Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Sơn Ca Vẫn Hót

Câu chuyện xoay quanh 2 chị em Isabelle (biệt danh "Sơn ca") và Vianne tham gia kháng chiến, sẵn sàng nhận những nhiệm vụ đầy thách thức trong cuộc chiến tranh năm 1939 tại Pháp. *** Kristin Hannah là tác giả Mỹ đoạt giải và nhà văn ăn khách của hơn 20 tiểu thuyết, bao gồm cả bom tấn quốc tế.  Các tác phẩm tiêu biểu: A Handful of Heaven, The Enchantment, Once in Every Lifetime, If You Believe, When Lighting Strikes, Waiting for the Moon, Home Again, On Mystic Lake, Angel Falls, Summer Island, Distant Shores, Betwwen Sisters, The Thing We Do for Love, Comfort & Joy, Magic Hour… Sơn ca vẫn hót (The Nightingale), là tựa sách đoạt giải Tiểu thuyết lịch sử hay nhất do bạn đọc bình chọn trên Goodreads năm 2015, và thắng giải Bạn đọc bình chọn ở hạng mục sách hay cùng năm. Cô cũng đoạt giải Sách hay nhất của năm trên trang Amazon, iTunes, Buzzfeed, thời báo Wall Street Journal, Paste, và The Week. Sơn ca vẫn hót hiện đang hoàn tất khâu sản xuất tại hãng phim Tri Star, với sự chỉ đạo của đạo diễn giành được nhiều giải thưởng Michelle MacLaren. Home Front đã được hãng phim 1492 Film (nhà sản xuất của bộ phim đề cử Oscar The Help) lựa chọn để dựng thành phim, với Chris Colombus viết kịch bản, sản xuất, và đạo diễn. Cuốn Between Sisters từng được chương trình The Early Show của kênh CBS chọn là một trong những cuốn sách hay nhất trong mùa hè. Những điều chúng ta làm vì yêu là một câu chuyện đầy sâu lắng, trọn vẹn để tôn vinh sự kỳ diệu của tình mẫu tử, những niềm vui sướng khi được trở về nhà, và nhận được kết quả xứng đáng của tình yêu. Tác giả ăn khách nhất của Thời báo New York Times “đã chạm vào nơi sâu lắng nhất, đa cảm nhất trong từng góc nhỏ của trái tim chúng tôi.” (tác giả Tami Hoag).  “Hannah nắm bắt được niềm vui và nỗi đau trong một gia đình khi cuốn hút người đọc vào cuộc đời các nhân vật của cô và khiến họ cảm thấy như những người bạn thân quen, một lần nữa chứng tỏ cô là ngôi sao trong thể loại văn học hư cấu về người phụ nữ.” (Booklist) “Hannah rất giỏi đi sâu vào tâm lý của các nhân vật chính và khắc họa những sắc thái của cảm xúc.” (The Washington Post Book World) “Vô cùng thú vị… Hannah có đôi tai nhậy cảm với lời thoại và khả năng thiên phú đưa người đọc xâm nhập vào trong đầu nhân vật.” (The Seattle Times) “Cuốn sách tuyệt vời này là một ví dụ kinh điển cho những câu chuyện vô cùng xúc động và kích thích tư duy, sở trường của Hannah. Sự ấm áp và đa dạng của các nhân vật đã chạm tới được những cảm xúc sâu kín nhất.” (Romantic Times) *** Những ánh đèn sẽ tắt trên toàn cõi châu Âu; Cả đời chúng ta sẽ không thấy chúng sáng trở lại nữa. SIR EDWARD GREY, VỀ THẾ CHIẾN I   Tháng Tám năm 1939 Pháp Vianne Mauriac rời khỏi căn bếp lạnh lẽo với những bức tường trát vữa giả đá và bước ra sân trước. Trong buổi sáng hè đẹp nắng này ở thung lũng sông Loire, mọi thứ thật rực rỡ. Những tấm khăn trải giường màu trắng bay lật phật trong gió, đám hoa hồng xô nhau hé cười dọc theo tường rào bằng đá ngăn giữa ngôi nhà của chị với con đường. Hai chú ong cần mẫn lượn quanh những bông hoa. Vianne nghe thấy tiếng một đoàn tàu rền rĩ xa xăm, sau đó là tiếng cười đáng yêu của một bé gái. Sophie. Vianne mỉm cười. Chắc đứa con gái tám tuổi của chị đang chạy quanh nhà, khiến bố con bé phải làm đủ thứ để vừa lòng nó trong lúc chuẩn bị cho chuyến dã ngoại ngày thứ Bảy của cả nhà. - Con gái em đúng là một bạo chúa. - Antoine lên tiếng khi xuất hiện trên ngưỡng cửa. Anh đi về phía vợ, mái tóc bóng mượt loang loáng dưới ánh nắng. Anh vừa tút tát lại đồ nội thất sáng nay - chà giấy ráp một cái ghế đã nhẵn bóng - nên trên mặt và vai anh có một lớp bụi gỗ mỏng. Anh cao lớn, vai rộng, khuôn mặt chữ điền, và có một lớp râu mỏng đen nhánh luôn đòi hỏi phải nỗ lực để ngăn nó trở thành một hàm râu rậm rì. Antoine vòng một cánh tay quanh người Vianne và kéo vợ sát vào người anh. - Anh yêu em, V. - Em cũng yêu anh. Trên thế giới này không còn điều gì chân thật hơn thế. Vianne yêu mọi thứ nơi người đàn ông này: nụ cười của anh, cách anh lầm bầm trong khi ngủ, cười ngượng nghịu sau khi hắt hơi, và hát ông ổng trong lúc tắm. Chị đã phải lòng anh từ mười lăm năm trước, trên sân trường, trước cả khi hiểu được tình yêu là gì. Anh là tất cả những điều đầu tiên đối với chị - nụ hôn đầu, mối tình đầu, người yêu đầu. Trước khi gặp Antoine, Vianne chỉ là một con bé gầy như que củi, vụng về, hay lo lắng và nói lắp bắp mỗi khi sợ hãi, mà sợ hãi là chuyện khá thường xuyên. Một đứa con gái mồ côi mẹ. - Giờ con sẽ là người lớn trong nhà, - ba đã nói với Vianne như thế khi họ đến ngôi nhà này lần đầu tiên. Lúc đó Vianne mới mười bốn tuổi, mắt đỏ hoe và đau buồn không chịu nổi. Chỉ trong một khoảnh khắc, ngôi nhà này đã từ một chỗ nghỉ mát của gia đình trở thành một dạng nhà tù. Mẹ mất chưa được hai tuần, ba của Vianne đã từ bỏ vai trò người cha. Khi họ đến đây, ông không còn nắm tay hay đặt tay lên vai con gái, hay thậm chí là đưa cho nó một cái khăn mùi xoa để thấm nước mắt. - Nhưng con... con còn nhỏ mà, - Vianne đã nói như thế. - Con không còn nhỏ nữa. Lúc đó Vianne đã nhìn xuống đứa em gái, Isabelle, một đứa bé bốn tuổi chỉ biết mút ngón tay và chẳng hiểu được chuyện gì đang diễn ra. Isabelle cứ hỏi đi hỏi lại khi nào thì mẹ về. Khi cửa nhà bật mở, một phụ nữ có cái mũi như vòi nước và hai con mắt nhỏ xíu, đen thui như quả nho khô xuất hiện. - Bọn trẻ đây à? - Người phụ nữ hỏi. Cha Vianne gật đầu. - Chúng sẽ không gây rắc rối cho ông nữa. Chuyện đó diễn ra rất nhanh. Vianne không thực sự hiểu hết. Người cha rũ bỏ hai đứa con gái như người ta thay quần áo bẩn và để chúng lại với một người xa lạ. Hai đứa bé chênh tuổi nhau quá nhiều, đến nỗi dường như chúng không phải chị em ruột. Vianne muốn dỗ Isabelle, nhưng bản thân còn đang đau buồn tới mức chẳng thể nghĩ đến ai khác, đặc biệt là một đứa bé cứng đầu, nóng nảy và ồn ào như em gái mình. Còn nhớ những ngày đầu tiên ở đây, Isabelle cứ khóc ré lên và bị bà kia đánh đòn. Vianne phải xin cho con bé và cứ nhắc đi nhắc lại: “Chúa ơi, Isabelle, đừng khóc nữa. Nghe lời đi em”. Nhưng dù chỉ mới bốn tuổi, Isabelle đã tỏ ra là một đứa bất trị. Vianne đã trở nên tuyệt vọng vì tất cả chuyện đó - nỗi đau mất mẹ, nỗi buồn bị cha bỏ rơi, sự thay đổi gia cảnh đột ngột, và việc đòi mẹ đến ngán ngẩm của Isabelle. Chính Antoine là người đã cứu Vianne. Mùa hè đầu tiên sau cái chết của mẹ, hai đứa đã không thể tách rời nhau được. Với Antoine, Vianne đã tìm được một lối thoát. Năm mười sáu tuổi Vianne đã mang thai, và đến năm mười bảy thì kết hôn, trở thành bà chủ của Le Jardin. Hai tháng sau, Vianne sẩy thai và hoang mang, bối rối một thời gian. Không có cách nào khác hơn để diễn tả điều đó. Vianne thu mình lại với nỗi đau buồn và để nó vây kín mình, không thể quan tâm đến bất kỳ ai, hay bất kỳ điều gì, đặc biệt là đứa em gái nhỏ ưa khóc lóc vòi vĩnh. Nhưng chuyện đó đã qua rồi. Đó không phải là ký ức mà Vianne muốn nghĩ đến trong một ngày đẹp trời như hôm nay. Chị dựa người vào chồng trong lúc đứa con gái chạy đến chỗ hai người, tuyên bố: - Con xong rồi. Mình đi thôi. - Ồ. - Antoine nhăn mặt. - Công chúa đã sẵn sàng, chúng ta phải lên đường thôi. Vianne mỉm cười quay trở vào nhà để lấy chiếc mũ treo trên cái móc cạnh cửa. Vốn có mái tóc vàng hoe ánh đỏ, làn da trắng sứ và đôi mắt xanh, chị luôn phải bảo vệ mình khỏi ánh nắng. Trong lúc chị đội chiếc mũ rơm rộng vành, lấy đôi găng tay ren và chiếc làn đựng đồ ăn, Sophie và Antoine đã ra khỏi cổng. Vianne nhập bọn với hai cha con trên con đường đất trước nhà Nó chỉ vừa đủ rộng cho một chiếc xe hơi chạy qua. Bên kia đường là những đồng cỏ mênh mông, điểm xuyết cỏ xanh, hoa anh túc đỏ, thanh cúc lam, và những cánh rừng. Trong khu vực này của thung lũng sông Loire, những cánh đồng thích hợp để trồng cỏ khô hơn là trồng nho. Chỉ cách Paris chưa đầy hai giờ xe lửa, nhưng nó giống như một thế giới khác hẳn. Khách du lịch ít khi đến đây, kể cả trong dịp hè. Thỉnh thoảng một chiếc xe hơi bình bịch chạy qua, hoặc một chiếc xe đạp, xe bò, nhưng chủ yếu chỉ có gia đình họ trên đường. Họ sống cách Carriveau khoảng một cây số rưỡi, thành phố chưa đến một ngàn dân được biết đến như một điểm dừng chân trên con đường hành hương đến với thánh Jeanne d’Arc. Thành phố không có ngành công nghiệp nào, và chỉ có rất ít việc làm - ngoại trừ những chỗ làm ở sân bay, niềm tự hào của Carriveau. Đó là sân bay duy nhất của cả vùng. Ở Carriveau, các con đường nhỏ hẹp lát đá cuội len lỏi giữa những tòa nhà xây bằng đá vôi nép vào nhau một cách vụng về. Vữa rơi ra từ những bức tường đá, dây thường xuân che giấu sự sụp đổ khó thấy bằng mắt nhưng luôn cảm nhận được. Trải qua nhiều thế kỷ, ngôi làng đã được xây dựng theo kiểu chắp vá từng phần: những con đường cong queo, những bậc thang khấp khểnh và ngõ cụt. Màu sắc làm cho các tòa nhà trông sống động hơn: bạt đỏ căng trên khung sắt đen, ban công tô điểm những cây phong lữ trồng trong chậu sành. Đâu đâu cũng thấy thứ gì đó hút mắt: một khay bánh hạnh nhân với các tông màu nhạt, những chiếc làn đan bằng cành liễu đầy phô mai, giăm bông và xúc xích khô, những thùng cà chua, cà tím và dưa chuột đầy màu sắc... Các quán cà phê đông khách trong một ngày Chủ nhật đẹp trời. Cánh đàn ông ngồi quanh những chiếc bàn sắt, uống cà phê và hút thuốc lá tự cuốn, tranh luận sôi nổi. Đó là một ngày như mọi ngày ở Carriveau. Ông LaChoa đang quét quáy phía trước tiệm bán xa lát, bà Clonet lau tủ kính bày bán mũ, một nhóm các cậu thiếu niên sánh vai nhau đang đi bát phố, chuyển tay nhau một điếu thuốc lá và đá tung những món rác rưởi trên đường. Khi đến cuối thành phố, cả nhà rẽ về phía dòng sông. Tại một bãi cỏ phẳng phiu bên bờ sông, Vianne đặt làn đồ ăn xuống và trải khăn dưới bóng một cây dẻ. Chị lấy từ trong làn ra một ổ bánh mì que nóng giòn, một miếng phô mai béo ngậy, hai quả táo, vài lát giăm bông Bayonne, và một chai Bollinger’36. Chị rót cho chồng một ly champagne rồi ngồi xuống bên cạnh anh trong khi Sophie chạy ra bờ sông. Ngày hôm ấy trôi qua trong bầu không khí khoan khoái ấm áp của mùa hè. Họ trò chuyện, cười đùa và ăn uống. Chỉ đến cuối ngày, khi Sophie đã vác cần đi câu cá và Antoine đang làm cho cô bé một vòng hoa cúc đội đầu, anh mới nói: “Hitler sẽ sớm lôi tất cả chúng ta vào cuộc chiến tranh của hắn.” Chiến tranh. Đó là tất cả những gì người ta nói tới trong những ngày ấy, nhưng Vianne không muốn nghe nhắc đến nó. Đặc biệt là trong một ngày hè đẹp trời như thế. Chị khum tay che mắt quan sát con gái. Bên kia dòng nước, thung lũng sông Loire được canh tác cẩn thận và tỉ mỉ. Không có hàng rào, ranh giới, chỉ có những cánh đồng xanh mướt trải dài nhiều dặm, các mảng rừng và đây đó những ngôi nhà hoặc kho chứa xây bằng đá. Nhiều bông hoa nhỏ xíu màu trắng bay lơ lửng trong không khí, tựa như những túm bông nhỏ. Vianne đứng dậy và vỗ tay. - Sophie, đến giờ về rồi con. - Em không thể phớt lờ chuyện này được đâu, Vianne. - Em có cần phải bận lòng không? Mà tại sao chứ? Mẹ con em có anh bảo vệ đây rồi. Nói đoạn Vianne bật cười, có lẽ hơi to quá mức. Chị thu dọn đồ dã ngoại rồi dẫn cả nhà quay về con đường đất. Chưa đầy ba mươi phút sau, họ đã ở trước cánh cổng gỗ vững chãi của Le Jardin, trang viên của gia tộc chị từ ba trăm năm qua. Ngôi nhà hai tầng xây bằng đá đã ngả màu xám theo thời gian, có các cửa sổ cánh chớp màu xanh dương nhìn ra vườn cây. Dây thường xuân leo lên tận hai ống khói và phủ kín lớp gạch. Diện tích của khu đất chỉ còn lại bảy mẫu. Hai trăm mẫu đã bị bán đi trong hai thế kỷ, khi tình hình tài chính của gia đình suy sụp dần. Bảy mẫu là quá đủ đối với Vianne. Chị không nghĩ mình cần nhiều hơn thế. Vianne đóng cửa lại sau khi mọi người đã vào nhà. Trong bếp, xoong chảo bằng đồng và gang được treo phía trên bếp lò. Những bó oải hương, hương thảo và cỏ xạ hương được treo trên xà nhà. Ngoài ra còn một cái chậu bằng đồng đã gỉ xanh qua năm tháng, đủ to để tắm cho một con chó nhỏ. Theo thời gian, lớp thạch cao trên tường đã bong tróc nhiều chỗ. Phòng khách là một sự pha trộn lung tung các món đồ và vải trang trí: ghế trường kỷ bọc dạ, thảm Aubusson, đồ gốm cổ Trung Hoa, rèm hoa và tranh vải. Một vài bức tranh treo trên tường rất đẹp và có thể được giá, số còn lại có vẻ nghiệp dư. Bao trùm lên tất cả là nét lộn xộn chắp vá của tình trạng sa sút tiền nong và gu thẩm mỹ lỗi thời, hơi tồi tàn, nhưng dễ chịu. Vianne dừng lại trong phòng khách và nhìn qua cửa kính trông ra sân sau, nơi Antoine đang đẩy Sophie trên chiếc xích đu anh làm cho con bé. Chị nhẹ nhàng treo mũ lên cái móc cạnh cửa rồi với lấy chiếc tạp dề, mặc vào người. Trong khi hai bố con chơi ngoài trời, Vianne nấu bữa tối. Chị bọc một miếng thăn lợn trong khoanh thịt hun khói cắt dày, buộc dây nhiều vòng rồi rán vàng trong dầu nóng. Trong lúc món thịt lợn được nướng trong lò, Vianne chuẩn bị các món ăn còn lại. Đúng tám giờ tối, chị gọi cả nhà vào dùng bữa rồi mỉm cười mãn nguyện khi nghe thấy tiếng chân chạy rầm rập, tiếng trò chuyện vui vẻ và tiếng kéo ghế ken két bên bàn ăn. Sophie ngồi ở đầu bàn, con bé đội vòng hoa cúc mà bố đã làm cho ở bờ sông. Vianne đặt đĩa thức ăn lên bàn. Một mùi thơm phức bốc lên - thịt lợn nướng và thịt xông khói rán giòn nấu táo, bên trên phủ một lớp nước xốt rượu vang béo ngậy, bên dưới là một lớp khoai tây nướng. Cạnh đó là một bát đậu Hà Lan tươi rưới bơ và rắc lá ngải giấm nhà trồng. Và để dùng kèm thì không thể thiếu bánh mì mà Vianne đã nướng sáng hôm qua. Như thường lệ, Sophie huyên thuyên suốt trong bữa ăn. Về khoản này thì con bé giống y hệt dì Isabelle của nó, không thể giữ mồm giữ miệng được. Cuối cùng, lúc họ ăn đến món tráng miệng - île flottante, đảo trứng nổi trên một lớp kem Anh -, sự im lặng hài lòng bao trùm quanh bàn ăn. - Thôi. - Cuối cùng Vianne đẩy món tráng miệng mới ăn hết một nửa của mình sang một bên và tuyên bố. - Đến lúc rửa bát rồi. - Mẹ ơi... - Sophie mè nheo. - Không được làm nũng. - Antoine nói. - Con lớn rồi. Vianne và Sophie đi vào trong bếp như mọi buổi tối. Hai người đứng vào vị trí - Vianne cạnh cái chậu đồng, Sophie cạnh cái bàn đá - và bắt đầu rửa rồi lau khô bát đĩa. Vianne có thể ngửi thấy thứ mùi ngòn ngọt và hơi gắt của điếu thuốc mà Antoine hút sau bữa tối phảng phất trong nhà. - Hôm nay bố chẳng thèm cười với mấy câu chuyện con kể. - Sophie nói trong lúc Vianne xếp đĩa lên chiếc kệ gỗ treo tường. - Bố bị làm sao ấy. - Không cười á? Ờ, chuyện đó cũng đáng báo động đấy. - Bố đang lo lắng vì chiến tranh. Chiến tranh. Lại nữa rồi. Vianne xua con gái ra khỏi bếp. Hai mẹ con lên gác rồi vào phòng của Sophie. Chị ngồi trên chiếc giường đôi, lắng nghe con gái huyên thuyên trong khi thay đồ ngủ; đánh răng và lên giường. Chị cúi xuống hôn con bé. - Con sợ lắm. - Sophie nói. - Chiến tranh sắp xảy ra ạ? - Đừng sợ. - Vianne nói. - Bố sẽ bảo vệ mẹ con mình. Nhưng ngay khi nói câu vừa rồi, chị chợt nhớ ngày trước mẹ cũng từng bảo chị đừng sợ. Đó là khi cha Vianne ra chiến trường. Sophie có vẻ chưa yên tâm. - Nhưng mà... - Không nhưng nhị gì cả. Con không việc gì phải lo lắng. Giờ thì ngủ đi. Vianne hôn Sophie lần nữa và để môi mình nấn ná lâu hơn trên má con bé. Chị xuống cầu thang rồi bước ra sân sau. Trời đêm khá oi bức, không khí đượm mùi hoa nhài. Chị tìm thấy Antoine đang ngồi ở chiếc ghế uống cà phê bằng sắt đặt trên bãi cỏ, chân choãi ra, người ngả sang một bên. Chị đến bên cạnh và đặt một tay lên vai chồng. Antoine nhả khói, rồi rít một hơi thuốc dài. Sau đó anh ngước nhìn vợ. Dưới ánh trăng, khuôn mặt anh tái nhợt và u ám, gần như không thể nhận ra. Anh thò tay vào trong túi áo và lôi ra một tờ giấy. - Anh bị động viên rồi, Vianne. Cùng với hầu hết đàn ông tuổi từ mười tám đến ba lăm. - Động viên? Nhưng... chúng ta chưa có chiến tranh mà? Em không... - Thứ Ba tới anh sẽ phải lên đường. - Nhưng... nhưng... anh chỉ là một bưu tá. Anh nhìn sâu vào đôi mắt chị, khiến chị đột nhiên nghẹn ngào. - Giờ anh đã là một người lính. Hình như thế. Mời các bạn đón đọc Sơn Ca Vẫn Hót của tác giả Kristin Hannah.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Hạnh Phúc Trong Năm Lời Nói Dối
“Cứ để thời gian ăn mòn những nỗi oán hận, thế thì dễ dàng hơn. Chính xác như những nụ hôn bị đánh cắp một cách ngớ ngẩn, hãy để chúng chìm vào lãng quên trong nhà kho của sự dối trá. Chủ nghĩa phủ nhận muôn năm. Rồi để xem. Ta chẳng bao giờ dám yên trí nữa. Và nếu như tấm gương phản chiếu lại hình ảnh hơi mờ ảo của người mà ta muốn trở thành. Sau tất cả, ai mà chẳng có khiếm khuyết?”. ------------------- Bạn đã bao giờ nói dối chưa? Với người xa lạ, bạn bè, người yêu, gia đình,…? Về những điều nhỏ nhặt như “Không, em không giận, em vẫn ổn” cho đến những chuyện to tát như “Tôi lỡ có thai và tôi không muốn giữ đứa bé”…? Những lời nói dối luôn có mặt trong cuộc sống của chúng ta, thậm chí trở thành một phần không thể thiếu. Chúng ta nói dối khi sự lừa dối có lợi hơn sự thật. Nhưng liệu cuộc sống được xây dựng trên sự dối trá đó có khiến chúng ta thấy thoải mái và bình yên trong lòng? “Hạnh phúc trong năm lời nói dối” là câu chuyện xoay quanh Chloe Avanel - một cô gái bình thường, có những mối quan hệ bình thường và cần thiết như bao người khác, sống trong một gia đình với người mẹ đã mất và một vài trục trặc nho nhỏ. Mọi thứ được thông qua đôi mắt của cô, từ góc độ của cái tôi nhân vật nhìn ra ngoài cuộc sống và chứng kiến những lời nói dối. Nó khiến cô luôn tự hỏi liệu có thể nào dừng trò chơi lừa bịp này và sống không giả dối dù chỉ một lần không? Cuộc sống của Chloe, chuyện tình yêu của Chloe và Benjamin, mối quan hệ với người chị gái Joséphine và những mâu thuẫn trong gia đình Chloe, tất cả những lời nói dối dần được vô tình phát hiện hoặc hiển hiện và phơi bày rõ ràng. Đến cuối cùng, sau rất nhiều năm trôi qua, Chloe nhận ra rằng: đừng bao giờ tin vào vẻ bề ngoài; hãy tập trung vào thứ gì xứng đáng, tiến lên và nắm lấy nó. Bầu trời khi ấy dù đen tối đến đâu cũng sẽ trở nên bừng sáng một màu trong xanh. *** Không, tôi không muốn. Hoàn toàn không muốn về ra mắt bố mẹ Benjamin trong một hồi trống dồn dập theo kiểu “Tôi là Chloé, hôn thê của con trai cả nhà các vị”. Mặt khác, anh cũng có vẻ không vội để tôi xuất đầu lộ diện như một con thú trong hội chợ ở phòng khách kiểu cách của bố mẹ anh, những người hết sức đứng đắn. Với một nụ cười méo mó, trong cái váy xếp li và lời lẽ lúng túng. Thật quá sức chịu đựng. Tuy nhiên, cuối cùng thì, Benjamin, còn gọi là Benji, đã quen đến ăn tối ở nhà tôi, với những gì còn lại (ý tôi là gia đình, không phải những bữa tối nhé), vì tôi đang sống với chị Joséphine, Édouard - người yêu của chị và em trai tôi Gaspard. Mẹ tôi mất năm tôi mười lăm tuổi và đã năm năm nay bố tôi sống trên một hòn đảo hẻo lánh ngoài khơi Polynésie thế nên chị em tôi sống với nhau, vui vẻ trong tình thương ruột thịt. Một khay bò băm phủ khoai tây nghiền còn nghi ngút khói vừa được đặt lên bàn ngay khi Joséphine ngây ngô hỏi: - Thế bao giờ em ra mắt ông bà Largevent? Một tia hốt hoảng vụt qua mắt Benjamin mà tôi không muốn tố cáo nó. Anh có xấu hổ về tôi không? Lòng tự ái của tôi bị động chạm, nhưng thái độ của anh trấn an tôi. Tôi luôn nhớ kỷ niệm về lần duy nhất tôi thấy bố mẹ anh. Đó là khi họ đi du thuyền trong khi tôi là người chia bài ở sòng bạc trên tàu. Khi trở về, tôi chẳng liên lạc gì với họ. Cũng không cả trong cái lần đáng nhớ khi Benji làm mất chiếc ô tô của họ. Vậy là mọi chuyện đã rõ ràng, cần phải có một buổi ra mắt, tôi sẽ bắt buộc phải có mặt, nhưng nếu có cách nào để tránh nó thì tôi muốn vô cùng. Thật ra, tôi tự hỏi tại sao Benjamin không thấy xấu hổ về bố mẹ anh. Anh chưa bao giờ chỉ trích họ một cách công khai, nhưng kỳ thật tôi biết những mối quan hệ giữa bố mẹ và con cái chẳng bao giờ dễ dàng cả. Chẳng hạn, anh phải báo trước nếu không ăn ở nhà ngày hôm sau. Đó là một dấu hiệu đấy, tôi nghĩ thế. Và cái giọng điệu mà anh dùng để nói chuyện với bố mẹ, nó y như cách anh đối thoại với khách hàng vậy. À đúng rồi, tôi quên kể rằng Benji là một công chứng viên. Nghe cũng không hay ho lắm, nhưng cái nghề này khiến anh hài lòng và giúp anh lấp đầy tài khoản ngân hàng. Chỉ có một điều gây bực bội: đồng nghiệp của anh là một cô nàng gốc Mỹ tên Jessica Dupont, một quả bom tóc vàng với bộ ngực 95C. Cô ta có bộ răng trắng bóc, đều tăm tắp (cảm ơn ngành nha khoa)1* và một giọng nói ngọt ngào có thể làm tan chảy bất cứ nhiễm sắc thể Y nào. Những tiếng giày cao gót lịch thiệp vang lên trên nền đá cẩm thạch, và mùi Chanel số 5 vấn vương mỗi khi cô ta đi qua. Tôi chẳng thù ghét gì cô nàng ngoài việc khiến Benjamin luôn phải liếc theo hình bóng ấy. *Nguyên văn chirurgie = phẫu thuật, hiểu là chirurgie dentaire.. Mặc cho những điều phiền lòng này, đây là lần đầu tiên tôi cảm thấy tuyệt tới vậy với một người khác giới. Ừm, kinh nghiệm của tôi cũng chỉ giới hạn với một người yêu cũ thôi, nhưng vậy cũng đủ để tôi thấy rằng Benji hội tụ rất nhiều ưu điểm. Đầu tiên là anh không hẹn hò ở quán cà phê, bị bám dính bởi lũ bạn bè bợm nhậu. Tiếp theo là anh không thao thao bất tuyệt về đám bạn gái cũ, mấy cô với những số đo như người mẫu, ngực bự và tóc bạch kim. Tóc tôi màu nâu, mũi tôi hơi dài và thân hình có chút mập mạp (dù chẳng nghi ngờ gì là tôi cũng rất thu hút). Một điều đáng quý nữa: Benjamin không quá kiệm lời trên điện thoại. Chỉ là hôm nay, tôi đã nhận được hai tin nhắn, đều rất nhẹ nhàng, dịu dàng và ân cần, vậy đó. Anh nói rằng anh yêu tôi. Điều đó làm tôi dễ chịu. Bởi vì PAF (tôi đang nói về người yêu đầu tiên, Pierre Antoine Fabrège, anh trai của Marjolaine bạn tôi) là một người hay quên. Có cả ngàn điều để làm trong một giây, tôi đã tự đặt tên cho mình là “Đồ vô dụng”2*. Điều này vô cùng ám ảnh tâm trí bạn. Tôi không biết bạn thế nào, chứ với tôi, tâm trạng tôi chỉ càng vững thêm theo số lượng tiếng bíp trên điện thoại. *Nguyên văn “bánh thứ năm của xe ngựa”, ý chỉ người vô dụng thừa thãi.. Và tôi không nói về lý do tại sao chúng tôi chia tay, đó là điều mà tôi muốn bọc trong một cái vỏ đủ dày, khóa lại trong một chiếc hộp thật kín, bỏ vào thùng các-tông dán chặt một cách tỉ mỉ, tất cả được đặt trên gác xép, dưới một lớp bụi. Tóm lại, đừng nhắc thêm về điều đó, tôi đã quên rồi. Hoặc giả là như thế. Chi tiết cuối cùng: tôi yêu cái cách Benji yêu những phẩm chất của tôi. Bởi vì việc anh xoay xở để tìm được những điều đó trong tôi cũng chẳng dễ dàng gì. Và cũng bởi vì anh giúp tôi nhận thức được chúng. Anh thích tính hài hước của tôi, anh thích nụ cười của tôi, anh thích tiếng cười, năng lượng nơi tôi, làn da của tôi (thích lắm đấy, anh nói với tôi thế), lọn tóc nổi loạn cố vượt ra khỏi mái đầu bất trị, và tôi đã bỏ qua chúng, với đầy hối tiếc. Tóm lại, chúng tôi yêu nhau. Chúng tôi thường ăn trưa với nhau, anh cũng ăn tối thường xuyên ở nhà tôi, và sau đó lại trở về nhà để không gây ra ồn ào gì. Bởi vì anh còn ở với bố mẹ và chưa có một buổi giới thiệu chính thức nào. Vậy đó. Điều khập khiễng duy nhất trong cuộc sống thú vị này, đó là: tôi chẳng làm gì khác cả. Không học hành, không nghề nghiệp, không thất nghiệp, chẳng gì cả. Người ta có thể tin rằng đó là một hoàn cảnh lý tưởng, nhưng không. Tôi mười chín tuổi và muốn thay đổi, không muốn loanh quanh trong phòng để huyễn hoặc bản thân rằng tôi rất tuyệt vời, trước tiên là để thuyết phục chính mình. Tôi cho rằng vấn đề sẽ được giải quyết ngay năm học tới, nhưng những ngày trôi qua như một miếng bọt biển: uể oải và vô ích. Nói một cách chính thức, tôi đang trong thời gian tìm kiếm. Nghĩa là: tôi nhìn mình mà chẳng nói năng gì và chỉ lặp đi lặp lại: “Mày muốn làm gì với cuộc đời mày hả Chloé thân mến?” - nhưng mọi chuyện cũng chẳng khá hơn. Cái vòng luẩn quẩn này cứ như thế kể từ khi tôi không còn làm tài hề nữa (cho những ai không biết, tài hề là người phụ trách các trò chơi trong sòng bạc). Chị em tôi thêm nặng gánh. Tôi biết cần phải tìm thấy lối đi cho riêng mình. Giờ đây, tôi có cảm giác trước mặt là một đường hầm dày đặc, vô định, đen tối và dính dấp. Những ngày tâm trạng tốt thì tôi rất có lòng tin, nhưng những ngày khác, tôi như chìm trong cảnh khốn cùng. Làm việc trong một chuỗi hàng ăn nhanh, như là cái cửa hàng với chữ M lớn khoanh tròn trên lưng3* ư? Ừ, có thể. Bắt đầu học lại theo hệ từ xa ư? Cái đó, thực sự, giờ không phải là thời điểm tốt. Tìm một công việc bất kỳ nào khác để cho phép mình dịu đi lũ sói đang gào thét trong lòng ư? Hừm. *Ý chỉ McDonald’s.. Vậy là, không, chẳng có một buổi ra mắt chính thức nào, đề tài này đã khép lại. Chọn một chủ đề khác để nói chuyện, làm ơn đi. - Em biết là em đang làm trái luật đấy, Benjamin nói khi chúng tôi đi lên phòng tôi, sau khi đã ních đầy bụng món bò băm phủ khoai tây nghiền. Em đang hưởng tiền bảo hiểm từ cái chết của mẹ em, khi mà thường thì vì em đã dừng việc học, đáng ra em không nhận được số tiền đó nữa. - Ôi, thôi nào! Em đã đăng ký vào tháng Chín năm ngoái, em đã trả tiền học, nên năm nay chả có gì mà lo cả. Giờ là cuối tháng Tư, tức là năm học cũng sắp hết rồi. Mùa thu tới, để xem. Em sẽ lại trở thành sinh viên thôi, nào. Một cái nhếch mép phiền lòng lướt qua khuôn mặt Benji. Với anh, đó không phải là một cái “nào” chấp nhận được. - Chỉ là… Anh biết những điều này và anh không muốn đảm bảo cho mấy cái việc làm trái với… - Em xin ngắt lời anh ngay lập tức nhé. Em biết anh là công chứng viên và đã tuyên thệ trung thực. Anh đã cảnh báo cho em rồi, và đừng lo, anh sẽ không bị gạch tên khỏi danh sách đâu. Với cả, năm học này, cũng không hẳn là gian lận tiền bảo hiểm, vì em đã đăng ký học tới tháng Sáu rồi. Tuy nhiên, Benjamin chẳng có vẻ gì là tự hào. Gương mặt anh xám xịt, vẻ cương trực như bị bóp méo. Không tự hào, cũng chẳng hạnh phúc. - Được rồi, sự chu đáo của anh được ghi nhận. Em đã ngán phải bắt anh giữ bí mật chuyện này rồi. Một cái nhún vai. Bởi vì anh không thích điều đó, thế thì chọn một chủ đề mới vậy (cái thứ ba). Ờm, nói về… - Anh có thấy lúc này có vẻ lạnh không? Benjamin phá ra cười và đáp: - À, thế thì anh có giải pháp ngay đây: nép vào anh, anh biết làm thế nào để sưởi ấm cho em… Anh bao lấy tôi trong vòng tay và xoa người tôi như thể chúng tôi đang ở dưới một cơn bão tuyết. Benji, tôi yêu tiếng cười và tính tình anh. Làn da màu cà phê sữa của anh và những cử chỉ nhẹ nhàng nữa. - Anh không muốn ở lại đây đêm nay, dù chỉ một lần à? - Không, tốt hơn là anh nên về... Còn em, hãy suy nghĩ về cách làm cho bản thân trở nên bận rộn hơn trong những ngày này đi nhé. Trở nên bận rộn hơn, trở nên bận rộn hơn… Như thể lý do chính là để không gian lận tiền bảo hiểm! Tôi lắc đầu, với một chút buồn phiền. Và Benjamin ra về sau một tiếng thở dài. Bí mật đầu tiên, lời nói dối đầu tiên. Chẳng hề vẻ vang gì, với bất kỳ ai. ♥♥♥ Trong đêm, cả đống suy nghĩ quay cuồng trong đầu tôi, giương ra những hình ảnh kỳ quái. Vấn đề đầu tiên của tôi, đó là tôi chẳng biết phải làm gì với bản thân, với một quả cầu thủy tinh trên tay, tôi tự ngắm mình thật lâu. Nhìn đi, ai là mày, Chloé, mày đang giấu diếm điều gì trong tâm trí? Tôi thấy mình là một cô gái trẻ hấp dẫn và đầy năng lượng - nhưng giờ đây trống rỗng vô nghĩa. Bíp bíp, cần được giúp đỡ để biết cô ấy đã đi đâu. Benjamin cuốn đi những nghĩ suy trong tôi và tập trung vào một chi tiết nhỏ bé nhất, rằng bất kể điều này có làm tôi vui hay không, anh vẫn muốn tôi trở lại làm sinh viên, muốn ngăn tôi tự biến mình thành kẻ lừa đảo chuyên nghiệp. Tôi có muốn hẹn hò với người luôn kiên quyết với loại tội lỗi nhỏ nhặt này, như thể chúng vốn rất cơ bản? Câu trả lời là có. Tôi thích một người quá đỗi trung thực hơn là một kẻ lừa đảo, cơ hội, khôn vặt. Ngay cả khi tính thẳng thắn đôi khi thật nhàm chán. Bất kể ra sao. Ta tin rằng bóng đêm của những người chẳng làm gì trong ngày sẽ yên lặng và thanh tĩnh lắm. Chẳng có gì cả. Kẻ ăn không ngồi rồi cứ lặp đi lặp lại, suy nghĩ một cách đau khổ về mục đích cuộc đời mình, đả kích, tự nhận ra đó là một thứ ngáng chân, một cái dằm nặng nề đối với mọi người xung quanh. Thay vì đi tàu điện, tôi đi bộ. Trên bến Garonne, tôi nhận ra những thay đổi nhỏ nhất, những người quen mặt đã gần như trở thành bạn bè. Có những bà mẹ đang đẩy xe em bé, những người chạy bộ giẫm lên mặt đường rải nhựa những bước vững chắc, những kẻ nhàn rỗi, như tôi. Và lũ trẻ, vào lúc tan trường. Nhưng họ không nhầm đâu: từng chút một, tôi trở thành một quả bóng trong trạng thái bị kích thích. Khi còn làm tài hề trên tàu, tôi thấy thật dễ ngủ, chắc là tôi cần nghỉ ngơi (và la hét với đám cùng phòng, tín đồ của tivi buổi đêm bằng tiếng Indonesia ở âm lượng ít nhất tám mươi đề-xi-ben). Khi đang lo lắng, tôi cứ lần chần tránh né và kiên trì giữ lấy những ý định vốn rất tốn thời gian. Những ý định của đêm nay thật là đa dạng: a) Benji, tôi đã có anh rồi, tôi sẽ giữ lấy anh. b) Tôi sẽ tìm một công việc trong lúc đợi năm học tới, và tại sao không trở lại du thuyền để đếm thẻ bài nhỉ? c) Từ nay, tôi sẽ dậy cùng lúc với những người khác, bởi vì nó chả có lý gì cả. Tôi là một người năng động, và tôi sẽ chứng tỏ điều đó. Có câu châm ngôn gì ấy nhỉ? “Hạnh phúc thuộc về kẻ dậy sớm”, hoặc cái gì đại loại thế. Thế nên, ngay sáng mai, báo thức sẽ kêu lúc bảy giờ. Trừ khi những nghĩ suy trằn trọc lúc nửa đêm này làm tôi kiệt sức. Và tôi hiểu, trong màn sương mờ mịt, rằng không phải hạnh phúc, mà là thế giới thuộc về những kẻ dậy sớm. Và thế gian này có thể đợi tới khi tôi có một tinh thần tươi sáng. Điều này giải thích cho việc tôi cáu kỉnh tắt báo thức. Và rồi ngủ lại ngon lành. Tiếng bíp từ tin nhắn điện thoại đánh thức tôi dậy một giờ sau đó. Là Benjamin. Anh phải đi công tác gấp ở tỉnh, sẽ vắng mặt tới ngày mai. Tốt thôi. Nếu chuyến đi này không phải với Jessica Dupont, quả bom của văn phòng công chứng, thì tôi có thể tiếp tục ngủ. Rốt cuộc tôi cũng thức dậy, ý thức được những trách nhiệm mới mà mình đã tự đặt ra đêm qua và rồi bị gặm nhấm bởi cảm giác tội lỗi. Đó là lý do mà tôi đang lướt Internet, tìm kiếm một công việc trong mơ. Những người chưa bao giờ thử thì không biết điều này, nhưng không phải dễ dàng để tìm thấy một công việc thú vị, trả lương khá và kích thích trí thông minh. Nói đúng hơn, đó là nhiệm vụ bất khả thi. Hoặc nếu thông báo nhấp nháy trên màn hình, với một đề nghị hấp dẫn kiểu “Kiếm thật nhiều tiền mà không cần di chuyển”, thì tức là nó đang che giấu một điều gì đó không rõ ràng, thì không, cảm ơn. Ngoài một công việc dạng như khiêu dâm qua điện thoại, chẳng có gì để xem cả. Đó sẽ là một phương án, và trong một khoảnh khắc, tôi thấy mình, khóa kín trong phòng, trả lời những gã đàn ông bệnh hoạn chỉ có một khao khát duy nhất: nghe những tiếng rên rỉ lừ đừ... Và tôi tưởng tượng ra hình ảnh của Benjamin khi tôi thông báo với anh, đầy hoan hỉ, rằng cuối cùng thì tôi cũng có được công việc trong mơ rồi... Không, dù thế nào thì, nó yêu cầu tài năng mà tôi không có. Lúc ấy, một lần nữa, tôi oải nhàn4* trong căn nhà. Cần có một sức mạnh chắc chắn nào đó, kiểu như để có thể vượt qua ngày dài không quá chán nản mà cũng không cảm thấy tội lỗi. Rõ ràng là tôi không có sức mạnh đó. Sự tội lỗi đã thắng thế, đến nỗi tôi phải giặt giũ quần áo không chút chậm trễ, lấp đầy tủ lạnh và thậm chí còn đi nấu ăn, khi mà thường thì đó là việc của Gaspard. Điều này nói lên là tôi đang cảm thấy tệ thế nào. *Oải nhàn: có một tư thế uể oải và nhàn rỗi (Chloé Avanel, Từ điển tiếng Pháp hay dùng, trang 354).. Điều tệ nhất là những người khác cảm thấy đấy là bình thường. Đã đến lúc tôi cần tìm ra một mối bận tâm thực sự. Mời các bạn đón đọc Hạnh Phúc Trong Năm Lời Nói Dối của tác giả Pascale Perrier.
Con Nai Trong Rừng
Truyện Con Nai Trong Rừng, chuyện nói về một người còn gái rất ngây thơ, cho dù nguy hiểm ngay trước mặt thì cô cũng không biết và cũng không biết rằng mình sắp bị ăn thịt. Cô lớn lên bởi sự bao bọc của gia đình, được chiều chuộng và có một tuổi thơ rất đẹp. Nhưng chính vì sự bao bọc đó khiến cô không bao giờ trưởng thành và tự lập được. Cho đến một ngày cô được gia đình cho đi dã ngoại cùng với bạn bè và rồi cô đã gặp kẻ xấu. Nhưng lúc đó chính cô cũng không biết rằng mình đang gặp nguy hiểm, cũng may là có bạn bè cứu giúp không thì cô đã bị chúng ăn thịt. *** Các vị khách của Tử tước Đờ Terxio đang trên đường từ Biarit trở về, nơi họ vừa vui chơi lúc chiều. Đoàn xe ngựa của họ đang lăn bánh trên con đường đưa đến lâu đài Uxagio, đi giữa những cánh đồng cỏ mà cảnh chiều tà đẹp êm ả đang lan tỏa xuống. Trên những cánh rừng phân định ranh giới của lãnh địa, mặt trời vừa lặn để lại những tia hồng nhạt và ánh sáng đang tắt dần trải dài trên đồng quê lặng lẽ. Trên các xe, những câu truyện bắt đầu từ lúc khởi hành vẫn đang tiếp tục. Phần nhiều là những câu chuyện mảnh về xã hội phù hoa, nói với thiện ý hoặc không thiện ý. Hôm nay họ nói nhiều nhất về một vấn đề; Hoàng thân Đờ Vitengrat hình như đang để ý đến cô ả Myra Nađôpulô xinh đẹp. "Cô ả đỏm dáng đến điên rồ" như bà Đờ Terxiơ đã nhận xét, không phải không có đôi chút chanh chua.  Ông Đờ Ănglơmơ, nhà ngoại giao hưu trí ngồi trước mặt bà chủ lâu đài lưu ý mọi người - Cô ta có sức mê hoặc ghê gớm. Vả lại, cô ta đã thừa kế đúng người. Bà Bá tước Xêminkhốp đẹp đẽ, mẹ cô ấy vẫn là con người mơn trớn như tôi đã gặp ở Matxcơva mười hai, mười ba năm trước đay, lúc bà ta tái giá.  - Bà ta gốc Hy Lạp phải không?  - Hy Lạp, dân phương Đông, Do Thái? Làm sao mà biết được. Tôi cho rằng trong người bà ta có sự pha trộn các chủng tộc.  - Còn người chồng thứ nhất... Ông có biết người ấy không?  -Không. hình như là một thương gia Hy Lạp giàu có mà người đẹp kia làm cho khánh kiệt trong vài năm. Sau đó, bà ta đã quăng lưới bắt được một dại úy quý tộc Nga góa vợ. Ông này không nguôi nhớ thương người vợ diễm lệ thuộc dòng dõi quý tộc danh giá nhất ở Matxcơva. Đó là nữ bá tước Ximinkhốp trẻ trung, đã chết sau ba năm kết hôn, để lại cho chồng một đứa con gái nhỏ. Theo lời khuyên của bạn bè khi thấy ông sắp quỵ trong đau khổ cự độ, ông đã đi du ngoạn. Ở Cairô, ông gặp bà Ixmen Nađôpulô, bà này đã dốc lòng an ui ông - và đã thành công đến nỗi sáu tháng sau bà trở thành Bá tước Phu nhân Xêminkhốp.  Bà Đờ Tembray, người thiếu phụ có bộ tóc vàng hoe thốt ra một tiếng cười mỉa mai:  -Đau buồn của nam giới là như thế đấy! Nhưng ông Xêminkhốp tội nghiệp ấy hình như bị vợ làm đau khổ không ít?  - Đúng thế, nói riêng giữa chúng ta thôi nhé, tôi không tin là ông ấy sung sướng.  - Phải, mụ Ixmen đẹp đẽ này không phải là người vợ đoan trang, điềm đạm và dịu dàng có lẽ không phải là những đức tính quen thuộc của mụ. nhưng bé gái của bà vợ trước như thế nào?  - Đứa bé tội nghiệp đã gặp nạn. Nó chết đưối, cô gia sư người Pháp cũng chết trong vụ tai nạn, có lẽ vì muốn cứu nó.  - Cuộc hôn nhân thứ hai của họ không có con chung sao?  - Có chứ, một đứa con trai, một đứa trẻ tàn tật đáng thương àm mẹ nó không ưa. Mụ chỉ thấy mỗi mình trên đời này, mình trước hết rồi đền đứa con gái.  - Cái cô Myra này kỳ dị thật...! Một cô ả mất nết. Ông có cho là như thế không?  - Con hơn là mất nết ấy chứ. Thật thế. Con người ấy được giáo dục mới hay làm sao. Pie Đurin kể với tôi cô ta đã gây ra bao điều đáng dị nghị về minh ở Pêtécbua vào mùa đông năm ngoái vì thái độ phù phiếm và vẻ đỏm dáng khêu gợi. Ta đã thấy một kiểu mẫu như thế trong cách cư xử của ả đối với Hoàng thân Đờ Vitengrat.... nhưng lần này thì ả phải coi chừng để khỏi mắc lại vài mảnh tim của mình ở đây. Với người này, không ai yêu nửa chừng, nửa vời được đâu!  Bà Đờ Tembray bứt rứt hỏi:  - Nghe nói người ấy là hiện thân của sự không bền vững, đúng không?  - Đúng thế. Nhưng tôi thấy ả Myra xinh đẹp có vẻ rất khôn khéo, biết dâu ả lại thành công trong việc giữ cho tính hay thay đổi của hoàng thân quay vòng lâu hơn một chút.  Trong khi nói, ông Đờ Ăngblomo liếc nhìn người thiếu phụ một cách ranh mãnh, làn da tươi mát của bà ửng hồng vì xúc động mạnh - cả bà này nữa cũng đã vướng mắc rồi đây - ông thích thú nghĩ như vậy.  - Cô myra kia hoàn toàn không có một chút gì là sang trọng.... Đây là một kiểu người du cư hoặc một thứ gì cùng loại. Bà Đờ Terxio khinh khỉnh nói.  - Tôi nghi ngờ ả thực sự làm vừa lòng Hoàng thân, một người rất tinh tế và thông minh phi thường.  Người được nói đến đang ngồi lún sâu vào đệm xe nhìn ngày tàn dần trên khu rừng đang tối thẫm lại. Chàng đã ra lệnh cho người đánh xe ghìm bớt nước kiệu của hai con ngựa đang hăng để xe đi sau các xe khác. Ngồi bên cạnh chàng và tôn trọng sự im lặng của chàng là Ôbe Đờ Griơy, một sĩ quan trẻ đến từ Angiêri trở về, đang trong thời gian nghĩ dưỡng bệnh sau một trận ốm nặng về chơi ít lâu với gia đình người anh em họ Đờ Terxiơ.  Hoàng thân Đờ Vitengrat, người không dễ có thiện cảm với ai, có vẻ nhanh chóng ưu thích người thanh niên đẹp trai có thiên bẩm thông minh và lịch sự này, là con trai của một sĩ quan bị giết năm 1870 trong trận ở Xanh-Priva. Chàng đã coi người sĩ quan như là bạn thân nhất trong suốt thời gian ở lâu đài Heagiơ. Ân huệ ấy không phải là không khơi gợi những ghen tỵ ngấm ngầm, vì có đầy rẫy những kẻ xu nịnh đang vội vã tôn xùng người giữ cương vị rất cao ở Châu Âu do dòng dõi, sản nghiệp, chưa kể đến những thiên bẩm về trí tuệ và hình thức tạo nên.  Mời các bạn đón đọc Con Nai Trong Rừng của tác giả Delly.
Trong Chiến Hào Stalingrad
Vích-to Nê-cơ-ra-xốp sinh năm 1911 ở thành phố Ki-ép, trong một gia đình bác sĩ. Sau khi tốt nghiệp khoa kiến trúc của Học viện Kiến thiết và trường diễn viên sân khấu năm 1936 ở thành phố Ki-ép, Nê-cơ-ra-xốp đã làm diễn viên và họa sĩ ở nhiều thành phố trong nước. Từ năm 1941, nhà văn tương lai, trung đội trưởng trung đội công binh, đã chiến đấu trên mặt trận chống bọn phát-xít xâm lược, trong cuộc Chiến tranh Ái quốc vĩ đại và đã bị thương nặng. Nê-cơ-ra-xốp được tặng thưởng huân chương Sao Đỏ và nhiều huy chương. Sau khi chiến tranh chấm dứt, Nê-cơ-ra-xốp đi vào con đường sáng tác văn nghệ. Cuốn Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát của ông, xuất bản năm 1946, được tặng Giải thưởng Quốc gia. Nhà văn - chiến sĩ Xê-vô-lốt Vít-snhép-xki, tác giả cuốn Bi kịch lạc quan đã viết: «Đến nay, tác phẩm đó có giá trị nhất và chính xác nhất viết về những sự kiện ở Xta-lin-gơ-rát». Những năm tiếp sau, Nê-cơ-ra-xốp đã viết nhiều truyện ngắn về đề tài chiến tranh, truyện vừa Trong thành phố quê hương, Kia-ra Ghê-oóc-ghi-ép-na, truyện phim và bút ký đi đường. Hầu hết các tác phẩm của V. Nê-cơ-ra-xốp đều đã được dịch ra tiếng các dân tộc ở Liên Xô và tiếng nước ngoài. *** Việc chiếm được thành phố Stalingrad có tầm quan trọng rất lớn đối với Hitler và cả Mussolini vì hai lý do chính. Thứ nhất, đây là một thành phố công nghiệp lớn nằm trên sông Volga - con đường giao thông vận tải mang tầm quan trọng chiến lược nối liền Biển Caspi và miền Bắc nước Nga. Vì vậy việc để mất Stalingrad vào tay phát xít Đức sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng vận chuyển hàng hóa đến phía Bắc của đất nước. Thứ hai, việc đánh chiếm Stalingrad sẽ củng cố sườn phía Đông của quân Đức vốn đang tiến nhanh về vựa dầu tại vùng Kavkaz với mục tiêu cắt đứt nguồn cung ứng dầu hỏa cho Hồng quân Xô Viết.[23] Thêm nữa, thành phố này mang tên của lãnh tụ I. V. Stalin, việc đánh chiếm thành phố này cũng sẽ là một thắng lợi quan trọng về mặt tinh thần và tư tưởng. Hồng quân Xô Viết nhận ra rằng họ đang chịu một sức ép nghiêm trọng về thời gian và nhân lực, vật lực, vì vậy tất cả những ai có thể cầm súng chiến đấu đều được điều về bảo vệ Stalingrad.[24] Vào thời kỳ này của chiến tranh, khả năng tác chiến cơ động cao của Hồng quân vẫn còn kém hơn so với phát xít Đức, tuy nhiên việc chiến đấu trong thành phố đã giúp giảm thiểu những thiệt thòi của Hồng quân vì nơi đây là địa bàn của việc giao tranh bằng vũ khí cầm tay của bộ binh chiếm ưu thế chứ không phải là nơi dành cho việc giao chiến giữa các lực lượng tăng thiết giáp. *** Lệnh rút lui đến rất đột ngột, Chỉ mới hôm qua thôi, từ sư đoàn bộ đã gửi đến một bản kế hoạch chi tiết về các công tác phòng ngự: lập tuyến thứ hai, chữa đường sá, làm cầu con. Các đồng chí bảo tôi cho ba công binh để bố trí câu lạc bộ sư đoàn. Buổi sáng sư đoàn bộ gọi điện bảo phải chuẩn bị đón đoàn văn công ca múa của mặt trận. Thật không còn gì bình tĩnh hơn nữa! Nhân dịp đó, thậm chí tôi và I-go đã cạo râu, cắt tóc và gội đầu, đồng thời giặt áo mai-ô, quần đùi nữa, Và trong lúc chờ áo quần khô, chúng tôi nằm dài trên bờ sông con đã cạn, nhìn xem các chiến sĩ công binh của tôi đang làm những chiếc bè con cho trinh sát viên. Chúng tôi nằm hút thuốc, đánh cho nhau những con ruồi trâu chậm chạp và béo quay bám trên lưng chúng tôi và nhìn xem anh trung đội phó của tôi đang lặn hụp trong nước, nhô cái mông trắng trẻo và những gót chân đen đủi để thử xem chiếc bè có chắc không, Ngay lúc đó, La-da-ren-cô, liên lạc viên của ban chỉ huy, đã hiện ra. Từ xa tôi đã nhận ra anh đang ba chân bốn cẳng phóng qua vườn rau, một tay giữ khẩu súng trường lúc la lúc lắc vỗ vào lưng, Cứ xem cách chạy đó, tôi hiểu ngay là bây giờ chẳng còn có hòa nhạc hòa nhiếc gì nữa rồi. Chắc là lại có phái viên kiểm tra nào đấy từ quân đoàn hay mặt trận đến... Lại phải đi đến tiền duyên, phải trình bày kế hoạch phòng ngự, phải nghe những lời phê bình nhận xét. Thế là mất một đêm. Và người kỹ sư công binh phải chịu trách nhiệm về tất cả. Nằm ở thế phòng ngự, thật chẳng có gì tệ hơn nữa. Đêm nào cũng có phái viên kiểm tra đến. Mà mỗi ông một tính. Cái đó thì nhất định là như thế rồi. Ông này thì bảo là chiến hào quá chật, khó khiêng thương binh, khó vác súng máy. Ông kia thì kêu là chiến hào quá rộng, mảnh bom sẽ rơi vào. Ông thứ ba thì nói là ụ đất phía ngoài công sự thấp: đáng lẽ phải bốn tấc thế mà các ụ của anh, có thấy không, chưa đến hai tấc. Ông thứ tư thì ra lệnh hoàn toàn san phẳng những ụ ấy đi, vì chúng chỉ làm hỏng ngụy trang. Thế thì làm thế nào để vừa lòng mọi người được. Còn kỹ sư công binh của sư đoàn thì chẳng chú ý gì đến cả. Hai tuần ông ta mới đến một lần, nhưng chỉ là cưỡi ngựa xem hoa suốt tiền duyên mà thôi và chẳng nói được điều gì có ích cả. Còn tôi thì lần nào cũng phải bắt đầu làm lại và phải đứng nghiêm nghe những lời quở trách của trung đoàn trưởng: «Này, đồng chí kỹ sư kính mến ơi, đến bao giờ đồng chí mới học đào chiến hào cho ra hồn được, hở?...» La-da-ren-cô phóc qua hàng giậu. - Việc gì thế, hở cậu? Anh vừa lấy mũ ca-lô lau trán ướt đẫm mồ hôi, vừa há mồm răng trắng hếu đáp lại: - Tham mưu trưởng gọi. - Gọi ai? Gọi tôi à? - Gọi cả đồng chí lẫn trưởng ban hóa chất. Tham mưu trưởng bảo là sau năm phút phải có mặt. Không, thế nghĩa là không phải phái viên kiểm tra. - Thế cậu có biết gọi để làm gì không, hở. - Có trời mà biết được. - La-da-ren-cô nhún vai ướt đẫm mồ hôi đáp. - Làm sao mà hiểu được... Tất cả liên lạc đều phái đi hết. Đại úy vừa nằm xuống ngủ, thì ngay lúc đó sĩ quan thông tin đến. Thế là đành phải mặc quần đùi, áo mai ô còn ẩm và đi đến sở chỉ huy. Các trung đội trưởng đều cũng được gọi đến cả. Tham mưu trưởng Mác-xi-mốp không có ở đây. Anh ta đang ở chỗ trung đoàn trưởng. Ở nhà hầm sở chỉ huy có cán bộ chỉ huy các đơn vị đặc biệt và những nhân viên tham mưu. Trong số tiểu đoàn trưởng chỉ có Xéc-ghi-en-cô, chỉ huy tiểu đoàn ba. Chẳng ai hiểu rõ đầu đuôi gì cả. Trung sĩ Dơ-vê-rép, sĩ quan thông tin, cao lêu nghêu đang loay hoay với chiếc yên ngựa. Anh ta vừa thở ì ạch, vừa gắt gỏng, nhưng chẳng tài nào kéo nổi sợi dây chằng. - Sư đoàn bộ đang chuẩn bị rút. Chỉ có thế thôi... Ngoài ra, anh không còn biết gì thêm nữa. Xéc-ghi-en-cô nằm sấp, đang gọt mảnh gỗ gì đấy và lầu bầu như mọi khi: - Chỉ vừa mới thu xếp xong buồng khử trùng, thì đã phải rút. Mẹ kiếp, đời lính chó má thật! Các chiến sĩ thì quào đến bật máu đầu, mà chẳng làm thể nào giết sạch chấy được... Xa-mu-xép, chỉ huy tổ súng chống tăng, có mái tóc vàng và cặp mắt xanh, nhoẻn miệng cười khinh bỉ: - Hừ, buồng khử trùng của cậu thì quan trọng quái gì... Chỗ tớ một nửa quân số sau khi tiêm thuốc xong, lưng bị sưng lên như thế này. Người ta tiêm vào xuýt nữa thì đến một cốc thuốc quỷ quái gì đấy. Bây giờ thì mặc sức mà rên rỉ, kêu ca... Mời các bạn đón đọc Trong Chiến Hào Stalingrad của tác giả V. Nê-cơ-ra-xốp.
Thư Gửi Người Đàn Bà Không Quen Biết
Hồi André Maurois mất, cuối năm 1967, thọ 82 tuổi, một bạn đồng viện của ông khen ông đại ý như sau: “André Maurois phân biệt ba hạng tác phẩm: trác tuyệt, lớn và hữu ích. Không một tác phẩm nào của ông vào hàng trác tuyệt nhưng toàn thể tác phẩm của ông quả là trác tuyệt”. Toàn thể tác phẩm đó khoảng trăm cuốn, gồm gần đủ các loại: truyện dài, truyện ngắn, sử, tiểu sử, phê bình, khảo luận, tùy bú cuốn nào cũng hữu ích và năm sáu cuốn phải kể là lớn. Tiểu sử của ông mà tôi đã chép trong cuốn Các cuộc đời ngoại hạng đáng làm mẫu mực: cần cù, liêm khiết, chân chính. Sáu mươi năm cầm bút, có lúc dạy học, diễn thuyết; tám mươi tuổi vẫn đều đều mỗi ngày ngồi vào bàn viết cả buổi sáng; vừa viết xong tập Hồi kí, thì vào dưỡng đường trị bệnh ruột và nửa tháng sau tắt nghỉ. Ông nổi tiếng là nhà luân lí có khuynh hướng tình cảm, lãnh nhiệm vụ hướng dẫn thanh niên trong thời đại nhiều biến chuyển nhất của Pháp (từ Thế chiến thứ nhất tới nay), và ông đã được ba thể hệ trẻ tin cậy, coi như bậc thầy. Sự nghiệp trác tuyệt của ông ở đó. Đầu năm 1968, chúng tôi đã giới thiệu với độc giả tập Thư ngỏ gởi tuổi đôi mưoi ông viết hồi tám chục tuổi; hôm nay xin giới thiệu thêm cuốn Thư gởi Người đàn bà không quen biết viết hồi bảy chục tuổi. “Người đàn bà không quen biết” mà ông tưởng tượng là một thiếu phụ khoảng ba mươi, đẹp, thông minh, có óc phán đoán, suy xét, thực ra tượng trưng tất cả những phụ nữ thắc mắc về đời sống. Liên tiếp trong sáu chục tuần, ông viết cho họ mỗi tuần một bức thư từ hai tới bốn trang. Trong sáu chục bức thư đó, ông giải đáp tất cả những câu họ có thể hỏi ông về những nỗi vui, buồn và ưu tư của họ, về ái tình, hôn nhân, hạnh phúc, nghề nghiệp, về tâm lí đàn ông, tâm lí đàn bà, về y phục, nhan sắc, cách lấy lòng người, cách xử trí khi chồng có ngoại tình, về quyền lợi và bổn phận của đàn bà, như dạy con, chiều chuộng Ồng lại chỉ cho họ cách bồi dưỡng tinh thần và trí tuệ: đọc sách ra sao, tiêu khiển ra sao. Đôi khi ông cao hứng, nhân một lúc vui hay một lúc bực mình, giới thiệu một tác phẩm, một khúc nhạc, một cảnh đẹp hoặc mạt sát bọn giết thì giờ của ông, mỉa mai bọn làm áp phe, suốt đời chỉ lo kiếm tiền. Tóm lại, ông gặp chuyện gì nói chuyện đó, không sắp đặt trước, lan man y như trong một cuộc đàm thoại. Triết lí của ông, cũng như trong cuốn Thư ngỏ gởi tuổi đôi mưoi là một triết lí lạc quan, khoan hòa, thực tế mà chân chính. Giọng của ông nghiêm trang, thanh nhã mà thân mật, dí dỏm, không ra vẻ dạy đời. Ông già tâm lí, giàu kinh nghiệm; đọc ông ta thấy thích hơn là đọc tác phẩm khô khan của các triết gia, thích hơn cả là những trang tuy sâu sắc, nhưng cô đọng gần như châm ngôn của Alain, sư phụ của ông nữa. Vì ông gần chúng ta hơn. Nhưng muốn hưởng hết cái thú thì mỗi tối ta chỉ nên coi một bức thư thôi. Đọc chầm chậm, vừa suy nghĩ thì mất độ mười lăm phút, mưòi lăm phút đó đáng kể nhất trong mỗi ngày của ta vì ta được hiểu đời hơn, hiểu ta hơn và được đàm đạo vói một danh sĩ bậc nhất của Pháp. *** Dịch giả: Nguyễn Hiến Lê LỜI ĐẦU André Maurois (1885 - 1967) là nhà văn lớn Pháp, tên thật là Emile Herzog. Viện sĩ trong Viện Hàn lâm Pháp. Ông xuất thân trong một gia đình công nghiệp ở Alsaca. Khi còn ở ghế nhà trường ông là một cao đệ của giáo sư kiêm triết gia Alaine (1868 - 1951), tốt nghiệp Đại học, ông làm giáo sư triết học. Một thời gian sau ông từ chức về quản lí nhà máy dệt của gia đình và bắt đầu viết từ đó. Trong thế chiến thứ nhất (1914 - 1918) , ông làm thông dịch viên trong quân đội Hoàng gia Anh, chiến tranh thế giới lần thứ hai (1939 - 1945), ông sống ở Anh quốc và Hoa Kỳ. André Maurois chuyên về tiểu thuyết, luận văn, sử, phê bình, khảo luận, tùy bút... Với hơn 100 tác phẩm thuộc nhiều thể loại mà có người cho "toàn thể tác phẩm của ông quả là trác tuyệt" đã được các thế hệ trẻ ngưỡng mộ, tin cậy và xem ông như bậc thầy. Ông viết tập "Thư gởi người đàn bà không quen biết" (Lettres à l'Inconnue) này khi ông đã ngoài bảy mươi tuổi gởi lại cho lớp đến sau, giúp họ có một vốn sống nho nhỏ trong cuộc sống. Hồi André Maurois mất, cuối năm 1967, thọ 82 tuổi, một bạn đồng viện của ông khen ông đại ý như sau : "André Maurois phân biệt ba hạng tác phẩm : trác tuyệt, lớn và hữu ích. Không một tác phẩm nào của ông vào hàng trác tuyệt nhưng toàn thể tác phẩm của ông quả là trác tuyệt". Ông nổi tiếng là nhà luân lí có khuynh hướng tình cảm, lãnh nhiệm vụ hướng dẫn thanh niên trong thời đại nhiều biến chuyển nhất của Pháp (từ Thế chiến thứ nhất tới nay), và ông đã được ba thế hệ trẻ tin cậy, coi như bậc thầy. Sự nghiệp trác tuyệt của ông ở đó. "Người đàn bà không quen biết" mà ông tưởng tượng là một thiếu phụ khoảng ba mươi, đẹp, thông minh, có óc phán đoán, suy xét, thực ra tượng trưng tất cả những phụ nữ thắc mắc về đời sống. Liên tiếp trong sáu chục tuần, ông viết cho họ mỗi tuần một bức thư từ hai tới bốn trang. Trong sáu chục bức thư đó, ông giải đáp tất cả những câu họ có thể hỏi ông về những nỗi vui, buồn và ưu tư của họ, về ái tình, hôn nhân, hạnh phúc, nghề nghiệp, về tâm lí đàn ông, tâm lí đàn bà, về y phục, nhan sắc, cách lấy lòng người, cách xử trí khi chồng có ngoại tình, về quyền lợi và bổn phận của đàn bà, như dạy con, chiều chuộng v.v... Ông lại chỉ cho họ cách bồi dưỡng tinh thần và trí tuệ : đọc sách ra sao, tiêu khiển ra sao. Đôi khi ông cao hứng, nhân một lúc vui hay một lúc bực mình, giới thiệu một tác phẩm, một khúc nhạc, một cảnh đẹp hoặc mạt sát bọn giết thì giờ của ông, mỉa mai bọn làm áp phe, suốt đời chỉ lo kiếm tiền... Tóm lại, ông gặp chuyện gì nói chuyện đó, không sắp đặt trước, lan man y như trong một cuộc đàm thoại. Triết lý của ông là một triết lý lạc quan, khoan hoà, thực tế mà chân chính. Giọng của ông nghiêm trang, thanh nhã mà thân mật, dí dỏm không ra vẻ dạy đời. Ông già tâm lí, giàu kinh nghiệm ; đọc ông ta thấy thích hơn là đọc tác phẩm khô khan của các triết gia, thích hơn cả là những trang tuy sâu sắc, nhưng cô đọng gần như châm ngôn của Alain, sư phụ của ông nữa. Vì ông gần chúng ta hơn.   Tựa (của tác giả) Có cô mà không có cô. Khi một ông bạn nhờ tôi viết mỗi tuần một bức thư cho cô thì tôi thích thú tưởng tượng ra cô. Tôi tạo ra cô : hoàn toàn về óc phán đoán cũng như về nét mặt. Tôi chắc chắn cô sẽ từ cõi mộng tưởng của tôi xuất hiện thành một người thực, rồi đọc thư tôi, đáp tôi, nói với tôi tất cả những lời mà một nhà văn muốn nghe. Ngay từ buổi đầu tôi đã cho cô một hình thể rõ rệt, hình thể một thiếu phụ rất đẹp mà tôi thấy trong một hí viện. Không phải trên sân khấu mà ở trong rạp. Các ông bạn ngồi cạnh tôi không biết thiếu phụ đó là ai. Từ lúc đó cô có một cặp mắt, một làn môi, một giọng nói, một thân thể, mà vẫn là Người đàn bà không quen biết, có thể mới phải phép. Với bức thư đáng ra và tôi nhận được của nó những hồi âm mà tôi đã mong đợi. Tiếng "cô" ở đây là tiếng tập hợp, chỉ số nhiều. Các cô là cả một đám phụ nữ không quen biết, cô này ngây thơ, cô kia hay gây gỗ, cô thứ ba kì cục va hay nhạo báng. Tôi đã muốn thư từ qua lại với các cô, nhưng rồi thôi. Muốn viết cho hết thảy thì không nên viết cho từng người một. Cô trách tôi thận trọng, giữ cái cương vị một luân lí gia tình cảm. Làm sao được ? Người đàn ông nào kiên nhẫn nhất thì cũng chỉ trung tín với một người đàn bà không quen biết khi người này cho thấy mặt. Mérimée sớm biết được người đàn bà không quen biết của ông ta tên là Jenny Dacquin và ông được ngay cô ta cho phép hôn chân, chân cô ta rất đẹp. Một thần tượng phải có chân và những bộ phận khác nữa. Nếu không thì người ta sẽ chán một nữ thần vô hình. Tôi đã hứa đóng cái trò này thật lâu, chán mới thôi. Sau sáu chục tuần lễ, tôi xin đổi đề tài và được chấp nhận. Tuyệt giao trong tưởng tượng thì không khó khăn gì cả và tôi giữ được của cô một kỉ niệm không vết. Vĩnh biệt. ANDRÉ MAUROIS   Mời các bạn đón đọc Thư Gửi Người Đàn Bà Không Quen Biết của tác giả André Maurois.