Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Đối Đầu Herlock Sholmès

Chiếc tủ cổ từ thời Napoleon, tấm vé số trúng thưởng một triệu franc, viên kim cương xanh suốt hơn một thế kỉ được bao kẻ truy lùng, ham muốn… Bất kể chúng được cất giữ ở đâu, trong những tòa lâu đài kiên cố hay kề sát ngay bên chủ nhân, chỉ cần muốn, Arsène Lupin sẽ luôn có được chúng, với những mánh lới được tính toán chi li, tỉ mỉ. Bất lực trước những manh mối đi vào ngõ cụt, thanh tra Ganimard buộc phải nhờ đến sự trợ giúp của thám tử lừng danh người Anh Herlock Sholmès. Rốt cuộc màn đấu trí giữa bộ đôi thám tử - kẻ trộm nổi tiếng sẽ có kết quả ra sao? Tiếp theo tập 1 Arsène Lupin – Quý ông kẻ trộm, tập 2 Arsène Lupin đối đầu Herlock Sholmès gồm 8 truyện. Nhân vật chính của truyện, ngoài Arsène Lupin và thanh tra Ganimard như ở phần 1, còn có thêm Herlock Sholmès (viết lái từ Sherlock Holmes) – một thám tử nổi tiếng người Anh. 6 truyện đầu thuật lại lần đối đầu thứ nhất giữa Arsène Lupin và Herlock Sholmes. Còn 2 phần truyện sau là lần đối đầu thứ hai của họ. Ra đời vào năm 1905 tại Pháp, nhân vật kẻ trộm Arsène Lupin được cho là đối lập với vị thám tử lừng danh Sherlock Holmes tựa như tà đối với chính, giang hồ phong lưu với chính nhân quân tử, bỡn cợt hài hước với lạnh lùng nghiêm túc. Chính vì thế, để đáp ứng sự trông đợi của độc giả, Maurice Leblanc đã cho vị thám tử người Anh xuất hiện trong truyện của mình dưới tên gọi được lái đi để tạo nên màn so tài vô tiền khoáng hậu giữa hai nhân vật trinh thám nổi tiếng nhất thế giới. *** “Siêu trộm hào hoa”, “Hoàng tử đạo chích”, “Robin Hood của giới tội phạm”, đó là những mỹ danh được dành tặng cho một trong những nhân vật tiếng tăm nhất của dòng văn học trinh thám phiêu lưu nước Pháp: Arsène Lupin. Ra mắt độc giả vào năm 1905 dưới dạng truyện ngắn dài kỳ trên tạp chí Je sais tout, gã đạo chích thông minh, quyến rũ nhưng không kém phần hài hước và láu cá ấy đã khiến cảnh sát khốn khổ vò đầu bứt tai, cánh nhà giàu ngày đêm lo ngay ngáy vì mất của, còn công chúng thì thích thú tán thưởng và hồi hộp dõi theo những màn trình diễn đầy hấp dẫn và không thể đoán trước kết cục. *** Arsène Lupin là một nhân vật hư cấu xuất hiện trong loạt truyện thám tử, tiểu thuyết trinh thám của nhà văn Pháp Maurice Leblanc, cũng như một số phần tiếp theo và rất nhiều phim truyền hình, phim điện ảnh như Night Hood, Arsène Lupin, các vở kịch và truyện tranh phỏng theo.   Cùng thời với Arthur Conan Doyle, Maurice Leblanc (1864-1941) đã sáng tạo ra nhân vật Arsène Lupin, một nhân vật có tầm phổ biến rộng khắp và lâu dài ở các nước nói tiếng Pháp, giống như Sherlock Holmes (tải eBook) ở các nước nói tiếng Anh. Serie Arsène Lupin gồm hai mươi tập truyện được viết bởi chính Leblanc cộng thêm năm phần tiếp đã được ủy quyền cho nhóm viết của Boileau-Narcejac thực hiện, cũng như nhiều tác phẩm khác phỏng theo. Nhân vật Lupin được giới thiệu lần đầu trên tạp chí Je Sais Tout qua một loạt truyện ngắn, bắt đầu từ số thứ 6, ngày 15 tháng 7 năm 1905. Ban đầu nhân vật mang tên Arsène Lopin, nhưng vấp phải sự phản đối từ một chính trị gia trùng tên, kết quả là "Lopin" đã bị đổi thành "Lupin". Arsène Lupin là một siêu đạo chích có tài hóa trang, một tên trộm quý tộc chuyên trộm đồ của nhà giàu trong khi núp bóng quý ông lịch thiệp. Nhân vật Lupin giống với Marius Jacob nên có khi được cho là dựa trên hình mẫu này.xuất hiện trong 12 tập truyện ngắn đã cho thấy đây là một nhân vật có thể sánh ngang cùng với các nhân vật khác như Holmes cua Conan Doyle, Hercule Poirot cuả Agatha. Hình tượng Lupin đã được nhiều bộ phim nổi tiếng lấy làm mẫu nhân vật như Kaito Kid trong bộ manga nổi tiếng Thám tử lừng danh Conan (tải eBook). *** Maurice Leblanc sinh năm 1864 tại Rouen, Pháp. Tên tuổi của ông thực sự được biết tới và để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng độc giả suốt hơn một thế kỷ qua nhờ series truyện dài kỳ cho tạp chí Je sais tout về nhân vật siêu đạo chích Arsène Lupin. Nhờ những cống hiến không ngừng nghỉ của mình, Leblanc đã được trao tặng Huân chương Bắc Đẩu bội tinh. Ông mất năm 1941 tại Perpignan. Dưới đây là một số tác phẩm của Maurice Leblanc được dịch và xuất bản tại Việt Nam: - Cái chết rình rập - Đối đầu Sherlock Holmes - Sa bẫy địa ngục - Những cú siêu lừa của Arsène Lupin - Những cuộc phiêu lưu của Arsène Lupin - Tám vụ phá án của Arsène Lupin - Ngôi nhà bí ẩn - Báo Thù - Nữ bá tước Cagliostro - Hòn Đảo 13 chiếc quan tài - Hai Nữ Tướng Cướp - Tam giác vàng ma quỷ - Arsene Lupin và Hồi Ức Bí Mật - Vụ Chơi Khăm Ngài Triệu Phú - Cây Kim Rỗng - Lời Thú Tội - ... *** Vào ngày mùng Tám tháng Mười hai năm ngoái, ông Gerbois, giảng viên môn Toán trường Cao đẳng Versailles, trong khi lục tung một cửa hiệu đồ cổ đã khám phá ra chiếc bàn viết gỗ gụ khiến ông rất đỗi hài lòng, vì nó có vô số các ngăn kéo. “Đúng là thứ thích hợp để làm quà sinh nhật cho Suzanne.” Ông nghĩ. Và vì ông vốn vẫn luôn luôn cố gắng đem đến những niềm vui giản dị cho con gái, phù hợp với thu nhập khiêm tốn của mình, ông hỏi giá, rồi sau khi mặc cả hết sức gắt gao, ông đồng ý trả sáu mươi lăm franc. Ông đang đưa địa chỉ cho người chủ cửa hiệu thì một thanh niên phục sức tao nhã, lịch duyệt trước đó đã xem xét các đồ vật khác – trông thấy chiếc bàn và ngay lập tức hỏi giá. “Đã có khách mua rồi.” Người chủ cửa hiệu nói. “A! Tôi đồ là ông này!” Ông Gerbois cúi chào rồi rời khỏi cửa hiệu, khá hãnh diện được sở hữu một món đồ mà ngay đến một thanh niên quyền quý cũng chú ý, quan tâm. Nhưng chưa đầy mươi bước chân, chàng thanh niên đã vượt lên phía trước ông. Mũ cầm trong tay, anh ta nói với ông bằng giọng cực kỳ lịch thiệp: “Thưa ông, xin lỗi ông, tôi muốn hỏi ông một câu mà ông có lẽ sẽ cho là không phải phép. Câu hỏi là liệu ông có mục đích đặc biệt gì khi mua chiếc bàn viết đó không?” “Không, tôi tình cờ bắt gặp và tự dưng thấy thích thôi.” “Tuy nhiên ông không quá thích nó chứ?” “Ồ! Tôi sẽ giữ nó, vậy thôi.” “Vì nó là một món đồ cổ, có lẽ thế chăng?” “Không, vì nó tiện lợi.” Ông Gerbois tuyên bố. “Trong trường hợp đó, ông bằng lòng đổi nó lấy chiếc bàn khác cũng hoàn toàn tiện lợi như thế mà tình trạng còn tốt hơn?” “Ồ! Chiếc bàn này đủ tốt rồi, và tôi thấy chả có lý do gì để đổi lấy chiếc khác.” “Nhưng…” Ông Gerbois tính khí dễ cáu kỉnh, nên ông đáp gắt gỏng: “Thưa ông, xin lỗi ông, ông đừng nài nỉ.” Chàng thanh niên vẫn khăng khăng: “Thưa ông, tôi không biết ông đã trả bao nhiêu tiền, nhưng tôi xin trả ông gấp đôi.” “Không.” “Gấp ba.” “Ô! Đủ rồi.” Ông thầy giáo kêu lên một cách sốt ruột. “Tôi không muốn bán nó.” Chàng thanh niên nhìn ông chằm chằm theo cái cách khiến ông chẳng dễ dàng quên đi được, rồi vội vã quay bước. Một tiếng đồng hồ sau, chiếc bàn được đưa đến nhà ông thầy giáo trên đường Viroflay. Ông gọi bảo con gái: “Cha có cái này cho con, miễn là con thấy thích.” Suzanne là cô gái xinh đẹp, bản tính vui vẻ, nồng nhiệt. Cô ôm cổ cha, sung sướng hôn ông. Đối với cô, chiếc bàn trông đúng là một món quà hết sức vương giả. Buổi tối hôm đó, với sự giúp đỡ của người đầy tớ Hortense, cô kê chiếc bàn vào phòng mình, rồi cô phủi bụi, lau sạch sẽ các ngăn kéo, các hộc, cẩn thận xếp giấy tờ, bút, mực, thư từ, bưu thiếp, và vài món đồ lưu niệm của ông anh họ Philippe mà cô bí mật cất giữ vào các ngăn kéo. Bảy rưỡi sáng hôm sau, ông Gerbois đến trường. Lúc mười giờ, theo thông lệ, Suzanne ghé đến chỗ cha, và ông sung sướng được trông thấy cái dáng mảnh mai, nụ cười thơ trẻ của cô con gái đợi mình ở cổng trường. Hai cha con cùng trở về nhà. “Chiếc bàn viết của con… tình hình nó sáng hôm nay thế nào?” “Tuyệt vời! Hortense và con lau những cái núm bằng đồng cho tới lúc chúng trông như làm bằng vàng ấy.” “Vậy là con hài lòng với nó?” “Hài lòng với nó ư? Ôi, con không biết làm sao con có thể sống không có nó suốt bao nhiêu lâu nay.” Khi hai cha con đang đi trên lối dẫn vào nhà, ông Gerbois nói: “Chúng ta sẽ ngắm nó một chút rồi mới ăn sáng nhé?” “Ồ! Vâng, ý tưởng tuyệt vời đấy ạ!” Suzanne lên cầu thang, đi phía trước cha, nhưng đến cửa phòng mình, cô kêu lên đầy choáng váng, kinh ngạc. “Có chuyện gì thế?” Ông Gerbois lắp bắp hỏi. “Chiếc bàn viết biến mất rồi!” Khi cảnh sát được gọi tới, họ sửng sốt trước cái cách đơn giản đáng thán phục mà tên trộm áp dụng. Trong lúc Suzanne đi vắng, người đầy tớ ra chợ, và vì thế ngôi nhà chẳng có ai trông, một gã đánh xe, đeo huy hiệu hẳn hoi – mấy người hàng xóm láng giềng đã trông thấy – dừng xe phía trước ngôi nhà, rung chuông hai lần. Tưởng Hortense ở nhà, những người hàng xóm chẳng hề ngờ vực, do đó gã kia tiếp tục hành động một cách êm thấm, lặng lẽ. Ngoài chiếc bàn, ngôi nhà không mất mát gì nữa. Thậm chí chiếc xắc Suzanne đặt trên chiếc bàn đó cũng được đặt sang chiếc bàn bên cạnh, các thứ đựng bên trong hoàn toàn chẳng bị động đến. Rõ ràng tên trộm đã có ý đồ từ trước, điều này làm cho vụ việc bí ẩn thêm, vì tại sao hắn sẵn sàng liều lĩnh đến thế chỉ để đổi lấy một vật rất chi bình thường? Manh mối duy nhất ông thầy giáo có thể cung cấp là sự kiện lạ lùng của buổi tối hôm trước. Ông khai: “Gã thanh niên vô cùng bực bội vì bị tôi từ chối. Tôi có cảm tưởng lúc gã bỏ đi, gã đã đe dọa tôi.” Nhưng manh mối đó là một manh mối mơ hồ. Người chủ cửa hiệu không thể làm sáng tỏ gì vụ việc. Ông ta cũng không biết gã thanh niên kia. Còn về chiếc bàn, ông ta mua nó với giá bốn mươi franc từ một người thi hành di chúc ở Chevreuse, và tin tưởng rằng mình đã bán lại nó với giá phù hợp. Cảnh sát không điều tra ra kết quả gì hết. Nhưng ông Gerbois cứ ôm ấp cái ý nghĩ là ông phải chịu một tổn thất hết sức lớn lao. Ắt hẳn đã có một gia tài được cất giấu trong một ngăn kéo bí mật, và vì thế mà gã thanh niên đã ra tay đoạt lấy nó. “Cha tội nghiệp của con, chúng ta sẽ làm gì với cái gia tài đó chứ?” Suzanne hỏi. “Con ơi! Với một gia tài như thế, hôn sự của con có thể vô cùng thuận lợi đấy.” Suzanne thở dài đầy chua chát. Cô có ước ao ai hơn ông anh họ Philippe đâu, kẻ thực ra rất đỗi tồi tệ. Và cuộc sống trong ngôi nhà nhỏ ở Versailles này chẳng còn sung sướng, mãn nguyện như xưa. Hai tháng trôi qua. Xuất hiện những sự việc liên tiếp đáng chú ý, vận may lẫn với bất hạnh khủng khiếp! Ngày đầu tiên của tháng Hai, lúc năm rưỡi, ông Gerbois bước vào nhà, cầm trên tay tờ báo buổi chiều, ngồi xuống, giương mục kỉnh và bắt đầu đọc. Vì chẳng quan tâm đến chính trị, ông giở các trang bên trong. Ngay lập tức, ông chú ý tới một mục có đầu đề: Đợt quay số thứ ba của giải Xổ số Hiệp hội Báo chí Vé số 514, series 23, trúng một triệu franc Tờ báo tuột khỏi tay ông Gerbois. Các bức tường xoay mòng mòng trước mắt ông, và tim ông không đập nổi nữa. Ông đang giữ tờ vé số 514, series 23. Ông đã mua tờ vé số từ một người bạn nhằm mục đích giúp đỡ người bạn đó, chứ không hề có ý nghĩ sẽ trúng giải, và ngạc nhiên chưa, nó lại là con số may mắn! Ông Gerbois hấp tấp rút cuốn sổ ghi chép ra. Phải, ông nhớ hoàn toàn chính xác. Con số 514, series 23, được ghi ở mặt trong bìa. Nhưng còn tấm vé xổ số! Ông Gerbois lao tới bàn làm việc của mình, tìm chiếc hộp đựng phong bì đã cất tấm vé xổ số, tuy nhiên chiếc hộp không thấy ở đó, và ông bất chợt nhận ra ông không thấy nó ở đó đã vài tuần nay. Ông nghe thấy tiếng bước chân trên lối đi rải sỏi dẫn từ phố vào. Ông gọi: “Suzanne! Suzanne!” Cô vừa đi dạo về. Cô vội vã bước vào nhà. Ông Gerbois nghẹn giọng lắp bắp: “Suzanne… chiếc hộp… chiếc hộp đựng phong bì?” “Chiếc hộp nào ạ?” “Chiếc hộp cha mua ở Bảo tàng Louvre… một hôm thứ Bảy… nó được bày ở phía cuối bàn.” “Cha, cha không nhớ à, chúng ta đã cất tất cả những thứ đó vào một chỗ với nhau.” “Bao giờ?” “Buổi tối hôm ấy… cha biết mà… đúng cái buổi tối hôm ấy…” “Nhưng cất chỗ nào?… Nói đi, mau mau con!… Chỗ nào?” “Chỗ nào ư? Ô kìa, trong ngăn kéo cái bàn viết ấy cha.” “Cái bàn viết đã bị trộm?” “Vâng.” “Ôi, trời đất!… Trong cái bàn viết đã bị trộm!” Ông Gerbois hạ giọng nói câu cuối cùng, với vẻ như choáng váng, ngơ ngẩn. Rồi ông tóm lấy bàn tay của cô con gái, hạ giọng hơn nữa, nói: “Một triệu trong đó đấy, con ơi!” “Ôi! Sao cha chẳng nói với con?” Suzanne ngây thơ lẩm bẩm. “Một triệu!” Ông Gerbois lặp lại. “Nó đựng tấm vé xổ số trúng giải nhất của Hiệp hội Báo chí.” Mức độ khủng khiếp của tai họa áp đảo họ hoàn toàn, và hai cha con im lặng hồi lâu, không dám cất lời phá vỡ sự im lặng ấy. Cuối cùng, Suzanne nói: “Nhưng, cha ạ, người ta sẽ vẫn trả tiền cho cha thôi.” “Bằng cách nào? Dựa trên chứng cứ nào?” “Cha nhất thiết phải có chứng cứ ạ?” “Đương nhiên.” “Và cha không có chứng cứ gì?” “Nó nằm trong chiếc hộp.” “Trong chiếc hộp đã biến mất.” “Phải, và bây giờ thì tên trộm sẽ lĩnh tiền.” “Ôi! Cha ơi, thế thì kinh khủng quá. Cha phải ngăn chặn việc này.” Ông Gerbois không nói gì một lát, rồi trong cơn bột phát sức lực, ông nhảy chồm chồm trên sàn, kêu lên: “Không, không, hắn sẽ không có được một triệu đó, hắn sẽ không có được! Sao hắn có được chứ? A! Khôn ngoan như hắn cũng chẳng thể làm gì. Nếu hắn đi lĩnh tiền, người ta sẽ gô cổ hắn lại. A! Bây giờ thì chúng ta cứ chờ xem, anh bạn quý hóa!” “Cha, cha sẽ làm gì?” “Bảo vệ quyền lợi chính đáng của chúng ta, cho dù là có chuyện gì xảy ra! Chúng ta sẽ thắng lợi. Một triệu franc đó thuộc về cha, và cha dự định lĩnh nó.” Mấy phút sau, ông Gerbois đã đánh đi bức điện như sau: Gửi ngài Giám đốc Ngân hàng Tín dụng Nhà đất Đường Capucines, Paris Tôi là chủ nhân tờ vé số 514, series 23. Bằng mọi biện pháp pháp lý, tôi phản đối bất cứ người nào khác đòi lĩnh giải. GERBOIS Gần như cũng cùng lúc ấy, bức điện sau đây được chuyển đến Ngân hàng Tín dụng Nhà đất: Tờ vé số 514, series 23, đang nằm trong tay tôi. ARSÈNE LUPIN Mỗi lần tôi bằng lòng thuật lại một trong số những câu chuyện phiêu lưu mạo hiểm phi thường đánh dấu cuộc đời của Arsène Lupin, trong tôi đều xuất hiện cảm giác ngượng ngùng, xấu hổ, vì đối với tôi, có vẻ là các độc giả đã biết rất rõ những câu chuyện phiêu lưu mạo hiểm cũ rích ấy rồi. Thực tế, không một vụ việc nào do tên trộm của nhân dân (cái cách gọi hết sức phù hợp) tiến hành mà lại chưa được phổ biến rộng rãi tới quảng đại quần chúng, không một kỳ tích chói lọi nào mà lại chưa được nghiên cứu trên đầy đủ mọi phương diện, không một hành vi, hoạt động nào mà lại chưa được bàn luận cặn kẽ theo kiểu vốn vẫn chỉ dành cho những hành vi, hoạt động quả cảm, anh hùng. Chẳng hạn, ai mà không biết câu chuyện kỳ lạ về Tiểu thư Tóc vàng, với các chương chứa đựng những tình tiết khác thường, được các báo chạy tít đen đậm, như Tấm vé xổ số 514, series 23!… Tội ác trên đại lộ Henri-Martin!… Viên kim cương xanh!…Người ta quan tâm chú ý vì có sự tham gia điều tra của viên thám tử lừng danh Anh quốc, Herlock Sholmès! Người ta thấy hồi hộp ly kỳ vì những cuộc chiến đấu chẳng lần nào giống lần nào giữa những nghệ sĩ tiếng tăm lừng lẫy ấy! Và sự chấn động trên đường phố mới lớn làm sao, cái ngày mà những thằng bé bán báo rao to: “Arsène Lupin đã bị bắt!” Lý do để tôi nhắc lại những câu chuyện này vào thời điểm này là vì chính tôi sẽ cung cấp chiếc chìa khóa mở cánh cửa bí ẩn. Những chuyến phiêu lưu mạo hiểm kia dù ít dù nhiều từ trước tới nay đều bị một màn sương mờ bao phủ, và tôi bây giờ sẽ xóa tan đi màn sương mờ này. Tôi sao chép những bài báo cũ, tôi xem xét các bức thư xưa, tôi liên kết các cuộc phỏng vấn từng diễn ra, nhưng tôi đã sắp xếp, phân loại tất cả những thứ đó và quy chúng về sự thật hoàn toàn. Hợp tác với tôi thực hiện việc này chính là Arsène Lupin, ngoài ra có cả Wilson – người bạn cực kỳ tâm phúc của Herlock Sholmès nữa. Hết thảy mọi người sẽ nhớ lại tràng cười dữ dội chào đón hai bức điện được công bố. Cái tên Arsène Lupin bản thân nó đã kích thích thói hiếu kỳ, hứa hẹn là trò tiêu khiển cho đám khán giả bình dân. Và, trong trường hợp này, đám khán giả bình dân chính là toàn bộ thế giới. Ngân hàng Tín dụng Nhà đất ngay lập tức mở một cuộc điều tra và đã xác minh được những thông tin sau: Tấm vé xổ số 514 đã được văn phòng chi nhánh Versailles của Công ty Xổ số bán cho một sĩ quan pháo binh tên là Bessy, người sau đó tử vong do ngã ngựa. Trước khi qua đời ít lâu, ông ta có nói với các đồng đội của mình là đã bán lại tấm vé xổ số cho một người bạn. Mời các bạn đón đọc Đối Đầu Herlock Sholmès của tác giả Maurice Leblanc.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Trái Tim Mách Bảo - Susanna Tamaro
TRÁI TIM MÁCH BẢO là tự sự trong những ngày sống cuối cùng của một người bà thông qua những bức thư không gởi dành cho đứa cháu gái duy nhất đang ở rất xa mình. Về nhiều khía cạnh, lời tự sự cũng là lời tự thú của người bà về những bí mật mà bà đã tưởng sẽ mang theo xuống mồ về ông ngoại thật sự, về ông bố vô danh và người mẹ đầy những hoang mang của cô bé. Trên hết, đây không chỉ là những chi tiết giật gân về những bí ẩn cuộc đời mà là những suy tưởng rất sâu sắc, đầy trải nghiệm và chan chứa yêu thương về tình yêu, về cái chết, về cả sự đúng đắn trong hành xử của con người... Bối cảnh của câu chuyện này là ở Opicina, Trieste, nước Ý. *** Hai tiểu thuyết Trái tim mách bảo và Lắng nghe yêu thương là những trải nghiệm về tình yêu cuộc sống. Trái tim mách bảo là tự sự trong những ngày sống cuối cùng của một người bà thông qua những bức thư không gởi dành cho đứa cháu gái duy nhất đang ởrất xa mình. Lời tự sựcũng là lời tựthúcủa người bà về những bí mật mà bà đã tưởng sẽ mang theo xuống mồ về ông ngoại thật sự, về ông bố vô danh và người mẹ đầy những hoang mang của cô bé. Trên hết, đây không chỉ là b íẩn cuộc đời mà là những suy tưởng rất sâu sắc, đầy trải nghiệm và chan chứa yêu thương về tình yêu, về cái chết, về sự hành xử của con người... Lắng nghe yêu thương là những suy tư trong hành trình đi tìm lại cội rễ của chính mình của một cô gái trẻ người Ý gốc Do Thái, vốn chỉ biết mình sinh ra lúc 4 tuổi khi được chuyển đến sống với một người bà yêu mình hơn cả mẹ. Hành trình đi tìm lại cội rễ của cô gái cũng là hành trình chuyển hóa nhận thức và tình cảm của cô đối với những con người đã ban cho mình cuộc sống. Tủ sách sống đẹp cũng tuyển chọn những câu chuyện hay, thú vị về cuộc sống: Cảm ơn cuộc đời. Những câu nói, những mẩu chuyện truyền cảm hứng trong quyển sách này giúp độc giả biết yêu quý cuộc sống hiện tại của mình, trân trọng những gì mình đang có, và sẽ sống trọn vẹn và lạc quan hơn. Lạc quan để vui sống: Trong cuộc sống hối hả và bận rộn ngày nay, dường như ai cũng bị cuốn vào vòng xoáy của công việc và nhiều thứ khác. Đôi lúc thành công, vui vẻ, có lúc thất bại, nhiều người lại nản lòng. Lạc quan là một thái độ tiên quyết cho niềm hạnh phúc và thành công của mỗi người. Honey, I love You: Như một lời yêu gửi tặng những người đã, đang và sẽ yêu, quyển sách gồm những câu chuyện hay và ý nghĩa về tình yêu, những câu nói sâu sắc và có khi dí dỏm về tình yêu, và những lời tỏ tình của chàng trai dành cho cô gái cũng như ngược lại... *** Susanna Tamaro sinh năm 1957 tại Trieste - một thành phố nằm ở đông bắc nước Ý. Tác phẩm Trái tim mách bảo của Susanna ngay từ khi ra mắt đã được đón nhận rất nồng nhiệt và nhanh chóng trở thành cuốn sách được mua nhiều nhất trong thế kỷ 20 tại Ý, và sau đó được dịch ra gần 40 thứ tiếng. *** Cháu đi đã được hai tháng rồi, và trong suốt hai tháng ấy bà chẳng nhận được tin tức gì ngoài tấm bưu thiếp vỏn vẹn lời nhắn rằng cháu vẫn còn sống. Sáng nay, lúc ở trong vườn, bà đứng trước cây hoa hồng của cháu rất lâu. Dù trời đã sang thu, cây hoa hồng vẫn trổ hoa đỏ rực, đứng ngạo nghễ giữa những bụi cây tàn úa khác. Cháu còn nhớ lúc bà cháu mình trồng nó chứ? Lúc đó cháu chỉ mới mười tuổi đầu và vừa đọc xong cuốn Hoàng Tử Bé, món quà bà tặng cháu nhân dịp học hết lớp Năm. Cháu đã yêu cuốn sách ấy biết nhường nào. Trong tất cả các nhân vật, cháu yêu nhất cây hoa hồng và con cáo; cháu không thích cây bao báp, con rắn, người phi công hay bất kỳ gã đàn ông rỗng tuếch và kiêu ngạo nào trên những tiểu hành tinh. Và rồi vào một buổi sáng nọ lúc đang ăn sáng, cháu bảo rằng, “Cháu muốn một cây hoa hồng.” Khi bà phản đối vì chúng ta đã có rất nhiều hoa hồng trong vườn, cháu vẫn cương quyết, “Cháu muốn một cây của riêng cháu cơ, cháu muốn chăm nó và giúp nó lớn thật cao.” Dĩ nhiên là ngoài cây hoa hồng, cháu còn muốn một con cáo. Cháu bé bỏng của bà thật ranh mãnh khi biết đề nghị thứ đơn giản trước một thứ khác hầu như không thể thực hiện được. Làm sao bà có thể từ chối con cáo khi đã đồng ý về cây hoa hồng chứ? Thế là chúng ta đã tranh luận thật lâu, và cuối cùng thỏa hiệp rằng cháu sẽ có một con chó. Đêm trước khi đi gặp con chó cháu đã không hề chợp mắt. Cứ mỗi nửa tiếng đồng hồ cháu lại gõ cửa phòng bà và nói, “Cháu không ngủ được.” Trước bảy giờ sáng hôm sau, cháu đã tắm rửa, ăn mặc chỉnh tề, dùng xong bữa sáng, rồi mặc sẵn áo khoác và ngồi đợi bà trên chiếc ghế bành. Đúng tám giờ rưỡi bà cháu mình có mặt tại cổng Trại thú nuôi khi nó còn chưa mở cửa. Cháu liên tục ngó qua song sắt và hỏi, giọng đầy lo lắng, “Làm sao biết con nào là của cháu hở bà?” Bà cố gắng trấn an cháu rằng, đừng quá lo, cứ nhớ cách Hoàng Tử Bé thuần phục con cáo là được thôi mà. ... Mời các bạn đón đọc Trái Tim Mách Bảo của tác giả Susanna Tamaro.
Nữ Quái - Đào Hiếu
C hương trình tivi chiều chủ nhật chiếu lại một trận bóng đá buồn tẻ. Duy nhìn sững vào màn ảnh nhỏ, cố quên đi khuôn mặt đẫm máu của cô gái trên đường phố. Mặt úp xuống đất, tóc sổ tung, đôi xăng-đan quai trắng văng ra và hai bàn chân tái mét phơi trần giữa nắng chói chang. Mẹ kiếp, tai nạn giao thông có khi cũng như một nước cờ đi lầm, một đường chuyền không chính xác trong bóng đá. Nếu cô gái chọn một vị trí khác để băng qua đường có lẽ chiếc Honda 67 xoáy nòng quỷ quái kia đã không phóng vào người cô rồi đâm vào gốc cây. Chiếc xe gãy gập, tên đua xe bị bắn tung lên như quả banh da và rớt xuống đất, xì hơi, xẹp lép. Một thằng nhóc trạc mười sáu mười bảy tuổi. Một cơn điên tốc độ. Một sự rửng mỡ ngu xuẩn. Và hai mạng người. Trung úy Duy tắt tivi. Các đồng đội anh đang đánh cờ tướng trên băng ghế đá nên chẳng ai để ý. Duy bỏ vô phòng. Anh ngủ được một giấc ngắn và tỉnh dậy trong bóng tối của một căn phòng đầy muỗi. Tắm xong, Duy vừa định đi ăn cơm chiều thì chuông điện thoại reo. Lại thêm một tai nạn giao thông khác. Khi Duy đến nơi thì chiếc xe du lịch đang bốc cháy. Người bu đông nghẹt hiện trường. Cô dâu bị xé rách áo cưới và đánh bầm mặt. Chú trể thì chảy máu mũi, phải dùng khăn tay bịt vết thương. Những cánh hồng đỏ chói tung tóe trên mặt đường, bị đám đông dày nát. Cô dâu ôm mặt khóc. Mọi người nháo nhác tìm cách đưa các nạn nhân đi bệnh viện. Giao thông bị tắt nghẽn. Chỉ khi xe cứu hỏa đến thì đám đông mới dãn ra. Người ta thắc mắc: - Chẳng lẽ một cô dâu xinh đẹp mong manh như thế lại là tình địch của "nữ quái xa lộ" sao? Tình địch quái gì, Duy nghĩ thầm, anh quá rành tay nữ quái này. Và cả con mẹ sồn sồn ngồi phía sau. Một băng đâm thuê chém mướn chuyên nghiệp. Có điều là lần này nữ quái quá táo bạo và chơi ngông: Mặc áo bà ba màu xanh két, quần xoa đen, hiền lành như cô thôn nữ, vậy mà cưỡi chiếc xe 250 phân khối dềnh dàng, án ngữ trước đầu chiếc xe hoa, chĩa thẳng khẩu AK bá xếp, ra lệnh: - Tất cả xuống xe! Con mẹ sồn sồn ngồi phía sau nhào tới, vung quyền cước đấm đá lia lịa vào cô dâu bé bỏng, đánh dạt cả chú rể. Trước họng súng đen ngòm, mọi người lấm lét nhìn trận đòn thù. ° Mười giờ sáng hôm sau, Vân đến tìm trung úy Duy tại tụ sở Ðội cảnh sát giao thông, nước mắt ràn rụa: - Anh đến bệnh viện với em ngay bây giờ. - Chuyện gì vậy? Vân không trả lời, đạp máy xe và trao tay lái cho Duy. Duy vọt ra đường. Người đi như những quân cờ đen kịt trên đường phố. Xe, pháo, mã… và những con chốt sẵn sàng bị hy sinh nếu một kẻ nào đó liều lĩnh hoặc ngu dốt, hoặc không chấp hành luật giao thông. Vân gục đầu vào vai Duy, khóc tức tưởi. Duy đâm cáu: - Thì em phải nói cho anh biết chuyện gì chớ! ... Mời các bạn đón đọc Nữ Quái của tác giả Đào Hiếu.
Mười Điều Tôi Học Được Về Tình Yêu - Sarah Butler
Tại London, một cô gái trở về cạnh người cha đang hấp hối sau chuyến đi du lịch dài ngày. Trong lòng cô, cha cô không phải là người cha lý tưởng. Khi ở cạnh chăm sóc cha cùng người nhà, cô nhận ra được nhiều điều trước nay mình chưa biết. Một người cha nay đã 60 tuổi vẫn là một kẻ lang thang, ông không còn bất kỳ tài sản gì trừ tình yêu với đứa con gái nhiều năm không gặp. Ông vẫn đi tìm, và thể hiện tình yêu đó theo cách của một ông già không có gì trong tay làm được. Hành trình suy tưởng của hai nhân vật này về tình cha con, tình gia đình và những gì có được trong đời rất cảm động. *** Xếp thành một góc vuông, họ nằm xuống giữa quảng trường Trafalgar đầy nắng, nhìn lên bầu trời London và tự do ngắm mặt trời. "Cảm giác như ta đang bay, giống như tôi mới là vật dịch chuyển chứ không phải những đám mây kia. Nếu tôi liếc qua hết góc nhìn, tôi sẽ thấy được đỉnh các tòa nhà - South Africa House, Canada House, Nhà triển lãm Quốc gia, nhà thờ St Martin-in-the-Fields và phần thân trên của những người qua lại. Một cách chim hải âu lượn vào tầm mắt rồi đi mất. Tôi dõi theo đường bay chạm chạp, yên lặng của một chiếc máy bay, nghĩ tới hành khách trên đó đang nhìn xuống chúng tôi, thấy London càng lúc là nhỏ lại. Họ sẽ nhận biết hình dáng những tòa nhà, nhưng còn người ta - gồm có tôi, ông Daniel và mọi người quanh đây - sẽ vô hình đối với họ. Tôi nghĩ chắc lâu lâu nữa tôi mới lại ngồi trong một chiếc máy bay, nhìn thế gian teo tóp lại thành những khối tí hon bên dưới. Người ta đi vòng quanh chúng tôi; tôi nhận biết sức nặng của họ, nghe những câu chữ đứt đoạn của họ lơ lửng trong không khí một lúc rồi mới tan biến. Tôi nghĩ về lời ông Daniel nói: nếu cháu đứng yên một chỗ đủ lâu, cháu sẽ cảm thấy nơi ấy là nhà." (Trích tiểu thuyết Anh "10 điều tôi học được về tình yêu") "10 điều tôi học được về tình yêu" được viết rất đẹp ở các chi tiết nhỏ, với những nếp gấp bí mật giấu kín mà tác giả Sarah Butler chỉ bung mở dần dần qua từng đoạn tự sự, từng chương. Những độc giả chậm rãi sẽ vô cùng yêu thích, nhưng những độc giả thực dụng hơn lại có thể cảm thấy khó chịu vì sự dài dòng. Đây là một cuốn tiểu thuyết đầu tay được cả New York Times, Business Insider lẫn Independent để mắt và dành cho những lời động viên, khích lệ. Chứa đựng những nét riêng đặc sắc, Sarah Butler có cách xây dựng ngôn ngữ đầy màu sắc và biểu cảm. Sử dụng kĩ thuật viết hai giọng, nhà văn Anh trẻ tuổi cũng đan cài triết lý của đạo Phật để gỡ giải một trong những nút thắt quan trọng nhất cho nhân vật của mình. Alice - nhân vật chính của câu chuyện là một cô gái 28 tuổi, vóc người nhỏ nhắn với mái tóc đỏ xinh đẹp. Cô yêu tự do và cảm thấy xa lạ trong chính ngôi nhà của mình. Alice đã lang bạt ở tận Mông Cổ trước khi vội vã trở về nhà vì nhận được tin cha đang hấp hối. Ngôi nhà vốn xa lạ với cô. Alice chỉ cảm thấy, mà không thể nhận biết những bi kịch của cha mẹ trước khi cô ra đời. Đó là sự quấn quyện của tình yêu, chịu đựng, sự tùy hứng, lòng yêu tự do và mọi điều khác biệt nữa giữa cha và mẹ - dù cả hai đều là người tốt. Sự khác biệt giữa hai bọn họ đã làm nảy sinh bi kịch trước khi Alice ra đời. Nếu như trong nhiều câu chuyện khác, việc ngoại tình của người đàn ông thường hay xảy đến hơn và người phụ nữ đóng vai trò cam chịu, thì trong gia đình Alice là trường hợp ngược lại. Mẹ cô là một người phụ nữ đẹp và phóng khoáng - nhưng đồng thời bà cũng đã là một người mẹ đã gắn chặt trách nhiệm với gia đình và con cái, không thể bỏ đi theo tiếng gọi của tình yêu... Người đàn ông vô gia cư mang tên Daniel được nhắc đến ở trong đoạn trích có liên hệ mật thiết với cuộc đời của Alice và mẹ cô. Trước đây, ông từng là một họa sĩ trẻ tài năng, một người say mê màu sắc và có tài trang trí. Một người mà mẹ Alice từng cảm thấy đó là lối thoát của cuộc đời mình. Với những nhân vật có phần lạc lối xuyên suốt trong tác phẩm, cuốn sách dần được khép lại một cách thanh thản, an yên chứ không hề đau thương hay bi lụy. Ở cảnh cuối, một ông già vô gia cư và một cô gái trẻ xếp thành góc vuông trên mặt đất, ngắm hoàng hôn buông dần trên quảng trường London. Họ gọi đó là tự do và đứng yên để thành phố mở lòng ra đón nhận. Một tác phẩm bình dị, chan chứa tình yêu thầm kín, hơi ấm của gia đình, và cả sự vị tha. *** Mười lý do để ở lại 1. Bà chị cả có thai. 2. Bà chị kế có khả năng lấy đó làm cớ sinh sự. 3. Tôi mệt mỏi. 4. Đôi khi tôi cảm thấy như đi trong vòng tròn lẩn quẩn. 5. Tôi ghét những căn phòng khách sạn. 6. Tôi ghét chứng đờ đẫn sau chuyến bay. 7. Tôi có thể làm quen ai đó. Quỷ thật, có khi tôi lấy chồng rồi đẻ con luôn ấy chứ. 8. Bố muốn tôi ổn định cuộc sống, ông lo ngày lo đêm chuyện tôi cứ bay tới những miền đất xa lạ. 9. Hai bà chị nghĩ lúc nào tôi cũng trốn chạy. 10. Tôi muốn ngừng trốn chạy. Tôi chà chà tràng hạt nhựa vào ngực, đi theo ông Daniel qua bãi cỏ, xuống Đồi Nghị Viện. Không hiểu sao tôi lại đeo chuỗi hạt ấy vào. Chắc trông tôi ngố lắm. Hạt dẻ ngựa gõ vào xương ức khi tôi bước đi. Hồi còn nhỏ tôi hay lượm lặt dẻ ngựa, gom lại thành cả bụm bóng loáng. Rồi mỗi năm qua đi, tôi lại buồn bã khi vỏ hạt mờ dần, nhăn lại, dù tôi biết trước là chúng sẽ như vậy. Trước đường chạy bộ, ông Daniel quành sang trái, băng qua khoảng sân quần vợt, nhà hóng mát, quán ăn có cửa kính, rồi ngang hồ bơi ngoài trời, xuống nhà ga Gospel Oak. Chúng tôi đứng chỗ những ngọn đèn, và tôi tự hỏi những người lái xe ngang qua nghĩ gì, họ có thấy một cô gái trẻ - người đã ngủ một mình ngủ dưới tán cây trong công viên Hamstead Heath – đứng cùng một ông già, thoáng nhìn qua cũng biết chắc là kẻ không nhà. Họ sẽ không để ý, mà nếu có cũng không quan tâm làm chi. Tôi sờ túi quần jean kiểm tra xem mảnh bìa cứng còn nguyên không. Trước khi tới một dãy căn hộ cao tầng xây bằng gạch tối màu kiểu thập niên bảy mươi, chúng tôi băng qua một khu toàn những dãy nhà gạch sơn phết đẹp đẽ, dây tử đằng bò quanh, hàng rào thuỷ lạp xén tỉa gọn gàng. Rồi lên cầu. Ông Daniel dừng giữa cầu, chúng tôi nhìn qua lưới lan can cầu xuống những đường ray thẳng tắp bên dưới. “Nếu bây giờ ông có thể tới bất kỳ nơi nào, ông chọn đi đâu?” Một chuyến xe lửa vụt qua, cây cầu rùng mình dưới chân chúng tôi. Ông Daniel rà ngón tay dọc lan can, tạo ra những tiếng trầm trầm. “Tôi sẽ ở lại đây,” ông nhìn tôi đáp. Đêm ấy tôi nằm mơ thấy ông – một cơn mơ vừa thật, vừa khiến tôi hoang mang. Cả hai tháo bàn tay ra cứ như búp bê, rồi đổi cho nhau. Có điều khi tôi nhìn lại, tôi thấy từ cổ tay trở xuống là tay của chính mình. Lúc tôi thức dậy thì ông đã ở đó, rồi kỳ lạ một nỗi, tôi nghe như đang ở trong căn nhà thật sự của mình. Tôi có thoáng nghĩ qua, rằng có lẽ ông và mẹ tôi... Nhưng điều ấy thật ngớ ngẩn, tôi không muốn nhớ tới nữa. Tôi quý ông, chỉ vậy thôi. “Tôi sẽ đi Inverness, hoặc đâu đó xa hơn về hướng bắc. Tôi sẽ tới cực bắc của Scotland rồi bắt thuyền qua Iceland, hoặc đâu đó ở Na Uy. Tôi sẽ đi ngắm bắc cực quang, vì đã xem qua nhiều hình ảnh mà thấy giả giả thế nào.” Ông cười, nhưng có chiều buồn bã, nên tôi im. Chúng tôi bước tiếp, ngang qua một toà nhà đơn độc, tua tủa xung quanh là những bảng Cho thuê, có xe máy và chậu cây cùng những lá cờ đội bóng dán trên kính ban công đã phai mờ. Chúng tôi tiến vào sự hỗn độn của con đường Kentish Town, đến khi ông quặt sang khúc cong ngõ St. Pancras, men theo bên trái đến khu Agar Grove. Chúng tôi không chuyện trò mấy, nhưng kỳ lạ là nhịp bước cả hai dường như đang nói chuyện với nhau. Cứ một lúc ông Daniel lại dừng và nhặt gì đó lên – một nắp chai màu vàng kim; một cái nút vàng giữa có một cái sao; một cây đinh gập thành góc vuông. Ông nhìn nhìn những thứ ấy, rồi cho vào túi. “Tôi thích áo khoác của ông,” tôi nói. Ông bật cười. “Một gã tên là Thợ Săn cho tôi đó.” “Thợ Săn à?” ... Mời các bạn đón đọc Mười Điều Tôi Học Được Về Tình Yêu của tác giả Sarah Butler.
Lắng Nghe Yêu Thương - Susanna Tamaro
LẮNG NGHE YÊU THƯƠNG là những suy tư trong hành trình đi tìm lại cội rễ của chính mình của một cô gái trẻ người Ý gốc Do Thái, vốn chỉ biết mình ‘sinh ra lúc 4 tuổi' khi được chuyển đến sống với một người bà yêu mình hơn cả mẹ. Yêu cháu và muốn bảo bọc cháu yêu khỏi những tổn thương từ những cá tính quá góc cạnh lẫn cực đoan của cha mẹ, người bà đã dựng nên những câu chuyện đẹp để cho cháu yên lòng về xuất xứ của mình. Nhưng truyện cổ tích chỉ có tác dụng lúc cô cháu yêu còn nhỏ, và khi đã lớn hơn, đã hiểu ra phần nào sự thật mà người bà đã - vì yêu thương mà - che giấu, mọi yêu thương trong cô cháu gái đã chuyển sang thái cực tình cảm khác hẳn - lòng căm ghét. Mọi thứ lên tới đỉnh điểm khi người bà qua đời. Và hành trình đi tìm lại cội rễ của cô gái cũng là hành trình chuyển hóa nhận thức và tình cảm của cô đối với những con người đã ban cho mình cuộc sống. *** CÓ LẼ MỌI SỰ KHỞI NGUỒN từ khi bà cho chặt bỏ cái cây đó đi. Bà không hề nói gì với cháu cả - những chuyện thế này có liên quan gì đến trẻ con đâu - vậy nên buổi sáng mùa đông nọ, lúc cháu đang ngồi trong lớp ngán ngẩm nghe thầy giảng về tính chất của bội số chung nhỏ nhất, thì lưỡi cưa đã nghiến vào lớp vỏ cây màu trắng bạc; còn khi cháu đang lết chân trên hành lang vào giờ ra chơi, thì những mảnh sống của cái cây đã rớt như mưa xuống bầy kiến nhỏ. Khung cảnh tàn diệt đổ ập lên cháu lúc từ trường trở về. Trong sân, nơi cây óc chó từng đứng xõa bóng, giờ chỉ còn là hố đất đen ngòm; những cành cây bị chặt vứt bỏ ngổn ngang, còn thân cây bị cưa thành ba đoạn nằm vô hồn dưới đất; và một người đàn ông mặt mũi đỏ tía phủ kín muội khói dầu diesel đang điều khiển chiếc máy xúc, với những bộ hàm khổng lồ giật tung cái gốc cây. Cỗ máy xúc gầm rú, khụt khịt, lùi lại, chồm lên, hối hả trước những tiếng chửi thề của người điều khiển. Phần rễ cứng cỏi không muốn nơi lỏng những cánh tay bám chặt vào lòng đất. Chúng bướng bỉnh và đâm sâu hơn tưởng tượng. Năm nối năm, mùa tiếp mùa, những chiếc rễ đã âm thầm lan tỏa, lấn sâu vào lòng đất từng chút một, bện lẫn với rễ cây sồi, cây tuyết tùng và cây táo, thậm chí còn cùng nhau quấn chặt lấy đường ống dẫn nước và khí ga. Đó chính là lý do khiến người ta chặt bỏ cây cối: chúng luồn lách trong thẳm sâu, làm khó con người, và con người buộc phải dùng tới máy móc để đối phó với những kẻ cứng đầu như thế. Thình lình, dưới ánh nắng mùa đông lạnh lẽo, vồng rễ oai vệ của cây óc chó, với những chùm đất nhỏ vẫn còn dính chặt lấy rễ cây, bị nhấc bổng lên trước mắt cháu - như phần mái bị bốc ra khỏi ngôi nhà - thả lại đoạn rễ cái vẫn còn chôn sâu trong lòng đất. Khi đó - và chỉ khi đó - người điều khiển máy xúc mới hả hê giơ cao nắm tay ra dấu chiến thắng, và bà đã mặc sẵn tạp dề, vỗ tay hưởng ứng. ... Mời các bạn đón đọc Lắng Nghe Yêu Thương của tác giả Susanna Tamaro.