Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Xa Ngoài Kia Nơi Loài Tôm Hát

Sáu triệu bản bán ra trên toàn thế giới 58 tuần trong danh sách bán chạy của New York Times Dẫn đầu mục tiểu thuyết bán chạy của Amazon trong năm 2019 Trong nhiều năm, những tin đồn về "Cô gái đầm lầy" đã ám ảnh Barkley Cove, một thị trấn yên tĩnh trên bờ biển Bắc Carolina. Vì vậy, khi nơi này rúng động với cái chết đầy bí ẩn của Chase Andrew, người dân địa phương ngay lập tức đổ dồn nghi ngờ vào cô. Nhưng Kya Clark – cô gái hoang dã ấy có phải là thủ phạm? Thông minh và nhạy cảm, cô đã sống sót sau nhiều năm cô đơn trong đầm lầy, trú ẩn trong lòng mẹ thiên nhiên, kết bạn với mòng biển và học những bài học đắt giá trên bờ cát. Khi trái tim tuổi mới lớn mở ra, cô cũng chạm vào yêu thương với hai chàng trai, bắt đầu một cuộc sống mới cho đến khi điều bất ngờ xảy đến… “Một tiểu thuyết lãng mạn đầy ắp hơi thở thiên nhiên với một cú ngoặt chết người.” — REFINERY29 “Đầy chất thơ… Sức hấp dẫn của cuốn sách đến từ sự liên kết sâu sắc giữa Kya với vùng đất đã là nhà cô, và với mọi sinh vật của vùng đất đó.” — BOOKLIST *** Cuốn sách "Xa ngoài kia nơi loài tôm hát" của Delia Owens là một tiểu thuyết lãng mạn đầy ắp hơi thở thiên nhiên đẹp đẽ và đau đớn. Cuốn sách Xa ngoài kia nơi loài tôm hát (Tên gốc: Where the Crawdads Sing) lấy bối cảnh những năm 1950 về cô gái trẻ Kya Clark ở Bắc Caroline, nước Mỹ. Kya được biết với cái tên "Cô gái đầm lầy" bởi cô sống một mình giữa thiên nhiên, chỉ kết nối với một vài người. Nhưng khi một vụ án mạng xảy ra, tất cả đổ dồn vào cô bé hoang dã và đơn độc ấy. Lấy vụ án làm trung tâm cuốn sách, tác giả Delia Owens dẫn dắt người đọc khám phá vùng ngập nước hoang sơ và vắng vẻ của bờ Bắc Carolina qua đôi mắt của một đứa trẻ bị bỏ rơi. Đây là tiểu thuyết đầu tay của Delia Owens, được xuất bản lần đầu năm 2018, nhưng đã nhanh chóng chiếm được sự yêu mến của đông đảo độc giả. Cuốn sách đạt được 6 triệu bản bán ra trên thế giới, liên tục đứng trong danh sách bán chạy của New York Times suốt 58 tuần và dẫn đầu mục tiểu thuyết bán chạy của Amazon trong năm 2019. Trên Goodreads, cuốn sách nhận được gần một triệu đánh giá khi 88% độc giả nói rằng mình yêu thích cuốn sách. Trên Amazon, tác phẩm của Delia Owens cũng nhận được hơn 111.000 đánh giá, trong đó có hơn 86.000 đánh giá 5 sao. Delia Owens sinh năm 1949, là tác giả, nhà động vật học người Mỹ. Bên cạnh cuốn tiểu thuyết Xa ngoài kia nơi loài tôm hát, bà còn cùng chồng cũ viết ba cuốn sách về thế giới hoang dã tại châu Phi. Tại Việt Nam, Xa ngoài kia nơi loài tôm hát được dịch giả Trương Hoàng Uyên Phương chuyển ngữ. Theo cô, việc chuyển ngữ tựa đề của cuốn sách là một thách thức lớn, khó nhất là làm sao để người đọc hình dung được một không gian hoang vu và xa vắng, văng vẳng âm thanh rất nguyên sơ của các loài hoang dã. Cuốn sách được viết bằng thứ văn phong đặc biệt, đầy sức sống và hoang dại như tự nhiên, nhưng cũng đầy chất thơ và có sức gợi mãnh liệt. Từ chính nội dung tuyệt đẹp đó, tên sách Xa ngoài kia nơi loài tôm hát đã được ra đời. Dịch giả Uyên Phương cũng đánh giá cuốn sách nổi bật nhất với hai điểm: Cuộc sống khắc nghiệt mà cũng đầy chất thơ của Kya ở đầm lầy và bí ẩn vụ án mạng. Vì Kya gần như phải đơn độc sinh tồn nơi hoang dã, tự nhiên đã trở thành người bạn, người mẹ, người thầy của cô bé. Đó là một thiên nhiên rất đẹp, tráng lệ và huyền bí, trù phú mà khắc nghiệt, tàn nhẫn nhưng lại dịu dàng. Người đọc sẽ dễ dàng bị cuốn hút, ngỡ ngàng, rung động và có lúc rùng mình với những bài học từ thiên nhiên đó. Còn về vụ án mạng trong cuốn sách, dịch giả bật mí rằng, có lẽ độc giả sẽ phải suy nghĩ rất lâu về định kiến cũng như sự phán xét của con người. *** MỞ ĐẦU 1969 Đồng lầy chẳng phải đầm lầy. Đồng lầy là một không gian tràn ánh sáng, nơi cỏ vươn lên trong nước, và nước trôi vào trong bầu trời. Dòng chảy chầm chậm quanh co, mang theo quả cầu mặt trời ra đến biển, và lũ chim chân dài lêu nghêu cất mình vụt lên với sự uyển chuyển không ai ngờ đến – thân hình chúng dường như không được tạo ra để bay lượn – trên nền âm thanh cả ngàn con ngỗng tuyết kêu ran. Rồi trong chính đồng lầy, ở đó đây, đầm lầy đích thực len lỏi vào những vùng trũng thấp, ẩn khuất giữa ẩm ướt đại ngàn. Nước đầm lầy tĩnh lặng và tối tăm, nuốt chửng ánh sáng trong cổ họng bùn nhớp nháp. Trong cái hang đó, cả những loài chuyên lẩn lút về đêm cũng hoạt động ban ngày. Nơi đây cũng có tiếng động, tất nhiên, nhưng so với đồng lầy thì đầm lầy tĩnh mịch hơn hẳn vì sự phân hủy là hoạt động chế ngự tất cả. Sự sống mục nát, bốc mùi và trở về thứ mùn thối rữa; một chốn trầm mình sầu bi của cái chết cho sự sống vươn lên. Vào buổi sáng ngày 30 tháng Mười năm 1969, xác của Chase Andrews nằm trong đầm lầy, cái đầm hẳn sẽ nuốt chửng nó dần dần, lặng lẽ. Vĩnh viễn che giấu nó. Đầm lầy tường tận mọi điều về cái chết, và không nhất thiết coi đó là thảm kịch, chắc chắn chẳng phải là tội ác. Thế nhưng buổi sáng này, hai cậu bé từ ngôi làng đạp xe đến chỗ tháp phòng cháy cũ, và từ chỗ ngoặt thứ ba trên cầu thang đã trông thấy chiếc áo khoác denim của cái xác kia. *** 1952 Sáng ngày hầm hập cái nóng trời tháng Tám, hơi thở ẩm ướt của đồng lầy giăng màn sương mờ lên những nhánh sồi với cành thông. Trảng cây cọ đứng im đến lạ lùng, chỉ có tiếng vỗ cánh trầm trầm, chậm chạp của lũ diệc cất mình lên từ phá nước. Và rồi Kya, bấy giờ chỉ mới sáu tuổi, nghe tiếng cửa lưới sập lại. Đứng trên chiếc ghế cao, con bé ngừng cọ bợn cháo ngô bám trên nồi và để nồi xuống bồn đầy bọt xà phòng đã xẹp. Chẳng còn tiếng động nào nữa ngoài tiếng thở của con bé. Ai vừa ra khỏi lán vậy nhỉ? Không phải má. Má có bao giờ để cửa sập lại đâu. Ấy vậy mà khi chạy ra hiên, Kya lại thấy má trong bộ váy dài nâu, những nếp xếp li nhịp nhịp víu vào mắt cá khi bà bước xuôi dải đường cát trong đôi giày cao gót. Đôi giày mũi bầu giả da cá sấu. Đôi duy nhất để bà mang ra ngoài. Kya muốn gọi to nhưng biết khôn hồn thì chớ có đánh thức ba dậy, vậy là nó mở cửa ra đứng trên bậc thềm gạch ván. Từ chỗ đó, con bé thấy chiếc vali nhỏ màu xanh lam má xách theo. Mọi ngày thì với sự tin tưởng của một chú chó con, Kya biết má sẽ quay về với chút thịt gói trong giấy nâu dính mỡ hoặc một con gà, đầu lủng lẳng chúc xuống. Thế nhưng bà chưa bao giờ mang đôi giày da cá sấu, chưa bao giờ xách theo hành lý cả. Má luôn luôn nhìn lại từ chỗ lối đi nhỏ gặp đường mòn, một tay giơ lên cao, lòng bàn tay trắng nõn nà vẫy vẫy trước khi bà quay lưng bước tiếp, len lỏi qua những khu rừng đầm lầy cùng phá nước khin khít cỏ đuôi mèo, rồi có lẽ nếu con nước gia ơn, cuối cùng bà sẽ ra đến phố. Thế nhưng hôm nay bà không ngoảnh lại mà cứ dấn bước, loạng choạng giữa những vết lún trên đường. Dáng vóc cao của bà thỉnh thoảng hiện ra qua những lỗ hổng giữa rừng, cho đến khi chỉ còn thấy thấp thoáng màu trắng chiếc khăn choàng qua kẽ lá. Kya vụt chạy đến chỗ nó biết con đường sẽ lộ ra; chắc chắn má sẽ dừng lại vẫy tay từ đó, nhưng tới nơi, con bé chỉ kịp thoáng thấy màu lam của chiếc vali trước khi nó mất hút – cái màu sao mà chỏi giữa cánh rừng mướt rượt màu xanh lục. Một cảm giác nặng nề dày đặc như bùn gòn đen chèn lên ngực con bé khi nó quay lại đợi ở bậc thềm. Kya là đứa nhỏ nhất trong đám anh em nhà này, mấy anh chị lớn hơn nó nhiều, mặc dù sau này con bé không nhớ tuổi của họ nữa. Bọn trẻ sống với ba và má, chen chúc nhau như bầy thỏ nhốt chuồng, trong cái lán thô sơ tạm bợ, hàng hiên có lưới che lỏ mắt dòm ra dưới những tán sồi. Jodie, thằng anh gần Kya nhất nhưng vẫn lớn hơn nó bảy tuổi, bước từ trong nhà ra và đứng sau con bé. Jodie có cùng cặp mắt và mái tóc đen của em gái; thằng nhỏ đã dạy con bé bài hát của lũ chim, tên gọi những vì sao và cách lái thuyền qua đám cỏ răng cưa. “Má sẽ về thôi,” thằng anh nói. “Em hông biết. Má mang đôi dày cá sấu đó.” “Một bà má hông bỏ mấy đứa con nhỏ đâu. Điều đó hông nằm trong bản tính của họ.” “Anh kể với em là cáo cái bỏ con của nó mà.” “Ừ, nhưng con cáo đó bị toạc hết chân rồi. Nó xẻ chết đói nếu cố nuôi cả mình dới bầy con nhỏ. Tốt hơn là nó bỏ đám này, dưỡng thương cho lành lại, rồi đẻ thêm khi có thể nuôi tụi nhóc ra hồn. Má thì đâu có đói, má sẽ quay lại.” Jodie không chắc chắn như nó ra vẻ thế, nhưng vẫn nói vậy vì Kya. Cổ họng nghèn nghẹn, con bé thì thầm, “Nhưng má xách theo cái vali xanh như xắp đi xa lắm.” Cái lán nằm tựa vào trảng cọ lùn, vô số cụm cọ mọc rải rác, tỏa khắp bãi cát tới chỗ chuỗi những phá nước xanh, và ở xa xa là toàn bộ vùng đồng lầy sau đó. Hàng dặm lưỡi cỏ cứng cáp đến độ chúng mọc lên cả trong nước mặn, chỉ bị ngắt quãng bởi những thân cây uốn cong đến nỗi chúng mang hình hài cơn gió. Rừng sồi dồn lại quanh những phía khác của cái lán nhỏ, bao bọc lấy phá nước gần đó nhất, nơi mặt nước giàu sự sống đến sục sôi. Bầu không khí trĩu muối và bài ca mòng biển tràn qua hàng cây dạt tới từ biển cả. Từ thế kỷ 16, việc khẳng định quyền sở hữu một vùng lãnh thổ chẳng thay đổi gì mấy. Những khu đồng lầy có chủ rải rác đó đây không được mô tả trên giấy tờ pháp lý, chỉ được vạch ranh giới tự nhiên – một cây sồi chết ở kia, một con lạch đằng này – bởi những kẻ trốn chạy. Người ta đâu có tự dưng dùng cọ dựng chốn nương thân ở đầm lầy, trừ phi đang trốn kẻ nào đó hay đã cùng đường tận lối. Đồng lầy được bao bởi một đường bờ biển bị xé nham nhở, mà những nhà thám hiểm ngày trước gán cho cái tên “Nghĩa địa của Đại Tây Dương” vì dòng chảy rút xa bờ, những luồng gió dữ và bãi cạn sẽ đánh cho tàu thuyền vỡ nát như mấy chiếc nón giấy dọc vùng bờ sẽ trở thành bờ Bắc Carolina. Nhật ký một thủy thủ viết, “vòng quanh bờ biển… nhưng không thấy lối vào… một cơn bão dữ dội ập tới… chúng tôi buộc phải quay ra để giữ cho mình và con tàu được an toàn, và bị xô đẩy dồn dập bởi một cơn sóng dữ… Đất liền… toàn đồng lầy nối đầm lầy, chúng tôi quay về tàu… Làm nản lòng tất cả những ai sau này tìm tới đây cư ngụ.” Những người tìm đất an cư bỏ qua chốn này, và vùng đồng lầy nổi tiếng đây trở thành một tấm lưới, vớt lên một mớ lộn xộn những tay thủy thủ nổi loạn, nạn nhân đắm tàu, con nợ và bọn người trốn chạy khỏi chiến tranh, thuế má hay luật lệ mà họ không ưa. Những kẻ mà bệnh sốt rét không giết chết hay đầm lầy không nuốt chửng sinh ra một bộ lạc người rừng thuộc nhiều chủng tộc và nền văn hóa, mỗi người có thể đốn trụi một khu rừng nhỏ với một cái rìu và vác một con hươu đi hàng dặm. Như lũ chuột sông, mỗi người có riêng một lãnh thổ, nhưng họ phải hòa nhập với cảnh sống ngoài rìa hoặc đơn giản là một ngày biến mất trong đầm tối. Hai trăm năm sau, nhóm này kết nạp thêm những nô lệ bỏ trốn vào đồng lầy và các nô lệ được trả tự do, không xu dính túi và cùng quẫn, tản mát vào vùng đất ngập nước vì chẳng còn bao nhiêu lựa chọn khác. Có lẽ đó là vùng hiểm ác, nhưng không một tấc đất nào nghèo. Tầng tầng lớp lớp sự sống – cua rù rì ngoe nguẩy, tôm hùm đất sủi bùn, hằng hà chim nước, cá, tôm, sò, hươu béo xị, ngỗng mập núc – chất chồng trên đất hay trong nước. Kẻ không ngại lùng sục tìm bữa ăn sẽ không đời nào chết đói được. Bấy giờ là năm 1952, nên đã bốn thế kỷ liền vùng đất bị giành quyền sở hữu bởi một chuỗi rời rạc những người không có sổ sách nào ghi lại. Hầu hết là trước cuộc Nội chiến. Một vài kẻ khác đến chiếm dụng đất gần đây, đặc biệt là sau hai cuộc chiến tranh thế giới, khi những người đàn ông trở về trong tan nát và túng quẫn. Đồng lầy không giam giữ mà định nghĩa con người họ, và như tất cả những vùng đất linh thiêng, chúng giữ cho bí mật của họ được vùi sâu. Họ chiếm đất mà chẳng ai quan tâm vì không ai thèm muốn nó. Dù sao, nó cũng chỉ là thứ bãi lầy hoang. Cũng như cách họ làm lậu rượu whiskey, cư dân đồng lầy đặt ra luật lệ của riêng mình – không giống kiểu luật khắc vào đá hay ghi lên giấy, mà là thứ luật sâu xa hơn, in hằn trong gen họ. Tự nhiên và cổ xưa, như nở ra từ trứng diều hâu với bồ câu. Khi bị dồn vào đường cùng, bí bách, tuyệt vọng hay bị cô lập, con người trở lại với thứ bản năng nhằm thẳng tới sinh tồn. Nhanh gọn và đích đáng. Chúng luôn là những lá chủ bài vì được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thường xuyên hơn loại gen hiền. Đó chẳng phải đạo lý gì, chỉ là phép toán đơn giản. Giữa đồng loại, bồ câu cũng đánh nhau thường xuyên chẳng kém diều hâu. Hôm đó má không về. Chẳng ai đả động gì tới chuyện đó. Ba lại càng không. Bốc mùi cá và nước dùng, ông khua nắp nồi loảng xoảng. “Bữa tối có gì hả?” Mắt cụp xuống, mấy anh chị em chúng nó nhún vai. Ba chửi thề rồi khập khiễng đi ra, trở vào rừng rậm. Đã có nhiều vụ cãi cọ trước đó; má thậm chí đã bỏ đi một hai lần, nhưng lần nào bà cũng quay về, vơ lấy bất kỳ đứa nhỏ nào để ôm ấp. Hai cô chị lớn nấu bữa tối gồm bánh ngô với đậu đỏ, nhưng không đứa nào ngồi vào bàn ăn như chúng sẽ ngồi với má. Mỗi đứa xúc vội đậu từ nồi, trút đại bánh ngô lên trên, rồi lảng đi ăn ở góc của chúng trên thảm trải sàn hay cái sô-pha sờn cũ. Kya không ăn được. Nó ngồi trên bậc thềm trước hiên nhìn xuống con đường. Người cao so với tuổi, gầy trơ xương, con bé có nước da rám thẫm và mớ tóc đen, thẳng, dày như cánh quạ. Màn đêm buộc nó ngừng trông ngóng. Tiếng ếch ồm ộp sẽ vùi đi tiếng bước chân; dẫu vậy, con bé vẫn nằm trên cái giường ngoài hiên, dỏng tai nghe ngóng. Mới sáng hôm đó, nó hãy còn thức dậy trong tiếng mỡ lợn xèo xèo trên chảo sắt và mùi bánh mì sạm nâu trong lò. Kéo cái quần yếm lên người, con bé xộc vào bếp để bày dĩa và nĩa. Nhặt mấy con mọt trong cháo bỏ ra. Hầu như sáng nào cũng vậy, tươi cười, má sẽ ôm lấy nó – “Chào buổi sáng, con gái đặc biệt của má” – và hai má con sẽ làm hết việc này tới việc nọ, thoăn thoắt như múa. Thỉnh thoảng má còn cất giọng hát dân ca hay đọc vài đoạn thơ cho con trẻ: “Chú heo nhỏ đi chợ lon ton.” Hoặc má sẽ đẩy đưa Kya theo điệu jitterbug nhịp dồn, chân họ giẫm bùm bụp lên sàn gỗ dán cho đến khi tiếng nhạc từ cái radio chạy pin dần tắt ngỏm, nghe như nó đang tự hát cho mình nghe dưới đáy một cái thùng tròn. Vào những buổi sáng khác, má lại nói mấy chuyện người lớn mà Kya không hiểu, nhưng con bé đoán rằng lời nói của má cần có chỗ để thoát ra, nên nó thấm lấy từng lời qua da, trong khi tay nhét thêm củi vào lò. Gật gù làm như hiểu rõ. Sau đó là cái nhốn nháo ngược xuôi khi mọi người thức dậy và ăn sáng. Ba không ở đó. Ông chỉ có hai chế độ: im lặng và gào thét. Nên cũng tốt khi ông cứ ngủ, hoặc không về nhà. Thế nhưng sáng nay, má im lặng; nụ cười đánh mất, mắt đỏ hoe. Bà cột thấp ngang trán một cái khăn màu trắng theo kiểu hải tặc, nhưng cái viền thâm tím vàng của một vết bầm vẫn lộ ra. Ngay sau bữa sáng, trước khi chén dĩa được rửa sạch, má đã cho vài món tư trang vào vali và theo lối nhỏ mà đi mất. Sáng hôm sau, Kya lại tới chỗ cũ của nó trên bậc cửa, cặp mắt đen hun hút xoáy xuống con đường như một đường hầm đợi tàu qua. Đồng lầy phía xa bị màn sương bao phủ, sương sà thấp đến nỗi cái gót mềm của nó chạm hẳn xuống bùn. Chân trần, Kya nhịp nhịp ngón chân, xoay xoay ngọn cỏ chọc vào đám ấu trùng kiến sư tử, nhưng một đứa nhỏ sáu tuổi nào có ngồi yên được, chẳng mấy chốc con bé đã la cà tới bãi triều, tiếng nước vỗ liếm láp ngón chân nó. Ngồi xổm bên rìa nước, con bé dõi theo lũ cá tuế vọt qua vọt lại giữa chỗ nắng với chỗ có bóng râm. Jodie cất tiếng gọi Kya từ đám cọ lùn. Con bé nhìn chăm chăm; có lẽ anh nó tới đưa tin mới. Nhưng trong lúc thằng anh len lỏi qua mấy tán lá đầy gai, con bé nhìn dáng đi lững thững của anh và biết má không có ở nhà. “Em muốn chơi thám hiểm hông hả?” Jodie hỏi. “Anh nói anh quá tuổi chơi hám hiểm rồi mà.” “Đâu, anh nói vậy thôi. Hông bao giờ quá tuổi cả. Đua đi!” Hai đứa ùa chạy qua bãi triều, băng rừng cây lao ra bờ biển. Kya ré lên khi thằng anh vọt qua mặt nó và cười nắc nẻ cho tới khi chúng chạy đến chỗ cây sồi lớn chìa ra trên cát những cánh tay khổng lồ. Jodie và anh cả Murph đã đóng vài miếng ván lên cành cây làm đài quan sát và phòng thủ. Giờ thì hầu hết ván gỗ đã sụp xuống, đong đưa một cách nguy hiểm, chỉ dính vào thân cây nhờ mấy cây đinh sét. Thường ngày, nếu Kya có được cho chơi đoàn thám hiểm thì nó cũng phải đóng vai nô lệ, đưa tới cho các anh bánh mì còn nóng lén lấy từ chảo của má. Thế nhưng hôm nay Jodie nói, “Em có thể làm thuyền trưởng.” Kya giơ cao tay phải trong tư thế xông lên. “Đuổi bọn Tây Ban Nha đi!” Hai đứa nhỏ bẻ cây làm kiếm, xộc qua những bụi mâm xôi um tùm, hét váng lên và đâm kẻ thù lia lịa. Rồi – màn tưởng tượng chợt đến chợt tan – Kya bước lại chỗ một khúc cây phủ đầy rêu và ngồi xuống. Im lặng, Jodie đến ngồi cạnh em. Thằng bé muốn nói gì đó để đứa em gái thôi nghĩ về má, nhưng từ ngữ tắt nghẹn, thế là hai đứa lặng ngắm cái bóng loang loáng bơi bơi của lũ gọng vó. Sau khi quay về, Kya trở lại chỗ bậc thềm và đợi thật lâu, nhưng trong lúc nhìn đăm đắm về phía cuối đường, nó không hề khóc. Gương mặt nó bất động, môi mím lại thành một đường mỏng dưới đôi mắt khắc khoải kiếm tìm. Nhưng ngày hôm đó má cũng không trở lại. Mời các bạn đón đọc Xa Ngoài Kia Nơi Loài Tôm Hát của tác giả Delia Owens & Trương Hoàng Uyên Phương (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Bài Giảng Cuối Cùng - Randy Pausch & Jeffrey Zaslow
Là con người thì ai cũng muốn sống, sống thật vui, thật hạnh phúc bên người thân và bạn bè. Nhưng Nếu ngày mai phải ra đi, ta muốn để lại gì? Giáo sư Pausch là một con người, và tại thời điểm ông chuẩn bị cho bài giảng cuối cùng của mình, ông chỉ còn sống được vài tháng. Ông có một sự nghiệp thành công, là một nhà khoa học đạt đến học vị giáo sư. Ông có một gia đình nhỏ cho riêng mình, với vợ và ba con… Những ngày tháng cuối cùng của cuộc đời mình, giáo sư giảng bài, vì ông là một thầy giáo. Đặt mình vào vị trí của giáo sư Pausch, có thể ai cũng tiếc nuối nhưng bản thân tôi thì không. Ông đã có một tuổi thơ êm đềm, một gia đình lớn đầm ấm, một gia đình nhỏ hạnh phúc và sự nghiệp thành công. Tất cả những giấc mơ của ông từ thuở bé đều đã trở thành hiện thực. Ông đã đem đến hy vọng cho nhiều người, đã nâng đỡ cho giấc mơ của nhiều sinh viên, đã sống và mạo hiểm với cách trị liệu khắc nghiệt nhất để rồi khi cơ hội không còn thì vẫn có thể đứng thẳng người đợi chờ ngày kết thúc… Bài giảng của giáo sư Pausch nhẹ nhàng như chính cách ông bước lên bục giảng. Chiếc áo thun màu rêu, quần tây màu kem và nụ cười trên môi. Thật khó để tin rằng trong cơ thể người đàn ông đó có cả chục khối u ác tính. “Bài giảng cuối cùng” có 61 phân đoạn ghi lại 53 “bài giảng” – 53 câu chuyện về một cuộc đời mà trong đó, Randy Pausch là nhân vật chính, cũng là người dẫn chuyện. Những bài giảng, đúng theo ý nghĩa của nó, chuyển tải đến người nghe những thông điệp, những bài học mà đôi khi đơn giản đến mức ta đã bỏ qua trong cuộc đời mình. Câu chuyện của những ước mơ  Khi ta còn nhỏ, ta có những ước mơ thật vĩ đại như trở thành siêu nhân, anh hùng hay làm thay đổi cả thế giới… Khi ta lớn hơn một chút, những ước mơ cũng bớt vĩ đại đi một chút, như trở thành một bác sĩ, một cảnh sát hay một doanh nhân… Và đến khi ta trưởng thành, ước mơ của ta bây giờ là có một nghề nghiệp ổn định và một gia đình êm ấm. Điều đó có nghĩa là không phải ai cũng có thể giữ cho mình những ước mơ từ thời thơ ấu và thực hiện nó. Tuy nhiên, “Bài giảng cuối cùng” – bài giảng của một vị giáo sư chỉ còn sống được vài tháng lại dạy cho ta một điều khác, rằng ông đã Thật Sự Đạt Được Những Ước Mơ Tuổi Thơ. “Nếu bạn dám mơ ước điều gì, bạn sẽ có thể thực hiện điều đó.” – Walt Disney Phần lớn số trang của cuốn sách là để nói về những trải nghiệm của giáo sư Randy Pausch trong hành trình ông thực hiện ước mơ của mình. Bài giảng bắt đầu bằng một danh sách những ước mơ ngay từ khi giáo sư còn là một cậu bé. - Ở trạng thái không trọng lượng. - Chơi bóng bầu dục ở hạng quốc gia. - Viết một bài cho Bách khoa Toàn thư Thế giới. - Làm thuyền trưởng Kirk. - Thắng giải những con thú bông. - Làm một Disney Imagineer. Những ước mơ này, có cái đã trở thành sự thật, có cái còn dang dở nhưng không ước mơ nào mà giáo sư chưa thử thực hiện. Cậu bé Randy nằm dài ra bàn dang rộng cánh tay rồi tưởng tượng mình đang bay trong không trung đã trở thành giáo sư Pausch và cùng những sinh viên của mình trải nghiệm 25s không trọng lượng ở NASA… Cậu bé Randy không thể chơi bóng bầu dục ở hạng quốc gia nhưng qua bóng bầu dục đã học được những bài học đắt giá về nỗ lực và lòng tự trọng… Cậu bé Randy hâm mộ bộ Bách khoa Toàn thư Thế giới đã trở thành giáo sư Pausch được mời để viết về lĩnh vực ông giỏi nhất, thực tế ảo… Cậu bé Randy đã không thể trở thành thuyền trưởng Kirk nhưng giáo sư Pausch đã gặp được thuyền trưởng Kirk và đưa thuyền trưởng vào thế giới của ông… Những ước mơ nối tiếp nhau trong một cuộc đời, dẫn dắt một con người trưởng thành, rồi bài học lớn nhất được rút ra lại chính là “Tôi đã đạt được nhiều thứ hơn qua việc theo đuổi ước mơ này, mà không đạt được nó, so với việc theo đuổi và đạt được nhiều ước mơ khác.”Cái quan trọng không phải là làm thế nào để thực hiện được ước mơ của bạn. Nó là việc làm thế nào để dẫn dắt cuộc đời bạn. Nếu bạn dẫn dắt cuộc đời của bạn một cách đúng đắn, cái nghiệp sẽ tự thành. Các ước mơ sẽ đến với bạn. Kết thúc cũng là một cách để bắt đầu   “Không cần phải sống mới có thể yêu thương.”   Ngay ở phần đầu của cuốn sách, khi viết về khoảng thời gian chuẩn bị cho bài giảng, giáo sư Pausch đã nói như vậy. Và câu nói khiến tôi giật mình. Không sống thì làm sao yêu thương được? Thật ra, câu nói đó đúng hay sai cũng đâu quan trọng vì trên thế giới này có rất nhiều cách để thể hiện tình yêu thương của mình. Một cái ôm. Một nụ hôn. Một vài lời quan tâm. Hay một kỷ niệm, một di vật để lại. Với “Bài giảng cuối cùng” – di sản người cha để lại cho các con, các con của Pausch sẽ biết cha các em yêu các em đến chừng nào. Có thể chuẩn bị cho cái chết của mình là một may mắn chăng? Và người ra đi thì bao giờ cũng nhẹ lòng hơn người ở lại. Những day dứt của Randy Pausch về nỗi đau mà người thân của mình phải gánh chịu sẽ chấm dứt vào thời điểm cuối cùng. Nhưng có thật thế không? Pausch là một người chồng không thể chăm sóc cho người vợ yêu quý trong những ngày tháng khó khăn sắp tới… Pausch là một người cha không thể chứng kiến những đứa con của mình lớn lên và chăm sóc chúng… Thật ra thì, Randy Pausch vẫn đau đấy chứ, chỉ có điều rồi sẽ đến lúc ông không biết là mình đau lòng mà thôi. Chết là kết thúc và chấm dứt, không có thiên đường, không có địa ngục. Nhưng đó cũng là cơ hội để một người nào đó sẽ thay thế ta trên cõi đời này. Một cách khác để bắt đầu chặng đường mới. Nếu một ngày mở mắt ra và phát hiện người thân của mình không còn nữa, bạn sẽ làm gì? Giữ cho mình một niềm tin bằng những gì còn lại, đó là minh chứng của tình yêu thương. “Bài giảng cuối cùng” là bài giảng khép lại một sự nghiệp, khép lại một cuộc đời và được chia sẻ bằng cảm xúc và những câu chuyện. Những bài học đơn giản mà giáo sư Randy Pausch dạy chúng ta là cách đối mặt với hiện thực. “Chúng ta không đổi được những quân bài đã chia, chỉ có thể đổi cách chơi những quân bài đó.” Đem điều đó vào cuộc sống, ta sẽ có những bài học để thành công và thành người.   Mời các bạn đón đọc Bài Giảng Cuối Cùng của hai tác giả Randy Pausch & Jeffrey Zaslow.
Đôi Mắt Elisha
NGƯỜI HÙNG MỘT MILIMET RƯỠI! Thế giới của Tobie đang bị đe dọa! Một cái hố gặm nhấm đến tâm Đại Thụ khiến Đại Thụ bị thương tổn và có nguy cơ tử vong. Rêu và địa y xâm lấn các nhánh cành Đại Thụ. Léo Blue tàn bạo cai quản xứ Ngọn Cây và bắt Elisha làm tù binh. Dân chúng kinh sợ. Người Trụi bị săn lùn không thương ti Nhưng, Tobie đã đấu tranh trong suốt thời gian trốn chạy, và cậu không hề đơn độc. Vào thời điểm khắc nghiệt nhất mùa đông, cuộc nổi dậy nổ ra. Liệu Tobie có giải thoát thành công người thân và cứu được thế giới mong manh của cậu? Liệu cậu có gặp lại Elisha? Giữa một thế giới tí hon đáng nhớ, tập hai và cũng là tập cuối của một cuốn tiểu thuyết nổi tiếng về các cuộc phiêu lưu, về tình bạn và tình yêu. "Một bước tiến tuyệt vời vào nền văn học tưởng tượng." - Le Monde "Đầy hấp dẫn, tập hai của cuốn tiểu thuyết này mang đậm nét một bản tuyên ngôn bảo vệ môi trường, lên án chế độ độc tài, tràn đầy tính cách mạng và tha thiết tình yêu thương. Timothée de Fombelle đã tạo ra một thế giới xoay quanh một cái cây, tưởng tượng ra cuộc sống của người dân ở đó từ những chi tiết nhỏ nhất. Và kết quả đạt được thật đáng ngưỡng mộ." www.ricochet-jeunes.org (Cổng văn học trẻ châu Âu) "Đôi mắt Elisha thể hiện rõ nét sự tôn kính sâu sắc dành cho sự thật, sự bạo dạn và lòng can đảm với nền tảng là mơ ước bảo vệ thiên nhiên, cội nguồn của sự sống. Các tranh minh họa đen trắng của François Place thật tinh tế và khơi dậy trí tưởng tượng của độc giả." www.amazon.fr "Ở Đôi mắt Elisha, bạn đọc được chứng kiến những hành động, những bi kịch và cả những tình huống hài hước, được khám phá những bí mật thú vị và những nhân vật có mối gắn bó không ngờ. Như trong tập đầu, tập hai cũng ca ngợi lòng dũng cảm, lẽ công bằng và tinh thần đấu tranh. Một cuốn tiểu thuyết tuyệt vời dành cho tất cả những ai đồng thời yêu thích hành động và suy ngẫm." Tạp chí Je bouquine (Đọc sách) của báo Okapi "Ở tập hai này, với ngòi bút chính xác và đặc biệt là phong cách viết nhẹ nhàng, đơn giản, Timothée de Fombelle đã sáng tạo thành công hơn nữa một thế giới riêng cho tác phẩm của mình: một thế giới không theo khuôn mẫu sẵn có nào hết. Không giống của Tolkien cũng không giống của J.K. Rowling. Chỉ là thế giới của riêng Tobie!" www.livres.ados.fr Mời các bạn đón đọc Tobie Lolness Đôi Mắt Elisha của tác giả Timothée de Fombelle.
Ngàn Cân Treo Sợi Tóc
Hãy nhắm mắt lại và hình dung: bạn sống trong một cây sồi cổ thụ và bạn chỉ cao có một milimét rưỡi. Một cuộc phiêu lưu ra trò, phải không nào? Ở đây, người ta làm nghề hút sữa ấu trùng hay chăn nuôi rệp son... Đó là cuộc sống thường ngày của Tobie, cậu bé 13 tuổi và cả tộc người của cậu: những kẻ sung túc sống trên phần ngọn cây, những kẻ nghèo khổ nhất trú thân trong những cành lá. Sau một vụ việc ám muội, cha mẹ của Tobie bị kết án tử hình. Cậu trốn thoát, và cả tộc người của cậu lao đi truy lùng cậu. Tobie một mình chống lại tất cả trong một thế giới không biết đến xót thương và đầy rẫy những hiểm nguy. Một cuốn tiểu thuyết gây ngạc nhiên, pha trộn giữa chất phiêu lưu và ngụ ngôn về thế giới cây cỏ.     *** “Hỡi độc giả trẻ, bạn sẽ gắn bó với cậu chàng Tobie Lolness như chồi cây gắn bó với cành của nó vậy.” ----- RTL “Sau khi đã đọc Tobie Lolness, người ta sẽ không nhìn cây cối như trước nữa.”  -----  Le Figaro             “Đấy là một thế giới lạ thường… Một thế giới mà ở đó một giọt nước thành một trận mưa rào; một bông tuyết như một khối tuyết lở, những con chim, những côn trùng chẳng khác nào bầy quái vật khổng lồ trong cái nhìn của những thụ nhân tí hon…” ----- RTL “Cái anh chàng Tobie này thật là một ý tưởng thiên tài!” -----     Valée FM “Một cuốn truyện phiêu lưu, một thế giới vừa giản dị vừa huyền bí, Tobie Lolness là một cuốn sách đẹp, đáng đọc đối với độc giả trẻ và cả những độc giả già mà tâm hồn vẫn trẻ…” -----  Parutions.com “Đằng sau những cuộc phiêu lưu, là suy tư sâu xa về sự chung thuỷ, lòng khoan dung và cả sự kính ngưỡng đối với tự nhiên và sự vật. Được viết bởi một giọng văn đẹp cùng một chiều sâu tâm lý hiếm có trong văn học trẻ, Tobie Lolness thật sự nổi trội như một thế giới độc nhất vô nhị. Đây là một trong số những cuốn tiểu thuyết hay nhất của năm nay… và sẽ trở thành một tác phẩm kinh điển cho thiếu nhi.” -----  Quotidien National “Tobie Lolness, mười ba tuổi, cao một milimét rưỡi, đã chạy trốn, và bị truy đuổi một cách tàn nhẫn bởi tộc người cây. Một cuộc phiêu lưu lớn lao.” -----     Le Guide “Một người hùng đã xuất hiện. Hãy nhớ kỹ tên kỹ họ, bởi cậu ta sẽ nhanh chóng bắt kịp chàng phù thuỷ Harry Potter để bước vào điện thờ của những nhân vật phiêu lưu hút hồn độc giả mọi lứa tuổi. Cậu ta tên là Tobie Lolness, mười ba tuổi và cao có một milimét rưỡi.” -----     Libération “Đã quen với kiểu của Harry Potter, độc giả trẻ sẽ ngấu nghiến câu truyện này và nhân vật này.” -----  Lire “Tobie Lolness là một tiểu thuyết saga mới. Một ngụ ngôn về vạn vật học.” -----  Quotidien “Hãy quên Gulliver to đùng đi, hãy trở thành Lilliput bé tí và hãy bám vào cành nhánh của cây sồi cùng với cậu chàng Tobie! Một tiểu thụ nhân trong thế giới tưởng tượng đầy chất thơ của Timothée de Fombelle.” -----         Sud Ouest “Hãy bám theo Tobie từ cành này sang cành khác, hãy gặp gỡ những bạn bè tuyệt vời của cậu, và như tôi các bạn cũng sẽ phải lòng tộc người cây này thôi! Timothée de Fombelle đã viết cuốn sách cho bạn trẻ với tất cả nhiệt tình và mê đắm.”  -----     Mensuel “Vì ông bố bác học không chịu giao nộp một phát minh kinh khủng, gia đình cậu bé Tobie đã bị cầm tù, và cậu đã phải chạy trốn, lao mình vào các cuộc phiêu lưu để cứu bố mẹ. Độc giả sẽ khám phá ra cuộc sống nơi những ngọn cây và thế giới vi tế trong những cành nhánh.” -----   Trimestriel “Tobie cứ chạy mãi chạy mãi. Tộc thụ nhân, chủng tộc của cậu cứ đuổi mãi đuổi mãi… Một tiểu thuyết phiêu lưu say đắm. Tác phẩm đoạt giải Tam-Tam 2006.” -----   Libbylit “Tobie Lolness là cả một thế giới. Một cuốn sách đáng đọc đối với trẻ em và nên đọc đối với người lớn.” -----  Arbres & Foreets “Mùa hè này, khi soạn va-li đi nghỉ, hãy để một chỗ cho cuốn sách này!” -----  Presse Régionale “Một cuộc phiêu lưu thật sự, vừa đầy cảm hứng bảo vệ sinh thái, vừa độc đáo và mê hoặc.” ----  A nous Paris “Tobie Lolness, tiểu thuyết đầu tay của Timothée de Fombelle, một cựu giáo viên văn học, là một sự suy tư đẹp đẽ về tự nhiên và về môi trường, về tình bạn, về sự phiêu lưu và về những bất công đầy rãy.”  -----    Studyparents “Timothée de Fombelle là một cái tên mới, nhưng với Tobie Lolness, anh đã chiếm một chỗ sáng chói trong nền văn học kỳ ảo.” -----   Le Monde Mời các bạn đón đọc Tobie Lolness Ngàn Cân Treo Sợi Tóc của tác giả Timothée de Fombelle.
Xúc Tác Hoàn Hảo - Simone Elkeles
“Em đã từng nói em yêu anh.   Giờ còn không?”   “Em chưa bao giờ hết yêu anh.   Ngay cả khi em cố gắng một cách tuyệt vọng để quên anh,   em cũng chẳng thể làm được điều đó.”   Brittanny là đội trưởng đội cổ vũ của trường trung học. Giàu có, xinh đẹp và hoàn hảo, cô nàng được coi là cô gái đáng mơ ước nhất trường. Alex lại đến từ khu nhà nghèo, là thành viên một băng nhóm xã hội đen, một kẻ du côn mà lũ học sinh “tử tế” luôn cố tránh xa nếu không muốn gặp phải rắc rối.   Hai người họ không ngờ “được” cô giáo ghép chung thành một cặp thực hành ở lớp Hóa năm cuối trung học.   Buộc phải song hành cùng nhau, họ dần nhận ra đối phương khác hẳn những gì thể hiện ở vẻ bề ngoài. Đằng sau vẻ hoàn hảo của Brittanny là bao nỗi niềm muốn giấu kín về một gia đình không êm ấm. Đằng sau thái độ ngông nghênh, du côn của Alex là mong ước về một cuộc sống yên bình, không băng đảng, không bạo lực; là giấc mơ được học lên Đại học, được sống cho tử tế và có một người con gái để yêu thương…   Xúc tác hoàn hảo là cuốn sách dành cho teen rất được yêu thích tại Mỹ bởi lối viết gần gũi và nội dung đầy tính nhân văn. Cuốn sách đã đưa nữ tác giả Simone Elkeles lên hàng tác giả có sách bán chạy nhất theo New York Times và USA Today, đồng thời cũng giúp bà chiến thắng tại giải RITA 2010, giải thưởng danh giá nhất dành cho tiểu thuyết lãng mạn. *** Bộ truyện Perfect Chemistry gồm 3 quyển kể về 3 anh em Fuentes của nhà văn Simone Elkeles. Quyển 1: Xúc Tác Hoàn Hảo – Perfect Chemistry #1 Quyển 2: Quy luật hấp dẫn – Perfect Chemistry #2 Quyển 3: Phản ứng dây chuyền – Perfect Chemistry #3  *** Tác giả    Simone Elkeles sinh ra và lớn lên tại Chicago, Hoa Kỳ. Bà là tác giả của những đầu sách cho teen bán chạy nhất theo xếp hạng của New York Times và USA Today.   Siome Elkeles cùng các tác phẩm hay nhất của bà, Xúc tác hoàn hảo, đã được vinh danh ở rất nhiều giải thưởng sách văn học khác nhau và đáng kể nhất là giải RITA 2010, giải thưởng hàng năm danh giá dành cho tác phẩm văn học lãng mạn xuất sắc nhất nước Mỹ. Mời các bạn đón đọc Xúc Tác Hoàn Hảo của tác giả Simone Elkeles.