Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Giờ Đức văn

Nước Đức sau Thế chiến II. Siggi Jepsen nhắm mắt, sông Elbe ngoài cửa sổ chảy không ngừng, bồng bềnh băng. Những tàu kéo chầm chậm xô dạt sóng nước, đẩy băng xanh chồm qua bờ cát tới bãi lau sậy, để chúng được lãng quên ở đó. Còn trong phòng biệt giam của cù lao cải tạo trẻ vị thành niên, Siggi đối mặt  trang vở trắng đang chờ bài luận Đức Văn " Niềm vui nghĩa vụ" mà cậu đã không viết nổi chữ nào trong 2 giờ trên lớp. Dòng sông ký ức ngổn ngang của cậu lúc này buộc phải rã băng, ngược về nguồn, để tái hiện câu chuyện khởi sự năm 1943... Xuất bản năm 1968, Giờ Đức văn của Siegfried Lenz, biểu hiện mối xung đột giữa nhiệm vụ với lương tâm, đạo đức dưới hình thức kỳ quái và rối rắm trong câu chuyện đầy sức thuyết phục, được Library Journal đánh giá là một trong những tiểu thuyết sâu sắc nhất, di dỏm, cay đắng, say sưa nhất, khiến người đọc phải suy tư nhiều nhất của văn chương Đức đương đại. Sau một thời gian ngắn, cuốn sách được đưa vào nhà trường phổ thông, trở thành một trong những tác phẩm văn học kinh điển được đọc, mổ xẻ, phân tích rộng và sâu nhất ở CHLB Đức. Từ thập niên 1970, số ấn bản Giờ Đức văn, riêng tại Đức, đã vượt trên 1 triệu bản. *** “Giờ Đức văn”: Giới hạn của nghĩa vụ byZét Nguyễn  28/10/2019 Tháng 4 năm 2019, bà Angela Merkel cho gỡ bỏ hai bức tranh của Emil Nolde, một họa sĩ nổi tiếng người Đức thuộc trường phái biểu hiện khỏi phòng làm việc của mình trong phủ thủ tướng Đức. Cơn cớ cho sự việc mà báo chí đã tốn bút mực mổ xẻ nguyên do nằm ở chỗ: Emil Nolde là một nghệ sĩ huyền thoại dưới thời phát xít Đức, có các tác phẩm từng bị quy là nghệ thuật suy đồi, từng bị nhận lệnh cấm vẽ; song ông cũng chính là một nhân vật tích cực bài Do thái và ủng hộ Hitler. 51 năm trước, vào năm 1968, một tác phẩm mà đến thời điểm này đã đồng loạt độc giả, nhà phê bình lẫn nghiên cứu, coi là kinh điển của văn chương hậu chiến Đức, ra đời: “Giờ Đức văn” của Siegfried Lenz. Kể về một họa sĩ thuộc trường phái biểu hiện bị cấm vẽ, cuốn tiểu thuyết này nhanh chóng trở thành một trong hiện tượng văn chương thành công vang dội nhất ở Đức, được đưa vào đọc và dạy trong nhà trường, đã bán được hàng triệu bản, được dịch ra hàng chục thứ tiếng. Và không lấy gì làm ngạc nhiên, rất nhiều độc giả đã ngộ nhận rằng hình mẫu cho nhân vật người họa sĩ trong “Giờ Đức văn” chính là Nolde. Nhưng đọc “Giờ Đức văn”, với một sự gán ghép thô thiển đến như vậy, là một cách đọc hạn chế vội vàng gạt bỏ hết những chiều sâu tâm lý và hành vi mà người kể chuyện bậc thầy Siegfried Lenz đã đạt được để thực thi nghĩa vụ của mình trong văn chương, cái nghĩa vụ mà như một nhà phê bình đã nhận xét, là giúp người Đức “trả những món nợ khổng lồ mà người Đức cùng với Führer của họ đã đặt lên vai mình.” Hơn tất cả, “Giờ Đức văn” là một chiêm nghiệm nhức nhối đầy nhân văn về đạo đức và triết học, về gia đình và ký ức, về những tổn thương tâm lý để lại những sự méo mó rất khó lý giải. “Giờ Đức văn” do Siggi Jepsen, người kể chuyện ngôi thứ nhất, một chàng trai 21 tuổi ngồi trong phòng biệt giam trên cù lao cải tạo trẻ vị thành niên, thuật lại một quãng đời ngắn ngủi vào năm cậu 10 tuổi. Năm 1943, ở một vùng quê xa xăm, người bố cảnh sát Jens Ole Jepsen của cậu đã được trên giao cho một nhiệm vụ: thực thi lệnh cấm vẽ lên người hàng xóm là ông họa sĩ nổi tiếng thế giới Max Nansen. Vốn là bạn thân với nhau, ông Nansen còn từng cứu mạng ông Jepsen, nhưng giờ đây mệnh lệnh đã ban thì ông Jepsen phải chấp hành. Ông Jepsen, bất chấp gian khổ, mưa sa, gió quất, dèm pha từ hàng xóm, bất chấp cả tình bằng hữu, thực thi và thực thi bằng được cái lệnh cấm vẽ ấy, bởi đơn giản đó là nghĩa vụ. Ông Jepsen tận tụy và mẫn cán, huy động cả con trai là Siggi để làm gián điệp, để giúp tịch thu, thiêu hủy cả tranh đang lẫn đã vẽ của ông Nansen. Dùng ngôn từ tinh xảo để vẽ lại không chỉ các bức tranh mà còn cả một vùng thôn quê hẻo lánh, dùng ký ức để phục dựng lại chi tiết, đối thoại, cảnh huống, hành động, Siggi lần lại từng mẩu hồi ức, để bày ra trong những năm tưởng chừng không lấy gì làm biến động, ở cái vùng đất hẻo lánh ở cực Bắc bang Schleswig-Holstein giáp với Đan Mạch, nơi cái tên Hitler chưa bao giờ được nhắc đến, nơi Thế chiến thứ 2 cơ hồ vắng mặt, nơi người dân sinh hoạt trong cái nếp thường nhật an bình không gì có thể phá vỡ được. Ở nơi ấy, bi kịch đã rơi xuống đầu Siggi, ông họa sĩ, chị gái Siggi, anh trai Siggi, và còn nhiều hơn nữa. Thuật lại một câu chuyện tưởng chừng giản dị, song “Giờ Đức văn” lại đặt ra hàng loạt những câu hỏi nhức nhối. Vậy rốt cục, ông bố cảnh sát của Siggi là người đáng ngợi khen vì đã thực hiện nghĩa vụ của mình một cách nghiêm túc và nghiêm ngặt? Hay ông đáng bị phê phán vì đã mù quáng tuân theo nghĩa vụ mà không một lần chất vấn ý nghĩa của nó? Liệu ông có nhân danh nghĩa vụ mà lao theo cám dỗ của bản thân? Càng đến cuối, “Giờ Đức văn” càng lộ rõ cho độc giả thấy sự yếu đuối không dám phản kháng của ông Jepsen: sự cứng đầu đến ám ảnh để biến những ham muốn cá nhân trở thành nghĩa vụ. Ông Jepsen đã trở thành nạn nhân của chính nghĩa vụ. Trong một cuộc phỏng vấn, Lenz đã tâm sự rằng, với ông, không có hình thức nào phù hợp cho việc truyền tải trải nghiệm của con người bằng tự sự, và rằng, “Gần như mọi nhà văn, ở một nghĩa nào đó, viết để phô bày chính bản thân mình.”  Vậy, Lenz phô bày gì của chính mình, nếu không phải là một cam kết mãnh liệt của văn chương vào tâm thức của con người. Không khoan nhượng, “Giờ Đức văn” mổ xẻ và phơi bày cả một ám ảnh lớn lao về vai trò và trách nhiệm của dân tộc Đức để cho chủ nghĩa phát xít trỗi dậy, thống trị và reo giắc bao tàn khốc. “Giờ Đức văn” có lẽ vì thế thuộc về một dòng văn chương hậu chiến đầy suy tưởng và soi xét, như một sự “xét lại,” như một sự thức tỉnh mà rạch ròi nhìn vào quá khứ tội lỗi của mình. Đúng như nhận xét của Marcel Reich-Ranicki, nhà phê bình xuất sắc được gọi là giáo hoàng văn học Đức, “Giờ Đức Văn” có “cái mà Lenz miêu tả là mục đích của văn chương. Đó chính là nỗ lực để vạch trần thế giới để rồi không một ai còn cảm thấy vô tội hay thản nhiên được nữa. Cả một thế hệ đã nổi lên trong cái bài học vĩ đại về tinh thần Đức và sự ngớ ngẩn của người Đức.”  Người bẻ ghi để những con tàu chở tù nhân đi về phía trại tập trung, người lính bảo vệ khóa chặt cửa để người Do thái không trốn thoát được khỏi phòng hơi ngạt, hay người cảnh sát tuân thủ nghiêm ngặt lệnh cấm vẽ áp lên một ông họa sĩ hàng xóm, là những những chủ đề cứ trở đi trở lại trong văn chương hậu chiến của Đức. Hơn ai hết, Lenz ý thức được vai trò của nghĩa vụ, nguyên tắc của việc phải thực thi nghĩa vụ, niềm vui trong việc hoàn thành nghĩa vụ, vả cả những hạn chế của nghĩa vụ. Đó chính là khi con người sa vào cái bẫy của sự phục tùng đầy phi nhân. Zét Nguyễn (Bài đã đăng trên TTCT *** Tác Giả (17/3/1926 - 7/10/2014) Siegfried Lenz sinh tại Lyck, thành phố nhỏ thuộc Đông Phổ. Ông tốt nghiệp đại học Triết học, Anh văn và Lịch sử văn học Đức tại Hamburg sau Thế chiến II, là biên tập viên báo Thế giới một thời gian ngắn (1950-1951) rồi trở thành nhà văn tự do sống tại Hamburg. Khởi đầu nghiệp văn chương, Siegfried Lenz đã được sánh tầm với các nhà văn lớn của Đức như Heinrich Böll, Günter Grass hay Martin Walser. Lenz đã được trao các giải thưởng: Peace Prize of the German Book Trade (1988), The Goethe Prize of Frankfurt am Main (2000), Italian International Nonino Prize (2010). Trước khi qua đời, ông đã kịp khởi xướng Siegfried Lenz Prize - một trong các giải thưởng văn chương danh giá nhất của Đức cho “các nhà văn quốc tế được ghi nhận trong hoạt động văn chương sáng tạo theo tinh thần Siegfried Lenz”. Siegfried Lenz để lại 14 tiểu thuyết, 120 truyện ngắn, nhiều truyện vừa và kịch bản sân khấu. Số lượng ấn bản sách của ông bằng tiếng Đức và 35 thứ tiếng khác đến nay đã ngót nghét 30 triệu bản và vẫn đang tăng lên. *** BÀI LUẬN Họ phạt tôi, bắt viết bằng xong bài luận. Lão Joswig đích thân dẫn tôi về phòng giam kiên cố, gõ gõ tay lên lớp lưới chăng trước cửa sổ, xoa xoa tấm đệm rơm; sau đó, viên giám thị chúng tôi vẫn có cảm tình nhất ấy ngó nghiêng xem xét kỹ cả chiếc tủ sắt lẫn hốc tường bí mật của tôi lâu nay vẫn nằm khuất sau chiếc gương soi. Chẳng nói, chẳng rằng, hậm hà hậm hực, lão ta xem xét hết cái bàn đến chiếc ghế đẩu chằng chịt vết khía, vết rạch, tò mò soi mói chỗ thoát nước trong chậu rửa, thậm chí, còn gõ gõ ngón tay như dò hỏi bậu cửa sổ, săm soi lò sưởi xem có gì khác thường không, rồi, xong xuôi đâu đấy, lão ta mới đến bên tôi, thong thả sờ nắn người tôi từ vai đến đùi để cầm chắc tôi không mang vật gì có hại trong túi áo túi quần. Sau rốt, với vẻ đầy trách móc, lão đặt quyển vở lên bàn tôi, vở tập làm văn - trên bìa vở có dán miếng nhãn màu xám ghi rõ: vỏ tập làm văn của Siggi Jepsen - rồi không nói không rằng đi ra cửa, với vẻ mặt đầy thất vọng, của một kẻ nhân từ bị xúc phạm; bởi vì lão Joswig - viên giám thị chúng tôi vẫn có cảm tình nhất đó - chịu đựng các hình phạt thỉnh thoảng chúng tôi phải chịu như thế này còn khổ sở hơn, lâu hơn và cũng thấm thía hơn cả chính chúng tôi nữa kia. Lão ta để lộ cho tôi biết nỗi buồn phiền của lão không bằng lời, mà bằng cái cách lão khóa cửa. Lão loay hoay nhét chìa khóa vào ổ, hờ hững, bối rối và lưỡng lự trước khi quay vòng đầu tiên, rồi vặn ngược trở lại, khiến ổ khóa kêu cạch cạch, rồi, như thể đã vượt qua phút do dự, lão ta hằm hằm quay luôn hai vòng liên tiếp. Vâng, không phải ai khác, mà chính lão Karl Joswig, người đàn ông có vẻ ẻo lả và nhút nhát ấy, đã khóa tôi trong phòng giam để viết cho xong bài luận. Ngồi thế này đã gần hết ngày mà tôi vẫn không sao bắt đầu viết cho được: nhìn qua cửa sổ ra ngoài, thấy sông Elbe đang chảy, dòng sông chảy xuyên qua bóng gương mặt tôi mờ mờ phản chiếu trên kính cửa sổ; tôi cố nhắm mắt lại, nước sông vẫn không ngừng chảy, mặt sông phủ đầy các tảng băng phơn phớt màu xanh da trời đang bồng bềnh trôi. Tôi cứ phải dõi theo mãi những chiếc tàu kéo; chúng từ từ chạy, mũi tàu xắn lên mặt băng những đường ngoằn ngoèo xám ngoét, cứ phải nhìn dòng nước mang theo các tảng băng trôi lổn nhổn, dồn những khối băng chồm lên bãi cát của chúng tôi, ken két xô đẩy chúng lên đến bãi lau sậy khô rồi để quên chúng ở đấy. Tôi miễn cưỡng dõi theo đám quạ đen; bọn chúng như thể hẹn hò nhau ở đây trước khi tạt về Stade không bằng. Chúng bay lẻ tẻ từ Wedel sang, từ Finkenwerder hay Hahnöfer-Sand tới, nhóm thành bầy đông nghịt trên đảo chúng tôi, rủ nhau cất cánh vút lên cao rồi lượn đi lượn lại, chờ ngọn gió thuận chiều sẽ hất chúng về phía Stade. Rặng liễu khẳng khiu, phủ lớp băng mỏng và đầy sương muối làm tôi để ý; hàng rào dây thép sơn trắng, khu xưởng, các biển cảnh báo cắm ở bãi cát, những luống đất đông cứng trong vườn rau mà ra năm chúng tôi sẽ phải tự gieo trồng và chăm bón theo hướng dẫn của giám thị: tất tật những thứ ấy, thậm chí cả mặt trời, ánh nắng như đang chiếu qua một lớp kính mờ, hắt bóng dài nghiêng nghiêng, đều làm tôi sao nhãng. Thỉnh thoảng tôi cứ vừa định bắt tay vào chuyện viết lách thì ánh mắt tôi như thể lại vô tình bắt vào bệ cầu tàu nổi méo mó, xây xước, neo bằng dây xích, cùng chiếc xuồng gắn máy rộng bè bè và sáng loáng đồng thau từ Hamburg vừa đến neo vào đó - chiếc xuồng mỗi tuần, thì cứ nói ang áng thế, thả chừng một ngàn hai trăm nhà tâm lý học xuống đảo, đám chuyên viên tâm lý học quan tâm đến mức bệnh hoạn tới đám vị thành niên khó dạy bảo như chúng tôi. Tôi không rời mắt nhìn theo họ lần bước trên lối đi gồ ghề qua bãi cát, trước khi họ được đưa vào ngôi nhà màu xanh của Ban Giám đốc, cử hành lễ nghi chào hỏi như thường lệ; ở đó chắc thể nào họ cũng được nhắc nhở phải thận trọng và kín đáo khi tiến hành nghiên cứu, trước khi họ hối hả chen nhau ra ngoài, tràn ra khắp đảo chúng tôi, rồi làm bộ rất vô tình, theo nhau sán vào bắt chuyện với bọn bạn bè tôi: thằng Pelle Kastner, thằng Eddi Sillus hay thằng Kurtchen Nickel nóng tính chẳng hạn. Có lẽ, họ quan tâm đến bọn chúng tôi như thế là vì, theo số liệu Ban Giám đốc đã thống kê, gần tám chục phần trăm những ai từng qua cải huấn trên đảo đây đều không tái phạm nữa. Nếu lão Joswig không khóa trái tôi vào phòng giam đây để viết cho bằng xong bài luận, thì bây giờ hẳn họ cũng đang bám theo tôi, dùng kính lúp khoa học của họ soi xét cuộc đời tôi và sẽ bóp đầu, xoa trán, cố vẽ cho bằng được một bức tranh về tôi. Nhưng tôi phải viết bù hai giờ Đức văn, phải nộp bài luận mà cả lão Tiến sĩ Korbjuhn gầy gò và rụt rè lẫn ông giám đốc Himpel của chúng tôi đang trông ngóng. Trên cù lao Hahnöfer-Sand cạnh đây - cũng nằm trên sông Elbe, hơi chếch về phía Twielenfleth Wischhafen, và cũng là nơi giam giữ và cải tạo tụi vị thành niên khó dạy giống như trên cù lao chúng tôi - chắc chuyện sẽ không thể như thế này. Mặc dù hai cù lao này rất giống nhau, mặc dù cả hai đều bị bao quanh bởi thứ nước loang váng dầu như nhau, mặc dù cả hai cù lao cùng chứng kiến những con tàu như nhau chạy qua, được cùng một đám hải âu ghé đậu, song trên cù lao Hahnöfer-Sand không có lão Tiến sĩ Korbjuhn, không có giờ Đức văn, không có những đề luận ghê gớm đến mức, tôi thề không nói ngoa chút nào, làm đa số bọn chúng tôi phải đau đớn về thể xác như thế này. Bởi vậy, nhiều đứa trong bọn chúng tôi mong được cải tạo trên cù lao Hahnöfer-Sand hơn, nơi tàu viễn dương trên đường ra biển chạy qua trước và cũng là nơi ngọn lửa phần phật ồn ào trên ống khói nhà máy lọc dầu luôn luôn vẫy chào từng người một ấy. Mời các bạn đón đọc Giờ Đức văn của tác giả Siegfried Lenz & Hoàng Đăng Lãnh (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Đứa Con Hoàng Kim
Tác phẩm hay nhất năm 2014 do Entertaiment Weekly, Buzzfeed và Shelf Awarness bình chọn Trái Đất đang chết dần. Dưới những tầng đất sâu của Sao Hỏa, có một cộng đồng những con người mắt và tóc đỏ quạch như màu của hành tinh mà họ đang sống. Nhiệm vụ của họ là khai thác Helium 3 - một thứ nguyên tố được cho là sẽ biến bề mặt Sao Hỏa thành nơi con người có thể sinh sống được. Họ là niềm hy vọng cuối cùng của nhân loại. Họ là Đỏ. Ngoại trừ… tất cả là một lời nói dối khổng lồ. Các Đỏ không phải những người tiên phong. Họ chỉ là những nô lệ bị lợi dụng làm việc quần quật cho đến chết! Đỏ trỗi dậy phảng phất đâu đó những nét quen thuộc với các độc giả của Đấu trường sinh tử, Chúa ruồi, Trò chơi của Ender hay Trò chơi vương quyền. Nhưng đây vẫn là một cuốn sách hết sức khác biệt. Hồi hộp đến nghẹt thở, bất ngờ đến choáng váng, tàn nhẫn đến lạnh người. Rơi xuống chói lòa như một ngôi sao băng và cuốn ta đi như một cơn bão.  *** Là tập hai của bộ Đỏ trỗi dậy, Đứa Con Hoàng Kim tiếp nối thiên sử thi tráng lệ về Darrow, kẻ nổi loạn được trui rèn bởi thảm kịch. Trưởng thànhdưới các mỏ sâu trong lòng Sao Hỏa,lần đầu tiên được nhìn thấy mặt trời cũng là lúc Darrow phát hiện tín ngưỡng củagiống loài mình bấy lâu nay chỉ là một lời nói dối khổng lồ. Biết rằng nổi dậy là con đường giải phóng duy nhất, cậuliềuđem thân mình để tạo tác thành Hoàng Kim, với một kế hoạch xâm nhậptiềm ẩn nhiều bất trắc… … Đã bốn năm trà trộn trong thế giới những kẻ độc ác và hùng mạnh nhất loài người,Darrow nếm đủ đắng cay mặn ngọt. Cậu có được bạn hữu trung thành,bồi đắp tình yêuvới người con gái đáng lẽ cậu cần xa lánh, nhưng cũng chạm trán những kẻ thù khủng khiếp, bị lăng nhục, đày đọa dưới những tầng địa ngục sâu nhất. Lý tưởng giờ đây giống như vọng tưởng. Con đường này dường như càng lúc càng xa tự do? “Cácnút thắt và biến cố thậm chí còn gay cấn hơn ở tập đầu Đỏ trỗi dậy. Độc giả sẽ há hốc miệng khi đọc đến đoạn kết, để rồi đói khát chờ đợi tập cuối.” —Booklist   *** Tiểu thuyết gia Pierce Brown sinh ngày 28-1-1988 tại Thành phố Denver, bang Colorado- Hoa Kỳ. Là Tiểu thuyết gia sinh thuộc cung Bảo Bình, cầm tinh con (giáp) mèo (Đinh Mão 1987). Pierce Brown xếp hạng nổi tiếng thứ 29753 trên thế giới và thứ 176 trong danh sách Tiểu thuyết gia nổi tiếng. Tổng dân số của Hoa Kỳ năm 1988 vào khoảng 244,498,982 người. Tiểu thuyết gia của thể loại khoa học viễn tưởng và nhà biên kịch người là tác giả của tờ New York Times bán chạy nhất Red trilogy Rising trong đó bao gồm các chức danh Red Rising, Kim Sơn và Morning Star.  Trước khi bán Red Rising, anh là tác giả tiểu thuyết và đã bị từ chối bởi nhiều hơn 120 đại lý. Ông là một khoa học và kinh tế chính trị lớn tại Đại học Pepperdine. Ông đã làm việc như là một trang trong chương trình trang NBC khi sống trong nhà để xe giáo viên khoa học chính trị của ông khi ông bán Red Rising. *** TUYẾN NHÂN VẬT Nhà Augustus và các đồng minh NERO AU AUGUSTUS - Đại Thống Đốc Sao Hỏa, Trưởng Nhà Augustus, cha của Virginia và Adrius VIRGINIA AU AUGUSTUS/NGỰA HOANG - con gái của Nero, em sinh đôi của Adrius ADRIUS AU AUGUSTUS/CHÓ RỪNG - con trai Đại Thống Đốc, người thừa kế Nhà Augustus, anh sinh đôi của Virginia PLINY AU VELOCITOR - Tham Mưu Trưởng của Nhà Augustus DARROW AU ANDROMEDUS/THẦN CHẾT - Đại Thủ Lĩnh của Học Viện Sao Hỏa, Kỵ Binh của Nhà Augustus TACTUS AU RATH - Kỵ Binh của Nhà Augustus ROQUE AU FABII - Kỵ Binh của Nhà Augustus VICTRA AU JULII - Kỵ Binh của Nhà Augustus, chị gái cùng mẹ khác cha với Antonia, con gái của Agrippina KAVAX AU TELEMANUS - Trưởng Nhà Telemanus, đồng minh của Nhà Augustus, cha của Daxo và Pax DAXO AU TELEMANUS - người thừa kế và là con trai của Kavax, anh trai của Pax Image Nhà Bellona TIBERIUS AU BELLONA - Trưởng Nhà Bellona CASSIUS AU BELLONA - người thừa kế Nhà Bellona, con trai của Tiberius, Kỵ Binh của Nhà Bellona KARNUS AU BELLONA - con trai của Tiberius, anh trai của Cassius, Kỵ Binh của Nhà Bellona KELLAN AU BELLONA - Pháp Quan, anh họ của Cassius, cháu của Tiberius Image Các Hoàng Kim trứ danh OCTAVIA AU LUNE - Hội Chủ đương nhiệm của Hiệp Hội LYSANDER AU LUNE - cháu trai của Octavia, người thừa kế Nhà Lune AJA AU GRIMMUS - Vệ Sĩ Trưởng của Hội Chủ MOIRA AU GRIMMUS - Tham Mưu Trưởng của Hội Chủ LORN AU ARCOS - Cựu Hiệp Sĩ Cuồng Nộ, Trưởng Nhà Arcos FITCHNER AU BARCA - Cựu Giám Thị Nhà Mars, cha của Sevro SEVRO AU BARCA/YÊU TINH - Thủ Lĩnh của Những Kẻ Gào Rú, con của Fitchner AGRIPPINA AU JULII - Trưởng Nhà Julii, mẹ của Victra và Antonia ANTONIA AU SEVERUS-JULII - cựu thành viên Nhà Mars, em gái cùng mẹ khác cha với Victra, con của Agrippina Image Các Con Trai Của Ares ARES - Thủ Lĩnh Khủng Bố, Màu chưa rõ VŨ CÔNG - Phó quan của Ares, một Đỏ HARMONY - Phó quan của Vũ Công, một Đỏ MICKEY - Nhà Tạo Tác, một Tím EVEY - cựu nô lệ của Mickey, một Hồng *** Ngày xửa ngày xưa, có một gã đàn ông từ trên trời cao xuống và giết chết vợ tôi. Lúc này đây bên cạnh hắn, tôi bước đi trên ngọn núi trôi lơ lửng phía trên thế giới của chúng tôi. Tuyết đang rơi. Những bức tường bằng đá trắng và kính mờ được đục lỗ châu mai trồi lên khỏi đá. Xung quanh chúng tôi là sự náo loạn của lòng tham đang cuộn xoáy. Tất cả các Hoàng Kim vĩ đại của Sao Hỏa đã đổ về Học Viện để giành lấy những người giỏi nhất và thông minh nhất trong khóa học của chúng tôi. Phi thuyền của họ tụ thành bầy trên bầu trời buổi sáng, cắt qua thế giới của tuyết và những lâu đài đang bốc khói ở Olympus mà tôi vừa càn quét chỉ vài giờ trước. “Hãy nhìn lại một lần cuối,” hắn nói khi chúng tôi đến gần tàu con thoi của hắn. “Tất cả những việc đã xảy ra trước đây sẽ chỉ còn là một tiếng thì thầm trong thế giới của chúng ta. Khi cậu rời khỏi ngọn núi này, mọi mối ràng buộc sẽ bị cắt đứt, mọi lời thề sẽ thành cát bụi. Cậu chưa được chuẩn bị. Từ trước đến nay cũng chưa có ai được chuẩn bị bao giờ.” Ở phía bên kia đám đông, tôi thấy Cassius cùng cha anh ta và các anh em ruột đang đi về phía tàu con thoi của họ. Mắt họ rực lửa nhìn chúng tôi qua làn tuyết, và tôi nhớ lại tiếng đập trái tim của em trai anh ta khi nó vang lên nhịp cuối cùng. Một bàn tay thô bạo với những ngón tay xương xẩu đặt lên vai tôi, siết chặt đầy chiếm hữu. Augustus nhìn chằm chằm vào những kẻ thù của hắn. “Nhà Bellona không bao giờ lãng quên hay tha thứ. Chúng đông đảo. Nhưng chúng không thể làm hại cậu.” Cặp mắt lạnh lùng của hắn nhìn chằm chặp tôi, chiến lợi phẩm mới toanh. “Vì cậu thuộc về ta, Darrow, và ta sẽ bảo vệ những gì thuộc về mình.” Tôi cũng vậy. Suốt bảy trăm năm, đồng bào tôi bị nô dịch mà không được cất lời, không một tia hy vọng. Giờ đây tôi đã trở thành lưỡi kiếm của họ. Và tôi không tha thứ. Tôi không lãng quên. Nên cứ để hắn dẫn tôi vào tàu con thoi của hắn. Để hắn nghĩ rằng hắn đang sở hữu tôi. Để hắn chào đón tôi vào nhà hắn, để tôi có thể thiêu rụi nó. Nhưng rồi con gái hắn nắm lấy tay tôi, và tôi cảm thấy tất cả những lời nói dối đè nặng lên đôi vai mình. Người ta nói một đất nước bị chia rẽ thì không thể nào trụ vững. Người ta không hề nói xem một trái tim bị chia rẽ thì sẽ ra sao.   Mời các bạn đón đọc Đứa Con Hoàng Kim của tác giả Pierce Brown.
Đêm Tối Và Ánh Sáng - Torey Hayden
Đến với “Đêm tối và ánh sáng”, bạn sẽ cảm nhận mình như một người đang lặng lẽ chứng kiến những gì xảy ra trong một lớp học đặc biệt. Ở đó có: Torey – một cô giáo trẻ; Anton – anh chàng cao to mang trong mình hai dòng máu Mexico – Mỹ, mới vào nghề và vẫn chưa tốt nghiệp trung học; Whitney – cô gái tình nguyện chỉ mới học cấp hai. Với những đứa trẻ bị rối loạn và bị khiếm khuyết về mặt tâm thần: một cậu bé với hệ thần kinh bất ổn và thường xuyên có hành vi bạo lực, một cô bé chỉ mới tám tuổi nhưng đã hai lần tự sát, những đứa trẻ mắc bệnh tự kỷ bẩm sinh, một bé gái bảy tuổi từng là nạn nhân của nạn lạm dụng thể xác, một cô bé xinh xắn nhưng bị mắc bệnh tâm thần phân liệt từ nhỏ… Và Sheila – cô bé bị mẹ bỏ rơi trên đường cao tốc khi mới bốn tuổi, đã bắt cóc và thiêu sống một bé trai ba tuổi khi em lên sáu. Trong “Đêm tối và ánh sáng”, bạn sẽ thấy  được ý nghĩa của sự chân thật, ý nghĩa của những việc làm xuất phát từ trái tim của cô giáo Torey, để rồi những đứa trẻ dần dần thích nghi, bắt đầu trò chuyện, biết làm chủ phần nào cảm xúc của mình. Riêng đối với Sheila, với ánh mắt hoang dại và tính tình kỳ dị đầy bí ẩn là một thử thách gay go cho cô trong suốt thời gian em theo học để chờ một chỗ trống trong bệnh viện liên bang - nơi mà rất nhiều người có thầm quyền cho rằng đó là nơi tốt nhất đối với em. Sheila là cô bé thông minh và ở em sự thông minh trái ngược với cái thân thể nhỏ bé nhưng cân đối, với những hiểu biết vượt hẳn những đứa trẻ đồng trang lứa. Nhưng suốt sáu năm trời từ lúc được sinh ra, em đã bị vùi lấp bởi cái quá khứ kinh hoàng. Hạnh phúc mới thật sự đến khi em tin vào người mà em cho rằng đã “cảm hóa” em và phải có trách nhiệm với em. Với ý thức về vai trò, trách nhiệm và lòng yêu trẻ của một giáo viên, Torey đã từng bước, từng bước chinh phục cô nhóc Sheila. Điều này không dễ dàng chút nào, trái lại nó là một chặng đường đầy gian nan vất vả mà ít có người giáo viên nào làm được. Sheila bắt đầu chịu nói chuyện sau những ngày ngồi thu mình trên một chiếc ghế, em đã bớt sợ hãi, bớt đập phá và bắt đầu nhận thấy rằng sự quan tâm của cô Torey dành cho em không như những người khác, nó là sự yêu thương thật sự. Đọc “Đêm tối và ánh sáng” bạn như lạc vào thế giới của trẻ thơ. Sự ngây thơ, trong trẻo của những tâm hồn vẫn đang hiện hữu bên trong những biểu hiện kỳ lạ của các em. Rất nhiều lần bạn sẽ phải mỉm cười khi bắt gặp những ý nghĩ ngu ngơ tự nhiên mà chỉ ở trẻ thơ mới có. Sheila, cô bé với những suy nghĩ vượt hẳn tuổi của em, những ý nghĩ ganh tỵ pha lẫn nét nũng nịu, đáng yêu. Bệnh viện liên bang đã có chỗ trống, trong khi Sheila bắt đầu có những tiến bộ. Chuyện gì sẽ xảy ra nếu em bị đưa vào đó? Và không! Em sẽ vẫn được “điều trị” ở cái “lớp học điên khùng” mà em yêu mến, trước sự ủng hộ của rất nhiều người. Ngày mà phiên tòa “định mệnh” được mở ra và kết thúc bằng nụ cười vui sướng của chàng luật sư dễ mến là ngày mà Sheila hạnh phúc nhất, em cảm nhận được sự ấm áp của một gia đình, được ủ ấm trong tình thương của “cha Chad” và ”mẹ Torey” Trong lúc đau đớn tận cùng, Sheila vẫn cố níu chặt áo cô Torey, và thét lên: “Đừng bỏ con! Đừng để họ bắt con đi mất. Con muốn cô ôm con”. Bạn sẽ thấy mình rất lạ khi đồng hành cùng cô trò họ đến lúc này, mắt bạn ướt là một điều hết sức bình thường khi chứng kiến cái nhu cầu bình thường của một đứa trẻ; em cần sự chở che, cần tình yêu thương và vì cần tất cả điều đó, em rất cần cô Torey. Cuối cùng thì Sheila cũng sẵn sàng cho việc hòa nhập vào lớp học dành cho những trẻ bình thường. Và như bao người giáo viên khác, với cô Torey “Đó là một khoảnh khắc ngọt ngào nhưng buồn bã đối với tôi, bởi tôi biết mình đã bị bỏ lại đằng sau”. Và niềm vui trọn vẹn đã đến vào một ngày cô nhận được một lá thư, bên trong là bài thơ với tựa đề: Gửi đến Torey với rất nhiều “tình yêu” do chính tay cô Sheila viết. Xuyên suốt quyển sách, đặc biệt kể từ lúc Sheila vào lớp, bạn sẽ thấy nhịp thở của mình gần như bị phụ thuộc vào những chuyển biến tâm lý trong đó. Thật lạ khi đọc quyển sách này, bạn có cảm giác không dám thở mạnh vì sợ nếu như thế sẽ làm không khí trong lớp học đặc biệt này càng thêm căng thẳng, sợ nó có thể làm đứt sợi tơ mong manh vừa mới hình thành từ rất nhiều những cố gắng không ngừng của cô Torey. Tôi đọc và cảm nhận rất rõ tim mình phát ra từng đợt sóng dâng tràn ở ngực, lan ra hai bên vai rồi làm mắt âng ấng nước. Lúc trước tôi rất sợ phải yêu thương một ai đó, tôi đã từng như thế, yêu thương là hạnh phúc nhưng bạn vẫn cảm nhận đâu đó một nỗi đau, sự lo lắng khi sợ họ gặp những điều không vui thậm chí là rất đau khi một nỗi bất hạnh nào đó đến với họ. Và chính “Đêm tối và ánh sáng” đã xua tan nỗi sợ hãi đó. Tôi đã đọc ở đâu đó câu nói đại khái rằng sẽ rất vui khi ta có thể diễn tả “trúng phóc” ý nghĩ của mình, nhưng tôi vẫn chưa thật sự thấy vui vì trong lòng vẫn còn điều gì đó chưa thể hiện ra được, một phần do khả năng tôi chưa đủ, phần vì điều đó sẽ đầy đủ và chính xác hơn khi bạn dùng chính trái tim mình để cảm nhận. Và để biết điều đó là gì? Dành ít thời gian tìm đọc “Đêm tối và ánh sáng”, bạn sẽ cảm nhận rất rõ. Ngay cả khi bạn không muốn biết đi nữa, tôi nghĩ bạn cũng nên đọc vì quyển sách này sẽ là một người bạn hữu ích với bạn hôm nay và cả đến sau này. Mời các bạn đón đọc Đêm Tối Và Ánh Sáng của tác giả Torey Hayden.
Lý Trí Và Tình Cảm - Jane Austen
Lý trí và Tình cảm (tiếng Anh: Sense and Sensibility) là một tiểu thuyết của nhà văn Anh Jane Austen. Được xuất bản năm 1811, nó là cuốn tiểu thuyết đầu tiên của Austen được xuất bản, dưới bút danh "A Lady." Câu truyện xoay quanh Elinor và Marianne, hai người con gái của ông Dashwood với người vợ thứ hai. Họ có một người em gái, Margaret, và một người anh trai cùng cha khác mẹ tên là John. Khi người cha qua đời, tài sản của gia đình được trao lại cho John, và ba người con gái cùng với bà mẹ phải sống trong một hoàn cảnh không mấy dư dả. Họ tới ngôi nhà mới, một ngôi nhà ở nông thôn của một người họ hàng xa, nơi mà họ trải nghiệm cả tình yêu và nỗi buồn khi tình yêu tan vỡ. Tuy nhiên, cuối cùng Elinor và Marianne đều có được hạnh phúc. Cuốn sách đã được nhiều lần chuyển thể thành phim điện ảnh và truyền hình, bao gồm phim truyền hình năm 1981 (Rodney Bennett); phim điện ảnh năm 1995 (Lý An); một phiên bản bằng tiếng Tamil tên là Kandukondain vào năm 2000; phim truyền hình trên BBC vào năm 2008 (John Alexander). Mời các bạn đón đọc Lý Trí Và Tình Cảm của tác giả Jane Austen.
Vô Tri - Milan Kundera
Trong 'Vô tri', Milan Kundera kể câu chuyện hồi hương của Irena và Josef, và ta đọc thấy qua chuyến đi khó khăn đó, họ đồng thời trở về với những đòi hỏi sâu kín của tâm tư. Sau 20 năm sống ở nước ngoài, Irena về thăm tổ quốc Bohême và thành phố Praha của tuổi thơ cô. Thực ra, cô không háo hức với chuyến đi này lắm, vì lúc này ở Pháp cô đã sống yên ổn với công việc, căn hộ và các con. Cô về đơn giản là do sự thúc giục của chồng cô, Gustaf, một người đang thấy có nhiều cơ hội làm ăn ở Praha khi bộ máy kinh tế thị trường ở đó đang mở hết công suất. Nhưng điều làm cô đau đớn ngay trước lúc lên đường là một người bạn cô ở Paris đã xem chuyến trở về Praha này như là chuyến trở về mang ý nghĩa nhân sinh lớn lao vì không như vậy cô sẽ thiếu hẳn một chiều kích quyết định để đánh giá con người: chiều kích lịch sử. Sylvie đã phớt lờ hai mươi năm sống ở Paris của Irena - hai mươi năm ấy cô đã xây dựng cho mình một khoảng trời riêng đủ ấm áp, đủ hạnh phúc, và đủ những đường nét nhân văn chính yếu. Khi Irena nói: “Tớ sống ở đây được hai mươi năm rồi. Cuộc đời tớ là ở đây!” thì Sylvie im lặng khó chịu, ngầm muốn nói rằng (Irena) không được phép lảng tránh những sự kiện vĩ đại đang diễn ra “tại nước cậu”. Với Sylvie, đó là Cuộc Trở Về Vĩ Đại, có thể sánh với cuộc trở về của Ulysse trong sử thi Hy lạp Odyssée. Mời các bạn đón đọc Vô Tri của tác giả Milan Kundera.