Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Lời Hồi Đáp 1994 - Lee Woo Jung & Oh Seung Hee

Lời hồi đáp 1994 là cuốn sách đặc biệt dành tặng những người đã từng phải rời gia đình đến một nơi xa, tự mình bắt đầu một hành trình mới.   Nằm trong series Reply nổi tiếng Hàn Quốc cùng với Lời hồi đáp 1997, tiểu thuyết Lời hồi đáp 1994 do chính biên kịch Lee Woo Jung và Oh Seung Hee chấp bút tiếp tục được bạn đọc đón nhận nhiệt tình. Trọng tâm cuốn sách xoay quanh cuộc sống của một nhóm sinh viên lên thành phố học đại học. Duyên số đã đưa tất cả về ở cùng một nhà trọ. Lần đầu tiên rời quê hương mình đã gắn bó từ khi sinh ra đến một nơi hoàn toàn mới, là cả một hành trình hòa nhập đầy khó khăn và thử thách của những cô cậu tỉnh lẻ này.  Việc phải đi học hay đi làm xa gia đình là câu chuyện của nhiều người trẻ hiện nay. Lời hồi đáp 1994 chính là món quà đặc biệt dành tặng những con người dùng cả thanh xuân của mình để xây dựng một tương lai mới tốt đẹp hơn. Hành trang họ mang theo không chỉ có đam mê, tuổi trẻ và nhiệt huyết mà còn có hi vọng và niềm tin của người thân ở quê nhà. Dù nhiều chông gai và vất vả thì những ngày tháng đó luôn là thời gian tươi đẹp và đầy sức sống nhất. Đi qua rồi nhìn lại, ta đều sẽ bất giác mỉm cười: ai cũng từng có một thời tuổi trẻ như thế! *** Tháng Chín năm 2013, phường Sangam, quận Mapo, thành phố Seoul.   Phố lên đèn. Bóng tối lẩn khuất giữa những ánh sáng rực rỡ phát ra từ các cửa hàng cùng những biển hiệu quảng cáo liên tục nhấp nháy. Những tòa nhà sáng rực, những cây cầu vượt đông nghịt xe hơi, đoàn người liên tục di chuyển trên đường phố. Bóng tối như thể bị đè sâu xuống mặt đất, để những cái phao người và xe nổi lềnh bềnh bên trên. Có lẽ phải lấy giấy vẽ đè xuống, rồi dùng bút chì tô thật mạnh lên trên, thì những mảng hình khối loang lổ của thành phố mới dần dần hiện hình.   Bức phác họa ấy chính là đêm Seoul. Ở một nơi nào đó, một ngày mới đang bắt đầu, một tình yêu đang nảy nở, một thời khắc huy hoàng đang được mong chờ. Chẳng biết từ lúc nào trong quãng thời gian mười chín năm sống ở Seoul, Na Jung không còn cảm thấy bất kỳ điều gì lạ lẫm, mới mẻ ở nơi đây nữa. Từ nãy đến giờ, Na Jung bày đầy ra nhà những thùng các tông to tướng, mải miết tìm kiếm cái gì đó. Bên ngoài cửa sổ, cuộc sống thành phố quen thuộc vẫn đang trôi đi.   “Cậu tìm cái gì thế?”   Yoon Jin vừa hỏi vừa quệt ngón tay lên giá sách. Có đúng là nhà mới chuyển đến không đấy? Ôi mẹ ơi, không có lấy một tí bụi nào. Sung Na Jung vẫn y như ngày nào, sạch sẽ gọn gàng đến phát sợ. Yoon Jin ngắm một lượt giá sách, le lưỡi ngạc nhiên.   “Ôi, cậu vẫn còn giữ cái này cơ à?”   Thứ mà Yoon Jin vừa lôi từ cuối giá sách ra là cuốn album của đội bóng rổ trường Đại học Yonsei. Yoon Jin không giấu nổi nụ cười mừng rỡ. Trời đất ơi! Phải ngắm các cầu thủ một tí mới được. Trẻ quá, trẻ quá đi thôi, đẹp hơn cả hoa!   “Xem cẩn thận đừng có để dính nước miếng vào. Đồ quý hiếm nhà mình đấy.”   Đang nói dở, Na Jung lục tung cái thùng giấy, bàn tay chợt dừng sững lại.   “Tìm thấy rồi!”   Na Jung hét lên phấn khích khiến Yoon Jin phải quay lại nhìn. Đấy là cái gì? Na Jung lôi từ trong hộp ra một cuộn băng VHS. Có tiếng mở cửa. Sook Sook nói vọng vào, “Em ra ngoài một tí”, rồi đi thẳng ra cửa.   “Úi chà chà. Sook Sook lớn quá rồi nhỉ. Mới ngày nào sự xuất hiện của thằng bé còn làm cả nhà một phen bất ngờ. Nó học có giỏi không?”   Yoon Jin đưa mắt nhìn theo cậu bé mặc đồng phục.   “Không, học dốt lắm. Càng lớn càng khó bảo, lại còn bắt đầu mọc râu, kinh chết đi được.”   Na Jung trả lời ngắn gọn, vừa lắc đầu vừa đi đến ngồi trước chiếc ti vi treo trên tường.   “Ôỉ, lâu lắm mới thấy cuộn phim băng đen như thế này đấy. Nhưng video gì thế? Đừng nói là cuộn băng hôm cưới cậu đấy nhé?”   Na Jung ra điệu bộ dễ thương gật đầu cười.   “Gớm quá. Cậu vẫn còn là cô dâu mới cưới đấy à? Bây giờ mà vẫn còn xem cái đấy à?”   “Đâu mà. Mình cứ tưởng làm mất rồi. Hôm trước dọn nhà tự nhiên tìm thấy. Hồi đấy xấu hổ có dám xem đâu. Hôm nay mới bật lên lần đầu tiên đây.”   Na Jung cho cuộn băng vào đầu máy video. Tìm thấy cuộn băng đã bị quên lãng từ lâu giữa cuộc sống bận rộn hối hả khiến cô thực sự vui mừng như thể gặp lại người bạn cũ.   “Nhất định phải xem đúng hôm về nhà mới thế này à?”   “Thì làm sao. Mọi người cùng xem lại mình ngày xưa cũng vui mà.”   “Chắc trông cậu phải kinh nhất luôn đấy.”   Na Jung đang định bấm nút play chợt dừng lại, quay lưng nhìn Yoon Jin. Kiểu trang điểm cô dâu môi đỏ chót quê một cục, nụ cười gượng gạo cứng đờ, đôi môi run rẩy vì căng thẳng trước máy quay. Yoon Jin không thể nào quên được cô dâu Na Jung ngày ấy.   “Sung Na Jung hồi đấy mặc váy cưới kiểu Park Ju Mi, lại còn đội cả vương miện nữa cơ mà.”   “Hay thôi không xem nữa?”   Na Jung và Yoon Jin nhìn nhau, cả hai đều có chung một suy nghĩ. Bỗng điện thoại của Na Jung rung lên. Yoon Jin ngắm nhìn Na Jung giải thích trôi chảy qua điện thoại, giờ này thì đường nào tắc, đường nào đi nhanh. Giọng địa phương vùng Gyeongsangdo cũng hoàn toàn biến mất, thay vào đó là tiếng thành phố chuẩn mực, thành thạo. Đến cả đoạn dặn mua café, nhớ bỏ hạnh nhân ra khỏi sữa chua blueberry, rồi cho thêm hai thìa espresso, tiếng Anh như gió, nghe cũng thật là “Seoul”.   “Na Jung nhà mình thành người thành phố xịn rồi. Hơi bị ghen tị đấy nhé. Đường nào cũng biết, tên café cũng thuộc vanh vách, gọi không cần phải nghĩ. Thế này thì ai mà biết được đây lại là gái quê Masan cơ chứ.”   Na Jung đặt điện thoại xuống, thở một hơi dài thườn thượt.   “Bạn à. Năm nay là năm thứ mười chín mình sống ở Seoul rồi đấy. Một nửa cuộc đời sống ở thành phố, như thế chưa đủ để gọi là người thành phố hả?”   Nói đoạn, Na Jung cố tình chuyển sang giọng nhà quê.   “Cũng phải. So với hồi đó thì bây giờ hoàn toàn là người Seoul rồi.”   Yoon Jin hất cằm chỉ về hướng ti vi. Cuộn băng lễ cưới Na Jung do Yoon Jin quay bắt đầu chạy.   ***   Thứ Bảy ngày 22 tháng Sáu năm 2002. Chiếc máy quay đang rung lắc loạn xạ trong tay Yoon Jin dần dần được giữ ổn định lại, hình ảnh cô dâu Na Jung hiện ra. Trước khuôn mặt không thể giấu nổi vẻ đờ đẫn sau một đêm hồi hộp đến mất ngủ của cô dâu, giọng địa phương vùng Jeonlado nặng trình trịch của Yoon Jin vang lên.   “Na Jung à, cơ hội cuối cùng rồi đấy. Bỏ trốn đi. Chỉ cần bước ra ngoài cánh cửa này thôi là thế giới tự do sẽ lại về với cậu. ”   “Bây giờ là lúc nói như thế với cô dâu đấy à. Cậu định lấy chồng đẻ con sống hạnh phúc để một mình mình thành bà già cô đơn hả?”   “Cậu mà lấy chồng bây giờ là không đi Jeonju gặp anh Lee Sang Min được đâu.”   Từ trong phòng chờ của cô dâu, Na Jung nở nụ cười gượng gạo hướng ra ngoài chào khách, rồi nghiến chặt răng gầm ghè.   “Mình đã xin phép chú rể rồi. Chú rể bảo trận đấu vào ngày nghỉ sẽ cho mình đi xem.”   “Trước khi cưới thì nói thế nào chả được. Thế mà cậu cũng tin à?”   “Ờ. Tin. Cậu không tin thì đi mà hỏi chú rể đứng đằng sau cậu kia kìa.”   Từ lúc nào Na Jung đã chuyển ánh nhìn ra phía sau vai Yoon Jin. Gương mặt cô không giấu nổi sự rạng rỡ xen lẫn ngại ngùng. Chú rể dường như cũng cảm nhận được tình cảm của cô dâu dành cho mình. Nụ cười bẽn lẽn khiến Na Jung trở nên xinh đẹp hơn bất cứ lúc nào. Mặc dù toàn nói đùa từ nãy đến giờ, nhưng Yoon Jin hiểu ngay chính giây phút này, Na Jung đang hạnh phúc đến nhường nào.   Lễ cưới của Na Jung. Dù đã mười năm trôi qua nhưng trong trí nhớ của Yoon Jin, hình ảnh ngày hôm ấy vẫn rực rỡ, ấm áp. Ký ức về những ngày đầu họ gặp nhau cũng dần dần hiển hiện rõ ràng. Từng hình ảnh, từng kỷ niệm về những ngày thanh xuân gan góc, vui vẻ, và ngờ nghệch tràn lên sống động như câu chuyện của ngày hôm qua. Lâu lắm rồi Yoon Jin mới ngồi hồi tưởng lại chuyện ngày xưa như thế này. Quãng thời gian của tình yêu trong sáng và những tổn thương vụng về. Quãng thời gian khó khăn và hạnh phúc mà ai cũng phải trải qua trong đời.   Năm 1994. Khi đó, chúng tôi mới hai mươi tuổi.   Mời các bạn đón đọc Lời Hồi Đáp 1994 của tác giả Lee Woo Jung & Oh Seung Hee.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Mù Lòa - Jose Saramago
"Mù lòa" giống như câu chuyện ngụ ngôn giàu triết lý. Với lối viết tỉ mỉ, châm biếm, Jose Saramago cuốn hút người đọc vào từng trang sách, cười khóc với các nhân vật trong truyện. Mù lòa là cuốn tiểu thuyết siêu thực, đa nghĩa, đầy ẩn dụ được nhà văn José Saramago viết năm 1995. Năm 2008, Mù lòa được chuyển thể thành phim và chiếu mở màn tại Liên hoan phim Cannes. Đó là câu chuyện hư cấu về một thành phố kỳ lạ - thành phố bỗng dưng hóa mù.  ... Căn bệnh mù trắng đã lan ra ngoài bốn bức tường của phòng giam, vỏ bọc của xã hội thành thị văn minh sụp đổ hoàn toàn và trở về trạng thái nguyên thủy man rợ. Toàn bộ cơ sở hạ tầng của thành phố bị phá hủy, mối liên kết giữa các cá thể trong cộng động sụp đổ hoàn toàn. Xác chết ngập đường, lương thực thiếu thốn, người nọ chiếm cứ nhà của người kia, ai cũng làm đủ mọi cách để sinh tồn, bất chấp việc chà đạp lên đồng loại… Chứng kiến những cảnh tượng kinh hoàng ấy, vợ ông bác sĩ - người sáng mắt duy nhất đã có lúc thốt lên mong muốn được mù như mọi người, “mù nhưng thấy”. Không phải bỗng dưng tác giả mở đầu cuốn sách bằng câu đề từ: “Nếu ngươi có thể thấy, hãy nhìn. Nếu ngươi có thể nhìn, hãy quan sát”. Lời đề từ như tiếng sấm truyền từ một cuốn sách cổ xưa để lại, khiến người đọc không khỏi bàng hoàng, thảng thốt. Thì ra từ “thấy” đến “nhìn” và “quan sát” là cả một chặng đường dài về nhận thức mà không phải kẻ “mắt sáng” nào cũng làm được.  Mù lòa giống như một câu chuyện ngụ ngôn giàu triết lý. Với lối viết tỉ mỉ, châm biếm, Jose Saramago đã cuốn hút người đọc vào từng trang sách, cười khóc với các nhân vật trong truyện. Hơn hết, Mù lòa đặt ra cho người đọc những triết lý nhân sinh cần suy ngẫm qua lời vợ ông bác sĩ nói trong phần kết của tác phẩm: “Em không nghĩ chúng ta đã hóa mù, em nghĩ từ trước đến giờ chúng ta vẫn mù, Mù nhưng nhìn được, Những người mù có thể nhìn được, nhưng không thấy”. *** Jose Saramago sinh năm 1922 tại Azinhaga, thuộc tỉnh Ribatejo, Bồ Đào Nha. Tác phẩm của ông đầy chất huyền thoại và đa nghĩa, gợi lại cổ tích qua cách nhìn độc đáo về lịch sử, xã hội và con người. Văn của ông đi sâu vào chỉ tiết, châm biếm và dí dỏm, siêu thực và đầy ẩn dụ. Mãi đến năm sáu mươi tuổi ông mới được nhiều người biết đến qua tác phẩm Memorial do Convento (Ký ức về nhà tu kín, 1982). Tiểu thuyết gây nhiều tranh cãi nhất của ông là O Evangelho Segundo Jesus Cristo (Phúc âm theo Chúa Jesus, 1991), bị Thứ trưởng Ngoại giao Bồ Đào Nha loại khỏi danh sách các tác phẩm đề cử giải Văn chương châu Âu. Ông nhận giải Nobel Văn chương năm 1998. Một số tác phẩm của ông gồm có: Manual de Pintura e Caligrafia (Cẩm nang hội họa và thư pháp, 1977), Viagem a Portugal (Du lịch Bồ Đào Nha, 1981) O Ano da Mortc de Ricardo Reis (Năm vua Ricardo băng hà, 1984), A langada de Pedra (Chiếc bè đá, 1986), História do Cerco de Lisboa (Trận bao vây Lisbon 1989), Todos os Nomes (Mọi cái tên, 1997), O Conto da llha Desconhecida (Chuyện hòn đảo vô danh, 1997), A Caverna (Hang động, 2001), O Homem Duplicado (Kẻ giống hệt, 2003), Ensaio sobre a Lucidez (Trong sáng, 2004), Don Giovanni ou O Dissoluto Absolvido (Don Giovanni hay Gã phóng đãng vô tội, 2005), As Intermitências da Morte (Thần chết tạm nghỉ, 2005), As Pequenas Memórias (Kỷ niệm ấu thơ, 2006), A Viagem do Elefante (Chuyến đi của con voi, 2008), Cain (2009). Mù lòa (Ensaio sobre a Cegueira, 1995) dịch từ bản tiếng Anh, Blindness, của Giovanni Pontiero, ông mất trước khi sửa xong bản dịch; Margaret Jull Costa hoàn tất việc sửa bản tiếng Anh; nhà xuất bản Harcourt, Florida, ấn hành năm 1999. “Nếu ngươi có thể thấy, hãy nhìn. Nếu ngươi có thể nhìn, hãy quan sát.” Mời các bạn đón đọc Mù Lòa của tác giả Jose Saramago.
Hội Những Trái Tim Cô Đơn - Elizabeth Eulberg
Dành tặng EEC thân yêu. Dành tặng đặc biệt đến Dav Pilkey, người đầu tiên khích lệ tôi viết cuốn sách này. Đều là lỗi của anh hết đấy nhé! Tớ, Penny Lane, trịnh trọng xin thề suốt cuộc đời còn lại sẽ không hẹn hò với đứa con trai nào nữa. Ừm, có lẽ mươi mười lăm năm nữa tớ sẽ cân nhắc lại lời thề này, khi tớ không còn sống ở Parkview, bang Illinois nữa, hoặc khi tớ học xong tại trường Trung học McKinley, nhưng lúc này tớ sẽ không dính líu gì đến tụi con trai nữa. Tụi nó chỉ biết nói dối, lừa phỉnh. Đấy, tất tần tật. Toàn là quỷ dữ. Đúng là vẫn có vài người tử tế, nhưng ngay khi bọn họ đạt được mục đích, họ sẽ đá đít bạn và chạy theo mục tiêu mới. Vì thế tớ chán ngấy rồi. Không hẹn hò gì nữa. Chấm hết. Yesterday "Love is such an easy game to play…" *** “Hài hước, ấn tượng. Một cuốn sách cần phải đọc và thích hợp với bất kỳ ai đã từng yêu – hay thề sẽ vĩnh biệt tình yêu” (Stephen Meyer). 16 tuổi, hâm mộ ban nhạc The Beatles, Penny Lane phát ốm với đám con trai và chán ngấy việc hẹn hò sau khi mối tình với cậu bạn thanh mai trúc mã tan vỡ, mối tình khiến cô cảm thấy mình thật ngớ ngẩn. Bởi vậy cô nàng thề sẽ từ bỏ tình yêu và thành lập “Hội những trái tim cô đơn”, sẽ chỉ tập trung vào việc học và quan tâm tới bản thân mình. Nhưng Penny chẳng ngờ được là có bao nhiêu cô nàng cũng có tâm trạng giống mình và muốn gia nhập hội. Thậm chí cả những cô nàng trước giờ cô chưa từng nghĩ sẽ quan tâm tới nó cũng muốn tham gia. Và rồi có những điều không tưởng nổi đã xảy ra… Thế còn bạn, bạn sẽ làm gì khi bạn là thành viên sáng lập một cái hội chống-hẹn-hò nhưng lại bắt đầu rung rinh trước một anh chàng đẹp trai, dễ thương và quan trọng hơn cả anh ta rõ ràng là muốn hẹn hò với bạn? Đọc qua “Hội những trái tim cô đơn” thoạt tiên ta sẽ ngỡ cuốn sách viết cho lứa tuổi mới lớn và nó quá “trẻ” đối với những người đã trưởng thành, nhưng không hẳn vậy. Với văn phong thực sự hấp dẫn với những chủ đề xoay quanh tình bạn, tình yêu và cả những giá trị đích thực của bản thân mỗi người, Elizabeth Eulberg đã khiến mọi người cảm nhận được những điều thú vị và hấp dẫn mọi lứa tuổi trong tác phẩm của mình. “Hội những trái tim cô đơn” sẽ làm cho bạn đi từ ngạc nhiên này tới ngạc nhiên khác cùng với những chi tiết vui nhộn, đáng yêu. Một cuốn sách thú vị trong mùa Valentine dành tặng mọi lứa tuổi, những ai đã hẹn hò và cả những trái tim vẫn chưa tìm được nửa kia của mình. .... Mời các bạn đón đọc Hội Những Trái Tim Cô Đơn của tác giả Elizabeth Eulberg.
Hành Trình Tình Yêu - Katie Fforde
Lời thề từ bỏ đàn ông nhiều khi lại bị phá vỡ bởi chính những người đàn ông giàu lòng kiên nhẫn. Jo Edwards không bao giờ định sống trên một cái sà lan. Cô thậm chí không chắc là mình có thích thuyền hay không. Nhưng khi chồng cô đổi cô để lấy một một người mẫu trẻ hơn, cô nhận ra các lựa chọn của cô bị giới hạn một cách đáng lo ngại. Dora Hamilton không bao giờ lập kế hoạch trốn chạy trong đám cưới của chính mình. Nhưng khi ngày trọng đại đó đến gần, bàn chân lạnh lẽo của cô chẳng có dấu hiệu gì của sự ấm áp – và việc chấp nhận lời mời ẩn náu của Jo trên con tàu Ba Chị Em dường như là sự lựa chọn duy nhất. Khi Jo và Dora bắt đầu làm mới cuộc sống lộn xộn của họ, họ nhận ra cả hai cần có một cái nhìn thực tế để giúp họ ổn định. Nhưng, bất chấp lời thề từ bỏ đàn ông, họ không thể nào chống lại được sự can thiệp đầy kiên trì của anh chàng Marcus điển trai nhưng bí ẩn, cùng anh chàng Tom quyến rũ và giản dị, những người dường như quyết định giúp đỡ họ cho dù họ có thích hay không… *** Dora đặt mấy cái túi xuống và nhìn người phụ nữ đang vẫy tay với cô bên kia mặt nước. Theo hướng dẫn, cô đã bắt taxi từ nhà ga của cái thị trấn xinh xắn bên bờ sông Thames này và được thả xuống ở cổng bến thuyền. Rồi cô gọi điện thông báo mình đã tới. Bà chủ nhà mới của cô sẽ đón cô và dẫn cô vào trong. Cô vẫn nhận ra bà ấy, dĩ nhiên, nhưng mẹ người bạn thân nhất của cô đã thay đổi đôi chút so với lần cuối cô gặp bà. Bà đang mặc áo sơ mi khoác ngoài dài thòng và quần jeans thụng. Trước kia, bà thường mặc kiểu quần áo mà những phụ nữ tỉnh lẻ như mẹ cô hay mặc: váy, áo lụa, hoặc có thể là một cái áo phông ôm sát người, với áo len casơmia tròng ra ngoài. Tóc bà, vốn được chăm chút gọn gàng vì một tuần đến tiệm làm đầu một lần, bây giờ trông khá bù xù, xơ xác. Tuy nhiên, bà đang mỉm cười ấm áp, và Dora cảm thấy rốt cuộc việc tìm đến bà nương tựa có thể chẳng phải một ý kiến tồi. “Làm thế nào mà cháu xoay xở được với đống đồ này trên tàu hỏa thế?” Bà Edwards hỏi khi băng qua cây cầu tới chỗ Dora. Bà nhấc mấy cái túi “dùng được nhiều lần” căng phồng những chiếc áo len dài tay. “Và tại sao cháu lại cần chỗ áo len này? Đang là tháng Năm mà!” “Mẹ cháu nói ở trên thuyền lúc nào cũng lạnh,” Dora giải thích với vẻ áy náy. “Và những người đi cùng chuyến tàu đã giúp đỡ cháu nhiều,” cô nói tiếp, nhớ lại sự tốt bụng của họ đã gần như khiến cô òa khóc thế nào. Cô rất mong manh, điều nhỏ nhặt nhất cũng có thể khiến cô xúc động. “Cô thực sự nghĩ rằng, nhìn chung thiên hạ vẫn tốt bụng hơn những gì người ta đồn thổi,” bà Edwards nói, lịch sự lờ đi lời nhận xét về cái lạnh và những con thuyền. “Giờ thì theo cô.” Dora đeo ba lô lên lưng và đi theo bà trên con đường dẫn đến một cái cổng thép cao. Bà Edwards rướn người về đằng trước và chạm vào một tấm kim loại. Cánh cửa kêu bíp bíp và bà đẩy nó ra. “Cô cất chìa khóa từ trong áo lót,” bà giải thích. “Tay cô lúc nào cũng bận xách thứ gì đó. Cô sẽ đưa cháu một chìa riêng, để cháu có thể ra vào tùy ý.” Bà liếc nhìn Dora. “Được không?” Dora gật đầu và theo bà Edwards xuôi theo lối đi bộ dẫn đến dãy cầu phao. Mỗi chiếc cầu phao đều cột một con thuyền. Mặc dù rất muốn nhìn chúng, Dora vẫn mừng vì bà Edwards không dừng lại - ba lô của cô quá nặng. Họ đã đi qua khoảng bốn chiếc thuyền, chẳng chiếc nào giống chiếc nào, trước khi bà Edwards dừng lại cạnh một chiếc thuyền lớn sơn màu xanh lá cây đậm. “Đây là chiếc Ba chị em. Ban đầu nó có một cái tên Hà Lan, nhưng chẳng ai phát âm được, vì thế Michael, chủ sở hữu của nó, đã dịch tên nó ra như vậy. Đó là một cái tên phổ biến dành cho những con thuyền Hà Lan.” Bà Edwards quẳng mấy cái túi lên thuyền rồi nhảy phốc qua mạn thuyền với sự lanh lẹ không ngờ. Dora nghĩ mẹ cô sẽ phải cố hết sức mới làm được việc đó, nhưng rồi nhớ lại rằng mẹ cô đã luôn phải nỗ lực trong mọi việc, đó là một phần lý do tại sao cô ở đây. Bà Edwards quay lại, chìa tay cho Dora. “Đưa cô mấy thứ đó, rồi nếu cháu đặt chân ở kia, cháu có thể lên thuyền khá dễ dàng. Chỉ cần luyện tập một chút thì cháu sẽ nhảy lên nhảy xuống con thuyền này như một con cừu non thôi.” ... Mời các bạn đón đọc Hành Trình Tình Yêu của tác giả Katie Fforde.
Dấu Vết Của Mẹ - Marta Dzido
Kịch bản không có gì đặc biệt. Hai cô cậu học trò cuối cấp và cái thai không mong muốn, cuộc trốn chạy của chàng trai vô trách nhiệm. Cô gái cố gắng sống bình thường, quên đi cậu bạn và chạy trốn sự cô đơn… Nhưng Dấu vết của mẹ là một cuốn tiểu thuyết đặc biệt, với một sự già dặn đặc biệt, nhất là khi tác giả viết nó lúc chưa tròn hai mươi. Với dấu vết của mẹ, Marta Dzido đã bước vào hàng ngũ những nhà văn trẻ quan trọng nhất của Ba Lan. *** Năm 1956. Một mùa hè ngột ngạt. Hai người phụ nữ ngồi chờ trước phòng khám phụ sản. Một người rất trẻ, gần như một cô bé, vì ai cũng chỉ đoán cô mười tám tuổi là cùng mặc dầu cô đã hai mươi sáu tuổi - có hẹn đến phá thai. Cô có hai con nhỏ, một ông chồng lao phổi, không việc làm, không kế sinh nhai. Người phụ nữ thứ hai - già hơn, ăn mặc chỉn chu và lịch sự - bị vô sinh, tuy nhiên bà ta vẫn đến bác sĩ với hy vọng được giúp đỡ. Họ bắt đầu nói chuyện. Cô gái chờ làm thủ thuật nói rằng cô ta không thể có đứa con thứ ba, cô không biết phải xoay sở thế nào, rằng chồng cô sắp chết, rằng cô đã kiệt sức và rằng… Người không thể có con nói: - Em cứ để đẻ đi, chị sẽ nhận cháu bé, chị sẽ nuôi dạy nó, yêu thương nó… - Không, không thể như thế được - cô gái muốn bỏ cái thai nói. - Chị sẽ trả tiền cho em - người thứ hai nài nỉ. - Không mà, chị... - Nhưng chị sẽ trả thật mà. Nhiều… - và chị ta rút từ ví ra một tệp tiền. - Đây, em cầm đi, em cứ cầm rồi suy nghĩ, được không? - Xin chị để cho tôi yên - cô gái chờ làm thủ thuật nói. Cô ta đứng dậy rồi chạy khỏi bệnh viện. Sáu tháng sau cô ta sinh một bé gái. Hai mươi bốn năm sau bé gái ấy sinh một bé gái khác.   Năm 2000. Cô gái út trong số ba chị em gái đã lớn. Mặc dù đã hai mươi tuổi nhưng trông cô như một đứa trẻ con và không một ai có thể nghĩ rằng cô lại là mẹ của một bé gái mấy tháng tuổi. Lại một mùa hè ngột ngạt, và cô gái ngồi trong bệnh viện, chờ vào khoa phụ sản. Bây giờ để phá thai phải trả hai ngàn zloty. Ngồi cạnh cô là một phụ nữ ăn mặc chỉn chu và lịch sự, nhưng họ không chuyện trò gì. Cô gái đã hẹn với bác sĩ, người sẽ làm cái việc phá thai. Từ hai ngàn, anh ta giảm xuống tám trăm, có lẽ anh ta thấy thương cho cô. Cô ta đến chỗ bác sĩ với cái thai năm tuần tuổi và một đứa bé ba tháng tuổi trên tay, cô nói là bác sĩ của bệnh viện bảo cho con bú sữa mẹ đều đặn là biện pháp tránh thai tốt nhất. Rằng hoóc môn của thuốc tránh thai sẽ vào sữa và có hại cho đứa trẻ, còn đặt vòng thì lại quá sớm. Cô ta tin, vì bác sĩ cơ mà, nhất định phải biết thế nào là tốt nhất chứ. Và giờ đây cô đang mang thai, cái thai mà chỉ một tiếng nữa thôi sẽ không còn nữa. Khi mọi việc đã xong xuôi, cô gái như trút được gánh nặng, nhưng lại thấy xấu hổ vì không biết sẽ phải kể về chuyện này như thế nào và với ai. Cô không biết cái việc cô vừa làm xong được gọi là gì. Cô im lặng rất lâu, cho tới khi không giữ nổi nữa cô bèn viết sách. Về phá, nạo, vét, về phương pháp hút chân không, về sẩy thai, về tiết dịch và máu. Cô viết cuốn sách mà chỗ này chỗ kia còn khập khiễng, non nớt, lộn xộn, ngây thơ, một số câu bộc lộ vẻ ngoài kiêu căng của một nữ sinh trung học. Cô viết xong và lại thấy nhẹ nhõm. Cô mang cuốn sách đến nhà xuất bản, nhưng giám đốc nhà xuất bản, chị Beata S. nói với cô rằng không thể để thế được, rằng nếu đã viết cuốn sách về nạo phá thai thì cần phải có quan điểm rõ ràng, ủng hộ hay phản đối, và phải nói được điều đó một cách sáng sủa, dễ hiểu. Làm sao để độc giả không phải băn khoăn. Và nói chung là cần phải đầu tư thêm thời gian công sức. Nhưng cô gái đã không còn muốn nữa, cô cứ để cuốn sách nguyên xi như vậy, và mấy năm sau cô viết một cuốn sách khác. Lần này thì cuốn truyện thành công. Viết về thất nghiệp, về dân thủ đô hợm hĩnh ngạo mạn và về những cuộc hôn nhân thất bại. Cô gái xuất hiện trên báo chí và truyền hình, ở đấy cô không biết phải nói gì, mà họ thì hỏi đủ thứ - về nữ quyền, về giáo hoàng và về thế hệ gì gì đấy. Cô cười tươi, rụt rè nói: “vâng, vâng” hoặc là “không, không”. Không được một câu dài hơn. Cuối cùng người xuất bản, ông Piotr M. thuộc công ty đưa ra dự kiến: - Hay là chúng ta in cái cuốn về phá thai ấy? Nhưng cô gái do dự. Vì đã sáu năm rồi và có lẽ bây giờ tốt hơn nên viết cuốn mới chứ đừng có lôi mấy cái chuyện cũ rích ấy ra, không được đâu, mà cô cũng không muốn mất công vào đó nữa… Cuối cùng cô trả lời: - Nhưng đấy đâu có phải là văn chương hay ho gì… - Không sao - tiếng của người xuất bản trong ống nghe - nó chân thực và nói về một vấn đề quan trọng… - Nhưng em sợ - cô gái nói vào ống nghe - là mọi người sẽ hỏi đây có phải là viết về em không và có đúng là em phá thai không? - Đừng sợ, em có con cơ mà, đó là minh chứng tốt nhất cho việc em không phá thai… - Piotr M. nói. ... Mời các bạn đón đọc Dấu Vết Của Mẹ của tác giả Marta Dzido.