Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Kẻ Vô Luân - André Gide

Cuốn sách này đáng giá bao nhiêu, tôi xin trao cho người với giá đó. Ấy là một Trái Cây chứa chất những tro than chát ngấm. Nó giống như loại Dưa Đắng ở Sa Mạc, mọc tại những vùng khô cằn nung nấu, và chỉ ban cấp cho cơn khát nước của con người một trận cháy bỏng càng thê thảm tàn khốc thêm; nhưng nằm trên mặt cát vàng (hoàng sa) không phải là không đẹp. Nếu như tôi có ý đưa nhân vật mình ra làm gương mẫu (cho người soi) thì phải nhìn nhận rằng tôi đã không thành công chi lắm; một vài kẻ hiếm hoi hỉ hữu nào đã vui lòng chú tâm hữu ý tới trận chìm nổi của Michel, ấy chẳng phải để cảm thông, mà chỉ là để nguyền rủa chàng, với tất cả lòng thiện lương sôi nổi của họ. Tôi đã không hoài công trang điểm Marceline bằng xiết bao đức hạnh; người ta không tha thứ được cho Michel đã vị kỉ không yêu chuộng nàng hơn thân mình. Nếu rằng tôi có ý muốn đưa cuốn sách ra đời nhằm cứu cánh lên án Michel, thì ắt là tôi cũng chẳng thành công gì ráo, chẳng đạt mục đích hơn được chút nào. Bởi vì không một ai người, ai kẻ, ai con, vui lòng cảm tạ tôi vì mối phẫn nộ của họ đối với những nhân vật. Phẫn nộ đối với Michel, và từ Michel cơn phẫn nộ tràn lan tới tác giả. Mép bờ rất mong manh. Một chút xíu thôi, và người ta đã muốn lẫn lộn tôi và nhân vật. Nhưng thật ra tôi không có ý muốn đưa cuốn sách ra đời như một cuộc lên án, mà cũng chẳng phải là trận biện hộ biện minh, và tôi đã tự giữ mình không thôi lời phán đoán. Công chúng độc giả ngày nay không cho phép tác giả được quyền làm khán giả suông. Tác giả sau khi miêu họa cơn kia, cuộc nọ xong, lầm lì không đưa lời nhận định, không bày tỏ lập trường, hoặc đứng phía này hoặc thiên về phía nọ, - đó là điều công chúng khổng thể tha thứ cho... Hà huống...? Hơn nữa, ngay cả trong giờ diễn tiến tồn lưu của tấn tuồng phù động, người ta còn muốn rằng tác giả phải liên tiếp bày tỏ lập trường, phải phán định rõ ràng rành mạch là mình đứng về phía của A hoặc của B, của Bê hoặc của Bối, mình ở bên cánh Philinte hay là bên phe Alceste, mình tán đồng Hamlet hay biểu đồng tình với Ophélie, mình theo chân Faust hay là bén gót theo Marguerite, mình lân mộ Adam hay là sùng mộ Jehovah? Mình tơ tưởng Nausicaa hay là mình nhớ nhung Pénélope? Mình muốn cùng Ulysse vượt trùng dương về trở lại cố hương Ithaque, hay là mình còn lưu luyến mãi cái hương mùi hương dị dị trong lãnh cốc Thần Nữ Calypso? Mình muốn xổ bồ đánh trận vây hãm thành Troie, hay là mình muốn bôn ba lùa bò về lên đầu non đồi sim trái chín? Quả thật, tôi không chủ trương rằng trạng huống trung lập (tôi suýt nói: tình huống lưỡng lự dùng dằng) là dấu hiệu vững chắc của một đầu não hoang viễn huệ năng; nhưng tôi tưởng rằng nhiều bộ óc hoằng đại thông tuệ đã từng chán ghét vô ngần cái lôi kết luận dứt khoát - và: đặt định chính xác một vấn đề, không phải là cho rằng vấn đề đã được giải quyết từ trước. Tiếng “vấn đề” tôi dùng tại đây, là dùng một cách miễn cưỡng. Lòng không muốn, mà buộc phải dùng. Tình phi đắc dĩ... Thật ra, nói cho đúng, thì trong lĩnh vực nghệ thuật, trong miền cõi địa hạt văn chương, không hề có vấn đề nào mà tác phẩm nghệ thuật lại chẳng là lời giải đáp viên túc tự tại tự như. Nếu bằng tiếng “vấn đề” người ta ngụ ý thể hội nghĩa "tấn tuồng” tôi có được phép nói rằng cái tấn tuồng cuốn sách này kể lại, dẫu rằng nó diễn ra trong linh hồn nhân vật của tôi, vẫn cứ là một tấn tuồng quá phổ quát, không thể nào chịu nằm lì giới hạn trong cuộc phiêu bồng chìm nổi dị biệt riêng tây của mình. “Vấn đề” kia, tôi không có ý tự phụ cho rằng mình phát minh ra nó. Nó vốn dĩ đã tồn lưu trước khi cuốn sách này xuất hiện. Thì dẫu... Thì rằng... Rằng Michel thắng cuộc hoặc thua cơn, rằng Michel thong dong duỗi dậy hoặc đồi phế rụng rơi, dù sao thì dù, “vấn đề” vẫn tồn liên tiên trình thị hiện; và cả cơn thắng, cả cuộc thua, tác giả đều không cho đó là một kết quả thu hoạch, vốn dĩ là, đã thế, đã thôi, (đã xong, đã xuôi, đã đành, đã đủ). Nếu rằng một vài tinh thần thông tuệ cao nhã chỉ chấp nhận nhìn thấy trong tấn tuồng kia, bản trình bày một trường hợp oái oăm quỷ dị: và chỉ nhìn thấy trong nhân vật kia, một kẻ bị bệnh hoạn éo le: nếu họ không biết rằng một vài ý tưởng cấp thiết liên can tới cõi chung rất mực rộng tầm, vẫn rất có thể âm thầm cư lưu trong tấn tuồng âm ỉ nọ - vâng, nếu họ quan niệm như thế, thì tội lỗi chẳng phải tại những ý tưởng kia hoặc tấn tuồng kia, mà tại tác giả. Tôi muốn nói: tại chỗ vụng về của tác giả, tại vì tác giả ăn nói không ra câu - mặc dầu y đã đặt vào trong sách này tất cả niềm tha thiết, tất cả những nước mắt sôi cuồng và xiết bao ân cần chăm sóc. Tuy nhiên, ý nghĩa tồn lưu thực tại âm thầm của cuốn sách và cái ý vị lân la mà công chúng tìm ra trong sách, đó là hai sự vụ khác biệt nhau vô cùng. Thiết tưởng: không cần quá nham nhở tự phụ hỗn mang, tôi nghĩ thế, người ta có thể liều chịu trận hững hờ trong buổi mới, không ai thèm ngó ngàng gì đến của lạ ngon ngọt ngẫu nhiên về ngày nhà ma thứ nhất - vâng thà như thế còn hơn là ngẫu nhĩ về gây cuồng hỉ tê mê cho một công chúng thèm ăn những vật đồ lai rai, rồi trôi biệt bỏ xuôi không có một ngày mai tao phùng trong cửa quỷ. Tuy nhiên? Chung quy, tôi chẳng có ý tìm hiểu chứng minh cái gì ráo, mà chỉ duy mong muốn hoạ sao cho nên hình và làm sao cho bức hoạ sáng tỏ với mù sương. TỰA của André Gide *** André Paul Guillaume Gide (22 tháng 11 năm 1869 – 19 tháng 2 năm 1951) là một trong những nhà văn xuất chúng của thế kỷ 20, người đoạt giải Nobel Văn học năm 1947. Sáng tác đầu tay của ông là cuốn tự truyện Les cahiers d'André Walter (Những cuốn vở của André Walter, 1891) viết bằng thơ và văn xuôi đầy chất thơ, kể về sự giằng xé, giày vò giữa thể xác và tâm hồn và sự tìm kiếm lối thoát trong các hình thái thần bí và thanh cao của tình yêu. Do bị bệnh lao không phải chịu quân dịch, những năm 1893-1894 André Gide du lịch sang Algérie và Tunisia, nơi ông phát hiện ra mình là người đồng tính luyến ái. Thời gian khủng hoảng kéo dài được ghi nhận bởi sự bất ổn tinh thần và những kiếm tìm chân lý thể hiện trong truyện vừa Le Retour de l'Enfant prodigue (Cuộc trở về của đứa con du đãng, 1907). Về mặt phong cách, Gide đã khắc phục lối viết cầu kì ban đầu, đến với một ngôn ngữ giản dị rõ ràng. Năm 1908, ông trở thành người đồng sáng lập Tổng quan mới của nước Pháp, một trong những tạp chí có ảnh hưởng đối với sự phát triển nền văn học Pháp và thế giới. Tiểu thuyết châm biếm Les Caves du Vatican (Những động ngầm dưới Vatican, 1914) đặt vấn đề về sự chấp nhận một cách mê muội những tín ngưỡng và lý tưởng. Năm 1926, tiểu thuyết Les Faux-monnayeurs (Những kẻ làm bạc giả) ra đời mang lại nhiều thành công cho ông, đó là một đóng góp thực sự vào sự phát triển thể loại tiểu thuyết. Một năm sau khi xuất bản truyện vừa Thésée (Theseus, 1946) - mà ông coi như một bức di thư văn học - André Gide được bầu làm Giáo sư Danh dự trường Đại học Oxford và được tặng giải Nobel năm 1947. Năm 1950, André Gide xuất bản tập cuối cùng của bộ Journal (Nhật kí). Ông mất năm 1951 ở Paris.   Những nhân vật của Gide đều mang bóng dáng cuộc đời ông, như ông từng viết: “Kẻ khác có thể đã viết nên một tập sách; nhưng câu chuyện tôi kể ra đây, tôi đã hồi tưởng lại bằng cả tâm hồn”. Để hiểu về những tác phẩm gây chấn động của Gide, cần nhìn lại chính đời ông. Gide sinh ra vốn là đứa trẻ nhạy cảm, sống bản năng. Về sau, ông lại gặp thêm quá nhiều bão táp trường đời: Mất cha từ nhỏ, chiến tranh liên miên, bệnh tật và đặc biệt là cú sốc năm 26 tuổi, khi ông phát hiện ra mình là người đồng tính. Trước đó, Gide đã mối tình lãng mạn kéo dài với cô em họ Madeleine Rondeaux từ khi ông mới là cậu bé 12 tuổi (ông đã hồi tưởng lại mối tình đầy ngang trái này trong tác phẩm Khung cửa hẹp). Phát hiện này khiến ông bị rối loạn cảm xúc. Về sau, ông vẫn trân trọng và cưới Rondeaux nhưng đồng thời chạy theo những mối tình đồng giới và thật bất ngờ, lại có con với một người phụ nữ khác. Như con thiêu thân, Gide lao vào những cuộc sa đọa trác táng và không ngần ngại phô bày trên trang giấy. Nhiều người đã lên án Gide kịch liệt, coi những tác phẩm của ông như liều thuốc độc cho người đọc. Bạn bè trong giới văn chương cũng có phần dè chứng ông. Nhưng Gide không vì thế mà chùn bước. Ông vẫn trung thành với bản chất con người, coi thường những hình thức phù phiếm, giả tạo. Ông nâng tầm quan điểm của mình lên thành triết lý trong Kẻ vô luân, kể về Michel, kẻ vượt qua mọi rào cản đạo đức trong hành trình nổi loạn để khám phá con người thật của mình. Mời các bạn đón đọc Kẻ Vô Luân của tác giả André Gide.

Nguồn: dtv-ebook.com

Đọc Sách

Những Đứa Trẻ Bị Mắc Kẹt
Tại sao tên sách lại là NHỮNG ĐỨA TRẺ BỊ MẮC KẸT? Bạn có biết, trong mỗi chúng ta đều có một đứa trẻ không bao giờ được giải phóng? Đó là một người trưởng thành luôn thấy mình thiệt thòi, cô đơn bởi tuổi thơ không trọn vẹn tình yêu thương của cả cha và mẹ, không có bạn bè chơi cùng. Đó là một người lớn không tự tin, luôn cô đơn vì từ bé đến lớn luôn bị mẹ so sánh và đối xử phân biệt với chị/em của mình. Đó là những nhân cách khác trong con người chúng ta, một góc tối trong tâm hồn được hình thành bởi những ẩn ức tuổi thơ, ám ảnh cuộc đời mà chính ta không vượt qua được. Đó cũng chính là một trong những tâm lý tội phạm dẫn đến các hành vi phạm tội. Nổi tiếng là nữ hoàng của dòng văn học khai thác góc khuất của tâm lý con người, nữ nhà văn Kanae Minato đã rất thành công khi miêu tả, khắc hoạ diễn biến tâm lý nhân vật trong cuốn sách này. Độc giả dễ dàng bị cuốn đi theo cảm xúc của nhân vật, cùng rơi vào những góc tối của tâm hồn, cùng khám phá và nhận ra những góc tối đó, cùng trải qua hoặc sẽ cố vượt thoát hoặc sẽ bị chìm vào. Đậm chất tâm lý tội phạm, từ việc khai thác ẩn ức tuổi thơ, chứng ám thị đến các triệu chứng hoang tưởng của con người, NHỮNG ĐỨA TRẺ BỊ MẮC KẸT phản ánh góc khuất tâm hồn những con người cô đơn ngay trong gia đình mình, giữa xã hội này. Ngoài ra, còn là một lời khẳng định: Tuổi thơ của con người vô cùng quan trọng, đó là giai đoạn có khả năng ghi nhớ tốt nhất, tiếp nhận nhanh và ngấm lâu nhất để đi đến những ký ức bền vững mà sẽ trở thành tiềm thức, hình thành nhân cách con người. Rằng môi trường giáo dục con người quan trọng nhất là gia đình. Từ đó dẫn đến các hành vi trong đời sống, nhân cách và cả hình thành con người trưởng thành về sau sẽ như thế nào. *** Một án mạng xảy ra, nạn nhân là những người hiền lành, tốt bụng, chẳng gây thù chuốc oán với ai bao giờ. Và nghi can đang bị cảnh sát thẩm vấn cũng là một người trầm lặng, ít nói, chưa bao giờ gây gổ với ai, thậm chí còn cúi đầu xin lỗi dù đối phương là người sai. Tại sao? Tại sao một người hiền lành, nhẫn nhịn đến nhu nhược lại có thể trở thành kẻ giết người chỉ trong chớp mắt? Rốt cuộc họ nghĩ gì? Vì sao họ làm vậy? Đã bao giờ bạn tự hỏi vì sao mình lại trở thành “mình” của ngày hôm nay? (Ảnh: Facebook)Những Đứa Trẻ Bị Mắc Kẹt gồm 6 phần, không có sự liên kết với nhau, rời rạc, rạch ròi, mỗi người một hoàn cảnh, mỗi người một câu chuyện để kể lại về quá khứ, về tuổi thơ và về gia đình mình. Họ đều xưng “tôi” và đều là một kẻ giết người. Có người thì kể lại câu chuyện bố mẹ đã đối xử bất công giữa mình với em gái. Tại sao cùng là con, cùng dứt ruột đẻ ra, nhưng “tôi” là chị thì bị hằn học, khắt khe còn đứa em gái lại dễ dàng được bỏ qua và tha thứ? Chẳng lẽ tôi không phải con của họ? Hay tôi chỉ là người thừa trong cái gia đình đó? Câu chuyện khác lại kể về đứa con gái nhận được quá nhiều kỳ vọng của mẹ. Mẹ muốn “tôi” phải trở nên tuyệt vời, phải thành đạt, “phải trở thành giáo viên giỏi như bố nhé”… Hoặc như bố mẹ “tôi” thì lại muốn tôi trở thành một con rối, một chiếc cúp để bố mẹ tự hào, một chiếc huân chương cho việc bố mẹ đã nuôi dạy “tôi” tốt như thế nào, dù cho có phải hủy hoại, vùi dập mọi ước mơ của tôi, cũng được… Hay câu chuyện của “tôi”: nếu mẹ không cấm tôi dùng máy tính, dùng điện thoại, có lẽ tôi sẽ lên mạng và search từ khóa “tự sát” nhiều đến mức không thể đếm nổi nữa. Một cuộc sống bị cấm đoán, giống như cầm tù, giống như nô lệ, có lẽ chết đi sẽ tốt hơn… Nguồn : https://bloganchoi.com/review-sach-trinh-tham-nhung-dua-tre-bi-mac-ket/ Một án mạng xảy ra, nạn nhân là những người hiền lành, tốt bụng, chẳng gây thù chuốc oán với ai bao giờ. Và nghi can đang bị cảnh sát thẩm vấn cũng là một người trầm lặng, ít nói, chưa bao giờ gây gổ với ai, thậm chí còn cúi đầu xin lỗi dù đối phương là người sai. Tại sao? Tại sao một người hiền lành, nhẫn nhịn đến nhu nhược lại có thể trở thành kẻ giết người chỉ trong chớp mắt? Rốt cuộc họ nghĩ gì? Vì sao họ làm vậy? Đã bao giờ bạn tự hỏi vì sao mình lại trở thành “mình” của ngày hôm nay? (Ảnh: Facebook)Những Đứa Trẻ Bị Mắc Kẹt gồm 6 phần, không có sự liên kết với nhau, rời rạc, rạch ròi, mỗi người một hoàn cảnh, mỗi người một câu chuyện để kể lại về quá khứ, về tuổi thơ và về gia đình mình. Họ đều xưng “tôi” và đều là một kẻ giết người. Có người thì kể lại câu chuyện bố mẹ đã đối xử bất công giữa mình với em gái. Tại sao cùng là con, cùng dứt ruột đẻ ra, nhưng “tôi” là chị thì bị hằn học, khắt khe còn đứa em gái lại dễ dàng được bỏ qua và tha thứ? Chẳng lẽ tôi không phải con của họ? Hay tôi chỉ là người thừa trong cái gia đình đó? Câu chuyện khác lại kể về đứa con gái nhận được quá nhiều kỳ vọng của mẹ. Mẹ muốn “tôi” phải trở nên tuyệt vời, phải thành đạt, “phải trở thành giáo viên giỏi như bố nhé”… Hoặc như bố mẹ “tôi” thì lại muốn tôi trở thành một con rối, một chiếc cúp để bố mẹ tự hào, một chiếc huân chương cho việc bố mẹ đã nuôi dạy “tôi” tốt như thế nào, dù cho có phải hủy hoại, vùi dập mọi ước mơ của tôi, cũng được… Hay câu chuyện của “tôi”: nếu mẹ không cấm tôi dùng máy tính, dùng điện thoại, có lẽ tôi sẽ lên mạng và search từ khóa “tự sát” nhiều đến mức không thể đếm nổi nữa. Một cuộc sống bị cấm đoán, giống như cầm tù, giống như nô lệ, có lẽ chết đi sẽ tốt hơn… *** Kanae Minato là một nhà văn Nhật Bản về viễn tưởng và phim kinh dị. Cô là thành viên của các nhà văn bí ẩn của Nhật Bản và Câu lạc bộ nhà văn bí ẩn Honkaku của Nhật Bản. Tác phẩm: Thú Tội Những Đứa Trẻ Bị Mắc Kẹt Chuộc Tội Tất Cả Vì N Vòng Đu Quay Đêm ,,, *** Cuốn sách này gồm 6 phần, là tập hợp 5 câu chuyện về những kẻ gây án khó hiểu. Đây là một cuốn sách về tâm lý tội phạm, về nguồn gốc nhân cách hoặc cư xử của con người mà sâu xa là do phương pháp giáo dục trong gia đình từ lúc còn nhỏ đến khi trưởng thành – Nó khẳng định một điều rằng, tuổi thơ của con người rất quan trọng. Trong thời thơ ấu của mỗi người, chỉ cần có một vệt ký ức ám ảnh mà bản thân người đó không tự vượt qua và thoát khỏi thì chính ký ức đó sẽ ảnh hưởng rất lớn đến nhân cách, hành vi và thậm chí cả hành vi phạm tội (nếu có) của con người đó. Trong câu chuyện về từng án mạng là lời tự sự của từng nhân vật, khi thì nạn nhân, khi thì thủ phạm và có lúc lại là người có mối liên hệ mật thiết với nạn nhân. Với lối tự sự này, tâm lý, tính cách nhân vật được khắc hoạ rõ nét. Cú đánh lừa ngoạn mục của tác giả chính là cách đan xen lời tự sự khiến cho bất cứ ai chỉ đọc lướt sẽ không thể nhận ra ai mới là hung thủ thực sự. Bởi tâm tư của từng nhân vật cuốn người đọc hoá thân thành nhân vật đó và tưởng như chính họ có thể gây án bất cứ khi nào. Đó là câu chuyện về gia đình có hai cô con gái mà cách giáo dục hai đứa con trái ngược nhau hoàn toàn là nguyên nhân chính để lại ẩn ức của hung thủ. Dường như người em gái được bố mẹ dạy dỗ thoải mái hơn lúc nào cũng chờ cơ hội mỉa mai người chị bốn mươi tuổi chưa chồng, luôn mộng mơ chìm trong thế giới tiểu thuyết. Người chị dù không thân thiết nhưng cũng không ghét bỏ gì em gái mình. Người chị nhận con mèo trắng làm thú cưng chỉ bởi vì cảm thấy nó đáng thương và nó cần mình, đặc biệt là cô có khoái cảm với việc giết rận cho mèo. Một cô gái mộng mơ, trắc ẩn như vậy, có ai biết đến thẳm sâu thế giới tưởng tượng của cô ấy có một con rận khổng lồ… Ba tác giả biên kịch gặp nhau tại một lễ trao giải tác phẩm xuất sắc của một cuộc thi. Từ đó, họ giữ liên lạc và trao đổi tác phẩm với nhau. Đối thủ là kẻ thù nhưng cũng chính là tri âm. Họ phải luôn cố gắng, phấn đấu để tác phẩm của mình được các nhà sản xuất phim để ý. Trong quá trình đó, họ có một áp lực là phải vượt trội so với những người cùng nhận giải năm xưa. Đố kị, ghen ghét, tự ái, ảo tưởng… là nguồn cơn tâm lý tội phạm của hung thủ trong âm mưu sát hại đối phương. Trong ba người đoạt giải năm xưa, có một người nhất định phải biến mất khỏi thế giới này. Trong ba người đó, ai xem ai là kẻ thù, ai xem ai là tri âm? Ai mới thực sự là hung thủ, phải mãi đến cuối chương, người đọc mới thở phào nhẹ nhõm sau những căng thẳng, đố kị, ảo tưởng cùng với các nhân vật. Lại thêm những án mạng, đó là cuộc sống tuổi thơ đầy cố gắng gồng mình trong cô đơn, hoang mang, nhiều sợ hãi của những đứa trẻ có mẹ đơn thân. Khi đọc qua chương này, các bà mẹ, ông bố định đơn thân nuôi con liệu có suy nghĩ gì? Tất cả mọi đứa trẻ đều xứng đáng được sống trọn vẹn với tình yêu thương đầy đủ của cả bố và mẹ. Người lớn có bao giờ nghĩ rằng, mình đã quá ích kỷ khi chấp nhận đơn thân nuôi con từ lúc con chào đời đến khi con đã hình thành nhân cách trưởng thành? Một án mạng khác lại xảy ra, nạn nhân được biết đến như là một con người hiền lành tốt bụng trong mắt tất cả mọi người. Người thuộc diện tình nghi đang bị cảnh sát hỏi chuyện, lại cũng là một người chưa bao giờ nỡ gây gổ với ai và chỉ biết mỉm cười hoặc im lặng nín nhịn kể cả khi bị đối phương gây khó chịu. Điều ngạc nhiên hơn, đây chính là người vốn từ nhỏ luôn nghe lời mẹ, luôn nói câu xin lỗi trước người khác dù đối phương là kẻ gây lỗi. Chính vì được dạy dỗ theo kiểu ép mình trở thành hình tượng hiền hòa, người tốt bụng trong mắt người khác nên cả nạn nhân và kẻ phạm tội đều có những ẩn ức chỉ đợi ngày bùng nổ. Các bậc phụ huynh cần nhìn nhận lại, dạy con cái trở thành người tốt bụng rất đáng hoan nghênh, nhưng phương pháp như thế nào là đúng, là phù hợp với tính cách từng đứa trẻ? Theo hướng nghiên cứu phân tâm học của Sigmund Freud, mối quan hệ giữa cha và con gái thường thân thiết hơn mẹ và con gái; cũng như mối quan hệ giữa mẹ và con trai thì thân thiết hơn so với cha và con trai. Có thể còn nhiều tranh cãi trong chuyên ngành tâm lý học nhưng thực tế cho chúng ta thấy rõ điều này chưa sai, ít nhất thì trùng hợp xảy ra với đa số. Đó cũng là một nguyên nhân trong những khó khăn khi các bà mẹ đơn thân cố tương tác trong quá trình nuôi dạy con gái mình. Từ trước tới nay, người ta đều nói rằng tất cả mọi ông bố, bà mẹ đều luôn mong điều tốt đẹp nhất cho con cái của mình nhưng ít khi có người con nào nhận ra điều đó cho đến khi chính họ trở thành những ông bố/bà mẹ và nuôi con nhỏ. Nếu ai còn nghĩ như vậy thì càng cần phải đọc cuốn sách này! Gia đình là tổ ấm, là nơi vỗ về nhưng gia đình nhiều khi cũng là nỗi kinh sợ. Tình mẫu tử, phụ tử vốn thiêng liêng bỗng dưng trở nên thật đáng nguyền rủa bởi quá nhiều nghiệt ngã. Những đứa trẻ dễ dàng bị bỏ rơi trong chính ngôi nhà của mình chỉ vì mẹ/cha của chúng có mối hận nào đó với người cha/mẹ của chúng. Không ít các bậc làm cha làm mẹ vì những ham muốn thoả mãn cá nhân mà bỏ mặc con cái và thậm chí lạm dụng con đến mức khủng khiếp. Cũng có kiểu phụ huynh dạy con trở thành/thực hiện giấc mơ dang dở của chính họ mà không quan tâm con-người-mà-chính-chúng-vốn-là. Những đứa trẻ như vậy, lớn lên sẽ thế nào? Nếu may mắn, đứa trẻ đó sẽ trở thành một con người bình thường như bao người khác với một cuộc sống bình thường. Sẽ thật đáng thương khi đứa trẻ đó dù lớn lên và vui vẻ bên ngoài xã hội nhưng vẫn không thể thoát được đứa-trẻ-bị-mắc-kẹt bên trong trong ký ức đầy tủi hổ, cô độc về gia đình. Càng bất hạnh hơn nếu đứa trẻ đó lớn lên trở thành tội phạm chỉ vì những ấm ức bị kìm nén quá lâu mà vốn để lại dấu ấn sâu đậm trong tâm trí và đã tác động trực tiếp đến tâm lý cũng như cách xử lý vấn đề cuộc sống, nhân cách của con người trưởng thành! Để có một công dân tốt cho xã hội, sự giáo dục từ gia đình trong những năm đầu đời của trẻ vô cùng quan trọng. Ký ức tuổi thơ luôn là thứ tồn tại lâu nhất và có ảnh hưởng trực tiếp đến con người trưởng thành về sau. Hầu như người trưởng thành nào cũng luôn có một đứa trẻ bị mắc kẹt từ thẳm sâu tiềm thức. Đó có thể là sự tự ti khó thoát của một cô gái ba mươi tuổi bởi hồi bé luôn bị bố mẹ so sánh với người chị họ từ điểm số học tập đến nhan sắc. Đó có thể là lòng căm thù phụ nữ của một người đàn ông trưởng thành nhất quyết không chịu kết hôn chỉ vì đó là một cậu bé có người mẹ phản bội hai bố con hết lần này đến lần khác. Và còn nhiều hơn thế nữa những sang chấn tâm lý, những bế tắc của người trưởng thành, là lúc đứa-trẻ-bị-mắc-kẹt bên trong đang trỗi dậy và chiếm ngự, điều khiển họ, khiến họ dễ dàng sa ngã vào những hành vi phạm tội. Mọi trẻ em đều xứng đáng được chăm sóc và nuôi dạy trong tình yêu thương đầy đủ của cả cha và mẹ. Đặc biệt, trong quá trình giáo dục trẻ, các bậc phụ huynh thường có xu hướng “lái” cho con trẻ lớn lên như cách mình mong muốn mà không kịp nhận ra đó chỉ là “con người lý tưởng” mà chính họ đang hình dung và mơ ước trở thành chứ chưa hẳn đã phù hợp với con trẻ và không-là-chính-đứa-trẻ-đó. Mọi đứa trẻ đều xứng đáng được lớn lên là chính bản thân các con! Với lối khắc hoạ tâm lý nhân vật tài tình của Kanae Minato, độc giả sẽ được cuốn đi theo từng phân cảnh tâm lý, cùng hồi hộp, cùng căng thẳng, cùng tưởng tượng với nhân vật cho đến khi mọi chuyện vỡ oà… Thân mến! Biên tập viên I love books Mời bạn đón đọc Những Đứa Trẻ Bị Mắc Kẹt của tác giả Kanae Minato.
Viễn Vọng - Patrick Deville
Tại một thành phố biển, nhà điểu học Körberg đi tìm dấu vết mối tình đầu xưa cũ với nữ ca sĩ bạc mệnh Stella. Jyl, đứa con gái nhỏ nàng để lại, giờ đã thành một Lolita xinh đẹp. Nhưng cha thật của Jyl là ai ? Körberg mở cuộc điều tra về cô bé, bên cạnh chàng gia sư Skoltz mê cờ vây, toán học và các trò cá ngựa. Có thể viết một cuốn tiểu thuyết trong đó các nhân vật luôn ở sát gần nhau, rình rập nhòm ngó nhau, nhưng không bao giờ gặp nhau và không hề biết là họ tham dự vào cùng một câu chuyện ? Viễn vọng là câu trả lời tài hoa của Patrick Deville. In năm 1988 tại nhà xuất bản danh tiếng Minuit và được dịch ra hơn mười ngoại ngữ, Viễn vọng là thành công đầu của Patrick Deville. *** Nhận định “Ngông cuồng và thung dung, Patrick Deville đưa vật lý lượng tử vào truyện tiểu thuyết Pháp, như Faulkner đã từng đưa bi kịch vào trinh thám Mỹ.” - Vincent Landel (Magazine littéraire, tháng mười 1988) *** Patrick Deville (sinh ngày 14 tháng 12 năm 1957) là nhà văn người Pháp. Sau khi nghiên cứu môn văn học đối chiếu và triết học ở Đại học Nantes, năm 23 tuổi, Patrick Deville làm tùy viên văn hóa ở Vùng Vịnh, hai năm sau ông giảng dạy triết ở hải ngoại. Trong thập niên 1980, Patrick Deville đến sống ở Trung Đông, Nigeria, và Algérie. Trong thập niên 1990, ông sống ở Cuba trong một thời gian và học tiếng Tây Ban Nha, sau đó đến Uruguay và khu vực Trung Mỹ. Trong thời gian này ông thường xuyên về Pháp để xuất bản sách. Năm 1996, Deville thành lập Giải Văn học Trẻ Mỹ Latin, và tạp chí Meet ngôi nhà của những nhà văn ngoại quốc và các dịch giả.[1] Năm 2011, quyển Kampuchea của Deville được tạp chí Lire chọn là tiểu thuyết Pháp hay nhất trong năm. Một tác phẩm khác của Deville, Peste et Choléra (tiểu sử Alexandre Yersin), được vào chung khảo Giải Goncourt, Giải của các giải văn học (Le Prix des Prix littérairs), Giải tiểu thuyết của tập đoàn Fnac (Prix du roman Fnac) và đoạt giải Femina năm 2012. Các tác phẩm của Patrick Deville đã được dịch ra hơn mười ngôn ngữ khác nhau.[2] Tác phẩm Cordon-bleu, Editions de Minuit 1987 ISBN 9782707311207 Das Perspektiv. Rowohlt Verlag GmbH, 1989, ISBN 9783498012816 El Catalejo, Translator Javier Albiñana, Anagrama, 1990, ISBN 9788433931863 Le Feu d'artifice, Editions de Minuit 1992 (The Fireworks) ISBN 9782707314208 Los Fuegos artificiales, Edicions 62, 1994, ISBN 9788429737332 花火, 白水社, 1994, ISBN 9784560043264 La Femme parfaite,, Editions de Minuit 1995 (The perfect woman) ISBN 9782707315076 Ces deux-là, Editions de Minuit, 2000 (These two) Pura vida: vie & mort de William Walker, Seuil, 2004 (Pure Life: Life and death of William Walker) ISBN 9782020628778 Pura vida: Vida y muerte de William Walker, Seix Barral, 2005, ISBN 9788432227875 La Tentation des armes à feu, Seuil, 2006 (The Temptation of firearms) ISBN 9782020798303 Equatoria, Seuil, 2009, ISBN 9782020906807 Kampuchéa, Seuil, 2011, ISBN 9782021056723 Vie et mort sainte Tina l'exilée, editions publie.net, 2011 (Life and holy death in exile Tina) Peste et Choléra, (Yersin: Dịch hạch & thổ tả), 2012. [Plague and Cholera] ISBN 978-2-02-107720-9 Mời các bạn đón đọc Viễn Vọng của tác giả Patrick Deville.
Dấu Chân Người Lính - Nguyễn Minh Châu
Nơi đây khi đang mùa thu hãy còn là một cánh rừng già im lìm như ngủ. Lúc bấy giờ những người chiến sĩ bộ binh và cả những người chiến sĩ trinh sát dày dạn và ưa hoạt động nhất của cấp trung đoàn hoặc sư đoàn hãy còn ở tuyến hậu phương. Suốt cả một dải rừng núi âm u rậm rạp, thỉnh thoảng mới thấy sáng bừng lên vài bông hoa chuối rừng đỏ nở trên những thân cây gầy khẳng. Tiếp giáp với bìa rừng là bãi lau hoang vu, rồi lại một cánh rừng khác, một bãi lau khác ăn thẳng ra con đường số 9 rải sỏi dẫn tới một thị trấn và ngoại vi khu đồn địch. Suốt cả mùa thu, ở đây còn hết sức yên tĩnh. Trên mặt đất khô ráo đang đón đợi mùa mưa ngàn tới, chỉ có bước chân những đàn voi đi thủng thỉnh xéo nát từng bãi tranh, và báo trước cho chiến dịch sắp mở là bước chân không để lại chút dấu tích của những người lính trinh sát Bộ Tư lệnh chiến dịch và bọn thám báo Mỹ giậm đè lên nhau. Khuê, chiến sĩ cần vụ của chính ủy trung đoàn 5 đã từng sống trên mảnh đất này suốt từ trận đánh mở màn chiến dịch. Nhưng anh không khỏi bỡ ngỡ mỗi khi có dịp rời khỏi hầm sở chỉ huy, đi trở lại khu rừng trú quân hồi trung đoàn mới từ giã trạm giao liên cuối cùng tận ngoài bờ sông Xê Pôn. Thế là sau một loạt trận đánh, địch đã dự đoán được đôi chút hướng xuất kích của những đơn vị chiến đấu lớn của chúng ta. Chúng rải thuốc độc hóa học và dùng máy bay B.52 rải bom theo lối "rải thảm". Chỉ có trong vòng nửa tháng, từ khi tiếng súng đầu tiên của ta nổ vào giữa thị trấn, các cánh rừng chung quanh đã quang đi từng vạt, từng vạt cỏ tranh bị thiêu cháy, ở các chân lèn đá và dọc khe suối đã bị phát quang, máy bay trinh sát các loại lượn đi lượn lại thăm dò suốt ngày đêm. Ban đêm từng chùm pháo sáng liên tiếp treo lơ lửng trong bầu sương thăm thẳm trắng rừng trắng núi. Mặc cho máy bay địch trinh sát và bắn phá, dưới mặt đất bộ đội vẫn chen chân nhau đi đông nghìn nghịt. Họ tranh thủ đi nhanh hơn, nhận mặt nhau, chào hỏi nhau. Con đường cứ hình thành dần những khu vực tọa độ (1) của địch. Trên chặng đường đầy cây cối đổ ngả nghiêng, khói bom khét lẹt và đất đỏ lật lên lấp hết cây cối, từng đơn vị cứ đi qua, hết đơn vị này đến đơn vị khác, hết binh chủng này đến binh chủng khác. Ban ngày có những khi máy bay trinh sát không làm nhiệm vụ chỉ điểm cho máy bay phóng pháo, với đôi cánh bằng gỗ dán, nó liệng từng vòng tròn rất hẹp trên từng chỏm cây một. Từ bên thành cửa sổ trống hoác như con mắt mù thò ra một chiếc loa phóng thanh và một giọng nói õng ẹo: Các anh bộ đội Việt cộng dũng cảm! Đây là tiếng nói của người em gái mến thương của các anh. Các anh hãy suy nghĩ mau mau trở về với người em gái mến thương và chính phủ Quốc gia. Các anh sẽ được trọng dụng và chiều chuộng. Em đang trông thấy các anh... *** Nguyễn Minh Châu sinh năm 1930, quê ở làng Văn Thai, tên nôm là làng Thơi, xã Quỳnh Hải, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Theo lời kể của vợ ông, bà Nguyễn Thị Doanh, tên khai sinh của Nguyễn Minh Châu là Nguyễn Thí. Chỉ tới khi đi học, bố mẹ mới đổi tên cho ông thành Minh Châu. Trong những ghi chép cuối cùng, Ngồi buồn viết mà chơi ông viết trong những ngày nằm viện ở Bệnh viện Quân y 108, Nguyễn Minh Châu tự nhận xét về mình: "Từ lúc còn nhỏ tôi đã là một thằng bé rụt rè và vô cùng nhút nhát. Tôi sợ từ con chuột nhắt cho đến ma quỷ. Sau này lớn lên, đến gần sáu chục tuổi, đến một nơi đông người tôi chỉ muốn lẻn vào một xó khuất và chỉ có như thế mới cảm thấy được yên ổn và bình tâm như con dế đã chui tọt vào lỗ". Năm 1945, ông tốt nghiệp trường Kỹ nghệ Huế với bằng Thành chung. Tháng 1 năm 1950, ông học chuyên khoa trường Huỳnh Thúc Kháng tại Nghệ Tĩnh và sau đó gia nhập quân đội, học ở trường sĩ quan lục quân Trần Quốc Tuấn. Từ năm 1952 đến 1956, ông công tác tại Ban tham mưu các tiểu đoàn 722, 706 thuộc sư đoàn 320. Từ năm 1956 đến 1958, Nguyễn Minh Châu là trợ lý văn hóa trung đoàn 64 thuộc sư đoàn 320. Năm 1961, ông theo học trường Văn hóa Lạng Sơn. Năm 1962, Nguyễn Minh Châu về công tác tại phòng Văn nghệ quân đội, sau chuyển sang tạp chí Văn nghệ quân đội. Ông được kết nạp vào Hội nhà văn Việt Nam năm 1972. Nguyễn Minh Châu qua đời ngày 23 tháng 1 năm 1989 tại Hà Nội, thọ 59 tuổi. Các tác phẩm: Cửa sông (tiểu thuyết, 1967) Những vùng trời khác nhau (tập truyện ngắn, 1970) Dấu chân người lính (tiểu thuyết, 1972) Miền cháy (tiểu thuyết, 1977) Lửa từ những ngôi nhà (tiểu thuyết, 1977) Những người đi từ trong rừng ra (tiểu thuyết, 1982) Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (tập truyện ngắn, 1983) Bến quê (tập truyện ngắn, 1985) Mảnh dất tình yêu (tiểu thuyết, 1987) Chiếc thuyền ngoài xa (tập truyện ngắn, 1987) Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh hoạ (tiểu luận phê bình, 1987) Phiên chợ Giát (truyện vừa, 1988) Cỏ lau (truyện vừa, 1989) Nguyễn Minh Châu toàn tập (Nhà xuất bản Văn Học, 2001) Di cảo Nguyễn Minh Châu (Nhà xuất bản Hà Nội, 2009) ... Mời các bạn đón đọc Dấu Chân Người Lính của tác giả Nguyễn Minh Châu.
Cuộc Đời Ngoài Cửa - Nguyễn Danh Lam
Trong vai một người viết tiểu thuyết, Nguyễn Danh Lam hẳn là mẫu nhà văn không thích, thậm chí rất dị ứng, việc cưng nựng chiều chuộng các nhân vật của mình. Từ những “Bến vô thường”, “Giữa vòng vây trần gian”, đến “Giữa dòng chảy lạc”, đã là thế. Và rồi đến cuốn tiểu thuyết mới nhất này, vẫn là thế. Nguyễn Danh Lam không thèm hạ cố ban cho nhân vật một danh tính rõ ràng. Cũng rất hiếm khi nhà văn gắn cho họ những nét phẩm chất tính cách hoặc những năng lực cá nhân trên mức trung bình. Đã vậy, anh lại hay đẩy các nhân vật vào những cảnh huống trớ trêu, những trạng thái sinh tồn nếu không bi đát thì cũng dở khóc dở cười. Điều, vừa quan trọng lại vừa oái oăm, là ở chỗ: trong những cảnh huống những trạng thái ấy, các nhân vật của Nguyễn Danh Lam luôn có một sự tự nhận thức, thường trực và đầy ám ảnh, về cái bất túc và bất lực của mình… Ở cuốn tiểu thuyết mới nhất này, Nguyễn Danh Lam cho nhân vật chính “lên đường”, làm một chuyến du lịch bụi cùng với cô con gái cả ngày chỉ biết dán mắt vào chơi game trên điện thoại di động và luôn miệng kêu than. Sau lưng họ, là một gia đình rạn nứt. Trước mặt họ, là những khúc rẽ bất ngờ, những đứt gãy nhân sinh còn tồi tệ hơn gấp bội. Nguyễn Danh Lam đã kể những chuyện ấy, một cách bình thản và đầy tiết chế. *** ường phố đã vào khuya. Ông không nhận thấy sự khác biệt nhiều lắm giữa thành phố cao nguyên này với thành phố nơi ông sống. Nhà cửa, phố xá cùng một sắc đèn rờ rỡ. Dò đường một lúc, ông mới lần ra cái khách sạn gã bạn chỉ. Trước đó nửa giờ, gã lí nhí qua máy: Mày thông cảm, giờ này tao không đi được, cứ vào cái khách sạn này, nói tên tao. Mai tao đến kiếm sớm. Mở cửa xe mua một gói thuốc, ông nghe gió thốc từng cơn. Thứ gió kỳ lạ, thổi triền miên, không giống gió của những cơn giông, cũng chẳng phải gió biển. Đây chính là sự khác biệt. Bụi quăng vào mặt ông những đám khô khốc. Không gian se lạnh, khá thú vị. Khách sạn có vẻ nằm ở khu trung tâm. Ông nói tên gã bạn với cô nhân viên tiếp tân. Cô gái xinh đẹp lắc đầu cười. Chú thông cảm, có lẽ ông chủ con biết, chứ con không biết chú ấy. Ông ngớ ra, bối rối. Giá đừng đề cập gã có lẽ hay hơn. Ông nghe gã dặn nên hỏi cô, chứ thực sự chẳng có chủ đích gì. Chẳng hạn như việc giảm giá phòng, hay ưu tiên một vị trí tốt nào đó. Hai cha con cùng đói ngấu. Buổi chiều, sau khi lên hết con đèo, ông dừng nơi thị trấn gần đó mua hai ổ bánh mì, định bụng khi tới nơi sẽ ăn bữa chính. Đường lạ, nhiều đèo dốc, khiến kế hoạch dự kiến đổ bể. Mình đi ăn rồi lên phòng, hay lên phòng rồi đi ăn? Đi ăn luôn đi ba. - Con gái ông nhăn nhó. Giờ này còn chỗ nào ăn uống được không cô? - Ông hỏi cô gái tiếp tân. Nhà hàng tụi con đã nghỉ. Mấy chỗ gần đây, họ cũng đóng cửa hết rồi. Chú nên chạy ra chợ trung tâm, thứ gì cũng có. Lại phải lết ra xe, gương mặt con gái ông vốn nhăn nhó, lúc này càng nhăn nhó hơn. Điệp khúc của nó luôn là đói. Ông hiểu, nó đang tuổi ăn tuổi lớn, không thể chịu đựng được như ba. Ông tấp xe vào một dãy quán sáng đèn. Mấy cặp nam nữ chừng tuổi con ông đi chơi về khuya, co ro quanh cái bàn bên cạnh. Họ cười nói và văng tục. Cách phục sức, mấy chiếc xe đời mới, hoàn toàn chẳng có gì khác thanh niên thành phố. Thuở xa xưa, ông nhớ, sự khu biệt khá rõ ràng, bởi những cách ngăn về giao thông, hành chính. Con gái ông bỏ dở gần nửa tô mì, trong khi ông húp cạn. Sao vậy con, mệt không ăn nổi à? Dở quá - Ông không biết món ăn dở thật, hay đó là nhận xét quen thuộc của con gái. ... Mời các bạn đón đọc Cuộc Đời Ngoài Cửa của tác giả Nguyễn Danh Lam.