông, rất hiểu cái thâm thúy của triết học, văn hóa Trung Hoa mà ông khâm phục. Nhân vật Lee, nhà văn xây dựng thật hay. Tim shel – ngươi có thể chế ngự nó: ấy là tư tưởng chỉ đạo của cuốn tiểu thuyết. Mỹ châu vốn là nơi tao ngộ của tứ hải anh hùng. Nói nôm na hơn và đúng với sự thực: tìm đến lập nghiệp ở nước Mỹ là những người thuộc nhiều quốc gia, nhiều màu da, có chung một cảnh ngộ bị thất cơ lỡ vận, không còn sống ở quê hương xứ sở mình. Cái cảnh ngộ chung ấy dạy họ nên biết chấp nhận những dị biệt của nhau, có khi những sự đối chọi nhau nữa, để chịu đựng, để sống chung với nhau trên miếng đất có thừa điều kiện để nuôi tất cả. Các nhà văn Mỹ thường có cái nhìn thực tế, nói là thực dụng cũng được đối với con người. Con người rất đa dạng, bao nhiêu người là bấy nhiêu mô hình, không ai có quyền áp đặt cái mô hình của mình cho người khác. Con người không phải làthầncũng không phải làquỷ, có cả xấu lẫn tốt, xấu hay tốt đều là tương Steinbeck cố ý đưa vào trong tiểu thuyết câu truyện trong Kinh Thánh về hai anh em sinh đôi Abel và Cain một tốt, một xấu và đặt cho hai nhân vật của ông là Aron và Cal cùng là anh em sinh đôi, hai cái tên gần giống như trong Kinh Thánh. Phải chăng tác giả muốn nói Abel cũng là con người, và Cain cũng là con người. Con người là cả Abel lẫn Cain, cái nghiệp dĩ là như vậy, phải chấp nhận thôi. Hơn thế, nhà văn lại có ý dành tấm lòng ưu ái của mình cho những người bị coi là xấu. Trong tiểu thuyết có hai tuyến nhân vật: Tốt, xấu. Adam, Aron được mô tả như những con người tốt. Họ muốn làm những việc tốt, họ nuôi trong tâm trí một lý tưởng. Nhưng họ chỉ thu hoạch được những thất bại mà chính khuynh hướng lý tưởng hóa là nguyên nhân. Còn những nhân vật bị coi là xấu thì lại thành công trong mọi việc làm. Bên cạnh Adam rất tốt là Cathy, vợ chàng, cực xấu. Cô lừa dối tất cả mọi người và ai cũng bị lừa. Bên cạnh Aron luôn luôn hướng về mục đích thánh thiện là người em Cal luôn luôn bị những ý tưởng xấu điều khiển và Cal bao giờ cũng đạt kết quả. Nhưng ta chớ vội tưởng Steinbeck chủ trươngác thắng thiện. Cuốn tiểu thuyết cho ta thấy những thành công của Cathy, Cal đem lại cho họ không phải sự sung sướng mà là sự đau khổ. Nhà văn muốn nói với chúng ta rằng: Cuộc sống là cuộc sống, nó không uốn theo những ý tốt của chúng ta đâu, đừng lý tưởng hóa. Bởi vì ta lý tưởng hóa cho nên ta liệt người này người khác vào loại xấu. Thực ra họ chỉ là sản phẩm khách quan của cuộc sống. Nếu ta biết nhìn họ một cách thực tế, không định kiến thì ta sẽ thấy họ đều có khả năng chế ngự cái phần xấu ở họ. Nhà văn đã nhờ người bếp Trung Hoa làm phát ngôn nhân cho ông. Lee nói với Cal: “Chú đã nhận ra rằng những điều thiêng liêng đễ bị tiêu diệt, trong khi điều ác lại cứ tồn tại và phát triển. Chú nghĩ rằng cơn thịnh nộ của Thượng đế đã trút lửa từ nồi kim loại nấu lỏng xuống hủy diệt hết để làm cho thanh khiết công trình nhỏ bé bằng bụi đất do ngài đã nặn ra... Mỗi người trong mỗi thế hệ đều được tầy uể bằng lửa... Không một người nào trên đời này tránh khỏi nguyên tắc đó nếu muốn trở nên một người hoàn toàn.” Mỗi người trong mỗi thế hệ đều cần được tẩy uế... cho nên cuộc sống yêu cầu mỗi người phải khoan dung, độ lượng với đồng loại của mình. Sự khoan dung độ lượng ấy là cần thiết, là yếu tố quyết định để mỗi người có thề vượt qua thử thách và hoàn thiện mình. Lee cầu xin ông Adam: “Ông Adam, xin ông hãy tha thứ cho Cal. Đừng để nó cô độc vì mặc cảm tội lỗi... Xin ông hãy giúp nó. Hãy cho nó một cơ hội. Hãy giải tỏa mặc cảm cho nó. Nhờ đó nó sẽ vượt được mọi thử thách, hãy giải thoát cho nó. Hãy tha thứ cho nó.” Đó là mấu chốt của vấn đề. Nhà văn bày tỏ một quan niệm sống rất nhân đạo, một chủ nghĩa nhân đạo không phải trên lý thuyết xa vời, đẹp thì có đẹp nhưng vô ích vì không thể vươn tới được, mà một chủnghĩa nhân đạothực tiễn, nói là thực đụng cũng được, phù hợp với kích thước, hoàn cảnh của con người. Phía đông vườn địa đànglà câu truyện của những người Mỹ, khoảng những năm từ nửa cuối thế kỉ trước đến chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Tác giả cho nó diễn ra ở chính quê hương mình. Tiểu thuyết được xuất bản năm 1952. Có thể là nhà văn đã thai nghén nó trong thời kì chiến tranh thế giới lần thứ hai. Phải chăng cuộc “người tàn sát người” khủng khiếp ấy đã làm cho Steinbeck băn khoăn về ý nghĩa cuộc sống, về bản chất của con người và cố tìm ra lời đáp. Phía đông vườn Địa đàng, đây là cuốn truyện vềcon người. Nhận vật trung tâm mang cái tên Adam, con người đầu tiên của nhân loại. Với nó nhà văn muốn đặt cơ sở cho một chủ nghĩa nhân đạo hữu hiệu. Steinbeck khẳng định niềm tin vào con người, vào cuộc sống, nhưng không phải một niềm tin lý tưởng hóa. Niềm tin ấy phải là cái cây đứng chắc, bắt rễ sâu vào miếng đất thực tế có cả đất màu mỡ lẫn sỏi đá, biết tránh sỏi đá, hút màu mỡ mà sinh trái ngọt. Trong phong trào đổi mới của ta hiện nayPhía đông vườn Địa đànglà cuốn sách nên đọc. 9-1988 Tuy xuất bản rất nhiều tác phẩm từ xã hội đến hoạt kê qua tình cảm, John Steinbeck tuyên bố rằng “Phía đông vườn Địa đàng”, là tác phẩm quan trọng nhất của ông. Quan điểm đó cũng được nhiều nhà phê bình đồng ý. Sau ngày xuất bản “East of Eden” cho đến khi ông được trao tặng giải Nobel về Văn Chương năm 1962, không có tác phẩm nào quan trọng hơn tác phẩm này. “East of Eden” sau khi xuất bản, đã được đạo diễn kiêm văn sĩ Elia Kazan quay thành phim và do James Dean, nam tài tử lừng danh quốc tế đóng vai chính cùng nữ tài tử Pier Angeli, mối thất vọng lớn của James Dean, khiến anh phóng xe đua hết tốc lực đến ngộ nạn tử thương; gây thương tiếc cho giới trẻ mộ điệu một dạo. Ở Mỹ, “East of Eden”, đã được tái bản gần bốn mươi lần và đã được dịch ra nhiều thứ tiếng nước ngoài.   Mời các bạn đón đọc Phía Đông Vườn Địa Đàng của tác giả John Steinbeck.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Ai Và Ky Ở Xứ Sở Những Con Số Tàng Hình - Ngô Bảo Châu & Nguyễn Phương Văn
- Quái thế! Lại có tiểu thuyết toán hiệp ư? - Có đấy! - Hừm, làm thế nào để đường thẳng với compas với khai căn trở thành một câu chuyện? - Hơ, thế mới tài, mà lại không chỉ dành riêng cho tụi si toán, yêu toán, đần vì toán đâu nhé! - Để ta đoán nhé, anh Châu và anh Văn muốn làm một điều tương tự các cuốn nhập môn triết học triết toán triết lý như Sophie's World của Jostein Gaarder ấy... - Trúng phóc! - Nhưng dốt toán như ta có đọc được không? - Mi tốt nghiệp cấp 2 rồi nhỉ!? Mi cũng đâu đến nỗi dốt như con tốt!? Cố mà đọc: chẳng lẽ mi không muốn biết tới sự huyền bí của các con số, chiêm ngưỡng thế giới vô biên cương của tư duy và phương pháp và vẻ đẹp của... - Thôi! Ta can. Mỗi lần nghe mi nói năng cầu kỳ ta lại thấy rét... - Mà này, câu chuyện có hấp dẫn không, lãng mạn không, yy không? - Xời, mi tò mò đáng sợ! Có chớ: có con rồng phun lửa, có con dế thủy chung, có âm mưu và tình yêu, có cả Steve Jobs, rồi một lão vua tên là Ka Cơ nắm quyền khai căn tất cả mọi thần dân... - Stop! Mi dừng ở đó! Để tự ta đọc... *im lặng* - Này, bọn học toán sướng nhỉ! *cùng mơ màng* - Haizzz... Sau này ta có con, nhất định sẽ cho nó học toán. *** Lời khen tặng dành cho cuốn sách: "Cuốn sách là một câu chuyện cổ tích tuyệt đẹp, với nắng vàng trên bãi cát, với bầu không khí trong vắt của trí tuệ và tình người, với những nghịch lý và âm mưu. Ta chợt nhận ra rằng, thế giới của những con số cũng huyền ảo, kỳ bí và lãng mạn như cuộc đời." - GS Hà Huy Khoái "Tôi đọc cuốn sách của hai tác giả trẻ mà đôi lúc lại cảm giác như đọc thi thoại của các bậc thâm niên." - Nhà thơ Vũ Quần Phương "Một thế giới trong vắt, không gợn những toan tính thiệt-hơn, thua-thắng sẽ còn ám ảnh người đọc Ai và Ky ở xứ sở những con số tàng hình mãi. Ai và Ky đã đem vô vàn số hữu tỉ bạn đọc đến một thế giới diệu kỳ, thế giới của tình yêu tri thức và toán học." - Nhà giáo Phạm Toàn "Cuốn sách giản dị đến mức ai đọc cũng được, kể cả những người không biết gì về toán như tôi. Và rồi, qua cuộc dạo chơi trong xứ sở những con số tàng hình, ta cũng dần hiểu được phần nào vẻ đẹp kỳ diệu của toán học." - Nhà thơ Trần Đăng Khoa *** Bên cạnh niềm vui được thưởng thức văn tài của một nhà toán học đã giành giải thưởng Field, về mặt kiến thức Ai và Ky ở xứ xở những con số tàng hình có phải một thách thức với với nhóm độc giả trẻ không phải dân chuyên toán? Cuốn Ai và Ky ở xứ sở của những con số tàng hình (Gs Ngô Bảo Châu, Nguyễn Phương Văn) sau 2 tuần ra mắt độc giả, hiện vẫn giữ vị trí best-seller số 1 trên thị trường sách. Tuy nhiên, hai tác giả Ngô Bảo Châu và Nguyễn Phương Văn cũng đưa ra một giới hạn rất cụ thể về đối tượng độc giả của cuốn sách, đó là học sinh, sinh viên từ cuối cấp 3 đến năm thứ hai đại học.   Hai tác giả Ngô Bảo Châu, Nguyễn Phương Văn ban đầu định viết Ai và Ky ở xứ sở của những con số tàng hình như một cuốn lịch sử toán học, sau đó phát triển thành một câu chuyện sinh động, đồng thời “phát minh” ra thể tài mới: “tiểu thuyết toán hiệp”. Anh Nguyễn Phương Văn bày tỏ: “Trong quá trình viết, nội dung đã chuyển hướng, song những gì chúng tôi mong muốn từ đầu vẫn không thay đổi. Ấy là cố gắng khơi gợi niềm vui tìm tòi tri thức, ít nhất là làm sao cho bạn đọc tò mò về các nhân vật, muốn biết họ là ai ngoài đời, họ đã sống thế nào và cống hiến những gì”. Đọc kỹ và có nhiều cảm nhận sắc sảo về cuốn sách, bạn Phạm Ngọc Hà (độc giả diễn đàn mạng tiki.vn) cho hay “rất thích không khí truyện, bởi chất chứa vẻ đẹp xa xưa và ấm cúng của một châu Âu cổ điển (biển cát với bầu trời đầy sao, giàn nho, bánh mì mật ong và sữa…). Nội dung toán học thì: Vừa đủ cơ bản và vừa đủ sự khó hiểu để người đọc bị cuốn hút.” Không ít triết lý về cuộc sống được lồng trong tư duy toán học, cho thấy toán học chính là cuộc đời. “Thích triết lý giản dị về sự từng bước. Sự từng bước là thận trọng, nhưng không bao chứa thái độ rụt rè nghi hoặc, mà đầy niềm tin. Cái gì cũng thế, cứ từng bước mà làm thì sẽ làm được hết”, Ngọc Hà cảm nhận.   Có thể khẳng định, cái tên Ngô Bảo Châu đang là một yếu tố thu hút khó lòng cưỡng nổi với độc giả, bởi danh tiếng của người Việt Nam đầu tiên đoạt Huy chương Field. Nhưng tìm đọc là một chuyện, đọc được hay không lại là một chuyện khác. Như lời bậc thầy trong cuốn sách đã dặn chú bé Ai: chân lý chỉ mở ra cho những ai sẵn sàng tìm hiểu, Ai và Ky ở xứ sở những con số tàng hình chắc hẳn không phải cuốn sách dễ dàng. Cái khó của nó, có thể khiến người ta phải trở lại một loạt kiến thức toán liên quan, khiến người ta phải tự mình tìm tòi thêm để lấp những chỗ trống trong tưởng tượng, lập luận của chính mình trong suốt quá trình đọc, để cảm nhận cho đầy đủ những vẻ đẹp của toán, vẻ đẹp của suy luận siêu hình, rồi ngộ ra những mối liên hệ phổ quát trong thế giới.  Có thể nói, những độc giả trẻ, với lời gợi ý từ sách, mà nỗ lực chạm tới được những điều đó, thì họ đã giành được những món quà không nhỏ! Mời các bạn đón đọc Ai Và Ky Ở Xứ Sở Những Con Số Tàng Hình của tác giả Ngô Bảo Châu & Nguyễn Phương Văn.
Nhật ký Chim Én - Amélie Nothomb
Một gã chạy việc lặt vặt đổi danh tính để trở thành một tay giết thuê có hạng. Cho tới một ngày, gã tình cờ đọc được nhật ký của một cô bé mười sáu tuổi, nạn nhân của gã. Cuốn nhật ký khiến gã bừng tỉnh. Cuộc đời gã rẽ sang một trang mới, tình yêu trong gã nảy nở, tâm hồn gã trở nên ngây thơ hơn, trong sạch hơn... nhưng mọi chuyện liệu có quá muộn ? Một lần nữa, cuộc chiến giữa Thiện và Ác, giữa Tình yêu và Hận thù trở thành chủ đề chính trong sáng tạo của Amelie Nothomb. Vẫn với lối tượng trưng hóa và liên tưởng tài tình, cùng một loạt các đoạn hội thoại sắc sảo, lạ lùng, không bao giờ nhàm chán, Nhật ký Chim Én từng giúp tác giả của nó trở thành một trong những nhà văn trẻ nhất có tên trong danh sách đề cử giải Goncourt năm 2006 *** Amélie Nothomb sinh ngày 13/8/1983 là người Bỉ, nhưng Amélie Nothomb lại chào đời và trải qua một phần tuổi thơ tại Nhật Bản. Từ sau cuốn tiểu thuyết đầu tay Hồi ức kẻ sát nhân xuất bản năm 1992 đến nay, mỗi năm cô cho ra mắt bạn đọc thế giới một tác phẩm mới. Trong đó phải kể đến Phá ngầm tình tứ (1993) với các Giải thưởng Vocation và Chardonne; Sững sờ và run rẩy (1999) với Giải thưởng Lớn của Viện Hàn lâm Văn học Pháp; Không Adam cũng chẳng Eva (2007) với Giải thưởng Flore. CÙNG MỘT TÁC GIẢ: - Phá ngầm tình tứ, 1993. - Những chất dễ cháy, 1994. - Những bài châm biếm, 1995. - Xiêm y, 1996. - Mưu sát, 1997. - Thủy ngân, 1998. - Sững sờ và run rẩy, 1999. (Tác phẩm đoạt giải thưởng lớn của Viện Hàn lâm Pháp). - Lý luận trừu tượng về điện thoại, 2000. - Thuốc xức tóc của kẻ thù, 2001 - Từ điển Robert về danh từ riêng, 2002. - Kẻ phản Chúa, 2003. - Tiểu sử của cơn đói, 2004. - Axit sunfuric, 2005. - Không Adam cũng chẳng Eva (2007) ***   Ta tỉnh dậy trong bóng tối mà không biết gì hơn. Ta đang ở đâu? Chuyện gì đã xảy ra thế này? Nhoáng một cái, ta đã quên hết tất cả. Ta không biết ta là đứa trẻ hay người lớn, là đàn ông hay đàn bà, là kẻ có tội hay người vô tội. Bóng đen dày đặc này là bóng đen của đêm tối hay bóng đen của tù ngục? Ta chỉ biết điều này, càng cay đắng hơn vì đó là hành trang duy nhất ta có: ta vẫn đang sống. Chưa khi nào ta nếm trải trạng thái này: ta chỉ vẫn đang sống mà thôi. Cuộc sống là gì trong cái khoảnh khắc mà người ta có được đặc ân hiếm hoi là không nhận dạng nổi chính mình? Trong khoảnh khắc này: ta sợ. Tuy nhiên, không lúc nào ta được tự do hơn lúc ta chìm đắm trong trạng thái lãng quên ngắn ngủi khi tỉnh giấc. Ta là một đứa trẻ biết ngôn ngữ. Ta có thể đặt một từ nào đó cho sự khám phá còn chưa được gọi tên vào lúc ta sinh ra: ta bị đẩy vào nỗi khiếp sợ của người sống. Trong giây phút kinh hoàng thoáng qua ấy, thậm chí ta không nhớ được rằng ngay cả khi tỉnh giấc, những hiện tượng như thế vẫn luôn có thể xảy đến. Ta đứng dậy, ta tìm cửa ra vào, ta lạc lối như ở trong một khách sạn vậy. Và rồi những kỷ niệm, trong thoáng chốc, đưa thân xác ta trở về với thực tại và trả lại linh hồn cho nó. Ta thấy yên tâm nhưng thất vọng: vậy ra ta là thế, vậy ra ta chỉ là thế mà thôi. Ngay sau đó vị trí của nhà ngục giam thân xác ta lại hiển hiện. Căn phòng của ta thông với phòng rửa ráy nơi ta vẫn thường dìm mình trong nước lạnh. Ta mong muốn cọ rửa gì trên mặt mình với sự cuồng nhiệt và thứ nước lạnh giá này nhỉ? Sau đó chu trình khép kín được khởi động. Người nào có công việc riêng của người nấy, cà phê-thuốc lá, trà-bánh mì nướng hay dắt chó-đi dạo, người ta đã thu xếp công việc sao cho ít sợ hãi nhất có thể. ... Mời các bạn đón đọc Nhật ký Chim Én của tác giả Amélie Nothomb.
Nguyễn Du - Trên Đường Gió Bụi - Hoàng Khôi
Cuộc đời Nguyễn Du có nhiều chỗ “mờ”! Mười năm gió bụi là cả một khoảng thời gian dài Nguyễn Du ở Thái Bình làm gì, hay còn đi đâu nữa? Nguyễn Du có chống Tây Sơn không và chống như thế nào? Mối tình Nguyễn Du với Hồ Xuân Hương kéo dài ba năm là lúc ông ở độ tuổi bao nhiêu? Nguyễn Du theo Gia Long có phải là tự nguyện? Rồi Truyện Kiều sáng tác ở thời điểm nào? Tại sao nhiều bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du viết về cảnh vật, con người Trung Hoa lại không trùng với con đường mà ông đi sứ?... Tất cả những điều đó, các nhà nghiên cứu đều đang gắng sức giải mã. Cũng đã có những giả thiết, những đoán định hợp lý, hợp tình, song vẫn cần những chứng cứ chính xác để tìm sự đồng thuận cao. Nhưng không phải vì thế mà người ta bớt yêu Nguyễn Du, bớt yêu Truyện Kiều, bớt yêu Văn tế thập loại chúng sinh và hàng trăm bài thơ, bài văn của Nguyễn Du bằng chữ Nôm, chữ Hán. Trái lại, các công trình nghiên cứu Nguyễn Du và tác phẩm của ông càng ngày càng thu hút giới nghiên cứu trong và ngoài nước. Người Mỹ, người Anh, người Pháp, người Nga, người Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ… đều có những tổ chức, những chuyên gia nghiên cứu Nguyễn Du và Truyện Kiều. Người Việt hải ngoại hướng tới quê hương cũng tiếp cận Nguyễn Du và tác phẩm của ông không ít. Ở trong nước, di tích Tiên Điền, quê hương Nguyễn Du được xem là di tích cấp đặc biệt của quốc gia. Đặc biệt năm 2011, một tổ chức nghiên cứu Truyện Kiều của các nhà khoa học và những người yêu mến Nguyễn Du, yêu mến Truyện Kiều được thành lập, gọi là Hội Kiều học Việt Nam. Tất cả những điều ấy cho thấy Nguyễn Du và Truyện Kiều luôn là một ma lực, hấp dẫn. Đặc biệt Truyện Kiều được phổ biến, quảng bá bằng rất nhiều hình thức, phương thức từ bác học đến dân gian. Sinh hoạt về Kiều là một sinh hoạt văn hóa và Nguyễn Du là một danh nhân văn hóa. Trong khi chờ để bổ sung một niên biểu chuẩn xác về Nguyễn Du, đã có những nhà văn thả trí tưởng tượng để tái hiện hình ảnh Nguyễn Du, đắp thịt, đắp da cho nhân vật mà mình yêu mến với mong muốn bè bạn cảm thông hơn về số phận, về nhân cách, về tâm hồn của một con người, một thi nhân nổi tiếng. Sự thực, người dựng chuyện về Nguyễn Du không nhiều. Ngoài một đôi mẩu giai thoại được loan truyền, chuyện về danh nhân Nguyễn Du chỉ mới có cuốn Ba trăm năm lẻ của Vũ Ngọc Khánh xuất bản năm 1988 và cuốn Nguyễn Du của Nguyễn Thế Quang xuất bản năm 2010. Cả hai cuốn trên đều nói rất sơ lược, thậm chí không nhắc tới khoảng thời gian mười năm Nguyễn Du lưu lạc. Là người đi sau, chúng tôi may mắn được tiếp xúc với nhiều công trình nghiên cứu và phát hiện mới, có điều kiện gặp gỡ và học hỏi nhiều nhà khoa học, nhiều chuyên gia ở Hội Kiều học Việt Nam, cùng với mong muốn được góp một chút gì cho quê hương Nghi Xuân của mình, nên mạnh dạn dựng một Nguyễn Du theo cách mình hiểu. Nhà viết tiểu thuyết lịch sử lừng danh người Pháp, Alexandre Dumas từng khẳng định: Lịch sử chỉ là chiếc đinh để tôi treo bức tranh của mình. Tôi rất đồng tình với quan niệm này nên đã đặt nhân vật của mình với những thăng trầm lịch sử, đặt nhân vật của mình trong tương quan với những con người có thực cùng thời, chiếu ứng với những bài thơ của chính nhân vật viết ra rồi dựng lên một khung cảnh tôi cho là hợp lý. Truyện được dựng trên tinh thần như thế và tác giả chỉ tái hiện nhân vật Nguyễn Du trong khoảng thời gian từ thơ ấu đến ngoài tuổi 30 (khoảng năm 1793). Tôi cho rằng Nguyễn Du không chỉ có mười năm gió bụi mà cả cuộc đời ông sau trước đều trong cõi phong trần. Cuốn sách này được viết để bày tỏ tình yêu của tôi với quê hương và văn hào Nguyễn Du, để góp tiếng nói của một thành viên Hội Kiều học chào mừng ngày kỷ niệm 250 năm sinh của ông và cũng để nhớ tới thân phụ tôi, người đã nhiều năm gắn bó với Nguyễn Du và Truyện Kiều. Tôi xin cảm ơn những người thầy, những bạn bè đã gián tiếp gợi ý cho tôi qua các công trình mà tôi được tham khảo. HOÀNG KHÔI *** Cuốn sách Đoạn Trường Đoàn Nguyễn Tuấn chỉ tập bản thảo viết tay Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du đang đặt ngay ngắn trên án sách của chú em và hỏi: -Hai chữ “Bất uất” ghi ngoài bìa sách liệu có ăn nhập gì với câu chuyện của chú đang viết ra? Nguyễn Du giãi bày: -Ở cuối sách, em chỉ mong mua vui cũng được một vài trống canh nhưng bác biết đấy, thế nào trong truyện chẳng gửi gắm ít nhiều tâm sự. Hẳn sẽ có người chê, người cười! Vậy nên dẫn ra ngoài bìa hai chữ của cụ Khổng. Cụ dạy nhân tri bất uất, bất diệc quân tử hồ (người khác không hiểu tôi, tôi cũng không oán hận). Em viết vậy là để cho rộng đường dư luận, mong sao được nhiều người mặc sức khen, chê. -Chú quả là người rộng lượng và lo xa. Truyện này rất lôi cuốn! Anh nghĩ nếu sách này được phổ biến rộng ra, thiên hạ sẽ còn nhiều chuyện để bàn. -Đa tạ anh quá khen. Xin được anh chỉ dẫn thêm nữa. -Anh em mình đều là người đọc sách, lại rất hiểu nhau nên anh xin nói thật lòng mình. Cuốn sách của chú không chỉ phê bình trong một vài buổi là đủ. Riêng anh, mấy hôm nay suy ngẫm rất nhiều, lại nhớ lần anh em trò chuyện ở Hà Bắc nên đã mạn phép viết mấy lời đề từ. Chú xem rồi bổ chính nhé! Nguyễn Du trân trọng đón nhận tờ hoa tiên Đoàn Nguyễn Tuấn trao. Bài đề từ chỉ có tám câu bằng chữ Hán rất cô đọng nhưng đúng là một nhận xét tổng quát, chuẩn xác, lại bộc lộ được cảm xúc chân thành. Từ đàn lệ ngữ Duyên các kiều tình Kiến kiếm bất kiến nhân Thần hồ ký hĩ Thái hoa nhường mật Tân khổ vi thùy Thị phong khởi ngữ Diệc lãnh đố ngữ. Tạm dịch: Lời mĩ lệ chốn văn đàn Tả mối tình đáng yêu nơi lầu gác Khác nào kiếm thuật cao siêu thần diệu Chỉ thấy kiếm mà không thấy người Hái hoa để gây mật Đắng cay gian khổ là ai nhỉ? Mà nổi gió nên lời Vậy mà cũng lắm điều đố kỵ lạnh nhạt. ... Mời các bạn đón đọc Nguyễn Du - Trên Đường Gió Bụi của tác giả Hoàng Khôi.
Người Đàn Ông Của Tôi - Rachel Gibson
Những gì xảy ra ở Vegas. . . không xảy ra ở đây. Danh sách những việc "phải làm" ở Las Vegas của Autumn Haven là xem chương trình biểu diễn của Cher và chơi bài – chứ không phải thức dậy và kết hôn với anh chàng khốn kiếp vô cùng quyến rũ Sam LeClaire. Khoảnh khắc đầu tiên cô bắt gặp anh ta nhìn mình như thể một món ăn tráng miệng đầy ngọt ngào, linh tính mách bảo với Autumn rằng cô nên chạy đi. Và cô đã làm thế - ngay trong kỳ nghỉ cuối tuần đầy cuồng nhiệt và mơ mộng của đời cô. Nhưng vào sáng thứ Hai, cô lại quay về với thực tại, và trước khi cô có thể nói "đưa tôi tách café", Sam biến mất. Giờ đây, khi đã trở thành một nhà lên kế hoạch đám cưới thành công, Autumn không còn gặp gỡ anh chàng siêu sao môn khúc côn cầu phụ tình kia… cho đến khi cô tổ chức "Ngày Đặc Biệt" cho đồng đội anh ta, nơi Sam đã làm ồn ã mọi chuyện lên khi tiếp tục những gì anh ta từng bỏ mặc! Nhưng cô đã thề rằng người đàn ông của cô phải là một người nghiêm túc. Liệu Sam có phải là người đàn ông dành cho cô hay liệu cô có vứt bỏ anh ta mãi mãi? *** Rachel Gibson sinh ở Boise, Idaho, USA. Cha cô làm việc cho một công ty điện thoại, mẹ cô làm nội trợ. Hiện sống cùng chồng và 3 con tại Boise. Sáng tác văn do ảnh hưởng từ tiểu thuyết lãng mạn The Spanish Rose (tác giả Shirlee Busbee). Độc giả yêu thích văn chương của cô bởi khám phá được hơi thở mới của dòng văn học lãng mạn hiện đại. Bốn cuốn sách của cô đều trong danh sách Top 10 cuốn sách văn học lãng mạn được yêu thích nhất trong năm của Mỹ (Ten Favorite Books of Year của Romance Writer of America). Tiểu thuyết đầu tay Simply Irresistible trong top Sách bán chạy do tờ New York Times và USA Today bình chọn. Một số tác phẩm của Rachel Gibson đã được dịch và xuất bản tại Việt nam của tác giả Rachel Gibson, gồm có: Bí Mật Của Jane Chỉ Thuộc Về Anh Còn Đó Đam Mê Giã Biệt Tình Xa Hẳn Là Yêu Hãy Cứu Em Không Còn Tâm Trạng Để Yêu Không Gì Ngoài Rắc Rối Không Phải Tình Hờ Lola Chạy Trốn Người Đàn Ông Của Tôi Nói Dối Và Hẹn Hò Trực Tuyến Rắc Rối Với Ngày Valentine Thảm Họa Tình Tình Yêu Trở Lại Vương Phải Tình Em Yêu Em Cuồng Si *** Sam LeClaire là một gã khốn điển trai. Ai cũng nghĩ vậy. Tất cả mọi người từ các phóng viên thể thao cho tới các bà mẹ yêu thể thao. Cô gái đang quấn mình trong ga giường của anh cũng nghĩ vậy. Mặc dù cô ta không hẳn là một cô gái. Cô ta là một phụ nữ. "Em không hiểu vì sao em lại không được đi theo." Sam rời mắt khỏi nút thắt cà vạt sọc xanh của mình và nhìn vào cô nàng siêu mẫu trên giường anh qua gương. Tên đầy đủ cô ta là Veronica Del Toro, tuy nhiên, cũng giống như Tyra, Heidi, hay Gisele, mọi người chỉ biết đến tên cô ta. "Bởi vì anh vốn không biết em định đến," anh giải thích lần thứ mười. "Đưa khách đến đột xuất như thế là bất lịch sự." Điều này không phải lý do thật sự. "Nhưng em là Veronica." Chính thế. Đó mới là lý do đấy. Cô ta cư xử khiếm nhã và quá yêu bản thân. Anh cũng không phản đối gì tính cách ấy. Có thể chính bản thân anh cũng thô lỗ và quá yêu mình, nhưng, không như các mẩu tin viết về mình, anh thật sự biết xử sự đúng lúc đúng chỗ. "Em sẽ không ăn nhiều đâu." Mà không cần cố gắng chút nào. Đó là một trong những điều khiến anh khó chịu về Veronica. Cô ta chẳng bao giờ ăn. Cô ta gọi món như thể mình đói ngấu đói nghiến nhưng rồi chỉ gạt gạt thức ăn trên đĩa. Sam thắt nút cà vạt và nghiêng cằm sang một bên khi cài cổ áo. "Anh đã gọi taxi cho em rồi." Qua gương, anh nhìn Veronica nhổm dậy khỏi giường đi về phía mình. Cô ta bước đi trên thảm như thể đang ở trên sàn catwalk. Chân và tay đều dài, ngực bự nhưng hơi cứng ngắc. "Khi nào thì anh quay lại?" cô ta hỏi khi vòng tay quanh eo anh. Cô ta tựa cằm lên vai anh, ngước nhìn anh qua đôi mắt màu nâu sẫm. "Muộn lắm." Anh nghiêng đầu sang một bên, và khi cài chiếc khuy cổ còn lại, anh liếc nhìn chiếc nhẫn to bự có được khi thắng cúp Stanley trên tủ áo. Chiếc nhẫn bằng vàng trắng – xen vàng – gắn một trăm sáu mươi viên kim cương, ngọc lục bảo, và sapphire tạo thành logo của đội bóng trên mặt. Một bên thân khắc hình cúp Stanley cùng năm chiến thắng, bên còn lại là tên và số áo thi đấu của anh. Anh đã tháo nhẫn ra cho Veronica xem nhưng không định đeo vào lại. Dù có là tuýp đàn ông thích đeo đồ trang sức đi nữa, thì chiếc nhẫn khổng lồ kia không chỉ che kín đến tận khớp tay trên ngón tay phải của anh mà còn quá mức phô trương. Kể cả với một gã thích phô trương. "Muộn thế nào?" ... Mời các bạn đón đọc Người Đàn Ông Của Tôi của tác giả Rachel Gibson.