Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Những Đại Lộ Vành Đai

Người kể chuyện đi tìm cha. Công cuộc tìm kiếm này khiến ông lần ngược thời gian và một lần nữa sống lại, trong ảo giác, một thời kỳ có lẽ là khi nước Pháp bị chiếm đóng. Đó là khi ông sống trong một ngôi làng ở vùng Seine-et-Marne, ven rừng Fontainebleau, giữa những người xa lạ đến làng để nghỉ cuối tuần. Trong số họ có “bá tước” Marcheret - cựu lính lê dương bị bệnh sốt rét, Jean Muraille - chủ bút, cháu gái ông ta - một nữ diễn viên tóc vàng lúc nào cũng quấn kín người trong chiếc áo choàng lông thú… Cuối cùng, là cha của người kể chuyện, người tự xưng là “nam tước” Deyckecaire. Người kể chuyện xâm nhập cái giới ám muội ấy, với hy vọng tiếp cận cha mình. Chính xác thì ông là ai? Buôn lậu chợ đen? Một người Do Thái bị săn đuổi? Tại sao ông lại ở cùng với những người kia? Cho đến tận cuối câu chuyện, người kể chuyện sẽ đuổi theo người cha mờ mịt ấy. Đầy âu yếm. Như muốn hòa vào với cha mình và chịu trách nhiệm về một quá khứ biến động cũng chính là nơi ông xuất thân. Vài nét về tác giả: Patrick Modiano, sinh năm 1945 tại Pháp, có cha là người Ý gốc Do Thái, mẹ là nghệ sĩ người Bỉ. Patrick Modiano được coi là một trong những nhà văn tài năng nhất thế hệ của ông. Là nhà thám hiểm quá khứ, ông biết cách khơi gợi lên một cách vô củng chính xác và chi tiết bầu không khí của những địa điểm hay những thời đại đã qua, ví dụ như Paris thời bị Đức chiếm đóng. Ngoài tiểu thuyết, Patrick Modiano còn viết kịch bản, lời bài hát. Ông đã giành được rất nhiều giải thưởng danh giá, trong đó phải kể đến Giải Goncourt năm 1978 và Giải Nobel văn chương năm 2014. Những đại lộ vành đai được xuất bản tại Pháp năm 1972 và đã giành Giải thưởng lớn dành cho tiểu thuyết của Viện hàn lâm Pháp. Những tác phẩm của Patrick Modiano đã được Nhã Nam xuất bản: Phố những cửa hiệu u tối Ở quán cà phê của tuổi trẻ lạc lối Từ thăm thẳm lãng quên Để em khỏi lạc trong khu phố Quảng trường Ngôi sao Catherine cô bé đeo mắt kính Một gánh xiếc qua *** “Những đại lộ vành đai” lấy bối cảnh thời kỳ Pháp bị chiếm đóng với đầy những tan rã, đổ vỡ và thất lạc. Những đại lộ vành đai là tiểu thuyết thứ ba của Patrick Modiano, được xuất bản lần đầu tiên tại Pháp năm 1972, đoạt Giải thưởng lớn cho tiểu thuyết của Viện Hàn lâm Pháp. Những đại lộ vành đai là hành trình nhiều ẩn ức của người đàn ông Do Thái dưới danh tính giả định, Serge, tìm gặp cha mình sau gần một thập kỷ thất lạc.  Tác phẩm được viết bằng những câu ngắn, nhiều tính ẩn dụ, truyền cảm, đạt được hiệu quả cao trong việc đi sâu vào tâm thức của mỗi nhân vật. Truy tìm ký ức về cha Người kể chuyện đi tìm cha. Anh phát hiện cha mình đang sống giữa những kẻ đầy mờ ám. Ông ở ngôi làng vùng Seine-et-Marne, cạnh mé rừng Fontainebleau, trong những ngôi biệt thự bỏ hoang.  Người cha đó là ai? Kẻ buôn lậu? Một người Do Thái bị truy lùng? Tại sao ông sống cùng những kẻ đó? Người kể chuyện sẽ săn đuổi cho tới cùng người cha như một bóng ma đó. Hành vi thụ động của ông trong cuộc sống hiện tại giữa những gã lang thang, khiến anh bị sốc, đồng thời khinh bỉ, chán nản. Giữa hiện thực đầy bức bối ấy, chỉ có những kỷ niệm thời xa vắng, với những mảnh rời rạc, khiến anh cảm thấy mối liên kết với người cha của mình. Cuộc tìm kiếm cha cũng là cuộc truy vấn về thân phận con người trong xã hội đang sụp đổ, khi mọi thứ đẹp đẽ đang bị tàn phá bởi chiến tranh, bạo lực và sự bất nhân. Modiano viết về những điều đó bằng giọng văn u sầu, đẹp đẽ. Dòng chảy kể chuyện u buồn, tạc nên chân dung những kẻ lang thang bên rìa thành phố. Sống ẩn mình vào ban đêm trong những căn biệt thự ấy với rượu, thịt, đàn bà... như những “lễ hội của vô nghĩa”. Những thân phận vô danh tính trong lịch sử Patrick Modiano sinh ngày 30/7/1945 ở Paris, Pháp. Cha của ông là người suốt đời phiêu bạt và mẹ là diễn viên quanh năm lưu diễn. Cậu bé Patrick có tuổi thơ thiếu vắng tình phụ mẫu.  Cảm thức cô đơn với đầy những truy vấn về sự tồn tại của gia đình trở thành nỗi ám ảnh trong mỗi trang viết của Modiano. Ông dùng ngòi bút của mình, đi sâu từng ngóc ngách, lần mò những dấu vết còn sót lại để có thể dựng những bức chân dung thất lạc về con người.  Những con người không thể hiện hữu một cách cụ thể trong tâm trí ông. Nó chỉ có thể được chắp nối với những cái tên, âm thanh, hay món đồ vật cũ kỹ nào đó.  Từ Phố của những cửa hiệu u tối, Để em khỏi lạc trong khu phố, Từ thăm thẳm lãng quên, Modiano đều “đi tìm thời gian đã mất” bằng chút dư vị trong tâm thức của đô thị, của con người như thế. Cách Modiano tiếp cận những góc khuất u hoài ấy, khiến người đọc liên tưởng cuốn tiểu thuyết Villa triste (tạm dịch: Ngôi biệt thự buồn), được viết năm 1975 của ông.  Trong Ngôi biệt thự buồn, Yvonne và Victor giả vờ rằng mình đang sống quãng thời gian thanh thản. Cũng như cha của người kể chuyện, Deyckecaire và những kẻ đồng hành của ông, họ chỉ là những kẻ mất danh tính và bị đẩy ra ngoài rìa xã hội. Modiano luôn xử lý rất tốt khi tạo nên mối liên hệ giữa lịch sử gia đình và lịch sử thế giới thông qua hành trình truy tìm ký ức của mình. Những đại lộ vành đai trong nỗi ám ảnh gia đình, là cuốn tiểu thuyết nhiều riêng tư của Modiano. Nó có thể là mắt xích để người đọc đi vào ngóc ngách ký ức của tác giả. Nó cũng giống như cách Orhan Pamuk đi tìm tiếng nói của gia đình, của người cha trong Nàng tóc đỏ. Hai người đàn ông, hai nhà văn đoạt giải Nobel, đều mang trong mình những ẩn ức không thể chôn giấu về tuổi thơ mất mát. Văn chương thấm đẫm u buồn Tiểu thuyết của Patrick Modiano quyến rũ người đọc với chủ đề ký ức, được biểu đạt bằng ngôn ngữ văn chương mang đậm màu sắc u buồn, thơ mộng. Những đại lộ vành đai đề cập chủ đề về nỗi đau, sự bất hạnh, đồng thời phô bày nhiều xảo trá, tinh ranh của con người trong cuộc sinh tồn giữa thời kỳ chiếm đóng. Thế nhưng, Modiano đã phủ lên câu chuyện một lớp ngôn ngữ tinh tế. Người đọc cứ theo tầng tầng lớp lớp ngôn ngữ của ông mà cuốn mình vào thế giới sâu thẳm ấy, như đi trong giấc mộng.  Những hiện thực xấu xí, những khu phố đổ nát, những con người tha hóa ở hiện thực này, nhưng lẩn khuất đâu đó, trong ánh mắt mơ màng, trong cơn mơ giữa chiều, là một thời kỳ tươi đẹp đã qua.  Lối viết của Modiano khiến Những đại lộ vành đai mang đậm màu sắc siêu thực, có những khoảnh khắc người đọc không còn phân biệt được đâu là hiện tại, đâu là ký ức, đâu là hiện thực, đâu là giấc mơ... Ta không thể biết sẽ trượt chân vào đâu, như lời ông viết: “Sương mù chưa tan, vỉa hè trơn trượt. Càng lúc, tôi càng thấy mình dễ trượt chân”. Thế giới thăm thẳm của Modiano cần rất nhiều thời gian để tìm kiếm, nghiền ngẫm. Chính vì thế, văn chương của ông luôn quyến rũ, mỗi lần đọc đều thêm một lần bất ngờ và sâu sắc. Những đại lộ vành đai được xuất bản lần đầu tiên tại Việt Nam năm 1989 với bản chuyển ngữ của dịch giả Dương Tường, tên gọi Những đại lộ ngoại vi, NXB Văn học.  Sau khi Patrick Modiano đoạt giải Nobel văn học năm 2014, nhiều tác phẩm của ông đã được xuất bản tại Việt Nam như: Ở quán cà phê của tuổi trẻ lạc lối, Phố của những cửa hiệu u tối, Từ thăm thẳm lãng quên, Để em khỏi lạc trong khu phố... Năm 2020, cuốn sách Những đại lộ ngoại vi với bản chuyển ngữ của dịch giả Trương Xuân Huy, được giới thiệu đến bạn đọc trong diện mạo mới, dưới tên gọi Những đại lộ vành đai. *** Tôi vẫn nghĩ hồi ức chỉ như một cơn gió đầu mùa. Chóng đến. Mau đi. Khiến người ta vừa kịp nhận ra cái hoang vu ấy về ngang phố, về ngang đời nhau. Trong cuộc đời mỗi người sẽ có rất nhiều hồi ức như vậy, phân nửa muốn đào thoát, phân nửa muốn tìm lại như một trong những vết sẹo không thể xóa đi mà cả hiện tại lẫn tương lai đều không cách nào trả lại cho ta, mà người ta chỉ có được một lần trong đời. Và chẳng còn gì bàn cãi khi điều làm ta nhớ hơn cả lại là những hồi ức buồn. Nhưng… buồn bao nhiêu là đủ, phải mất mát nhường nào để khi đối diện với trang giấy trắng có thể thôi thúc ta viết ra như một sự giải thoát? Và nếu như… Viết về thời điểm ta còn chưa có mặt sẽ thế nào nhỉ, có phải là rất mơ hồ? Tuyệt nhiên không, thậm chí việc ngược về quá khứ, lật lại những trang lịch sử còn có thể hình dung rõ hơn những đường nét của hiện tại và tương lai. Đây chính là cái tài của Patrick Modiano, được thể hiện qua tác phẩm Những đại lộ vành đai (Nhà xuất bản Hà Nội).  Không phải mình Patrick Modiano viết về chiến tranh nhưng có một điều, trong trường hợp này thì thật kỳ lạ, ông sinh năm 1945 khi Thế chiến II vừa kết thúc, nhưng bằng một cách nào đó những hình ảnh nước Pháp bại trận năm ấy, chính là thời kỳ Pháp bị phát xít Đức chiếm đóng (năm 1940-1944) đeo bám, ám ảnh ông triền miên, đó là một trong những trường đoạn, có thể cho là đau đớn nhất của cuộc đời mà từ lâu đã trở thành hồi ức, thành một phần máu thịt và cả linh hồn đã và luôn thường trực trong ông. Và biết đâu rằng đây là cách để Patrick Modiano “tìm lại thời gian đã mất” khi mang trong mình những ẩn ức không thể chôn giấu về tuổi thơ mất mát, sống trong một gia đình mà ở đó thiếu đi tình thương yêu, chăm sóc từ cha mẹ, tệ hơn cả đó còn là những vết thương lòng không cách nào lành lại được. Không cách nào bỏ đi được. Tôi nhớ ai đó từng nói “Thời gian là liều thuốc kỳ diệu, nó sẽ: Biến nỗi buồn thành bài học. Biến cô đơn thành thói quen, và biến nước mắt thành nụ cười mạnh mẽ”. Nhưng kỳ thực thời gian chẳng kỳ diệu đến thế, nó chỉ khiến mọi thứ trở nên rõ ràng hơn mà thôi. Cho đến khi đọc Modiano, bạn có thể sẽ nhận ra những điều kể trên đều hiện diện trong ba tác phẩm đầu tay của ông: Quảng trường Ngôi Sao, Tuần tra đêm, Những đại lộ vành đai hay còn được gọi là “Bộ ba về Thời kỳ chiếm đóng”.  Nói như Patrick Modiano thì “Con người bao giờ cũng tò mò muốn biết cội nguồn của mình”, dù có hiểu theo cách nào thì việc đi tìm những “cội nguồn” ấy trở thành nét chủ đạo ở các nhân vật của Modiano. Chúng ta đều công nhận với nhau rằng, hình tượng người mẹ trong văn học luôn là thứ tình cảm chân thật nhất, bạn có thể viết láo cho một đề tài nào đó, chứ viết về mẹ thì không. Và ở đâu, thời nào cũng tha thiết như nhau. Nhưng khi viết về cha sẽ thế nào nhỉ? Ở góc độ cá nhân, tôi nhớ ngay đến Franz Kafka và cha ông - Hermann trong một số truyện ngắn Hóa thân, hay Quentin Compson của Âm thanh và cuồng nộ và hơn cả là Kafka bên bờ biển đều là những mối quan hệ cha con phức tạp, bị ám ảnh, bị giày vò bởi người cha, bởi quá khứ và nguồn cội. Modiano với cảm thức cô đơn viết ra Những đại lộ vành đai gặp lại nỗi đau được sinh ra từ chính con người ông, về quá khứ bị “tước mất” mang tên: Gia đình, và ở đây là người cha khi chính trong một bài phỏng vấn nhiều năm về trước, ông phải thừa nhận rằng mình “đau khổ vì được ra đời” và bản thân như một “sản phẩm của một thời kỳ quái đản, khi những người lẽ ra không nên gặp nhau lại gặp và có con một cách tình cờ”. Nghe mà buồn thế. Nhưng bạn biết không, cũng chính bằng giọng văn u buồn ấy, thơ mộng ấy lại khiến văn ông đẹp hơn, lấp lánh dù ngay cả trong bóng đêm, tôi chắc chắc đấy. Thứ văn chương ấy dường như có một mạch ngầm chảy tràn qua các tác phẩm, đẹp ngay giữa những cái điêu tàn, đẹp cả trong đổ vỡ đau thương, mất mát nhưng lại chẳng khiến người đọc u uất mà chỉ nghiêm túc truy vấn về sự tồn tại của bản thân, ta là ai, ta đang ở đâu trong thế giới này hỗn mang này. Lật giở từng trang sách, vẫn là cái ám ảnh về nguồn cội ấy, ta gặp lại nhân vật lấy danh giả định của một tiểu thuyết gia trong Những đại lộ vành đai đi xuyên thời gian để tìm lại người cha của mình, anh ta xâm nhập cái thế giới ám muội ấy, với hy vọng tiếp cận được cha mình. Chính xác thì ông là ai? Buôn lậu chợ đen? Một người Do Thái bị săn đuổi? Hoặc bất cứ ai khác? Cho đến cuối cùng người cha vẫn là một dấu hỏi, cho đến cuối cùng anh thêm một lần xác định lại địa điểm và thời gian. Nhưng với nỗi đau đầy âu yếm, anh như muốn hòa vào với cha và chịu trách nhiệm về một quá khứ biến động cũng chính là nơi ông xuất thân. Ở đó, các nhân vật như những bóng ma trở về từ quá khứ, họ treo lơ lửng, tan biến trong các khu phố đổ nát của một Paris xưa cũ, tạc nên chân dung những kẻ lang thang: Mất danh tính. Đang sống mà lại không giống như thế, mỗi người như giấu trong mình một ý nghĩ mù mờ nào đó hoặc một quá khứ xa xăm, khó nắm bắt từ nhiều năm về trước, đến nỗi mà khi nhớ về những hồi ức ấy, thậm chí còn ngỡ nó không hề có thật, để rồi lại loay hoay đi tìm chính mình cả ở hiện tại và quá khứ, khiến bạn đọc nhiều khi không phân biệt được đây là quá khứ hay hiện tại, đây là kí ức hay giấc mơ…một thế giới thăm thẳm như vậy trong tâm trí Modiano, ta chẳng biết lúc nào sẽ trượt chân… Bạn biết đấy, đọc Patrick Modiano, nhớ một điều… phải tỉnh!   Mời các bạn đón đọc Những Đại Lộ Vành Đai của tác giả Patrick Modiano & Trương Xuân Huy (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Đo Thế Giới - Daniel Kehlmann
Cây bút trẻ Daniel Kahlmann đã tạo nên một tiểu thuyết thông minh, hài hước, giàu chất trí tuệ Đức nhất từ cuộc đời hai bậc thiên tài trong thời đại ánh sáng: Carl Friedrich Gauss và Alexander von Humboldt. Một người không thích cuộc sống mà thiếu đàn bà nhưng trong đêm tân hôn vẫn nhảy ra khỏi giường để ghi lại một công thức toán. Một người nhập thân vào khoa học và du hành như một kẻ tuẫn đạo: vượt qua đồng cỏ và rừng rậm, băng qua Orinoco, nếm thuốc độc, trèo lên trên đỉnh núi cao nhất mà con người từng biết, thám hiểm mọi hang hốc. Một người được coi như bộ não làm toán vĩ đại nhất sau Newton, chẳng coi nhân quần là gì, thậm chí chẳng cần rời khỏi nhà mình ở Gottingen để chứng minh rằng không gian cong. Một người vĩnh viễn tin vào tiến bộ xã hội, và rồi sẽ được lịch sử biết tới như một Columbus Đệ nhị. Câu chuyện là sự giao thoa thú vị giữa hai nhà bác học nổi tiếng Đức vào thế kỷ XIX, trong cái ý nghĩa tối thượng của các cuộc đời con người đi khám phá những quy luật bí ẩn của Tạo hóa, nhưng chẳng thiếu hài hước và châm biếm bởi những giăng mắc của trí tuệ siêu việt vào đời thường và xã hội. Với Đo thế giới, Daniel Kehlmann đã tỏ ra thoải mái một cách đáng ngưỡng mộ trong trò chơi tinh tế giữa hiện thực và hư cấu, đồng hành cùng những cái tên có trong mọi cuối lịch sử khoa học, chứng tỏ rằng văn chương vĩnh viễn có quyền năng không thể coi nhẹ trong việc tiệm cận những chân lý phổ quát của tự nhiên và con người.  ***  Nhận định   “Tác phầm của Kehlmann tỏa ra sự quyến rũ đây khơi gợi của những bậc thầy như Nobokov hay Proust.” – Stern   “Tiểu thuyết Đức hài hước nhất năm nay - tuyệt diệu!” – Suddeutsche Zeitung   “Kehlmann là một nhà văn kỳ lạ.” – Vrij Nederland   “Daniel Kehlmann là một trong những nhà kể chuyện tuyệt vời, tự tin trong giọng điệu, với sự kiểm soát bậc thầy các tình tiết… Đáng say mê!” – Der Spigel “Một thành công không nhỏ với một người đàn ông ở tuổi 31.” – The New York Times   “Lâu lắm rồi tôi mới được cười dữ dội như thế khi đọc một tiểu thuyết Đức… Nhà tiểu thuyết trẻ này đã bày ra một trò chơi văn xuôi với sự tinh tế lớn lao và óc hài hước sáng láng. Cốt truyện thì vững chắc và lời thoại thì tuyệt vời vui nhộn.” – Frankfurter Rundschau   “Vui tươi, hài hước, lại sâu sắc và thông minh một cách tao nhã.” – Frankfurter Allgemeine Zeitung “Tôi khuyên mọi người hãy đọc Daniel Kehlmann bằng được. Trí thông minh, tài quan sát và lời thoại như từ cõi tiên.” – Marcel Reich-Ranicki (“Giáo hoàng” của văn giới Đức)   “Một tiếu thuyết nổi trội!” – De Telegraaf   “Thông thái quá thể.” – Kirkus Review (starred)   “Chính là Tên của đóa hồng trong năm nay” – The Philadenphia Inquirer   “Một cây bút hài hước tinh tế, một bậc thầy về kỹ xảo kể chuyện cao cấp. Một thú vui chữ nghĩa hiếm gặp.” – Neue Zuicher Zeitung   “Đo thế giới không khác gì một sự kiện văn học.” – The Guardian *** DANIEL KEHLMANN sinh ngày 13.1.1975 ở Munich (Đức), Là con trai của một đạo diễn và một nữ diễn viên, đã theo học đại học ở Vienna (Áo) năm 1981, học Triết học và Văn học tại Vienna. Sau khi tốt nghiệp, Kehlmann viết luận án tiến sĩ về Khái niệm Cao Thượng của Immanuel Kant, nhưng “tôi bỏ cuộc sớm, vì việc viết văn quá trôi chảy”. Sau tác phẩm đầu tay Màn diễn của Beerholm (Beerholms Vorstellung), năm 1997, Kehlmann viết phê bình và tiểu luận văn học cho nhiều tờ báo lớn, từ 2001 dạy Nghệ thuật thi ca ở Đại học Mainz và Đại học Wiesbaden và Đại học Cottingen. Ông đi du lịch rất nhiều, và giành rất nhiều giải thưởng cho các tiểu thuyết và truyện ngắn, gần đây nhất là Cadide Award 2005... Daniel Kehlmann cũng là Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học và Văn học Đức. Kehlmann hiện đang sống tại Vienna "Kehlmann là một nhà văn kỳ lạ." "Daniel Kehlmann là một người kể chuyện tuyệt vời, tự tin trong giọng điệu, với sự kiểm soát bậc thầy các tình tiết... Đáng say mê" "Một thành tựu không nhỏ với một người đàn ông ở tuổi 31." ***  TÁC PHẨM: - Màn diễn của Beerholm (Beerholms Vorstellung) tiểu thuyết, 1997 - Trong nắng (Unter der Sonne), tập truyện ngắn, 1998 - Thời đại Mohler (Mahlers Zeit), tiểu thuyết, 1999 - Chốn xa nhất (Der Ternste Ort), truyện dài, 2001 - Tôi và Kaminski (lch und Kaminski), tiểu thuyết,2003 - Đo thế giới (Die Vermessung der Welt), tiểu thuyết, 2005 - Carlos Montúfar đâu ? (Wo ist Carlos Montútar ?), tiểu luận, 2005 - Những chuyện đùa rất nghiêm túc (Diese sehr ernsten Scherze), tập bài giảng về thi ca ở Gottingen, 2007 *** GIẢI THƯỞNG: - 1998 Giải khuyến khích của Hội Văn học thuộc Hiệp hội Công nghiệp Liên bang - 2000 Học bổng của Hội Văn học Berlin - 2003 Giải khuyến khích của Văn phòng Thủ tướng Áo - 2005 Giải Candide của Hội Văn học Minden - 2005 Đề cử chung kết giải Booker Đức cho tiểu thuyết Đo thế giới (Die Vermessung der Welt) - 2006 Giải văn chương của Quỹ Konrad Adenauer; Giải Heimito von Doderer, Giải Heinrich von Kleist. *** 1 tháng Chín năm 1828. Sau nhiều năm, lần đầu tiên nhà toán học vĩ đại nhất nước mới lại rời thành phố quê hương để đi dự Hội nghị các nhà nghiên cứu tự nhiên của Đức ở Berlin. Dĩ nhiên ông không muốn tới đó. Hàng tháng ròng ông nhất quyết cự tuyệt, nhưng Alexander von Humboldt vẫn đeo đẳng cho đến khi ông ưng thuận trong một phút mềm lòng và hy vọng rằng ngày đó sẽ chẳng bao giờ tới. Và bây giờ thì giáo sư Gauss trốn trong chăn. Khi Minna gọi ông dậy vì xe ngựa đã sẵn sàng và quãng đường xa xôi lắm, thì ông quặp chặt lấy gối và cố tống bà vợ biến đi cho khuất mắt bằng cách nhắm tịt mắt lại. Khi mở mắt ra thấy Minna vẫn đứng đó, ông gọi vợ là đồ nhiễu sự, dốt nát và là nỗi bất hạnh trong những năm cuối của đời mình. Thấy nói vậy vẫn vô ích, ông gạt chăn ra rồi đặt chân xuống đất. Mặt mũi cau có, rửa ráy sơ sài, ông đi xuống gác. Eugen, con trai ông, đang đợi ở phòng khách với hành lý đã gói ghém xong. Nhìn thấy cậu, Gauss lên cơn thịnh nộ: ông đập tan cái bình đặt trên bậu cửa sổ, giậm chân bành bạch và vung tay chân loạn xạ, không im miệng trở lại cả khi Eugen và Minna, mỗi người một bên, đặt tay lên vai ông và thề thốt là người ta sẽ chăm sóc ông tử tế và ông sẽ sớm về nhà, mọi việc sẽ chỉ thoáng qua như một cơn ác mộng. Ông chỉ bình tĩnh lại khi bà mẹ già nua bị tiếng ồn ào quấy rầy từ trong phòng mình tiến ra, bẹo má ông và hỏi có chuyện gì với thằng cu can đảm của bà. Không một chút thân thiện, ông chia tay mẹ và Minna, hờ hững xoa đầu con bé gái và thằng út. Rồi ông sai người ta đỡ mình lên xe ngựa. Chuyến đi là một cực hình. Ông mắng Eugen là đồ vô dụng, giật lấy cái ba toong của cậu và đâm thật lực vào bàn chân cậu. Ông nhíu mày nhìn ra cửa sổ một hồi lâu rồi hỏi, bao giờ thì con gái ông mới lấy chồng, tại sao không đứa nào chịu lấy nó, nguyên cớ gì ? Eugen vuốt lại mái tóc dài, mân mê chiếc mũ đỏ bằng cả hai tay và không muốn trả lời. ... Mời các bạn đón đọc Đo Thế Giới của tác giả Daniel Kehlmann.
Con Tàu Trắng - Chyngyz Torekulovich Aytmatov
CON TÀU TRẮNG của Chyngyz Torekulovich Aytmatov là một câu chuyện buồn kể về một cậu bé có những ước mơ không ai hiểu được. Bố mẹ chia tay, cậu ở với ông ngoại Mômun già nua ở một trạm gác rừng hẻo lánh. Cậu bé sống bằng những món ăn đơn giản và tâm hồn chất chứa những những huyền thoại và truyền thuyết đẹp đẽ mà ông Mô-mun kể. Trong đó có câu chuyện về Mẹ Hươu Sừng.Theo truyền thuyết, Hươu sừng Maran đã cứu bộ lạc Kirghidi khỏi bị diệt vong và được coi là tổ mẫu của người Kirghidi. Đây là huyền thoại từ ông Mômun. Còn cậu bé cũng có một huyền thoại của riêng mình- Con tàu trắng".Những khi trèo lên núi tìm bóng con tàu trắng, nó cứ mơ cái ngày nó bước xuống sông, biến thành cá và bơi ra biển, bơi thẳng ra chỗ con tàu trắng để gặp người bố làm thuỷ thủ của nó và bảo: Bố ơi, con là con của bố đây!" Nhưng cậu bé mơ mộng phải đối mặt với một thế giới không huyền thoại và đầy bạo lực. Ông ngoại bị ép phải bắn con hươu Maran mà cậu tin là Mẹ Hươu Sừng...Kẻ ép ông cậu bắn hươu tàn nhẫn hơn, đem cho cậu phần thịt xẻ từ con hươu Maran đã chết... Bi kịch đầu tiên xảy ra với ông già Mô mun.Vì cháu trai của ông "không hề ngờ rằng ông nó nằm đây để đền nợ về câu chuyện hoang đường của mình về Mẹ Hươu Sừng, rằng do bị cưỡng ép, ông đã giết chết những gì mà chính ông đã gieo vào tâm hồn thằng bé khiến nó suốt đời không quên – ông đã xúc phạm đến lòng tôn kính tổ tiên, đến lương tâm và những lời dạy bảo của chính ông, nó có biết chăng rằng ông làm việc đó là vì người con gái khốn khổ của ông, là vì nó, đứa cháu trai của ông…Và bây giờ, ngã gục vì đau xót và nhục nhã, ông già nằm như người bị giết, mặt úp sấp, không đáp lời thằng bé." Bi kịch thứ hai xảy ra nặng nề hơn với cậu bé."Không ai nhận thấy thằng bé từ trên giường tụt xuống và ra khỏi nhà. Nó vừa kịp rẽ vào góc nhà là ói mửa liền. Thằng bé vịn vào tường, rên rỉ, khóc qua làn nước mắt, nó nức nở nghẹn ngào, lẩm bẩm: Không, thà làm cá còn hơn. Ta sẽ bơi đi nơi khác. Thà ta làm cá còn hơn." Cậu bé muốn đi tìm Con tàu trắng... Con tàu trắng như là một bài thơ dài .Sự băn khoăn, tiếc nuối và nỗi đau ẩn trong từng trang sách. Ngay cả ở nơi sơn cùng thủy tận ta cũng không còn chốn nương thân. Khi đối diện với cô đơn, cùng lúc có thể ta phải đối diện với sự hiển hiện của các ác làm tan vỡ mọi giấc mộng đẹp nhất. Dường như khi đau đớn và tổn thương hiện hữu, chỉ có sự tỉnh táo mới cứu nổi ta. *** Nó có hai huyền thoại. Một của riêng nó, không ai biết. Chuyện kia do ông kể. Rồi chẳng còn huyền thoại nào cả. Ở đây xin thuật lại câu chuyện đó. Năm đó nó vừa tròn bảy tuổi, mới lên tuổi thứ tám.. Mở đầu, nó được mua một chiếc cặp, chiếc cặp giả da mầu đen, có chốt kim loại bật tanh tách luồn qua móc gài. Có túi ngoài để đựng các thứ lặt vặt. Tóm lại là một chiếc cặp học trò hết sức bình thường mà lại rất lạ kỳ. Có lẽ mọi chuyện đều bắt đầu từ đó. Ông nó mua cái cặp ở ô tô bán hàng lưu động khi chiếc ô tô đó đến đây. Chiếc ô tô đó đưa hàng đến bán cho những người chăn gia súc trong núi, dôi khi cũng tạt vào trạm gác rừng của ông cháu nó ở hẻm Xan-Tasơ. Từ trạm gác này, khu rừng cấm qua các khe hẻn và các sườn dốc leo lên tận thượng nguồn. Ở xóm trạm gác chỉ có ba gia đình. Tuy vậy, ô tô bán hàng đôi khi vẫn ghé thăm những người coi rừng. Là một thằng bé duy nhất trong cả ba hộ, bao giờ nó cũng là người trước tiên trông thấy chiếc ô tô bán hàng. -Xe đang đến đấy, - Nó vừa gào ầm lên vừa chạy tới các cửa lớn và cửa sổ.- Ô tô bán hàng đến đấy. Con đường cho xe chạy tới đây khởi đầu từ ven hồ Ix xưc-Kun, luôn luôn qua các khe núi và bờ sông, toàn đá và ổ gà. Cho xe chạy trên con đường như thế không phải là dễ dàng gì. Đến núi Karaun, đường từ đáy lũng hẹp lên trên cao, rồi lại đổ xuống theo sườn núi dựng đứng trơ trụi, chạy dài mãi đếnn sân nhà những người gác rừng. Núi Karaun ở ngay cạnh xóm, mùa hè ngày nào thằng bé cũng chạy lên núi chiếu ống nhòm nhìn ra hồ. Ở đấy, bao giờ cũng nhìn thấy hết mọi thứ trên đường cái, rõ như trên lòng bàn tay: cả người đi bộ, cả người cưỡi ngựa, cà cố nhiên cả ô tô. Lần ấy vào một ngày hè nóng bức, thằng bé tắm trong cái đập nước của mình và từ đấy nó nhìn thấy chiếc ô tô tung bụi trên sườn dốc. Cái đập ở ria bãi sông, trên đá sỏi. Ông nó chất đá đắp nên cái đập ấy. Nếu như không có cái đập thì chưa biết chừng thằng bé đã mất mạng từ lâu. Thì có lẽ như bà nó nói, nước sông đã rửa trắng xương nó từ lâu và cuốn trôi tuột ra hồ Ix xưc-Kun, cá và các loài thủy tộc tha hồ mà ngắm nghía. Sẽ chẳng ai tìm kiếm và đau buồn xót thương nó. Bởi vì ai bảo đi nhảy xuống nước làm gì, vả chăng người ta cũng chẳng thiết gì nó lắm. Hiện thời chuyện đó chưa xảy ra. Chứ nếu xảy ra chuyện chẳng lành thì không chừng bà sẽ chẳng nhảy xuống cứu nó đâu, thật thế đấy. Nếu nó là máu mủ ruột thịt thì chẳng nói đằng này bà lại bảo nó là người dưng. Mà người dưng thì dù có nuôi nấng chăm sóc thế nào đi chăng nữa cũng vẫn cứ là người dưng. Người dưng nước lã…Ừ, nhưng nếu nó không muốn là người dưng thì sao? Tại sao chỉ có nó bị coi là người dưng? Có thể không phải nó, mà chính bà mới là người dưng thì sao? Nhưng chuyện ấy sau này sẽ nói, cả chuyện đập nước cũng để sau…     Vậy là nó nhìn thấy chiếc ô tô bán hàng từ xa, chiếc xe đang xuống núi, bụi cuốn bốc lên đường theo sau xe. Thằng bé mừng quýnh lên, như thể là nó biết chắc là nó sẽ được mua chiếc cặp. Nó lập tức lên cạn, xỏ đôi chân gầy guộc vào ống quần, và người còn ướt nước, tái ngắt ( nước sông vẫn lạnh) , nó chạy trên con đường mòn về sân, để là người đầu tiên báo tin người bán hàng đang tới. Thằng bé chạy nhanh, nhảy qua những bụi cây và chạy vòng qua những khối đá tảng nếu không đủ sức chạy qua, không dừng lại lấy một giây ở bất cứ chỗ nào: dù là bên những đám cỏ cao hay bên những khối đá, mặc dù nó biết đấy hoàn toàn không phải là những vật thông thường. Chúng có thể bực tức và ngáng chân cho ngã, “ô tô bán hàng đã đến rồi. Tớ sẽ trở lại sau.”- nó vừa chạy vừa nói với” Lạc đà nằm” (đấy là tên nó đặt cho khối đá hoa cương có bướu lún sâu dưới đất đến ngang ngực.). Bình thường, không bao giờ nó đi qua mà không vỗ vào bướu con “Lạc đà” của mình. Nó vỗ về con lạc đà như chủ vỗ về con vật, như ông nó vỗ về con ngựa thiến cộc đuôi của ông, nhân đi qua thì tiện tay làm thế thôi, như có ý bảo: mày đợi đây nhé, tao đi có việc một lúc. Nó có khối đá ’Yên ngựa": khối đá nửa trắng nửa đen, đốm khoang , lưng oằn xuống có thể ngồi lên như cưỡi ngựa. Còn có khối đá “Chó sói”, rất giống con chó sói lông màu nâu đốm bạc, ót rất khoẻ, gồ trán nặng nề. Thằng bé thường len lén bò tới gần và nhắm bắn. Nhưng khối đá nó thích nhất là “chiếc xe tăng”- khối đá kiên cố vô cùng, ở ngay cạnh sông, chỗ bờ bị xói mòn. Nom cứ như “Chiếc xe tăng” sắp từ trên bờ lao xuống nước, bò đi và sông sẽ sủi réo , tung lên những đợt sóng nhào trắng xoá. Trên màn ảnh, xe tăng cũng từ trên bờ lao xuống nước và bò đi…Thằng bé ít được xem phim, nên nó nhớ như in tất cả những gì đã được xem khi ông đèo cháu đến xem phim ở trại quốc doanh nuôi vật giống, trại này thuộc địa khu lân cận, phía bên kia núi. Chính bởi thế trên bờ sông mới xuất hiện “Chiếc xe tăng” sẵn sàng lao xuống nước, vựơt qua sông. Ngoài ra còn có những khối đá khác, “có hại” hoặc “hiền từ”, thậm chí “ranh mãnh” hay “đần độn”. .. Mời các bạn đón đọc Con Tàu Trắng của tác giả Chyngyz Torekulovich Aytmatov.
Chuyện Tình Vượt Thời Gian - Dục Hồng Y
Nhuốm màu sắc lãng mạn lẫn giả tưởng, tiểu thuyết 'Chuyện tình vượt thời gian' đưa người đọc vào không gian giao thoa giữa quá khứ, hiện tại, nơi diễn ra chuyện tình tay ba kịch tính. Mới ngày đầu tiên nhập học, Lâm Tiểu Ngư đã vô tình “đắc tội” với hội trưởng hội học sinh trường Trung học phổ thông Phác Thiện. Kết quả, đêm đó cô nàng phải ngủ ở ngoài công viên gần trường học. Trong lúc Lâm Tiểu Ngư đang “say giấc nồng” thì bỗng nhiên có một thứ gì đó rất nặng đè lên người cô. Khi cô choàng tỉnh giấc thì thấy trên người mình là một anh chàng khôi ngô tuấn tú trong bộ trang phục thời cổ đại, nai nịt gọn gàng, lưng đeo một thanh kiếm. Anh chàng đó tự xưng là Sai dịch đại nhân triều đại nhà Thanh, tên là Thượng Quan Cảnh Lăng… Để giúp Thượng Quan Cảnh Lăng nhanh chóng thích nghi với cuộc sống hiện đại và để trang trải cuộc sống, Lâm Tiểu Ngư dự định tìm cho anh ấy một công việc. Hội trưởng Tả Mạc Phong vô tình phát hiện ra Thượng quan Cảnh Lăng ở trong trường cùng với Lâm Tiểu Ngư nên đã “ra thỏa thuận” với Lâm Tiểu Ngư rằng chỉ cần cô ấy tham gia vào Hội học sinh thì anh ta sẽ giúp Thượng Quan Cảnh Lăng có cơ hội được làm huấn luyện viên câu lạc bộ võ thuật của trường. Lâm Tiểu Ngư không còn cách nào khác đành "đau khổ" chấp nhận thỏa thuận đó và "chịu đựng" những ngày tháng bị Tả Mạc Phong "hành hạ". Cứ ngỡ Tả Mạc Phong là "khắc tinh" của Lâm Tiểu Ngư khi thường xuyên săm soi để bắt nạt cô. Để được yên thân cô đã miễn cưỡng chấp nhận là người yêu của hắn. Sau đó, cũng không biết từ lúc nào Tả Mạc Phong đã bị sự thông minh, tinh nghịch của cô "hớp hồn".  Câu chuyện tình tay ba giữa Thượng Quan Cảnh Lăng, Lâm Tiểu Ngư, Tả Mạc Phong diễn ra đầy phức tạp bởi "tình trong như đã mặt ngoài còn e". Yếu tố giả tưởng được lồng ghép khá thành công khiến câu chuyện trở nên hấp dẫn và kịch tính.  *** Triều đại nhà Minh, năm Kiến Văn thứ hai (năm 1400 sau Công nguyên), tại vách núi Khiếu Vân, huyện Thanh Tùng. Đêm về khuya, những đám mây lặng lẽ trôi qua dưới ánh trăng, càng làm cho màn đêm thêm mờ ảo. Trên vách đá dựng đứng có hai bóng đen đang quyết đấu với nhau. “Quân Lưu Ca, hôm nay ta nhất định phải đưa hạng gian tặc hoang dâm như ngươi về quy án!” Nói dứt lời, bóng đen ấy giơ thanh kiếm trong tay lên chĩa thẳng vào yếu huyệt của đối phương. Ánh trăng sáng lọt qua đám mây rọi vào khuôn mặt anh ta, trên người khoác bộ trang phục của sai dịch, nai nịt gọn gàng, mặt mũi khôi ngô, tướng mạo phi phàm. Nhưng điểm thu hút nhất chính là khí chất anh hùng toát ra trên khuôn mặt ấy. Người được gọi tên là Quân Lưu Ca có thân hình cường tráng hơn một chút, hắn vung kiếm đỡ lấy mũi kiếm đang lao về phía mình. Ánh sáng của thanh kiếm hắt lên mặt hắn, dù không thật rõ nhưng cũng đủ để người ta nhận thấy một đôi mắt nhỏ gian manh đầy tà khí. Nếu nói theo sách tướng số thì loại người có đôi mắt này là kẻ đê hèn vô sỉ, dâm đãng lăng loàn. “Thượng Quan Cảnh Lăng, tôi và ngài không thù không oán, ngài hà tất phải chèn ép tôi đến vậy?” Quân Lưu Ca cảm nhận được sức mạnh của đối phương đang dồn lên thanh kiếm, không còn cách nào khác đành phải lên tiếng van xin. Viên sai dịch Thượng Quan Cảnh Lăng không thèm đáp lời, càng dồn sức vào thanh kiếm trên tay. Quân Lưu Ca hoảng hốt, vội lăn xuống dưới hòng tránh lưỡi kiếm của đối phương. Thượng Quan Cảnh Lăng không bỏ qua, tiếp tục tấn công tới tấp, khiến Quân Lưu Ca vội vã bỏ chạy. Để bắt được tên vô lại Quân Lưu Ca, Thượng Quan Cảnh Lăng đã phải bám theo hắn gần nửa tháng. Nay hắn ở ngay trước mặt, sao có thể dễ dàng để hắn chạy thoát như vậy? Viên sai dịch tự nhủ, phải tóm gọn tên hoang dâm đã hủy hoại thanh danh, hại đời biết bao cô gái nhà lành này. Quân Lưu Ca vừa tháo chạy, vừa lầm bầm than khổ, phía trước là đường cụt, còn nơi nào để thoát nữa đây. Thiết nghĩ, bản thân hắn cũng có thể coi là cao thủ trong số những tên vô lại, không ngờ lại bị một tên sai dịch vô danh tiểu tốt đẩy đến tình cảnh này, thật đen đủi! “Phía trước không còn đường chạy, tốt nhất là ngươi nên ngoan ngoãn nhận tội.” Thượng Quan Cảnh Lăng rút kiếm chặn đứng con đường thoát thân của Quân Lưu Ca. Quân Lưu Ca đứng bên vách đá cheo leo, nhìn phía sau là vực sâu, phía trước là lưỡi kiếm sắc bén của Thượng Quan Cảnh Lăng. Hắn không còn đường thoát thân, cũng không cam tâm đầu hàng, phải làm thế nào đây? Viên sai dịch tiến lại mỗi lúc một gần, hắn hét to một tiếng rồi buông thanh kiếm trong tay. “Sai dịch đại nhân tha mạng, tôi xin đầu hàng!” Quân Lưu Ca lập tức cúi thấp đầu. Mặc dù thấy Quân Lưu Ca đã buông kiếm đầu hàng, song Thượng Quan Cảnh Lăng vẫn hoài nghi, không dám khinh suất, thận trọng xách kiếm tiến đến trước mặt tên tội phạm, định còng tay hắn lại. Đột nhiên, một đám sương mù bay lên, xộc thẳng vào mắt Thượng Quan Cảnh Lăng. Hóa ra nhân lúc viên sai dịch tiến lại gần, Quân Lưu Ca đã dùng hết sức mình phả khói mê chuyên dùng để tấn công các cô gái vào mắt đối phương. Thượng Quan Cảnh Lăng phản xạ rất nhanh song đôi mắt vẫn bị khói mê làm cay xè. Tranh thủ khoảnh khắc ngắn ngủi ấy, Quân Lưu Ca tung một nắm đấm vào ngực Thượng Quan Cảnh Lăng. Dù mắt không nhìn thấy nhưng vì đã có đề phòng từ trước, viên sai dịch lùi lại phía sau theo đường quyền, khiến sức mạnh trong nắm đấm của đối phương giảm bớt một nửa. Tuy vậy, nắm đấm của Quân Lưu Ca vẫn đủ mạnh để khiến Thượng Quan Cảnh Lăng thổ huyết. Nguy hiểm hơn, phía sau viên sai dịch là vách núi cheo leo, chỉ cần lùi một bước nữa là rơi xuống vực sâu. “Quân Lưu Ca, ta có làm ma cũng không tha cho ngươi.” Thượng Quan Cảnh Lăng rướn người cố hết sức ném chiếc còng tay về phía đối phương, còng chặt cổ tay Quân Lưu Ca nhằm tiêu diệt tận gốc mối họa này. Lúc này, cả hai đều rơi xuống vách núi. Đột nhiên, qua lỗ thủng trên vạt áo của Thượng Quan Cảnh Lăng bỗng xuất hiện một luồng sáng xanh. Luồng sáng vây quanh lấy hai người họ, trong nháy mắt, cả hai biến mất trong luồng sáng ấy. ... Mời các bạn đón đọc Chuyện Tình Vượt Thời Gian của tác giả Dục Hồng Y.
Cân Bằng Mong Manh - Rohinton Mistry
Cân bằng mong manh là tác phẩm về một Ấn Độ trong thời kỳ biến động mạnh mẽ thập niên 70, bao quát toàn bộ những sự tàn bạo và thối nát, phẩm giá và anh hùng tính của một trong những cái nôi văn minh nhân loại này. Địa điểm là một thành phố không tên bên bờ biển. Chính phủ vừa tuyên bố Tình trạng khẩn cấp. Trong bối cảnh đó, bốn con người hoàn toàn xa lạ - một quả phụ cứng cỏi, một cậu sinh viên trẻ bị dứt khỏi vùng đồi núi thanh bình đã sinh ra mình, và hai người thợ may phải trốn chạy khỏi tình trạng bạo lực đẳng cấp nơi quê nhà - bị dòng đời xô đẩy đến với nhau, bị buộc phải cùng chia sẻ một căn hộ chật chội và một tương lai bất ổn. Đẳng cấp, định kiến, trọng nam khinh nữ, sự bành trướng của các tập đoàn nước ngoài, chính phủ hỗn loạn, sự bất an đè lên những người dân bình thường không có gì "chống lưng"… là vũng bùn sâu mà mỗi nhân vật đều vùng vẫy thoát ra. Đã có lúc họ tưởng như đã đứng vững, vươn cao khỏi bùn lầy, nhưng thế đứng của họ là sự "cân bằng mong manh", có thể đổ sụp bất kỳ lúc nào.Tác phẩm xúc động, kịch tính, gợi nhiều cảm nghĩ sâu sắc về thăng trầm và nỗ lực trong đời người. *** Ám ảnh, bạo liệt, đau đớn, dữ dội là những tính từ để tôi có thể miêu tả về cảm xúc của tôi dành cho Cân Bằng Mong Manh. Quyển sách này thật sự không dành cho tôi, cho những người vốn dĩ đã là nạn nhân hay chứng kiến quá nhiều bi kịch về bất công, về sự tàn nhẫn, về sự độc ác hay từng treo ngược chính mình khi bị cuộc đời dồn ép và quấn quanh cổ mình sợi dây trách nhiệm, tình & lý, đúng & sai. 1. Cân Bằng Mong Manh giúp bạn thấy những đau khổ, cay đắng mà bạn đã & đang trải qua thật ra chỉ là một mảnh vải ghép trong một tấm chăn ghép được đặt tên bạn. Nên niềm vui niềm hạnh phúc cũng vậy, chúng sẽ là những mảnh vải ghép tạo nên sự thú vị của tấm chăn. Nếu chúng ta cắt hết những mảnh xấu đi, tỉa hết những đêm đáng sợ và chỉ may những mảnh đẹp lại với nhau thì kéo sẽ cùn, tấm chăn chỉ còn lại tí vải. Và chúng ta sẽ chỉ có một cuộc đời quá ngắn ngủi. Nói theo cách của Maneck thì : “Cuộc đời có nhiều thứ phức tạp lắm, khó mà lấy kéo chia được. Tốt xấu đan xen thế này. Như những ngọn núi của tớ chẳng hạn. Chúng đẹp lắm, nhưng cũng có thể gây lở tuyết”. Thế nên quy tắc cần ghi nhớ về cuộc sống qua triết lý tấm chăn vải ghép đó là cả tấm chăn quan trọng hơn rất nhiều so với bất kì ô vải đơn lẻ buồn tẻ xám xịt nào. 2. Cân Bằng Mong Manh giúp bạn mở lòng mình ra, ngồi xuống bên cạnh một người nào đó đủ kiên nhẫn, đủ thời gian, đủ tình yêu để nghe bạn kể lại thật chi tiết, thật rõ ràng, thật trung thực về cuộc đời của chính bạn. Điều này theo Valmik- người sửa bản in- là cực kỳ quan trọng đối với sự tồn tại của mỗi con người. Vì khi kể lại tường tận cuộc đời bạn cho một ai đó chịu lắng nghe, bạn sẽ tự nhắc mình nhớ bạn là ai để bạn không tự đánh mất chính mình, bạn giữ được màu sắc tươi sáng trong tâm hồn bạn dù đối diện với bất cứ nghịch cảnh nào . Luôn luôn hi vọng- hi vọng để đối trọng lại nỗi tuyệt vọng của chúng ta. Nếu không, chúng ta sẽ lạc lối. Cuộc đời của chúng ta chỉ là một chuỗi những tai nạn- một sợi xích leng keng kết từ những sự kiện tình cờ. Dù vô tình hay hữu ý, chúng nối dài mãi thành một tai hoạ lớn mà chúng ta gọi tên là cuộc đời. 3. Cân Bằng Mong Manh giúp bạn điều tiết lại những suy nghĩ hợm hĩnh đề cao bản thân bạn, những ý nghĩ ban ơn dành cho người thấp hơn bạn hay những câu nói chia sẻ cực kỳ sáo rỗng dành để chia buồn với ai đó. Vì có những nỗi buồn, sự đau đớn mà người khác chỉ cần sự im lặng của bạn, giọt nước mắt lặng lẽ của bạn , sự có mặt của bạn bên cạnh họ là đủ. Vì mọi lời chia sẻ đều sẽ là sáo rỗng, là thổi bùng ngọn lửa thiêu rịu chính họ khi họ đang cố gắng vượt qua nó. Như nỗi đau của Om, của Ishvar. Vì có những người chỉ cần bạn cùng chia đôi miếng bánh đang ăn dở của bạn, chia đôi cốc nước cùng uống với họ là đủ để họ biết ơn bạn. Đủ để họ hiểu bạn yêu quý họ, bạn tin tưởng họ và bạn xem họ như một gia đình. Người ta không cần nói quá nhiều lời yêu thương khi mà hành động lại vô cùng xa cách, dè chừng, nghi ngại. Vì chúng ta, tất cả chúng ta đều là quái thai – chúng ta là thế – tất cả lũ chúng ta. – Theo cách nghĩ của nhân vật Ông Trùm. Nên đừng bao giờ để “quái thai” bên trong bạn suy nghĩ và hành động, đừng đặt mình cao hơn người khác, đừng cho rằng mình xứng đáng được ăn trong một cái chén sạch không xứt mẻ, còn người khác thì không. *** Khi tôi yêu cầu những người bạn Ấn Độ của tôi nêu tên một cuốn tiểu thuyết đương đại thật hay về Ấn Độ, cái tên Cân bằng mong manh thường được nhắc đến. Mùa hè năm 2013, tôi sang Ấn Độ lần đầu và ở hơn một tuần tại Bombay - thành phố được Rohinton Mistry dùng làm bối cảnh cho tiểu thuyết Cân bằng mong manh. Hai tuần ngang dọc thành phố, tôi có cảm giác như sống trong một giấc mơ sắc màu: vây quanh tôi là những tấm sari sặc sỡ, những khoảng vai, cổ và cánh tay rám nắng, những trang sức lóng lánh, những tấm khăn dài hờ hững trùm lên suối tóc đen của những thiếu nữ Ấn Độ. Nhưng cũng chính ở Bombay, tôi không sao thoát khỏi cảm giác tất cả những người tôi nhìn thấy - người đàn ông bán cá dạo trong các khu chung cư, lũ trẻ tắm truồng trong khu ổ chuột bên sông, những người đàn bà bán hoa quả trong chợ, người dạy xiếc khỉ dọc bờ biển, các bà già quỳ rạp người trong các đền thờ, hay những phụ nữ giúp việc lặng lẽ trong các gia đình - đều là những nhân vật mà tôi đã gặp ở Cân bằng mong manh. Từng người trong số họ đều mang những câu chuyện đời thăm thẳm, là những người kể chuyện và nhà triết học đời sống tuyệt vời. Một cuốn tiểu thuyết có khả năng bắt được cuộc sống thật rồi làm bạn nhìn cuộc sống thật khác đi như Cân bằng mong manh dĩ nhiên là đáng đọc. Sách lấy bối cảnh là những thay đổi của Ấn Độ vào giữa thế kỷ 20, đặc biệt là khoảng đầu thập kỷ 70 khi chính phủ của thủ tướng Ấn Độ Indira Gandhi, trong một nỗ lực cứu mình khỏi bị mất quyền, đã ban bố một Tình trạng Khẩn cấp quốc gia. Trong thời kỳ khẩn cấp này, nhiều đảng phái và nhóm hoạt động chính trị bị bắt và bỏ tù, báo chí bị kiểm soát ngặt nghèo, nhưng đặc biệt nhất là một chiến dịch cưỡng chế triệt sản lạ lùng cộng với việc phá các khu ổ chuột để “làm đẹp” đất nước. Trên cái nền lịch sử đó, bốn cuộc đời với bốn xuất thân khác nhau đã hội tụ: Dina, một phụ nữ thuộc tầng lớp trên, muốn sống độc lập với người anh lắm điều sau khi chồng qua đời bằng cách gia công quần áo tại nhà; Maneck, một sinh viên đến ở trọ nhà Dina trong lúc theo học đại học; và hai bác cháu Ishvar và Om vốn xuất thân từ tầng lớp “hạ tiện” của xã hội đến làm thợ may thuê cho Dina. Họ gặp nhau trong căn hộ của Dina, biến căn hộ đó thành một gia đình bất đắc dĩ nhưng đầm ấm. Có điều, sự đầm ấm không kéo dài. Những cơn gió lịch sử của thời kỳ khẩn cấp nhanh chóng thốc vào, cuốn họ lên và quăng quật họ trong bất định. Bỗng nhiên, mỗi ngày của Ishvar, Om, Maneck, và Dina cùng với triệu triệu người Ấn Độ khác chỉ còn thu lại trong những ám ảnh triền miên: ở chỗ nào, ngủ tại đâu, ăn gì, làm thế nào sống sót, để không bị mang đi “triệt sản”? Bất hạnh rơi xuống đầu họ không ngơi nghỉ trong một đất nước mà công bằng và quyền cá nhân tạm thời không tồn tại và không miễn trừ ai nhưng đặc biệt tàn nhẫn với những người ở tầng đáy. Phẩm giá - và sự vị tha cùng hài hước - bỗng nhiên trở nên quá xa xỉ nhưng cũng vì thế mà càng quý giá. Kết thúc truyện, Dina rút cục đã phải trở về nhà sống dưới sự bảo trợ của anh trai; Ishva và Om trở nên hai người ăn xin què quặt sau khi bị cưỡng chế triệt sản; và Maneck, trong một cơn tuyệt vọng sau khi gặp lại Ishvar và Om, đã lao vào tàu hỏa tự tử như Anna Karenina của Tolstoy. Cân bằng mong manh là một cuốn sách không khoan nhượng khi nói về thân phận con người; vì thế mà nhiều nhà phê bình đã ví nó với các tác phẩm của Charles Dicken hay Leo Tolstoy. Một cuốn sách buồn nhưng cũng lấp lánh hy vọng - thứ hy vọng thực chứ không phải hy vọng của văn chương tô hồng. Rohinton Mistry đã rất tỉ mỉ, kiên nhẫn, vững vàng trong lột tả những định dạng khác nhau của sự thống khổ giống nhau và khao khát giống nhau khi làm người. Khi theo chân bốn nhân vật của cuốn sách này trong lúc câu chuyện cuộc đời họ mở dần, bạn chắc chắn sẽ lo lắng cho họ, khóc cười với họ như thể khóc cười cho người thân của mình hay cho chính mình. Không khác họ, mỗi chúng ta có lẽ đều đang cố gắng hết sức để tìm và duy trì một điểm cân bằng mong manh cho cuộc sống của mình - giữa hy vọng và tuyệt vọng, giữa hạnh phúc và bất hạnh, giữa cái có nghĩa và vô nghĩa, giữa cái thuộc về mình và cái thuộc về họ. Theo nghĩa đó, mỗi cuộc đời trở thành một kiệt tác vĩ đại, đáng trọng và đáng thương như nhau. Trân trọng giới thiệu với bạn đọc của tủ sách “Cánh cửa mở rộng” tiểu thuyết Cân bằng mong manh của Rohinton Mistry qua bản dịch của Nguyễn Kim Ngọc. PHAN VIỆT Mời các bạn đón đọc Cân Bằng Mong Manh của tác giả Rohinton Mistry.