Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Hai Mươi Năm Sau - Alexandre Dumas

Hai Mươi Năm Sau là tập thứ hai trong thiên tiểu thuyết lịch sử gồm: “Ba Người Lính Ngự Lâm”, “Hai Mươi Năm Sau” và “Tử Tước De Bragelonne” (hay Mười Năm Sau Nữa). Hai Mươi Năm Sau diễn ra trong hoàn cảnh lịch sử nước Pháp những năm 1648 - 1649 khi mà các nhân vật của tập truyện thứ nhất đã thêm hai mươi tuổi đời. Lúc ấy, Giáo Chủ Tể Tướng De Richelieu và Vua Luis XIII đã chết, Vua Louis XIV nối ngôi mới có mười tuổi. Hoàng Hậu Anne D'Autriche làm nhiếp chính và đưa người tình của mình là Giáo Chủ Mazarin gốc Ý lên làm Tể Tướng. Tính tham lam, biển lận, xảo quyệt và những sự bóc lột tàn tệ của Mazarin cùng những hành vi chuyên quyền độc đoán của triều đình đã dấy lên lòng căm phẫn cao độ trong nhân dân và cả trong lớp Hoàng Thân, quý tộc bị chèn ép, khủng bố. Thời gian ấy giai cấp tư sản ở Châu Âu đã hình thành và phát triển, bắt đầu bộc lộ những mâu thuẫn gay gắt với giai cấp phong kiến thống trị triều đình của nó. Ở nước Anh, một nước công nghiệp phát triển sớm và mạnh, cuộc cách mạng dân chủ tư sản do Olivier Cromwell lãnh đạo rồi lôi kéo được Nghị Viện và quân đội chống lại Vua Charles I, lật đổ vương quyền và tuyên bố nền cộng hòa, gây ảnh hưởng vang dội đến tình hình các nước Châu Âu, đặc biệt là Pháp. Tại Pháp, những tầng lớp tư sản giành được sự đồng tình của Nghị Viện và một số nhà quý tộc lại được nhiều tầng lớp nhân dân, nhất là thị dân ủng hộ, đã lập ra phong trào La Fronde chống lại Mazarin và triều đình, gây lên những cuộc bạo loạn và dựng những luỹ chiến đấu nổi tiếng ở giữa Paris, buộc triều đình phải trốn khỏi kinh đô và đàm phán. Trong bối cảnh lịch sử rối ren và sôi động ấy, Alexandre Dumas đưa các chàng ngự lâm quân quen thuộc của chúng ta trở lại sân khấu chính trị - xã hội. D'Artagnan và Porthos phục vụ trong ngự lâm quân trực tiếp dưới quyền của Tể Tướng và Hoàng Hậu, còn Arthos và Aramis bí mật tham gia phong trào La Fronde. Những cuộc chạm trán bất ngờ và đọ kiếm nảy lửa giữa bốn người bạn tâm đắc thuộc hai phe đối lập tưởng như sẽ làm tan vỡ tình bằng hữu, trái lại lại đi đến củng cố tình bạn keo sơn sống chết có nhau. Vì bản chất của bốn con người ấy vẫn là trong sáng, nhân hậu, thủy chung, cùng yêu mến và căm ghét giống nhau, vì nghĩa lớn và tình riêng mà hành động, dù đường đi có khác nhau. Tính cách của nhân vật được khắc họa trên các bối cảnh lịch sử đang trở dạ, sôi sục những cuộc bạo động và khủng bố, những cuộc đấu tranh giai cấp giữa chủ nghĩa tư bản đang lên và chế độ phong kiến đang suy tàn. Hoạt động của các chàng ngự lâm quân trong bộ truyện này gắn bó hơn với những sự kiện lịch sử và có thể nói, tham gia trực tiếp vào đó. Cái chất sôi nổi, lãng mạn, hùng tráng của họ trước kia phát triển thành sâu sắc, chín chắn và thực tế hơn, còn mang tính hiện thực đậm đà. Dù ở phe bên này hay phe bên kia, họ đều nhìn thấy sự thối nát của triều đình, bản chất xấu xa ti tiện của Tể Tướng, tính độc đoán, tàn bạo và bạc bẽo của Hoàng Hậu, sự suy vong của các vương triều, sự lợi dụng của những kẻ cầm đầu tranh thủ nhân dân để phục vụ lợi ích của chính mình. Qua lời nói của các chàng ngự lâm quân, tác giả đã nhận xét: “Ở Pháp lúc này mọi thứ đều tồi tàn nhỏ mọn. Chúng ta có một ông Vua mười tuổi chưa hiểu mình muốn gì. Chúng ta có một Hoàng Hậu mà nỗi đam mê muộn mằn khiến trở thành mù quáng. Chúng ta có một Tể Tướng cai trị nước Pháp như cai quản một trang trại lớn, nghĩa là bận tâm xem ở đó vàng có mọc lên được không khi cày bừa nó bằng âm mưu và thói xảo quyệt Ý. Chúng ta có những Ông Hoàng gây sự chống đối có tính cách cá nhân và ích kỷ chẳng đi tới đâu ngoài việc moi từ tay Mazarin mấy thỏi vàng và vài mảnh quyền thế”. “Còn nhân dân thì sao?… Tội nghiêp cho những con người kia! Họ tiến ra chỗ chết để người ta trả lại đất Sedan cho ông De Bouillon, để người ta ban quyền tập chức đô đốc cho ông De Beaufort, và để ngài Chủ Giáo được phong làm Giáo Chủ!” “Dân chúng không kêu ca gì cho các vị Hoàng Thân, mà lại nổi dậy vì Broussel chính vì đây là một người thuộc tầng lớp bình dân, và bảo vệ Broussel, dân chúng cảm thấy một cách tự nhiên rằng họ bảo vệ chính mình”. Sức mạnh của quần chúng nhân dân khi đã vùng lên là cơn bão táp ghê gớm, thậm chí chỉ một gã trùm ăn mày mà “Chẳng ai hồ nghi rằng hai bàn tay của hắn vừa mới giúp kéo ra khỏi tòa kiến trúc xã hội hòn đá nền tảng của vương quyền”. Với thái độ thiện cảm, tác giả nhìn Olivier Cromwell như “một thủ lĩnh tài ba và vững vàng, kiên quyết chống lại một vương triều thối rữa và mọt ruỗng, nó sắp sụp đổ một sớm một chiều như một túp lều cũ nát”. Viết tiếp “Hai Mươi Năm Sau”, A. Dumas chứng tỏ ngòi bút khỏe khoắn, linh hoạt và sức tưởng tượng dồi dào, phong phú của mình. Vẫn những chàng ngự lâm kia nay đã sang tuổi trung niên, rất ít những chuyện đấu kiếm hoặc yêu đương, tập truyện vẫn hấp dẫn người đọc bằng sự kiện, những tình tiết luôn luôn bất ngờ, lý thú và hồi hộp, bằng hơi văn sinh động, tự nhiên, pha chút châm biếm mỉa mai. Tính cách mỗi nhân vật đều độc đáo, phát triển lôgích và đậm nét. D'Artagnan suốt hai chục năm ròng chỉ là một anh trung úy ngự lâm bị lãng quên, bạc đãi, vẫn là con người vừa trung hậu, tận tâm, vừa thực tế sắc sảo, bằng tài trí và mưu lược của mình nổi bật lên như một ngôi sao sáng mà bao kẻ quyền cao chức trọng khó bề sánh kịp. Arthos mà lòng nhân ái và cao thượng đã thành truyền thuyết suốt đời, không màng danh lợi, không quản hy sinh, đến mức cứu cả kẻ tử thù và suýt mất mạng vì nó. Tuy nhiên mối tình bất ngờ và ngắn ngủi với bà Công Tước cải trang trên đường đi trốn, mang tính người hơn và tình phụ tử với đứa con chung - Tử Tước De Bragelonne - đã giải thoát anh khỏi nỗi thất vọng nặng nề của mối tình đầu thuở hoa niên bị đầu độc. Aramis, con người khi là lính ngự lâm thì luôn luôn mơ ước được khoác áo Tu Viện Trưởng, nhưng khi đã trở thành Tu Viện Trưởng lại mang tính ngự lâm hơn bao giờ hết, vẫn thể hiện đúng bản chất nhất quán của mình và tự anh đã vạch trần những mặt trái nực cười của các tu viện và giáo chức. Vẫn đáng yêu với tính huênh hoang chất phác nhưng bộc tuệch và chân thành của mình, chàng hộ pháp Porthos là một nét tương phản đặc sắc bổ sung cho hình tượng các chàng ngự lâm quân. Mordount, đứa con trai sống sót của Milady, bước vào truyện với chí báo thù cho mẹ quyết liệt và dai dẳng như chính Milady hiện thân, là một bóng ma, một định mệnh luôn luôn đeo đẳng, ám ảnh, hãm hại các chàng ngự lâm quân và trở thành một đối tượng ghê gớm gây nên biết bao tai họa, biết bao tình huống gay go khốc liệt cho những địch thủ của mình, mang đầy kịch tính xuyên suốt cả cuốn truyện. Những sự biến cách mạng ở Pháp và Anh thời bấy giờ thường sơ lược và khô khan trên các trang sử ký đã sống dậy dưới ngòi bút tài tình của A. Dumas, với những quang cảnh, những con người, những tình tiết sinh động, linh hoạt, sôi nổi của những cuộc nổi dậy, những cuộc chinh chiến, những cuộc đấu tranh phức tạp, một mặt phơi bày tính chất phản động, xảo quyệt và ngoan cố của giai cấp thống tri, mặt khác làm nổi bật khí thế dũng mãnh, hào hùng, hình ảnh cao đep của quần chúng cách mạng, nó như những cơn bão táp đầu tiên trong lịch sử làm rung chuyển nền móng của các ngai vàng và của mọi chế độ bóc lột. Rất thú vị là giống như trong nhiều tác phẩm của Victo Hugo, những cơn bão táp ấy làm thức dậy và lôi cuốn theo cả vào làn sóng cách mạng những tầng lớp “cặn bã” của xã hội, “những thằng nhóc Paris” đáng yêu và những đội quân hành khất bí hiểm và kỳ lạ. Đọc “Hai Mươi Năm Sau” chúng ta càng yêu mến các chàng ngự lâm và bùi ngùi cho số phận của họ, số phận của những con người. Cuộc đời của họ rồi sẽ ra sao? Họ vẫn gắn bó với lịch sử, sẽ sống với lịch sử, và cuốn hút chúng ta trong tập truyện cuối cùng “Tử Tước De Bragelonne”. *** Dumas Davy De La Pailleterie (sau này là Alexandre Dumas) sinh năm 1802 tại Villers Cotterêts trong khu Aisne, ở Picardy, Pháp. Ông có hai chị gái là Marie Alexandrine (sinh năm 1794) và Louise Alexandrine (1796 - 1797). Cha mẹ ông là bà Marie Louise Élisabeth Labouret, con gái của một chủ nhà trọ và ông Thomas Alexandre Dumas. Ông Thomas Alexandre được sinh ra tại thuộc địa Saint Domingue của Pháp (nay là Haiti), là con lai ngoài giá thú của Hầu Tước Alexandre Antoine Davy De La Pailleterie, một quý tộc Pháp, Cao Ủy Trưởng về pháo binh trong khu thuộc địa với Marie Cessette Dumas, nữ nô lệ da đen có nguồn gốc từ Afro Caribbean. Không ai biết rõ bà được sinh ra tại Saint Domingue hay ở Châu Phi (dù thực tế bà đã có một tên họ bằng tiếng Pháp nên có lẽ bà là người thiểu số Creole) và cũng không biết rằng cội nguồn của bà là ở đâu. Được cha đem về Pháp và cậu bé Thomas đã sống tự do một cách hợp pháp tại đây, Thomas Alexandre Dumas Davy theo học một trường quân đội và gia nhập quân ngũ khi còn thiếu niên. Khi trưởng thành, Thomas Alexandre lấy tên của mẹ là Dumas làm họ sau khi cắt đứt quan hệ với cha. Dumas được thăng cấp tướng năm 31 tuổi, người lính đầu tiên có gốc gác Afro Antilles đạt được cấp bậc này trong hàng ngũ quân đội Pháp. Ông đã tham gia trong Chiến Tranh Cách Mạng Pháp. Ông trở thành Tổng Chỉ Huy Trưởng trong Quân Đội Pyrenees, người đàn ông da màu đầu tiên đạt được cấp bậc đó. Dù là một vị tướng dưới trướng của Napoléon Bonaparte trong các chiến dịch ở Ý và Ai Cập nhưng Thomas Dumas không còn được tín nhiệm vào năm 1800 nên đã yêu cầu nghỉ phép để quay về Pháp. Trên đường về, tàu của ông phải dừng lại ở Taranto thuộc Vương quốc Napoli, tại đây ông và những người khác bị giữ làm tù binh. Trong hai năm bị giam giữ, sức khỏe ông đã bị yếu đi. Tại thời điểm Alexandre Dumas được sinh ra, cha ông bị suy kiệt nặng nề. Ông Thomas qua đời vì ung thu năm 1806 khi Alexandre lên 4. Người mẹ góa phụ Marie Louise không đủ sức lo cho việc học hành của con trai nhưng Dumas tập đọc mọi thứ trong khả năng và còn tự học tiếng Tây Ban Nha. Những câu truyện kể của mẹ về lòng dũng cảm của người cha trong các trận đánh đã truyền cảm hứng cho trí tưởng tượng sinh động của cậu bé. Mặc dù trở nên nghèo túng, gia đình vẫn có danh tiếng lỗi lạc của người cha để lại và thứ hạng quý tộc để trợ giúp con cái thăng quan tiến chức. Năm 1822, sau khi triều Bourbon phục hưng, Alexandre Dumas 20 tuổi chuyển đến Paris. Ông đã có được một vị trí trong văn phòng thuộc Cung Điện Hoàng Gia của Công Tước Orléans - Louis Philippe. Ông lớn lên với sự chăm sóc và giáo dục của mẹ Dumas học hành chểnh mảng, khi học xong ông làm thư ký cho một phòng công chứng, và bắt đầu viết những vở kịch đầu tiên cùng với một người bạn, Tử Tước Adolphe Ribbing De Leuven. Nhưng những tác phẩm đầu tay đó thất bại. Năm 1823, nhờ viết chữ đẹp, ông được tới làm việc cho Công Tước Orléans với công việc giao gửi hàng ở Paris. Dumas tiếp tục viết kịch và cuối cùng cũng tìm được thành công với vở diễn Henri III và triều đình tại nhà hát Comédie Française, công diễn lần đầu ngày 10 tháng 2 năm 1829. Sự nghiệp văn chương của ông tiếp tục thành công, đặc biệt trong hai thể loại ông ưa thích: Kịch và tiểu thuyết lịch sử. Alexandre Dumas là một nhà văn có sức sáng tác mạnh mẽ. Ông để lại khoảng 250 tác phẩm, gồm 100 là tiểu thuyết, số còn lại là 91 vở kịch, rồi bút ký, phóng sự, hồi ký. Dumas có cả một đội ngũ cộng sự, đặc biệt là Auguste Maquet, người góp phần vào nhiều thành công của Dumas. Trong những tiểu thuyết của ông, nổi tiếng hơn cả là Ba Người Lính Ngự Lâm, còn được dịch Ba Chàng Ngự Lâm Pháo Thủ (Trois Mousquetaires) và Bá Tước Monte Cristo (Le Comte de Monte Cristo) năm 1844. Đương thời, Dumas bị chê trách là người ham ăn, ham chơi. Ông thường xuyên thết đãi thịnh soạn bạn bè, người thân, công chúng hâm mộ, với những bữa tiệc sang trọng khiến ngay cả Paris cũng loá mắt, trầm trồ. Ông còn để lại một công trình đặc biệt: Cuốn Đại Từ Điển Ăn Uống, mà ông muốn được hậu thế coi là đỉnh cao sự nghiệp văn chương của mình. Trong đời mình Dumas kiếm được 18 triệu franc vàng, song ông luôn luôn nợ nần, nhiều lần trốn nợ, thậm chí ra nước ngoài, những năm cuối đời, phải đến tá túc ở nhà con. Dumas nức tiếng là người thay nhân tình như thay áo. Quả thật, ông cưới vợ chỉ một lần, gia đình này tan vỡ rất nhanh. Ông dan díu với 25 người đàn bà, có nhiều con hoang, mỗi con của một mẹ. Chỉ 3 con được công khai, trong đó con trai, cũng tên Alexandre Dumas, thường được gọi Alexandre Dumas con, trở nên một nhà văn lừng danh. Con gái thứ hai thì cuộc đời lỡ làng, con gái út - mà mẹ cô trẻ hơn Dumas đến gần 40 tuổi - thì chết cô đơn năm 1936 ở một làng quê trong nghèo khổ và không được ai biết đến là con gái cưng của một trong những vĩ nhân của nước Pháp. Mãi gần đây, người ta mới vỡ lẽ rằng Dumas đến với nhiều phụ nữ là do thương họ. Ông đồng thời chu cấp tiền nong đầy đủ cho vài người. Alexandre Dumas Dumas là người hết sức quý trọng tình bạn. Trừ Balzac và Musset, các nhà văn cùng thời đều chơi với ông, thân nhất là Victor Hugo, người đã đánh giá chính xác vai trò của ông ngay khi ông qua đời. Hugo viết: “Trong thế kỷ này, không ai được dân chúng yêu mến sâu rộng và thắm thiết bằng Alexandre Dumas. Các thành công của ông đều tầm cỡ hơn thành công nói chung nhiều. Đó là những đại thắng lợi. Đó là những ngọn đèn pha”. Ông cũng là người đại lượng, năm 1831, do ghen tức với thành công của vở Antony của ông, Hugo cho người viết báo chê bai. Hai người giận nhau. Song năm 1834, ông chủ động giảng hòa. Để hoàn toàn chủ động trong hoạt động sân khấu, ông bỏ ra một món tiền lớn để xây dựng Nhà Hát Kịch Lịch Sử của riêng ông. Khán giả rất nồng nhiệt, song không bù đắp nổi chi phí bỏ ra, nên cuối cùng nhà hát đóng cửa. Từ năm 1848, ông đã ra tờ báo đầu tiên. Sau đó, ông còn ra nhiều tờ báo nữa. Nhưng do quản lý kém, bị kiểm duyệt gây khó dễ, các tờ báo ấy tồn tại không bền, và ngốn của ông rất nhiều công sức và tiền bạc. Ông cũng hai lần ứng cử vào Nghị Viện đều thất bại, ứng cử vào Hội Quốc Ước thì chỉ được 261 phiếu, trong khi các đối thủ được 220.000, rồi phải sang Bỉ lưu vong năm 1851, sau cuộc đảo chính của Napoléon III. Ông mất năm 1870 ở Puys, vùng Dieppe. Thi hài của ông được chuyển về Điện Panthéon năm 2002, bất chấp ý nguyện cuối đời của ông: “Trở về bóng đêm của tương lai cùng nơi tôi ra đời” (rentrer dans la nuit de l'avenir au même endroit que je suis sorti De La vie du passé), “nơi một nghĩa địa đẹp (Villers Cotterêts) trong mùi hoa của rào quanh...” (dans ce charmant cimetière qui a bien plus l'air d'un enclos de fleurs où faire jouer les enfants que d'un champ funèbre à faire coucher les cadavres) • Các Tác Phẩm Những Tội Ác Trứ Danh (1839 -1841); Ba Người Lính Ngự Lâm (1844); Hai Mươi Năm Sau (1845); Những Quận Chúa Nổi Loạn (1845); Bá Tước Monte Cristo (1845 - 1846); Hoàng Hậu Margot (1845); Kỵ Sĩ Nhà Đỏ (1845 - 1846); Tử Tước De Bragelonne (Cái chết Của Ba Người Lính Ngự Lâm, Mười Năm Sau Nữa - 1848); Hoa Tulip Đen (Bông Uất Kim Hương Đen - 1850) Mời các bạn đón đọc Hai Mươi Năm Sau của tác giả Alexandre Dumas.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Alabama Song (Tiếng Việt)
Có những kẻ ẩn mình để trộm cắp, để giết chóc, để bội phản, để yêu thương, để hưởng thụ. Tôi thì phải ẩn mình để viết. Vừa tròn hai mươi tôi đã rơi vào vòng chi phối - chế ngự - của một người đàn ông lớn tuổi hơn đôi chút, người ấy muốn định đoạt cuộc đời tôi và đã tiến hành chuyện đó hết sức bất lương. *** Montgomery, Alabama, 1918. Zelda Sayre, con gái một gia đình quyền quý, gặp viên trung úy Scott Fitzgerald, một cuộc gặp gỡ định mệnh. Với những rạo rực của một cô gái trẻ bước vào đời, mong muốn vượt thoát mọi ràng buộc của xã hội tỉnh lẻ miền Nam, Zelda cùng Scott lao mình về phía thiên đường. Thành công vang dội của cuốn tiểu thuyết đầu tay của viên trung úy sau này được ca tụng là nhà văn lỗi lạc nhất nhì thời đại đã biến cặp đôi thành đứa con cưng của giới thượng lưu New York. Vậy nhưng thiên đường có là vô tận khi tiếp nối chuỗi những dạ tiệc xa hoa, hội hè rực rỡ là những cơn say triền miên, là chứng tâm thần phân lập, là những giày vò giằng xé lẫn nhau đưa đến cái kết của một bi kịch phủ nhung? Hóa thân thành Zelda Fitzgerald trong cuốn tự truyện hư cấu, Gilles Leroy hé lộ phần nào số phận bí ẩn và bi thảm của cặp đôi từng là hai ngôi sao sáng chói trên vòm trời văn chương phương Tây những năm 20 thế kỷ trước: Scott Fitzgerald, tác giả The Great Gatsby và Zelda, vợ ông. Alabama Song đã mang lại cho tác giả giải Goncourt 2007.   “Leroy kể lại nỗi đau của một người đàn bà mà để trở thành nàng thơ của một thiên tài đã từ từ bước xuống địa ngục.”– L'Express *** “Cuốn tự truyện hư cấu này được dẫn dắt bởi một bàn tay bậc thầy.” – Le Point   “Tác giả hóa thân tuyệt vời trong giọng điệu của một người phụ nữ đổ vỡ. Người đọc chạm đến sự tinh tế tuyệt đỉnh.” – Danielle Laurin - Radio-Canada   “Tài năng của Gilles Leroy là không dùng tưởng tượng mà lên đường đến tận Montgomery để mang đến cho người đọc mùi hương nồng nàn của hoa mộc lan, giọng điệu xúc động của người đàn bà đứng đằng sau một cây viết vĩ đại.” – Elle *** Gilles Leroy sinh năm 1958 tại Bagneux (Haute-de-Seine), có bằng cử nhân văn chương hiện đại năm 1979. Ông đã từng làm nhiều nghề trước khi trở thành nhà báo. Năm 1996, Gilles Leroy rời Paris về sống ở nông thôn để chuyên tâm viết văn và tự nghiên cứu văn học Mỹ cùng văn học Nhật. Xuất bản năm 2007, Alabama Song đã giành được giải Goncourt trong năm đó. ***     Bỗng nhiên, thành phố lơ mơ ngái ngủ của chúng tôi bị xâm chiếm bởi hàng nghìn thanh niên trai tráng, phần lớn là những gã trai thảm hại, bị lôi ra khỏi trang trại, đồn điền, quầy hàng của họ, từ khắp các bang miền Nam trong khi các sĩ quan mới tốt nghiệp trường quân sự của họ lại xuống từ phương Bắc, từ vùng Hồ Lớn và từ các thảo nguyên (kể từ nội chiến đến giờ người ta chưa khi nào thấy ngần ấy bọn yankee trong thành phố, mẹ bảo tôi như vậy). Trẻ như thế, hừng hực như thế, các chiến binh tươi cười ồn ã sà xuống chúng tôi và đổ dồn theo những con phố của chúng tôi tựa như những đám mây chim chóc dày đặc trong bộ lông màu xanh lơ hoặc xám hoặc xanh lục, một số có mào bằng vàng hoặc bằng bạc, điểm đốm mắt bằng những ngôi sao cho lòng quả cảm và những phù hiệu nhiều màu - nhưng tất cả, lũ chim hạng lính tổng động viên cũng như lũ chim hạng sĩ quan chuyên nghiệp, những kẻ chủ trương ly khai hay những người ủng hộ phong trào phế nô, rốt cuộc cũng liên kết lại, nếu không phải là hòa giải với nhau, tất cả chẳng bao lâu sẽ lại lên đường cho một chuyến đi dài vượt Đại dương về phía châu Âu già cỗi, vẫn chưa phải châu Âu trong mơ của chúng tôi mà là châu lục của một nỗi kinh hoàng lạ lẫm, sự lạ lẫm nằm ở chỗ người ta phải chết trong một cuộc chiến ngoại quốc. Nếu có sợ đi chăng nữa, họ cũng không để lộ ra ngoài. Những buổi khiêu vũ diễn ra khắp nơi trên phố, tại các khu sân bay bao quanh thành phố và trong các trại huấn luyện. (Đó là sự lạ, quả đúng vậy, một sự hi hữu, chưa được lý giải: không một thành phố nào diện tích khiêm tốn như Montgomery lại có chừng ấy sân bay. Và vậy là thành phố nực cười của chúng tôi được chọn làm nơi huấn luyện hàng loạt các cậu bé mà người ta sẽ giao nộp cho chiến trận - Cuộc chiến, họ gọi thế, Trận chiến.) Tôi còn nghe thấy từ họ phát ra những âm thanh lộn xộn đầy cuồng nhiệt: tiếng giày nhà binh kiêu hãnh gõ đôm đốp xuống mặt đường, tiếng gào rống và tiếng ly cốc chạm vào nhau, như thể hai mươi nghìn gã trai đang tạo thành một cơ thể to lớn duy nhất, một người khổng lồ với các mạch máu nóng bỏng nơi người ta có thể nghe thấy chất ađrênalin sôi ùng ục và một bầu nhựa sống căng tràn không thể kìm nén. Như thể mối nguy cận kề và niềm tin chắc vào những cú sốc khác, vào những cơn quá khích khác, những cú sốc và những cơn quá khích chết người, đã khiến những gã đàn ông này thêm phần quậy phá ồn ĩ, thơ trẻ và sảng khoái lạ thường. Và chúng tôi, những Mỹ nhân miền Nam, tôi không rõ những cậu trai này nhìn chúng tôi như thế nào: một đàn ong phát tiếng vo vo, có lẽ vậy, hay một chuồng chim ruồi và vẹt mái hốt hoảng cũng nên. Lý do duy nhất để thức dậy và sống, đó là chờ đợi cuộc duyệt binh mới trong thành phố, và, đối với những cô gái may mắn như tôi, không bị bố mẹ kìm giữ bằng vòng mũi để vực ngựa, thì là chờ đợi buổi vũ hội tiếp theo tại Country Club hoặc tại phòng ăn của doanh trại Sheridan. Bố đã hết sức cố gắng giam lỏng tôi trong nhà chừng nào các đội quân vẫn lưu lại trong thành phố. Ông, vị viên chức nhà nước xanh rớt và rụt rè, vị luật gia khắc khổ tối nào cũng ngủ cùng lúc với mặt trời, dĩ nhiên là ông chỉ nhìn ra trong đám lính hung hãn vô kỷ luật một lũ thô lậu đồi bại đầy ám muội, những tên tội phạm cưỡng dâm và sát nhân. Minnie - cảm ơn mẹ - đã cho phép tôi tới Country Club, chứ không phải bất kỳ một vũ hội nào khác, một khán phòng nào khác, cho phép đi tới nửa đêm. Bà thức đợi tôi về mới đi ngủ, lúc đó đã quá mười hai giờ đêm từ lâu. Trung úy Fitzgerald hai mươi mốt tuổi và đã bộc lộ nhiều tài năng. Anh khiêu vũ rất tuyệt tất cả các điệu thịnh hành, dạy tôi nhảy turkey trot, maxie và aeroplane; anh viết những truyện ngắn trong nay mai sẽ được đăng báo, anh chắc chắn về điều ấy; anh sạch sẽ và lịch lãm, anh biết tiếng Pháp - chính nhờ thạo tiếng Pháp mà anh được đào tạo thành trung úy lục quân sau khi tốt nghiệp Princeton, những người nói tiếng Pháp đều được hưởng quyền ưu đãi đẩy họ lên tới hàng sĩ quan - và nhất là anh lại sạch sẽ và chải chuốt, cách ăn vận của anh đỏm dáng chẳng khác nào một dandy*. Bộ quân phục của anh được cắt may tại tiệm anh em nhà Brooks ở New York. Đi cùng chiếc quần cưỡi ngựa màu xanh lá mạ của anh, thay vì đôi ghệt bằng vải như thường thấy là đôi giày ống cao, màu vàng rơm, với những chiếc đinh thúc ngựa đem lại cho anh một dáng vẻ không thực lắm của một người hùng trên báo ảnh. • Dandy là từ dùng để chỉ những người đặc biệt kỹ tính và có gu trong ăn mặc. (Các chú thích nếu không có lưu ý gì thêm đều là của người dịch) Anh thấp bé, đúng vậy, nhưng khiếm khuyết thiếu vài centimet này được bù lại bằng một thân hình cân đối được tôn bật nhờ chiếc áo vest ôm sát người của bộ quân phục, bằng một vầng trán cao và một cái-gì-tôi-không-rõ (lòng tự tin vì đang là một ai đó, sự chắc chắn vào bản thân, ý thức rằng một định mệnh vô song đang chờ đợi), bằng một dáng vẻ phi thường, cái thực ra đã nâng anh cao thêm một cái đầu. Lũ đàn bà sửng sốt và lũ đàn ông cũng vậy. Một ngày nào đó tôi sẽ phải suy ngẫm về cái sự kỳ quái này: không một ai trong số các đồng đội ganh ghét với anh hay tức tối. Không hề, như thể những gã đàn ông khác đều chấp nhận sức lôi cuốn của anh và cổ vũ cho điều đó... Càng làm tôi bối rối bao nhiêu anh càng trêu ngươi tôi bấy nhiêu! Đoạn tuyệt với những giấc mơ của mi đi. Ngay lập tức. Mời các bạn đón đọc Alabama Song (Tiếng Việt) của tác giả Gilles Leroy.
Săn Và Bẫy Thú
Từ trước đến nay những câu chuyện về săn thú, bẫy thú thường rất hấp dẫn. Từ chuyện đi dụ voi rừng, đánh hổ bằng đòn xóc tới chuyện đào hang con trút, rồi ngay cả việc bẫy chim, thổi ống xì đồn bắn cá tràu bông đều có những lý thú riêng biệt. Tập này gồm 6 truyện: săn rái cá, săn khỉ, săn gấu, săn chồn vàng, săn lợn rừng …. Ở mỗi truyện đều có những nét hấp dẫn và phong phú. Là người đi săn, ai cũng mong bắt, bắn được thú, nhưng có khi săn hụt vẫn đem lại niềm vui cho con người. Các con thú đều có cái tinh khôn riêng, nhưng dù to như gấu, hung dữ như hổ, tất thảy đều thua trí thông minh con người. Các bạn sẽ tìm thấy ở đây một số kiến thức bổ ích về thú vật, về săn bắn và bẫy thú. *** Trưa ấy, trên đường trở về cơ quan, Thiện và Đối, anh bạn tí hon rất xông xáo ấy, nghỉ chân ở một bìa rừng ăn nốt phần cơm nắm còn lại. Thiện ăn xong trước. Anh tìm lối đi xuống bờ suối lấy nước lên nấu uống. Uống với nụ vối rừng chín tươi mới hái vàng như hoa ngâu thì rất ngọt cổ. Vốn là tay quen nghề săn bắn nên bước đi của anh đã thành thói quen, bước thật nhẹ nhàng. “Hắn đi như mèo đi”, anh em thường bảo đùa vậy. Chưa đến bờ suối, bỗng anh nghe rõ ở dưới kia có những tiếng lõm bõm lạ tai, giống như có con vật gì đang ăn chùm quả chín làm rơi rụng đôi trái xuống mặt nước suối. Thiện càng bước khẽ, không đặt chân vào lá khô, một tay nắm khéo chiếc cà – mèn không cho nó chạm vẹt vào cành cây hay tảng đá, cũng không cho phần quai sắt đu đưa lắc lư qua về trên miệng cà – mèn. Đã ở trong quân đội qua ba năm chiến đấu ở chiến trường Bình Trị Thiên, lại thêm chuyên nghề săn bắn, anh có nhiều kinh nghiệm trong lối phục kích giặc – cũng như phục kích thú săn. Chỉ nghe qua tiếng động, anh phân biệt chính xác từng lối đi con thú ... Đó, đó là cả đoàn voi: bước đi ào ào như máy ủi cây, kiểu đi luôn hiên ngang, ỷ đến sức mạnh không chỉ riêng vào từng con mà chung cả bầy, vừa bước vừa ném vòi vít cành vít ngọn bẻ rắc những thân cây nào ngang tầm vòi với tới, và trước khi tống cả túm là vào miệng còn huơ vòi đập vào chân mình bên này bên kia mấy cái để phủi kiến, phủi sâu, y như kẻ nhổ mạ xong vội quay đập túm rễ vào chân mình cho văng bớt bùn, bớt đất. Đó là con hổ: đi dè dặt khoan thai để dễ bề trở quẻ, rất cảnh giác đề phòng, hai chân trước mỗi chân vững, khoẻ gấp đôi so với mỗi chân sau, nhưng phép đặt bước lại quá hiền, quá êm, không gây thành tiếng động, đang đi bình thường mặc dù chẳng gặp một lá non nào cản trở, cũng dừng lại “phè gió” một cái lấy oai rồi mới bước tiếp. Đó là con heo rừng, heo một: dám đi ăn giữa ban ngày ban mặt, đôi nanh như đôi kiếm ưỡn cong, bước đi lúm chúm, vừa đi vừa hất hất mặt như muốn sinh sự với tất cả, ỷ vào cái mũi rất thính của mình nên không cần dè dặt lắm, bước được mấy bước lại dừng lại hướng mặt lên cao nghe ngóng như điệu đi của những người mù, luôn với tư thế sẵn sàng xốc tới. Đó là con chồn đèn: con vật chuyên ăn đêm, sở dĩ phải đi ra ban ngày là vì vừa rồi chắc gặp phải con thú khác săn đuổi, bước đi rất đắn đo, vừa bước vừa ngửi đất đánh hơi, mũi thính có thể phân biệt được cách đây khoảng ba hôm, trên lối mòn này đã có chân con cọp hay con beo bước qua. Chồn đi thường không dám theo vết đường mòn mà chỉ xuyên rừng xuyên bụi, cứ gần đến một lối mòn cắt ngang trước mặt thì chuẩn bị thật cẩn thận chu đáo, giỏng đôi tai ngang song song với cái mặt đưa ra trước, nhìn qua nhìn về xong là phóng vút như ném con thoi ... Mời các bạn đón đọc Săn Và Bẫy Thú của tác giả Trần Thanh Địch.
6 Tảng Đá Thiêng
Một nhóm nhà khảo cổ học lên đường tìm kiếm và dựng lại một di vật cổ xưa trong truyền thuyết, được biết đến với tên gọi "cỗ máy". Những đầu mối giúp họ xác định "cỗ máy" này lại dẫn đến sáu tảng đá thiêng nổi tiếng nhưng đã bị lãng quên. Trên đường đi, các nhà khảo cổ nhận ra họ không phải là nhóm duy nhất muốn có sáu tảng đá. Họ phải đối mặt với những thế lực đen tối, chống lại những nguy hiểm luôn rình rập, chạm trán với những bộ lạc dị thường và dã man của Châu Phi.... Cuối cùng, khi đã vượt qua ranh giới giữa sự sống và cái chết, họ lại phát hiện một sự thật bất ngờ và cay đắng... Mời các bạn đón đọc 6 Tảng Đá Thiêng của tác giả Matthew Reilly.
Bạn Khác Giới
Bạn khác giới được đề cử: - Yoshikawa Eiji Prize for New Writers năm 2015 - Naoki Prize năm 2014 Bạn khác giới, cái từ nghe thật là gian xảo! Người ta hỏi: Sao hai người không yêu nhau luôn đi?Họ đáp: Không được, nếu như thế, làm sao mà ở bên nhau mãi mãi? *** Nữ tác giả Akane Chihaya là một tác giả giấu mặt, bà sinh năm 1979 tại Hokkaido, hiện đang sống và làm việc tại Tokyo.. Nhưng suốt năm tháng đi học, bà dành hơn nửa thời gian học sinh của mình tại Zambia (Đông Phi), nơi mà người cha là một bác sĩ thú y. Để con mình không quên đi văn học nước nhà, mẹ của bà, một giáo viên dạy ngoại ngữ đã cho bà đọc những tác phẩm Nhật Bản được giao hàng sang tận Đông Phi.  Akane Chihaya đã học chuyên ngành mĩ thuật và bắt đầu viết lách khi lên đại học. Tác phẩm đầu tay của bà, Iogami (Chúa của loài cá) đã giành giải thưởng Shōsetsu Subaru và Izumi Kyōka dành cho "Cây bút mới" vào năm 2008. Tác phẩm nổi tiếng nhất của bà là Atokata (Vết sẹo), một tuyển tập 6 câu chuyện ngắn về những tổn thương trong các mối quan hệ. Tác phẩm này đã dành được giải Naoki vào năm 2013. (Hi vọng Atokata cũng sẽ sớm được dịch tại Việt Nam) Otoko Tomodachi (Bạn Khác Giới) được đề cử giải Yoshikawa Eiji cho "Cây bút mới" năm 2015 và giải Naoki năm 2014. Câu chuyện được kể theo góc nhìn của Aoi Kanna, 29 tuổi, một người vẽ minh họa cho các tạp chí. Dù đã có người yêu là Akihito nhưng cô vẫn có tình nhân là Shinji và một đàn anh, người bạn khác giới Haseo. Người đọc sẽ không chỉ được cảm nhận về tình yêu mà còn một niềm khát khao và theo đuổi công việc, những tố chất được Kanna thể hiện xuyên suốt tác phẩm. Và vì sao tôi lại nói "nên đọc trước tuổi 30"? -Vì cuốn sách đã thể hiện được sự băn khoăn, trăn trở và chút gì đó mơ hồ của tuổi trẻ bên cạnh các câu chuyện về tình yêu. Đồng thời tác giả cũng đã cho người đọc hiểu rõ hơn về cái "ranh giới" về tình bạn giữa nam và nữ. Một mối quan hệ mãi mãi, bền chặt hơn thứ tình yêu sớm nở chóng tàn. Dù trong xã hội ngày nay, vẫn còn có những định kiến về bạn khác giới, giống như câu nhận xét đằng sau bìa sách, "bạn khác giới, cái từ nghe thật gian xảo". #Aoi Kanna Nhân vật chính của câu chuyện là một cô gái luôn hết mình vì đam mê mĩ thuật, tôi nghĩ là hình tượng của tác giả Akane Chihaya khi bà cũng từng học cao đẳng mĩ thuật. Cô là một người luôn chạy theo chạy theo tiếng gọi con tim mình, thế nên từ lúc nào đó, tình cảm giữa cô và Akihito có phần rạn nứt. Thật sự thì tôi cảm thấy rất khó chịu khi Kanna đi ngoại tình với Shinji, trong khi ở nhà lại có một người luôn ủng hộ và yêu thương là Akihito. Đối với Haseo, cô chính là chỗ dựa tinh thần của anh và Haseo cũng như thế. Dù có vài điểm mà người đọc không thể chấp nhận ở Kanna, nhưng cô cũng chỉ là một người phụ nữ mềm yếu, sống nội tâm, cô độc trong công việc của mình và hơn hết là luôn tiến về phía trước sau những nỗi đau. Tôi tin là nhiều người đồng trang lứa sẽ thấy đồng cảm ở Kanna, nhất là khi họ chuẩn bị sắp bước sang độ tuổi 30. #Haseo Là đàn anh thời đại học của Kanna, hai người thường ngủ chung nhưng không hề làm tình. Anh trân trọng Kanna, trân trọng mối quan hệ mình đang có. Anh là một kẻ luôn tốt với mọi phụ nữ, không biết tình yêu là gì, anh luôn đi lăng nhăng với mọi phụ nữ mình gặp. Ngoài ra anh còn là một người luôn âm thầm ủng hộ Kanna từ đằng sau, luôn những điều mà khiến người đọc nghĩ "thực sự 2 người này chỉ là bạn thân thôi à?" Câu nói tâm đắc nhất của Haseo mà tôi còn nhớ, cứ như là một cái tát cho những kẻ lụy tình vậy: "Đồ ngốc, lưu luyến chỉ dành cho những kẻ rỗi hơi." Có lẽ vì câu chuyện chỉ tập trung theo góc nhìn của Kanna, thế nên đời tư của Haseo là một ẩn số với người đọc cũng như Kanna. Anh luôn giấu đi những tâm tư, suy nghĩ của mình để không ai bận lòng về mình. Nhưng thực sự thì anh rất cô đơn, mối quan hệ thân thiết mà anh có chắc chỉ là Kanna và Isawa. #Akihito Đây có lẽ đúng chuẩn kiểu đàn ông tốt mà các bạn nữ bây giờ đang tìm kiếm. Dù nhỏ hơn Kanna một tuổi nhưng anh lại có những suy nghĩ vô cùng chững chạc để sẵn sàng sống chung với Kanna. Anh không muốn ràng buộc Kanna quá nhiều mà để cô tự do trong thế giới của mình, Kanna đi đâu anh cũng không tò mò dù có là qua đêm với ai đó. Các chàng trai đã từng từ chối Kanna khi cô nói mình hay ngủ chung với Haseo dù hai người không làm gì, nhưng Akihito lại là người đầu tiên chấp nhận điều đó. Nhưng mọi sự thoải mái cũng dần tàn khi anh nhận ra Kanna càng lúc càng không cần mình nữa. Trong mối quan hệ giữa hai người thì ngay từ đầu Kanna đã dần lạnh nhạt trước. #Shinji Nếu Akihito tốt đến đâu thì Shinji lại là một hình ảnh đối lập. Một gã bác sĩ đã có vợ con nhưng vẫn đi làm tình nhân với Kanna. Dần dần người đọc sẽ thấy đây là một gã đểu cáng thật sự và điều đó đã được Haseo lật mặt một cách vô cùng dễ dàng. Shinji chỉ coi Kanna như một công cụ để thỏa mãn cho nhục dục của mình, thật may mắn rằng Haseo đã cứu Kanna khỏi gã này. #Miho Một nhân vật cho Kanna thấy hậu quả nếu như cô muốn vượt lên ranh giới bạn bè. Cũng như Kanna, Miho là một phụ nữ đã có chồng nhưng vẫn đi ngoại tình. Cô cũng từng có một "anh trai", như Kanna có Haseo, nhưng thay vì duy trì mối quan hệ anh em đó, Miho đã vượt rào. Và kết cục của Miho là hạnh phúc không kéo dài lâu, cô không còn chỗ dựa tinh thần nữa mà luôn trống rỗng trong tình yêu cũng như cuộc sống. Miho và Kanna như hai cục nam châm bắc-nam, cả hai luôn bổ sung các khuyết điểm cho nhau. Nhìn vào Miho, chúng ta có thể hiểu rằng không phải bất cứ ai cũng có thể biến "bạn thân" thành tình yêu, có người hạnh phúc, có người thì không. Ít nhất đến phút cuối, Miho đã lấp đầy được khoảng trống của mình bằng một động lực. #Cảm nhận cá nhân Tôi cũng có một người bạn khác giới thế nên ngay từ lúc cầm cuốn sách đã nghĩ là nó rất hợp với mình. Những mối quan hệ bạn bè của tôi chưa đến mức như Haseo và Kanna đâu. Chỉ là một mối quan hệ mà cả hai không ai muốn phải lòng ai thôi, về mặt đó thì tôi khá giống suy nghĩ của Kanna. Nội dung câu chuyện hấp dẫn, bên cạnh việc nói về các mối quan hệ thì tác giả cũng chia sẻ những cảm xúc của việc vẽ tranh minh họa thông qua nhân vật Kanna. Dù thế nào chăng nữa thì cũng thật khó để nói đây là một công việc ổn định, khi phải chờ những đơn hàng từ các công ty thì bạn mới có việc để nuôi bản thân. Vẽ tranh minh họa đã vốn được coi là một công việc tự do, dù nó phải tốn nhiều chất xám và công sức ra để vẽ. Nếu muốn sống bằng nghề này thì họ phải có một niềm đam mê cực lớn để theo đuổi, dù không phải ai cũng giàu từ nghề này. Người yêu cũ của tôi cũng là một người giống Kanna, hiện cô đang học thiết kế đồ họa dù rằng đã bị người nhà phản đối nhiều vì nghề này sợ không có tương lai. Tôi sẽ chọn làm một Haseo, luôn âm thầm ủng họ những tác phẩm từ đằng sau.  Vì hiện tại tôi vẫn chưa đến tầm tuổi của các nhân vật trong cuốn sách thế nên có những suy nghĩ mà thực sự tôi vẫn chưa thể thấm được. Nhất là "ngoại tình", một chủ đề mà rất nhiều các tác phẩm Nhật Bản đề cập đến nó như là ăn cơm bữa vậy. Một lần tôi đọc bài báo về "Giới trẻ Nhật nghĩ thế nào về ngoại tình?" Thực sự thì suy nghĩ của người Nhật rất là thoáng, họ cho rằng việc nam nữ mà chỉ làm tình với nhau nhưng có tình yêu xen lẫn thì đó chỉ là phục vụ nhu cầu sinh lý mỗi người. Sẽ có một lúc nào đó một trong hai sẽ tìm một tình nhân để biết cảm giác mới lạ hơn...thật sự thì tôi không thể đồng lòng với suy nghĩ đó lắm, nhưng bên Nhật nó vốn thoáng như thế nên cũng không thể bình luận gì thêm. Nếu ai muốn tìm một cuốn sách có nội dung tương tự thì tôi xin phép đề cử "Tháp Tokyo" của Ekuni Kaori. Ekuni Kaori cũng là một tác giả có vài tác phẩm lãng mạn nói về những kiểu tình yêu lạ lùng lắm. Nguồn review navinguyen.blogspot.com *** Tôi đang bị vùi trong một vũng bùn đủ sắc màu hỗn độn. Nhưng tôi biết, đó chỉ là một giấc mơ. Tôi thả mình trôi trong đó, xung quanh là dòng bùn hòa trộn với nhau tạo nên những hoa văn rối rắm và chói lọi. Thi thoảng, có những vệt màu nổi lên thành hình thù hẳn hoi. Mỗi lúc như thế, tôi lại cố tìm quyển vẽ phác thảo nhưng tay ngập trong bùn, không thể cử động được. Đến là bực. Mà kể ra, cứ mặc cho bản thân chìm trong đống màu sắc này cũng hay. Khoái cảm ấy gần giống như khi nhịn tiểu. Đang bập bềnh, chìm nổi trên mặt bùn thì màu chợt bắn tóe ra tứ phía. Tiếng rung trầm trầm kéo ý thức tôi về với hiện tại. Tôi quờ quạng theo phản xạ nhưng các ngón tay chỉ chạm thấy mặt ghế xô pha thô ráp. Phải mất một lúc tôi mới nhớ ra điện thoại di động đã để trên bàn ăn. Nó đang tiếp tục rung, âm thanh tàn nhẫn đó khoan thẳng vào đầu óc còn lơ mơ lúc sáng sớm của tôi. Tôi chẳng buồn nhỏm dậy. Để chế độ rung rồi mà vẫn inh cả tai. Đồng hồ treo tường chỉ hơn 7 giờ sáng. Ánh sáng trong veo lọt qua khe rèm, còn vương sắc xanh nhạt nhòa của bóng đêm. Rốt cuộc tôi cũng tỉnh táo trở lại. Gọi điện vào giờ này chỉ có thể là anh Shinji. Hẳn anh vừa xong ca trực nên nổi hứng gọi. Vẫn nằm ườn trên ghế xô pha, tôi đưa mắt nhìn Akihito đang đứng trước cái bếp ga trong gian bếp mở, quay lưng lại tôi. Mùi thịt xào hành thơm ngào ngạt. Hôm nay lại có món shogayaki[1] rồi. Người ta thường bảo, đàn ông toàn nấu những món chỉ cần một cái chảo rán là xong, nhưng trong năm năm chung sống, thói quen của anh không hề thay đổi, ngày nào cũng tự tay làm cơm hộp. Anh siêng năng đến mức các bà các cô ở chỗ làm đều mến mộ. Mùi mỡ sôi xèo xèo khiến tôi buồn nôn, cơ thể cũng bị đánh thức. Nhắc mới nhớ, từ hôm qua đến giờ tôi chưa ăn gì. Điện thoại trên bàn vẫn rung, Akihito vừa mở nắp nồi cơm điện vừa nhắc: “Em không nghe à? Nhỡ có việc gì thì sao?” Làm sao tôi nhận điện trước mặt Akihito được. Thể nào tôi cũng nổi trận lôi đình với Shinji, vì anh toàn gọi điện vào những giờ oái oăm. Anh Shinji thường tỏ thái độ bực bội mỗi khi tôi gọi điện bất ngờ, nhưng lại tự cho mình cái quyền thích lúc nào gọi lúc đó. Chắc anh nghĩ chỉ người có gia đình như anh mới cần giữ gìn, còn người sống chung với bạn trai như tôi thì chẳng cần ý tứ. “Cả biên tập lẫn thiết kế chẳng ai đi làm sớm thế này, chắc lại điện thoại quấy rối. Gần đây em cũng hay nhận được email làm phiền.” “Tại em không chịu đổi địa chỉ hòm thư đấy. Dạo này tên em xuất hiện nhiều trên truyền thông, hay em thử đổi xem?” “Chắc thế…” Nghe câu trả lời qua loa ấy, Akihito ngoái đầu lại, hơi giơ chiếc thìa xới cơm về phía này, tôi lắc đầu. Tuy dạ dày rỗng tuếch, nhưng thần kinh căng thẳng khiến tôi chẳng thiết ăn. Làm việc thâu đêm luôn là thế. “Em minh họa xong cho tạp chí bói toán rồi à?” Akihito hỏi, sau khi liếc bảng danh sách công việc treo trên tường. Trên đó mới xuất hiện thêm một dấu gạch chéo màu đỏ. “Ừm, vừa kịp. Ai ngờ vẽ các cô gái tượng trưng cho mười hai cung hoàng đạo lại mệt đến thế. Em không thích vẽ theo đúng hình dung của mọi người nên lúc gửi phác thảo đi thì bị chê là chẳng giống gì cả, phải sửa lại hết. Anh nghĩ mà xem, Sư Tử thì phô trương, Bảo Bình thì điềm tĩnh, vậy chẳng hóa ra sinh vào tháng nào thì tính cách đều được hình thành từ trước rồi à? Làm gì có chuyện đó, phải không? Ấy thế mà…” “Ừm…” Akihito gật đầu nhưng vẫn đứng quay lưng lại khiến tôi phải nuốt luôn những lời chưa kịp nói. Dừng thôi, nói tiếp anh sẽ cho rằng tôi đang than vãn mất. Tôi nhìn xuống, cạo cạo những vệt màu vẽ dính trên đầu ngón tay. Màu bong ra thành bụi. Khóc lóc, kêu ca về công việc chỉ là một cách giải tỏa, nhưng Akihito lại nghĩ tôi muốn xin anh lời khuyên. Dù hiểu tính nghiêm túc quá mức của anh nhưng cứ mỗi lần bị góp ý là tôi lại tự ái. Thêm nữa, anh cứ ra vẻ thấu hiểu làm tôi đâm nghi ngờ, có thật anh hiểu tôi đang muốn nói gì không? Và khẩu chiến sẽ nổ ra. Hoặc tôi khai hỏa trước, “Akihito chẳng hiểu gì hết,” hoặc Akihito, “Anh không biết gì về nghề minh họa, được chưa?” Sau vài lần đôi co như thế, chẳng ai bảo ai, chúng tôi chủ động tránh đề tài này. Tuy không đả động đến nhưng Akihito vẫn theo dõi tiến độ làm việc của tôi. Chỉ có thế, không hơn không kém. “Em xong việc rồi thì ăn gì đi, làm nghề tự do cũng phải sinh hoạt điều độ chứ. Để anh đi hâm sữa cho em nhé.” Anh toàn nói những lời chuẩn mực như thế. Nghe tới ba chữ “nghề tự do”, tôi đang gật đầu bỗng khựng lại. Nghề tự do - cảm giác như cái từ ấy bao hàm đủ cả luộm thuộm, bê bối, quái gở, phản xã hội. Người đời cứ thích gán hết những đặc tính này cho chúng tôi, họ cho rằng làm nghề tự do là nhàn cư vi bất thiện, là kỳ quặc. Mỗi lần bị dùng từ đó, tôi lại thấy chạnh lòng. Có lần Akihito bảo tôi nhạy cảm quá, anh chỉ nói vậy thôi. Tôi cũng muốn xem như anh đang quan tâm đến mình rồi quên luôn câu chuyện, nhưng đằng này lời của anh chẳng giải quyết được gì, toàn làm tôi thêm bực bội. Giờ tôi chẳng còn hơi sức để xét nét từng câu chữ của anh nữa, chỉ biết mỉm cười. “Không cần đâu, cảm ơn anh. Đằng nào em cũng phải đợi bên chuyển phát nhanh đến nhận hàng. Giờ ăn vào thì em lăn ra ngủ mất.” Vẫn nằm trên ghế, tôi nhìn lên trần nhà. Khu chung cư này có trần rất cao, tuy không ấm nhưng không gian thoáng đãng dễ chịu. Tôi với lấy cái rổ nhỏ để cạnh xô pha, xé một chiếc kẹo mật ong cho vào miệng. Lúc nào tôi cũng chuẩn bị sẵn bánh kẹo, các loại hạt hay hoa quả sấy để khi bận rộn chỉ cần ăn bằng một tay. Tôi nhắm nghiền mắt lại. Đôi mắt mệt mỏi bắt đầu nhức nhối. Vị ngọt sắc lan tỏa trong miệng, ý thức tôi cũng từ từ bị cuốn trôi. Bên trong mí mắt, các màu sắc bay tứ tán. Đột nhiên, máy nướng bánh kêu inh ỏi. Mời các bạn đón đọc Bạn Khác Giới của tác giả Chihaya Akane & Trịnh Lê Thu Trang (dịch).